TRUYỆN
TRÍ VÔ LƯỢNG
MAI
HIỀN LƯƠNG
Hôm
nay chủ nhật, tuy không đi làm nhưng Đại tá Tân vẫn bận
lòng ưu tư về công việc ở cơ quan. Hắn thầm nghĩ: chỉ
có nơi này mới có thể tìm ra tận ổ của chúng nó. Nghĩ
vậy, Tân bảo người tài xế kiêm cận vệ đưa hắn về
phía Gia Định. Hắn ghé chợ mua vài trái cây làm quà biếu
bà chị.
Kể
từ ngày cộng sản chiếm đoạt miền Nam, Tân được đảng
chỉ định phụ trách an ninh tình báo thành phố Hồ Chí Minh.
Ở chức vụ này, hắn đã phá vỡ nhiều âm mưu phản động
chống phá nhà nước và cách mạng. Sở dĩ Tân lập được
công trạng này vì hắn là người miền nam, dễ la cà và gây
cảm tình với những người dân mất điểm tựa chính trị.
Sinh
cùng thời với học sinh Trần Văn Ơn, nhân cái chết của
người này, hắn thấy rõ mặt thật của thực dân Pháp, lòng
yêu nước của tuổi trẻ thúc đẩy Tân tham gia các tổ chức
chống Pháp. Sau đó, vì non kém chính trị nên bị cộng sản
đánh lừa. Nhờ có học thức chút đỉnh, hắn dần dần được
theo học các khóa chính trị cao cấp về lý thuyết cộng sản.
Trong cục chính trị của đảng, Tân được xếp vào hàng
có căn bản vững chắc. Với Tân, Các Mác đúng là đỉnh
cao trí tuệ của loài người.
Tân
có người chị góa bụa. Trớ trêu thay, ông anh rể này lại
chết về tay cộng sản. Vì thế nên hai chị em không tránh
khỏi ngỡ ngàng pha lẫn cay đắng trong ngày tái ngộ. Để
lấp bớt hố ngăn cách, ngăn cách về ý thức chính trị và
ngăn cách bởi hậu quả tang tóc xảy ra cho gia đình bà chị,
Tân tìm cho Thảo, con bà Hai, một chỗ làm trong cơ quan của
Tân.
Thảo
là sinh viên dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ không dính
dáng đến quân đội hay cơ quan công quyền của chế độ
cũ, chàng khhông bị tập trung vào tù. Thảo không thể nào
thích hợp với Tân, người cậu của thế giới vô sản, nhưng
vì hoàn cảnh và vì một lý do riêng mà chàng chấp nhận sự
giúp đỡ của Tân.
Hôm
nay Tân ghé thăm bà Hai, ngoài ra hắn còn có mục đích thầm
kín khác.
*
Bước
vào nhà trong lúc bà Hai đang chưng dọn bàn thờ Phật để
cúng rằm, Tân chào chị:
"Thưa
chị Hai, hồi nãy, nhơn đi qua chợ BÀ Chiểu, thấy có mấy
trái cây tươi tôi có mua một chục đem biếu chị, sẵn dịp
thăm chị luôn. Hôm nọ nghe thằng Thảo nói chị không khỏe
nhưng vì bận việc cơ quan nên chưa đi thăm được. Hôm nay
chị khỏe chưa?"
Bà
Hai vui vẻ trả lời:
"Cậu
Ba nó còn nhớ tới chị là quí lắm rồi. Đừng bày vẽ mua
sắm cho tốn tiền. Cha mẹ mất đi, chỉ còn lại hai chị
em mình, nay mình cũng đã lớn tuổi, ráng tu nhơn tích đức
cho con cháu đời sau. Hôm nay rằm, sẵn có trái cây của cậu
Ba nó, để chị cúng Phật xong, ở lại ăn cơm một thể."
Lâu
nay, Tân không tán thành sự tín ngưỡng của chị. Ít khi hắn
đề cập đến chuyện Trời, Phật. Nay, sẵn dịp này, hắn
không bỏ lỡ cơ hội:
"Chị
là Phật tử mà chị có đi chùa thường không? Và chị hay
đi chùa nào?"
