Ý-NGHĨA
NIẾT-BÀN
CHÁNH-TRÍ
Theo
Kinh-điển Hán-văn, hôm nay rằm tháng 2 âm-lịch là ngày Phật
nhập Niết-bàn.
Cùng
một việc dứt thở, bỏ xác, tại sao ở người thế-gian,
gọi là chết, còn ở Phật lại gọi là “nhập Niết-bàn”?
Vậy sự sai khác giữa đôi đàng như thế nào và Niết-bàn
có nghĩa là gì? Đó là hai điểm mà tôi xin đề-nghị cùng
chư quý đạo-hữu tìm hiểu, xuyên qua các sách vở đã được
viết ra rất nhiều về vấn-đề này.
*
*
*
Trước
tiên, chúng ta hãy nghe Kinh Bại-bát Niết-bàn nói về giờ
phút trước khi và trong khi Phật nhập Niết-bàn.
Như
Lai liền nói bài kệ:
“Các
hành vô-thường
Là
pháp sinh-diệt.
Diệt
sinh-diệt rồi,
Tịch-diệt
là vui”.
Đại
ý bài kệ nói rằng sự-vật không thường còn, vì đó là
những thứ hễ có sinh ra là phải có diệt đi, nghĩa là có
sinh là có tử, có đầu là có đuôi, có khởi đoan là có
chấm dứt. Nếu diệt được cái “sinh diệt” ấy tức là
nếu chấm dứt được sự “sinh tử”, thì được cái vui
gọi là “tịch-diệt”. Sinh-tử đây là sinh-tử của thân,
là vật sinh-diệt. Vì vậy Như-Lai nói tiếp:
“Các
vị nên biết, hết thảy mọi hành-tướng đều là vô-thường.
Thân tôi nay, tuy là thể kim-cương, vẫn không khỏi lẽ vô-thường
biến thiên. Trong nẻo sinh-tử rất đáng sợ-hãi, các vị
nên siêng làm hạnh tinh-tấn, cầu mau ra khỏi hố lữa sinh-tử
này, đó là lời dạy cuối cùng của tôi. Thời nhập Niết-bàn
của tôi đã đến”.
PHẨM
PHÓ-CHÚC
“Ngay
khi ấy Như-Lai vào Sơ-thiền; ra Sơ-thiền, vào Nhị-thiền;
ra Nhị-thiền, vào Tam-thiền; ra Tam-thiền vào Tứ-thiền; ra
Tứ-thiền vào Không-xứ; ra Không-xứ, vào Thức-xứ; ra Thức-xứ,
vào Vô-sở-hữu-xứ; ra Vô-sở-hữu-xứ, vào Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ;
ra Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ vào Diệt-tận-định.
Lúc
đó, A-Nan thấy Như-Lai im bặt không nói, thân thể, chi-tiết
không dao-động, liền sa lệ nói rằng: “Thế-Tôn nay đã
nhập Niết-bàn rồi!”.
“Bấy
giờ A-nâu-lâu-đà (Anurudha) bảo A-Nan: “Ngay bây-giờ Như-Lai
chưa nhập Niết-bàn đâu! Sở-dĩ Ngài im-bặt, thân không dao-động,
chính vì Ngài nhập Diệt-tận-định.
Đức
Thế-Tôn ra Diệt-tận-định, lại trở vào Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ,
và lần-lượt cho đến vào Sơ-thiền; ra Nhị-thiền, vào Tam-thiền;
ra Tam-thiền, vào Tứ-thiền. Và, ngay ở nơi ấy, Ngài nhập
Niết-bàn”.
PHẨM
NHẬP NIẾT-BÀN
Hai
đoạn kinh trên đã chỉ cho chúng ta thấy Phật không có “chết”
cái chết của phàm-phu, mà Ngài đã “nhập định”. Không
phải một nhập-định hữu hạn mà vô cùng vĩnh-viễn,
vì Ngài đã tận “diệt phiền-não, sinh-tử, đã lìa mọi
tướng, vào chỗ vắng-lặng vô cùng vô tận”. Đây là nghĩa
đại-khái của danh-từ “nhập Niết-bàn”.
Bây
giờ chúng ta hãy đi sâu vào vấn-đề để hiểu rõ thêm hơn.
Điểm
cần ghi nhớ là đừng nghe nói Phật “nhập Niết-bàn”,
rồi tưởng Phật đã về một cõi nào đó, hưởng phước
đời đời, như Thiên-đường của nhiều Tôn-giáo khác. Cũng
đừng hiểu rằng Phật đã tiêu-tan trong Hư-vô (Néant), khi
đọc kinh-điển thấy nói Phật “tịch-diệt” hay “viên-tịch”.
Vậy “nhập Niết-bàn” là đi vào đâu?
Niết-bàn
là phiên-âm chữ Nirvâna của Ấn-Độ, Tàu dịch nghĩa là
Diệt, Người Pháp dịch là Extinction với cái nghĩa: Thổi
trên ngọn đèn để tắt. Diệt ngọn lửa mà một hơi thở
làm mất tích, đó gọi là Niết-bàn.
Nhưng
ngọn lửa mà một hơi thở, hơi thở của chúng ta, làm tắt,
ngọn lửa đó là gì?
Một
ẩn-sĩ Bà-la-môn hỏi Ngài Xá-lợi-Phất (Sariputra), một đại-đệ-tử
của Phật:
–
Niết-bàn, Niết-bàn, này ông bạn Xá-lợi-Phất, đó là gì?
–
Sự tiêu-diệt lòng tham-muốn, sự tiêu-diệt lòng nóng giận
hận thù, sự tiêu-diệt lòng si-mê sai-lạc, đó thưa ông bạn,
là cái mà người ta gọi là Niết-bàn.
SAMYUTTA
NIKAYA
Vậy
Niết-bàn chỉ lả một danh-từ chỉ cái kết quả cứu cánh
của sự tu-hành theo Phật-giáo mà mục-đích cứu-cánh là
diệt tam-độc: tham, sân, si.
Để
rõ hơn, chúng ta hãy tiếp nghe lời Phật dạy:
“Người
tu nào đã từ bỏ được thú vui và tham-muốn, đã đầy đủ
trí-huệ, là ngay ở cõi đời đây, đã đạt đến sự giải-thoát
sinh-tử, sự tịch-tĩnh, đã đạt đến Niết-bàn, nơi an dưỡng
thường-tồn, vĩnh-cửu.
Kẻ
nào đã ra khỏi những con đường mòn gạt-gẫm của Luân-hồi,
kẻ nào đã lội qua bên kia sông và đã tới bờ, giữ tâm
chánh-định, không quá thất, không nghi hoặc, kẻ nào đã
giải-thoát mọi sự-vật thế-gian và đạt đến Niết-bàn,
kẻ ấy là một tu-sĩ chân-thực”.
SUTTASANGAHA
Niết-bàn
là nơi an-dưỡng thường-tồn, vĩnh-cửu! Vậy sao bảo Niết-bàn
không phải là một cõi? Xin thưa, những chữ “nơi an-dưỡng”
dùng ở đây là một lối nói “tạm” để ám-chỉ cái “thường”,
đối lại với cái “vô-thường” là cảnh thế-gian. Do đây
trong kinh Dvyatânupassanâ, Phật dạy:
“Cái
không tiêu không diệt là Niết-bàn, hạng người cao-cả quan-niệm
nó như thật có; nhờ thấu-triệt được sự thật này, họ
được giải-thoát khỏi mọi thèm khát tham muốn và được
hoàn-toàn an-lạc”.
Vậy
Niết-bàn chỉ cái “Thường”, mà còn chỉ cái “An-lạc”
của những tâm-hồn giải-thoát.
Có
giải-thoát, có diệt dục, mới có Niết-bàn:
“Trong
kẻ từ-bi bố-thí, cây đạo-đức sẽ mọc lên.
Trong
kẻ tự chế-ngự được, không một cơn giận hờn nào có
thể nổi lên.
Người
chân-chính gạt bỏ mọi điều ác.
Bởi
sự tận diệt tham, sân, si, ngươi sẽ đạt đến Niết-bàn”.
MAHÂ-PARINIBBANA
SUTTA
Thế
thì Niết-bàn phải là một tâm-trạng không? Cũng không. Vấn-đề
thật là rắc-rối và khó hiểu. Chính Phật cũng đã nhìn
nhận như thế trong Kinh Udâna như sau:
“Này
các đệ-tử, có một quốc-độ mà ở đấy không có đất,
không có nước, không có nóng, không có gió(1); không có không-gian
vô tận, không có thức vô biên, cũng không phải hoàn-toàn
không có gì cả, cũng không có sự cảm-thọ hay không cảm-thọ,
cũng không có thế-giới này, thế-giới kia, mà vừa là mặt
trời, vừa là mặt trăng.