Bà
Hai thành thật trả lời:
"Trước
cách mạng, chị cũng thường đi chùa nhưng mấy lúc gần đây,
vì đa đoan nhiều công chuyện nên chị chỉ ở nhà lo tụng
niệm thôi. Chỉ khi nào có rằm lớn thì chị mới bảo thằng
Thảo nó chở đi. Chùa của thầy bổn sư chị ở tận trên
đường đi Lái Thiêu lận."
Tân
đi sâu vào câu chuyện:
"Chị
cũng biết, nhà nước cách mạng rất tôn trọng tự do tín
ngưỡng. Lâu nay, bận lo chống Mỹ cứu nước nên chẳng còn
tâm trí đâu để nghĩ đến chuyện Phật Trời. Dạo này,
ngày một lớn tuổi, tôi thấy cũng muốn có một chỗ nương
tựa cho đời sống tinh thần. Vậy hôm nào có dịp, chị cho
tôi theo đến chùa lễ Phật. Thú thiệt với chị, đảng và
nhà nước tuy chấp nhận tự do tín ngưỡng nhưng không khuyến
khích chuyện cúng kiến vì trong thực tế, Trời Phật đâu
có lo cho chuyện no cơm ấm áo cho mình được; nhưng cá nhân
tôi thì lại nghĩ khác. Giáo lý của đức Phật chắc cũng
có điều hay nên mới có nhiều tín đồ như vậy. Tôi mong
có ngày được nghe quí vị cao tăng thuyết pháp để được
hiểu rõ hơn."
Bà
Hai nghe nói thế, nghĩ rằng cậu em thật lòng muốn "cải tà
qui chánh" nên hớn hở tiếp lời:
"Nghe
cậu Ba nói vậy, chị thiệt mừng trong lòng. Cám ơn Trời
Phật. Để chị biểu thằng Thảo nó đưa cho cậu vài cuốn
kinh cho cậu đọc tụng."
Nói
xong bà Hai gọi vọng ra nhà sau:
"Thảo
ơi, có cậu Ba tới chơi nè con, ra chào cậu Ba đi con."
Thảo
từ nhà trong bước ra chào Tân:
"Thưa
cậu Ba mới tới chơi. Con đang bận tay ở nhà sau nên không
nghe cậu đến."
Bà
Hai nói với Thảo:
"Cậu
Ba mày hỏi má về giáo lý nhà Phật nhưng má có biết gì
đâu mà nói, vậy con coi có cuốn kinh nào dễ tụng cho cậu
con tụng."
Bà
Hai lâu nay chỉ biết đạo Phật qua việc tụng niệm, cúng
sao, cầu an nên mới nghĩ là cậu em muốn tụng kinh như bà.
Tự nãy giờ Thảo cứ ngỡ là mình nghe lầm. Chàng nhìn Tân
với cặp mắt dọ hỏi, trong khi đó Tân trả lời bà Hai:
"Thôi
được chị Hai, tôi chưa có thì giờ để đi chùa tụng kinh
như chị đâu, để hôm nào tìm gặp quí thầy để nghe giảng
có lẽ tiện hơn."
Bấy
giờ Thảo mới biết mình không nghe lầm. Chàng đâu có nghĩ
là cậu mình buông dao mổ heo sớm quá vậy, nhất là một
người cộng sản thuộc hàng cao cấp như Tân. Lòng Thảo cảm
thấy có điều chi không ổn, vội nói cho qua chuyện:
"Hôm
nào cậu rảnh, con đưa cậu đi chùa gặp thầy trụ trì cậu
sẽ hỏi rõ hơn."
Không
ngờ Tân lại tán đồng ngay:
"Cũng
được, nhưng chùa có xa không?"
Thảo
trả lời phân hai:
"Nói
xa thì cũng không xa, mà gần thì cũng không gần. Nếu cậu
thích thì ta đi vậy."
*
Ngôi
chùa nằm ở ngoại ô, thuộc vùng Gia Định trên đường đi
Lái Thiêu. Chùa trông có vẻ quá cũ kỹ, không được trang
hoàng sáng sủa và điều đáng buồn là chùa không tấp nập
tín đồ như dưới thời chế độ cũ. Trụ trì là một vị
sư già thường được gọi là Sư Bảy, thuộc thành phần
không tên tuổi ngay từ dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sư
ông không thuộc phe Ấn Quang hay Việt Nam Quốc Tự. Hằng ngày
Sư vẫn săn sóc mảnh vườn nho nhỏ cùng với đám rẫy để
có cơm rau qua ngày.
Thảo
và Tân đến gặp lúc Sư đang làm cỏ ngoài vườn. Thảo cung
kính chào Sư đồng thời giới thiệu Tân:
"Mô
Phật, thưa thầy con mới đến, và đây là cậu Ba của con."
Tân
cũng lễ phép chào Sư Bảy:
"Mô
Phật, kính chào Hòa Thượng."
Sư
Bảy chắp tay xá lại:
"Mô
Phật, chào đạo hữu, chào con. Lâu nay ít gặp, trông con khác
trước nhiều. Chúng ta hãy vào chùa dùng nước."
Cả
ba im lặng đi vào chùa. Trong khi Sư Bảy đi rửa tay, Thảo
lên chánh điện lễ Phật. Tân không đến nỗi xa lạ với
những lễ nghi này vì hắn đã từng nương tựa vào cửa thiền
trong thời gian hoạt động bí mật. Hôm nay Tân mới có dịp
chiêm ngưỡng tượng Đức Phật. Tuy là tượng đất nhưng
ánh mắt Ngài dường như tỏa ra niềm an lạc. Lòng Tân chợt
cảm thấy chùn xuống, bao nhiêu dự tính trong lòng bỗng như
tan biến trong không gian.
Cả
hai trở vào nhà khách vừa lúc vị trụ trì đang rót nước
trà vào tách. Sư Bảy phá tan bầu không khí xa lạ:
"Hôm
nay con và đạo hữu đây chắc cũng nhàn rỗi nên mới đến
chùa lễ Phật?"
Thảo
vội đáp:
"Bạch
thầy, riêng con cũng muốn đến vấn an thầy, tiện thể cậu
Ba của con muốn tìm hiểu giáo lý nhà Phật, kính xin thầy
hoan hỉ dành cho một buổi pháp thoại."
Vị
sư hướng mắt nhìn Tân chờ đợi. Tân vào đề:
"Bạch
Hòa Thượng, tôi thật tình chưa hiểu nhiều về đạo Phật
tuy có nhiều dịp sinh hoạt nơi chốn thiền môn. Hôm nay đến
đây không ngoài ý muốn tìm hiểu những nét chính yếu trong
giáo lý của Đấng Thích Ca, kính xin lão Hòa Thượng từ bi
khai mở cho tôi những chỗ còn thắc mắc lâu nay."
Vốn
là người miền nam bộc trực, Sư Bảy vui vẻ trả lời:
"Đạo
hữu đừng khách sáo, hãy xem nhau như người nhà. Đạo hữu
có điều chi không rõ xin cứ hãy nêu lên để chúng ta cùng
thảo luận."
Tân
đi thẳng vào đề:
"Bạch
Hòa Thượng, tôi thấy người ta đi chùa cũng như đi nhà thờ
để khấn nguyện cầu xin Phật hoặc Thượng Đế ơn phước
nhưng tôi chưa hề thấy kết quả thực tin của sự thành
tâm ấy. Và nếu quả thật các vị ấy có quyền năng tuyệt
đối với chúng sinh, thế sao các vị ấy không tự chứng
tỏ được sự hiện hữu của mình? Tôi nghĩ Thượng Đế
không có thực."
Và
để biện minh cho lập trường của mình, Tân say sưa nhai lại
những lý luận cũ rích của tổ sư Các Mác:
"Tôn
giáo xuất hiện khi con người rơi vào cảnh đau khổ tuyệt
vọng. Khi gặp cảnh ngộ nan giải, trong lúc bất lực và vô
vọng không còn chỗ bám víu, con người mới nảy sinh ý tưởng
cầu cứu một đấng vô hình. Và khi có một sự ngẫu nhiên
trong muôn một, nếu có một trường hợp được vượt qua
khổ nạn, đấng vô hình đó trở thành linh thiêng. Kế tiếp
là huyền thoại được thêu dệt. Thượng Đế hay Đấng Toàn
Năng được ra đời từ những trương hợp tương tự như
vậy. Nếu con người sống trong vật chất đầy đủ thì chẳng
mấy ai nghĩ đến thần linh. Như vậy khi một xã hội với
đầy đủ tiện nghi và có vật chất sung túc thì tôn giáo
sẽ chẳng có cơ hội xuất hiện. Hòa Thượng nghĩ sao về
điều này?"