Cái
ấy, này các đệ-tử, ta không gọi là khứ, là lai, là trụ,
là sinh, là tử, nó không nhân, không thành, không diệt. Đó
là chỗ chấm dứt của sự khổ.
Khó
mà thực-nghiệm được cái “thể”; chân-lý không phải
dễ nhiếp-thọ, nắm lấy; kẻ biết thật biết mới làm chủ
được lòng ham-muốn và kẻ nào thấy thật thấy mới thấy
vạn-vật không có một giá-trị chân-thật nào cả”.
*
*
*
Từ
trước đến đây, chúng ta thấy Niết-bàn không phải một
cõi, một cảnh, một tâm-trạng, cũng không phải là cái không
ngơ (hư-vô). Vậy Niết-bàn có hay không có? .
Trong
Kinh Na-Tiên Tỳ-kheo, vua Milinda đã đặt ra câu hỏi ấy. Vả
đây là câu trả lời của Ngài Na-Tiên:
“–
Tâu Hoàng-thượng, có Niết-bàn, và cái có ấy, có thể lấy
trí mà nhận. Còn hễ là đệ-tử Phật mà giữ được tâm
thanh tịnh và chánh-trực, thoát khỏi các nghiệp-chướng,
thoát khỏi được các tham muốn thấp hèn, thì thấy được
Niết-bàn.
–
Xin thí-dụ, nhà Vua nói.
–
Hoàng-thượng biết có một cái gọi là gió. Vậy xin Hoàng-thượng
chỉ cho tôi coi gió màu sắc gì, hình dáng ra sao, nó dày hay
mỏng, dài hay vắn?
–
Không thể chỉ được như thế, vì làm sao nắm bắt nó được,
nhưng dầu vậy, gió là cái gì có.
–
Cũng thế, tâu Hoàng-thượng, Niết-bàn là cái gì có mà không
thể chỉ cho thiên-hạ thấy hình sắc của nó.
Cái
lý Niết-bàn, đầy an-lạc, rất nhiệm-mầu, có. Và người
nào ở ăn chân-chánh, thấu hiểu tánh của các tướng, tuân
hành giáo-pháp của chư Phật, người ấy ắt thực chứng
Niết-bàn, cũng như một đứa trẻ học nghề, nhờ thầy chỉ
dẫn, mà rồi tự tạo, tự biến thành một thợ giỏi trong
nghề.
–
Làm sao biết được Niết-bàn, nhà Vua hỏi.
–
Nhờ sự thoát khỏi phiền-não, nghiệp-chướng, nhờ sự an-ổn,
an-lạc thanh-tịnh”.
Rồi
Ngài Na-Tiên cho thêm vài thí-dụ. .
–
Người té vào đống lửa ngùn-ngụt, cố gắng vượt ra khỏi
và lên được chỗ mát-mẻ. Người ấy cảm thấy sung-sướng
vô cùng. Cũng thế, người thoát khỏi lửa của tham, sân,
si sẽ hưởng cái sung-sướng Niết-bàn.
–
Người té vào huyệt tử-thi hôi-thối, nếu cố-gắng ra khỏi
được và lên chỗ không có tử-thi, sẽ cảm thấy sung sướng
vô ngằn. Cũng thế, ai ra khỏi hầm tử-thi của những tâm-niệm
bất thiện, người ấy sẽ hưởng cái sung-sướng Niết-bàn.
–
Người té vào hầm phẩn dơ mà cố-gắng ra khỏi và lên chỗ
sạch, sẽ cảm thấy sung-sướng. Ai thoát khỏi cái lo sợ
của sanh, già, bệnh, chết, người ấy sẽ hưởng cái sung-sướng
Niết-bàn.
Vậy
tìm Niết-bàn ở đâu?
“Ở
trong đạo-đức. Nếu sống luôn trong đạo-đức, trong định-tâm,
thì dầu ở đông ở tây, ở nam ở bắc, ở dưới Long-cung
hay ở trên Thiên-cung, bất luận chỗ nào, người sống trong
chánh-chân như thế tìm được Niết-bàn”.
*
*
*
Cứ
như trên thì Niết-bàn là cái gì mà ngay đây mỗi chúng ta
có thể đạt được, miễn thực hiện những điều kiện
Phật dạy? Vâng, quả đúng như thế. Về điểm này, Bà Alexandra
Daviđ, trong sách “Le Modernisme Boudhiste et le Bouddhisme du
Bouddha”
có viết :
“Niết-bàn
là mục-đích, là hải-cảng trú-ẩn, là sự an nghỉ miên
viễn. Hải-cảng ấy, bậc A-la-hán đã đạt đến rồi; ngay
lúc còn sống, La-hán đã vượt khỏi ngưỡngcửa cái thế
giới bên kia, rất cách biệt với những tri kiến và quan-niệm
của chúng ta, và tuy chúng ta thấy Ngài cũng vẫn còn đi, đứng,
nằm, ngồi y như chúng ta và giữa đám chúng ta , La-hán không
còn là người của thế-giới chúng ta, là thế-giới của
vọng-tưởng và vô-thường. Ngài sống trong Bất-biến, trong
Bất-sinh, trong Chân-thường. Ngài là cái Bất-biến, Bất-sinh,
Chân-thường”.
Tu-hành
mà đạt đến kết-quả này gọi là “đắc Niết-bàn tại
thế” hay “đắc hữu dư Niết-bàn” hay nữa “đắc hữu
dư-y Niết-bàn”.
Kinh
Bảo-Quật nói :
“Kim-cang
tâm đoạn biến-dịch nhân tận, nhi biến-dịch quả du-tồn,
hữu dư lụy, cố viết hữu dư”.
Cái
nhân biến-dịch đã bị tâm Kim-cang (trí huệ) chặt đứt,
nhưng cái quả biến dịch vẫn còn, nên còn phải chịu một
phần nợ-nần, bó buộc nào, vì vậy nên gọi là còn dư,
chưa đứt. Nói một cách khác, hữu-dư Niết-bàn là kết-quả
giải-thoát nội tâm hoàn-toàn, nhưng về mặt thân xác thì
sự giải-thoát chưa được hoàn-toàn hẳn, vì còn thân là
còn nợ-nần với cái sống ăn, sống mặc, với già, với
bệnh, với chết.
Cao
hơn “Hữu-dư Niết bàn” có “Vô-dư Niết-bàn” hay “Vô-dư-y
Niết-bàn”, là “Vô sanh-tử chi nhân, diệc vô quả dã”.
Đó là kết-quả mà Phật đã đạt đến vào một đêm rằm
tháng hai, cách nay trên 2500 năm. Cái nhân sanh-tử trong tâm
đã chết mất từ lâu, rồi nay cái quả sanh-tử của nhân
tiền kiếp (thân) cũng bỏ lại và sẽ tan-rã, thì còn nợ-nần
chỗ nào mà khòng bảo là “Vô-dư”. Tóm lại, “Vô-dư Niết-bàn”
là Niết-bàn đạt đến khi bỏ xác, là Giải-thoát hoàn-toàn.
*
*
*
Nhưng
dầu hoàn-toàn (Vô-dư) hay chưa hoàn-toàn (Hữu-dư), Niết-bàn
chỉ có một thể, cũng như đường chỉ có một vị là ngọt,
dầu đó là đường tán hay đường phèn. Để chỉ cái vị
duy nhất ấy kinh-điển bảo Niết-bàn có bốn đức (hay bốn
đặc-điểm: propriétés essentielles) là: Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh. Nói cho đúng, chính 4 cái đó là Niết-bàn và ai thực
chứng được, ai thưởng thức được thì gọi là “đắc
Niết-bàn”.
Bốn
đức này , chúng ta đã nghe thấy trong những đoạn kinh đã
dẫn ở phía trước.
Sống
trong, vì và bởi cảnh thế-gian là sống trong biến-dịch,
vô-thường, cảnh-giới của vật-chất và tình-cảm thấp-thỏi.
Bỏ được lối sống này mà sống được đời sống nội
tâm không biến-dịch, là sống trong cái ngược với vô-thường,
tức là sống trong cái Thường (Eternel). Sống trong Thường
là bất biến, nhưng không phải không tùy duyên. Tùy duyên
mà vẫn bất biến. Thí-dụ: đến giờ phải ăn là ăn (tùy
duyên), nhưng không để cái ăn làm xao-động lòng mình (bất
biến). Trước cảnh đau-khổ của người khác, lòng không
bị kích-thích như thế tình (bất biến), nhưng hết sức giúp-đỡ
(tùy duyên). Được như thế gọi là Thường.