Vị
sư ôn tồn trả lời:
"Tôi
chỉ có thể trả lời những gì thuộc phạm vi hiểu biết
của mình. Đối với tín đồ ở đây, tôi không hề bảo
họ cầu xin chư Phật ban ơn phước. Người Phật tử đến
chùa để tu tập sửa đổi tánh hạnh xấu của mình. Việc
lễ lạy Phật là để tỏ lòng tôn kính đối với bậc giác
ngộ chứ không phải để van xin cầu khẩn một sự ban phước.
Phật là một người bình thường như chúng ta. Phật nhận
chân cuộc đời này là khổ nên tự tìm con đường giải
thoát. Sau khi giác ngộ, Người dùng mọi phương tiện để
lưu truyền pháp môn cao quí đó đặng người sau thực hành
hầu tự cứu mình chứ Đức Phật không hề tự tôn vinh mình
là Đấng Toàn Năng có quyền phán xử người khác. Trọng
tâm của giáo lý nhà Phật là chỉ cho chúng sinh vô minh con
đường tự giải thoát khỏi những khổ đau của cuộc đời
chứ không mưu tìm sự hiện hữu của Đấng Tối Cao."
Sư
Bảy dừng lại nhấm chút trà thấm giọng và tiếp tục:
"Chủ
trương của đạo hữu về cuộc sống vật chất đầy đủ
sẽ không cần đến tôn giáo, tôi nghĩ là hơi cực đoan. Vì
một xã hội dù được thỏa mãn hoàn toàn về vật chất,
con người vẫn không thoát khỏi cái khổ gây ra bởi cái già,
cái bệnh, cái chết, cái khổ do lòng ham muốn vô độ, sự
giận hờn, ganh ghét và sự ngu muội. Đạo Phật đến với
thế gian để giúp con người thoát khỏi những cảnh khổ
đó. Đạo Phật không chủ trương hạ thấp giá trị con người
bằng cách dạy bảo tín đồ van xin cầu khẩn ở Thượng
Đế. Khi nào đi sâu vào giáo lý nhà Phật, đạo hữu sẽ
thấy rằng người Phật tử phải ý thức trách nhiệm về
hậu quả của hành động gây ra do bản thân mình, qua thuyết
nghiệp báo. Vì thế vấn đề Thượng Đế không phải là
mối ưu tư của người con Phật."
"Hòa
Thượng nói thế tức là đạo Phật không màng đến sự hiện
hữu của Đấng Tối Cao. Như vậy thì Các Mác có cùng chủ
trương với Đức Thích Ca?"
Câu
hỏi của Tân không làm vị sư giao động mà người vẫn nhỏ
nhẹ trả lời:
"Đạo
hữu kết luận quá sớm sẽ không tránh khỏi sai lầm. Vấn
đề thuộc lãnh vực vô hình, tôi không nói có và tôi cũng
không nói không có. Dù thật sự tôi biết điều ấy có thực,
tôi cũng không thể chứng minh một cách cụ thể để cho đạo
hữu có thể cảm nhận được. Tương tự như vậy, khi tôi
nói không có thì tôi cũng không thể giải thích cụ thể rõ
ràng về những hiện tượng siêu nhiên. Nếu câu trả lời
dừng ở đây chắc đạo hữu sẽ không thỏa mãn. Nhưng nếu
muốn đi sâu vào vấn đề, trước hết đạo hữu phải buông
bỏ những thành kiến đã có trong tư tưởng đạo hữu, đặc
biệt là thiên kiến chấp không. Có như vậy, đạo hữu mới
mong thấy được phần nào đạo lý cao siêu và mầu nhiệm
của Đức Phật."
Chờ
cho Tân thâm nhập những lời của mình, vị sư tiếp lời:
"Trước
tiên, những danh xưng về các đấng vô hình mà thế gian thường
dùng, chỉ là những qui ước, khái niệm chứ không nói lên
được thực chất của vấn đề. Có và không là hai biên
kiến của ý niệm. Rơi vào "cái có," đạo hữu không giải
quyết gì được thực trạng của con người, rớt vào "cái
không" thì cái thực trạng đó càng trở nên tồi tệ hơn.
Khi nào không có một ý niệm nổi lên về cái có hay không,
về Thượng Đế hay ma quỉ thì bấy giờ cái mà đạo hữu
đang thắc mắc sẽ hiện bày rõ ràng."
Tân
lộ vẻ ngoan cố của mình:
"Hòa
Thượng bảo những danh xưng về các đấng vô hình chỉ là
những khái niệm, thế có khác nào Hòa Thượng đồng ý với
Các Mác rằng Thượng Đế chỉ là sản phẩm của trí tưởng
tượng của con người. Nói thế có khác gì không có Thượng
Đế? Hơn nữa, thuyết nhân duyên và lý vô ngã của nhà Phật
cũng chủ trương vô thần giống như Các Mác, đỉnh cao trí
tuệ của loài người?"
Vị
sư vẫn kiên nhẫn:
"Đạo
hữu ơi, hãy lắng lòng mình lại. Thoạt tiên, Đức Phật
thuyết nhân duyên là để giải tỏa thắc mắc của người
đời về sự hình thành của vạn hữu. Chỗ gút mắc là khi
ưu tư về vấn đề trên, người ta đã dính mắc trong tâm
rằng vũ trụ này đã do một bàn tay nào đó tạo ra hoặc
do thuyết ngẫu nhiên hay tự nhiên hay gì gì đó sinh ra. Lập
luận của thuyết nhân duyên rất chặt chẽ, mãi cho đến
ngày nay vẫn chưa ai phá vỡ được, nên có người vội vã
kết luận là đạo Phật vô thần. Thật ra, theo kinh Lăng Nghiêm,
thuyết này chưa phải là đệ nhất nghĩa đế. Dụng ý của
Phật khi dạy về thuyết nhân duyên là để phá cái chấp
trong tâm của người đời về sự hình thành của vũ trụ
dưới bất cứ luận thuyết nào.
Cũng
như thế, lý vô ngã là để phá cái chấp trong tâm của những
người tin quyết rằng có một Thượng Đế toàn năng, sáng
tạo và cai quản vũ trụ. Cái mà đạo hữu cho rằng không
có Thượng Đế cũng chỉ là một ý niệm. Nếu cái ý niệm
đó không được khơi dậy thì vấn đề có Thượng Đế hay
không có Thượng Đế có phải chỉ là lông rùa sừng thỏ
hay không?"
Tân
cảm thấy bối rối trước lập luận của nhà sư nhưng hắn
vẫn không nhượng bước:
"Nhưng
chắc Hòa Thượng cũng nhất trí với tôi rằng giữa vật
chất và tinh thần, cái mà Hòa Thượng gọi là ý niệm, vật
chất là cái có trước rồi tinh thần mới nhân đó mà sinh
ra? Ví như nhờ có sự hiện hữu của trái cam nên mới có
cái biết về trái cam. Nếu không có trái cam thì cái biết
về trái cam sẽ không sinh ra."
Nhà
sư điềm đạm trả lời:
"Lý
luận của đạo hữu dựa vào các hiện tượng ngoại giới.
Tôi sẽ nương vào đó mà hầu đáp đạo hữu. Trái cam mà
bạn nói đó có thường còn hay sẽ hoại diệt? Chắc chắn
nó sẽ theo thời gian mà bị hư hoại. Căn cứ vào mọi hiện
tượng xảy ra trên đời này, có cái gì sinh ra mà không diệt
không? Không có cái gì đi ra ngoài định luật thiên nhiên
đó, có đúng thế không? Nay tôi hỏi bạn, cái biết, được
sinh ra từ trái cam đó có thường còn hay cũng hoại diệt?"
Dừng
lại vài giây để cho Tân theo kịp vấn đề, nhà sư chậm
rãi tiếp tục:
"Nếu
nó thường còn thì trái với định luật sinh diệt của thiên
nhiên, nhưng nếu nó hoại diệt theo trái cam nghĩa là khi trái
cam bị hư thối và hủy diệt thì cái biết sẽ không còn.
Cái biết đó theo trái cam mà hoại diệt, vậy sao khi thấy
cái xe thì đạo hữu lại biết đó là cái xe, khi thấy cái
nhà thì đạo hữu lại biết đó là cái nhà? Chẳng lẽ cái
biết đó lại cứ sinh sinh diệt diệt theo cái nhà, cái xe
và trái cam? Hơn nữa, nếu trái núi tồn tại ngàn năm thì
cái biết kéo dài ngàn năm hoặc giả con muỗi sống vài ngày
thì cái biết chỉ bằng với đời sống con muỗi? Lại nữa,
khi cái biết bị hủy diệt theo trái cam thì tại sao khi nghe
ai nói về trái cam thì hình ảnh và cái biết về trái cam
lại hiển hiện trở lại? Vậy đạo hữu có thấy là thuyết
này không đứng vững không?"
Bị
nhà sư hỏi vặn một hơi, Tân thấy choáng váng. Trong khi Tân
chưa tìm được lối thoát, nhà sư lại bồi thêm:
"Theo
như lý luận của đạo hữu, trái cam sinh ra cái biết; vậy
tại sao cùng một trái cam lại sinh ra nhiều cái biết khác
nhau? Ví như người bị loạn thị sẽ có cái biết về trái
cam khác với người có con mắt bình thường?"
Để
có lối thoát, Tân hỏi vặn lại:
"Nếu
nói như Hòa Thượng, thì tinh thần sinh ra vật chất hay nói
cách khác, tinh thần có trước vật chất?"
Nhà
sư mỉm cười rộng lượng:
"Có
bao giờ tôi bảo như thế đâu? Khi đặt vấn đề trước
hay sau, đạo hữu đã khơi dậy ý niệm về khởi thủy và
tận cùng. Đạo hữu lại rơi vào biến kế chấp. Thực thể
của vấn đề là nếu thế gian này không có con người thì
mọi vật trở thành vô nghĩa."
Tân
lại có chỗ bám víu:
"Nhưng
con người là một tổng hợp vật chất, và cái biết của
con người xuất phát từ khối vật chất đó?"
Tân
yên trí nhà sư sẽ bị bắt bí bởi câu hỏi trên. Sư Bảy
chậm rãi mời Tân uống trà. Đợi khi Tân đưa tay cầm lấy
tách trà, nhà sư làm như vô tình cầm lấy bình trà châm vào
tách cho Tân nhưng nguyên vòi nước nóng từ bình trà tuôn
vào bàn tay của Tân khiến Tân suýt làm rơi tách trà. Hắn
xuýt xoa bàn tay và tuy trong lòng không được vui nhưng Tân
vẫn cố làm như không quan trọng. Sư Bảy tỏ lời xin lỗi
về sự vô ý và cũng nhân đó trả lời câu hỏi của Tân.
"Này
đạo hữu, bàn tay của bạn vừa bị nóng. Cái cảm giác nóng
đó đang hiện hữu nơi các tế bào trên tay của bạn. Giả
dụ rằng cái cảm giác đó phát sinh từ cái tổng hợp vật
chất này, nhưng có một điều chắc chắn là cái cảm giác
không phải là vật chất. Đạo hữu có đồng ý với tôi
hay không? Vì nếu cái cảm giác ấy là vật chất thì hiện
giờ nó ở trong cơ thể bạn, bạn hãy mang nó ra đây cho tôi
sờ mó nó xem sao. Chắc chắn bạn sẽ không làm được vì
cảm giác không thể là vật chất."
Sau
khi uống một hớp trà để thấm giọng và cũng để cho Tân
và Thảo bình tâm lại, nhà sư tiếp tục:
"Đến
đây mới là vấn đề trọng yếu mà tôi muốn nói với đạo
hữu. Nơi tay bạn bây giờ có cảm giác đau, vậy phải có
cái biết để bạn biết cảm giác đó chứ. Vậy hãy tạm
cho rằng cái biết được phát sinh từ cái cảm giác đau,
và theo như lý luận của bạn thì rõ ràng cái biết được
phát sinh từ một cái không phải là vật chất. Bạn nghĩ
sao về vấn đề này?"
Trong
khi Tân chưa tìm được câu trả lời thì nhà sư tiếp:
"Này
đạo hữu, trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật có ví dụ như
thế này. Ngài bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông rồi
Ngài hỏi đại chúng có nghe không. Đại chúng trả lời là
có nghe. Đến khi tiếng chuông dứt, Phật hỏi lại câu cũ,
đại chúng trả lời là không nghe. Phật lại bảo ông La Hầu
La đánh thêm một tiếng chuông, xong Phật lại hỏi đại chúng
là có tiếng không, đại chúng đáp lại là có tiếng. Đến
khi tiếng dứt, Ngài lại hỏi là có tiếng không, đại chúng
đáp là không tiếng. Nhân đó Phật dạy: Khi nghe tiếng chuông
không phải vì có tiếng chuông mà cái nghe phát sinh, đến
khi hết tiếng chuông thì không nghe, đừng tưởng rằng cái
nghe đã diệt theo tiếng chuông. Vì khi cái nghe đã bị diệt
sao lại nghe được cái không tiếng. Đừng lầm lẫn giữa
cái không tiếng và cái không nghe. Khi không có tiếng thì đừng
tưởng là không có cái nghe. Vậy tiếng là thinh trần giả
dối, do duyên hợp mà sinh, còn cái nghe là bản tính chân thật
nơi mỗi con người, không sinh diệt theo các tiền trần giả
dối."
Đến
đây, quả thật Tân đã đuối lý trước nhà sư nhưng vẫn
gắng gượng:
"Nhưng
Các Mác nói rằng vật chất là yếu tố quyết định, vật
chất chi phối đời sống con người. Điều này tôi nghĩ không
sai vì người xưa nói rằng có thực mới vực được đạo,
thầy nghĩ sao?"
Thảo
nhận ra Tân thay đổi cách xưng hô, gọi Sư Bảy là thầy,
lòng chàng cảm thấy vui vui, bầu không khí trở nên thân mật
và gần gũi hơn. Nhà sư vẫn an nhiên tự tại như bao giờ,
ông trả lời Tân:
"Cái
tay sai xử ý tưởng của bạn hay ý tưởng điều động cái
tay? Khi nãy tôi rót nước lên tay bạn, đó là cái ý chủ
động chứ đâu phải cái tay tự tung tự tác muốn làm gì
thì làm. Tôi nói như thế để bạn buông bỏ ý nghĩ rằng
vật chất là yếu tố quyết định, chứ không phải tôi muốn
nói tinh thần chi phối vật chất. Vì nếu nói như thế thì
tại sao ta không bảo được vật chất biến mất trên cõi
đời này? Tôi nghĩ đạo hữu đồng ý với tôi rằng vật
chất và tinh thần có mối tương quan không thể tách rời."
"Nhưng
ở đây tôi muốn nói vật chất duy trì sự sống con người,
vì nếu không ăn con người sẽ chết."
"Thân
thể của bạn thuộc về hình sắc hữu vi, dĩ nhiên nó phải
hòa hợp đồng điệu trong thế giới của nó. Thân thể của
bạn ví như chiếc xe, chân tâm bạn ví như người tài xế;
cái xe thì phải ăn xăng uống nhớt mới chạy được chứ
người tài xế có uống nhớt ăn xăng để mà sống bao giờ?"
Tân
bây giờ như người mới được lột xác, thừ người ra đó,
chìm đắm trong rừng ánh sáng mới. Lâu nay Tân hấp thụ cái
học một chiều hoàn toàn bưng bít và nhồi sọ nên trong một
phút giây không thể xóa tan hết tà kiến được huân tập
từ lâu. Tân trở nên lễ độ hơn khi hỏi nhà sư:
"Thưa
thầy, vậy thì quan niệm của đạo Phật như thế nào đối
với tiến trình thay đổi của xã hội loài người?"
"Ý
đạo hữu muốn nói về các giai đoạn kinh qua của con người
từ hình thức công xã nguyên thủy cho đến tư bản rồi đến
cộng sản? Các Mác đã hết sức sai lầm khi tưởng tượng
ra cái khởi thủy. Vì có cái bắt đầu nên phải có chỗ
chấm dứt. Với Các Mác, xã hội cộng sản là xã hội tiến
bộ tột cùng. Theo ông, đó là điểm tiến trình cuối cùng
của xã hội. Vì nếu nó tiến nữa tức là kinh qua một hình
thái xã hội tiến bộ hơn, thế có nghĩa là chủ thuyết cộng
sản chưa hoàn hảo. Do đó để bảo vệ lập trường của
mình, Các Mác phải chấm dứt tiến trình ở đó. Nhưng khi
làm thế, ông ta lại phản bội lại với lập luận căn bản
của mình. Đó là sự mâu thuẫn nội tại. Tuy rằng lý thuyết
này vay mượn của Hê-ghen, nhưng nó giữ vai trò quan trọng
trong chủ thuyết cộng sản. Theo đó, một cái gọi là A, tự
nó mang tính a dương. Trong tính a dương này tiềm ẩn một
lực đối nghịch a âm. Theo tiến trình, tính a âm phát triển
cho đến lúc nó tương đương với a dương và cả hai phá
hủy lẫn nhau để cuối cùng cái A sinh ra cái B. Đại lược
là như thế và thế giới vật chất cứ như vậy mà phát
triển. Theo lý luận này thì yếu tố mâu thuẫn nội tại
trong hình thức xã hội cộng sản ở đâu?"
Uống
thêm một miếng trà và không chờ Tân có ý kiến, Sư Bảy
tiếp luôn:
"Nếu
nó có thì xã hội cộng sản sẽ không còn là xã hội tiến
bộ tột đỉnh; nhưng nếu nó không có thì hóa ra Các Mác
phản bội lại lập thuyết của mình. Chọn câu trả lời
nào, chủ thuyết Cộng Sản cũng rơi vào chỗ bế tắc. Do
đó nhãn quan của Các Mác còn rất giới hạn và cái biết
của ông không vượt qua khỏi cánh rừng khái niệm. Đối
với vấn đề này, Phật giáo nhìn sự vận hành của vũ trụ
như là một chuỗi luân hồi tiếp nối không ngừng. Thế nên
tự nó không có điểm bắt đầu thì làm sao có chỗ tận
cùng? Đạo hữu có thấy chỗ khác nhau giữa cái trí của
bậc giác ngộ và tư tưởng của người tự trói buộc mình
vào vòng khái niệm của chính mình vẽ ra?"
Tân
ngồi há hốc, không có được một lời. Nhà sư chờ cho cả
hai thấm nhập những lời vừa qua, rồi chẩm rãi tiếp tục:
"Từ
điểm này, tôi muốn nói với đạo hữu một điều hết sức
quan trọng. Đó là đạo Phật không có lập thuyết."
Cả
Tân lẫn Thảo đều ngơ ngác. Cả hai không hiểu nhà sư muốn
nói gì. Bấy giờ Thảo mới lên tiếng:
"Thưa
thầy, con quá hoang mang ở điểm này. Thày bảo đạo Phật
không có lập thuyết thế thì Tứ Diệu Đế là gì? Thập
Nhị Nhân Duyên là gì? Nhân quả luân hồi là gì? Nghiệp báo
là gì?"
Sư
Bảy từ bi ngước nhìn người đệ tử của mình:
"Tất
cả những thứ con vừa kể cùng tất cả những lời dạy
quí báu của Phật không phải là chân lý rốt ráo. Nhân vì
chúng sinh thường chấp giữ những sở học nên Đức Phật
phải đưa ra những lập luận kiên cố và vững chắc như
vậy để phá vỡ sự cố chấp trong tâm họ chứ Phật không
muốn người sau khư khư ôm giữ những lời Phật dạy như
là khuôn vàng thước ngọc. Do đó sau hơn bốn mươi năm lặn
lội đi truyền bá giáo lý nhiệm mầu, Đức Phật không muốn
người sau ôm giữ cứng ngắc những giáo lý đó, như những
người cộng sản ngày nay đối với chủ thuyết của Các
Mác và Lê Nin. Cũng như trong hàng Phật tử có người nghĩ
rằng thuyết nhân duyên và thuyết vô ngã là chân lý nên đi
đến kết luận là đạo Phật vô thần. Biết trước tâm
niệm chúng sinh hay chấp giữ như thế nên Ngài mới nhiều
lần nhấn mạnh trong kinh Kim Cương:
*
Pháp ta nói ví như chiếc bè sang sông. Đến bờ bên kia rồi
thì hãy mạnh dạn buông bỏ chiếc bè, hoặc
*
Như Lai nói không có pháp nào là pháp được đạo vô thượng
chánh đẳng chúng giác, hoặc
*
Nếu có người nói rằng Như Lai có nói pháp, tức là người
đó báng Phật, vì họ không hiểu nghĩa ta nói.
Ngoài
ra, trước khi nhập niết bàn, Phật còn nói rằng, suốt thời
gian qua, ta không có nói lấy một lời. Vậy những gì thầy
nói đây không ngoài ý đó."