Tâm
không bồn-chồn, lo muốn nóng-nảy, gọi là an. Có an là có
vui (Lạc), cái vui khác thường, vì không cần có mồi mới
sanh vui. Người muốn tiền mà không được tiền, không vui,
như cá muốn ăn mà không gặp mồi, không sướng. Vậy cái
vui sướng của thế-nhân là cái vui sướng cảm thấy khi lòng
ham muốn , thèm khát, được thỏa-mãn. Cái Lạc của người
giải-thoát là cái vui hồn-nhiên, phát xuất từ chỗ không
tham, không cầu gì cả. Đó là cái mội nước tự nó phun
lên, mà không cần có máy bơm. Vậy là một cái vui bất chấp
ngoại cảnh, hoàn toàn giải-thoát mọi kích-thích, cái vui
“bí-mật” mỉm cười của Phật. Được như thế gọi là
Lạc.
Thế-nhân
ai là người không sống cho ta và vì ta, cho và vì cái ta nhỏ
mọn (tiểu-ngã)? Đó là lối sống ích-kỷ. Bỏ lối sóng
đó mà sống vì người, vì tất cả, là sống cho cái Ta to
(Đại-ngã). Gọi Đại-ngã vì là toàn thể những cái “ta”
nhỏ góp lại. Vậy sống vị-tha là sống cho Đại-ngã, hay
Ngã, sống như cái sống của nước đại-dương. không sống
chật hẹp của nước biển đựng trong chai. Được như thế
gọi là Ngã.
Sống
theo thế-tình, thế-tục, là sống trong ô-nhiễm. Càng đi xa
trên con đường ấy là càng lún chân trên bãi lầy của phiền-não,
nghiệp-chướng do tham, sân, si, tài, sắc, danh, lợi, thực,
thùy tạo ra. Bỏ lối sống ấy mà sống một lối sống hoàn-toàn
trong sạch, lòng không dính một bụi nhơ thế-sự, được
như vậy gọi là Tịnh.
Tất
cả những cái Lạc, Ngã, Tịnh vừa nói đều do chỗ “tùy
duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên” mà có.
Ai
thực-hiện được tất cả bốn đức ấy thì được gọi
là “đắc hay nhập Niết-Bàn”.
*
*
*
Để
kết-luận, xin lập lại rằng Niết-bàn chỉ là một danh-từ
dùng để chỉ một cái gì mà ngũ quan không nhận được,
ý-thức không tưởng-tượng được nhưng có và có một cách
chân-thật đối với ai đã thực-chứng, thực-nghiệm được
nó. Nhưng xin đừng hiểu là muốn có Niết-bàn phải đi tìm
nó. Càng tìm nó, nó lại càng xa, vì có tìm là tâm còn tham
mnốn, mà còn tham muốn là trái với Tịnh, với Lạc, với
Ngã. Cũng đừng tưởng tới nó, vì có tưởng là tại có
muốn, mà như thế thì cũng sai rồi.
Cứ
ăn ở, cứ sống như Phật dạy, trong Thường, Lạc, Ngã, Tịnh,
rồi Niết-bàn tự-nhiên sẽ đến và chừng ấy chúng ta sẽ
biết Niết-bàn là gì. Đừng tưởng đọc sách rồi biết
Ba-lê. Phải đến Ba-lê mới biết Ba-lê là gì. Cũng đừng
nghe người nói nước mát rồi tưỏng là đã biết cái mát
của nưởc. Muốn biết rõ, hãy uống nước. Ngoài ra là ức
tưởng, là lấy bóng làm hình.
Cũng
đừng tưởng Niết-bàn rất xa chúng ta. Không. Niết-bàn rất
gần chúng ta, chúng ta cọ vai sát cánh với nó hàng phút. Nhưng
chúng ta chưa bắt tay với nó được, chỉ vì chúng ta chưa
bước qua khỏi làn ranh phân cách cái giả với cái chân, vì
chúng ta chưa thoát khỏi chứng mù mắt đang căng một tấm
màng đen dày chặt giữa cái sống rộng bao-la và cái thấy
bó rọ trong ranh giới của cái hình dáng và tên-tuổi (danh
sắc) mà mỗi giờ phút làm biến đổi và chúng ta lầm tưởng
là “Ta”./.
(Phụ
trương Từ Quang tạp chí, do Hội Phật học Nam Việt ấn tống,
năm ??)
Chú
thích: (1) Tứ đại: đất, nước, gió, lửa, bốn yếu-tố
vật-chất.
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân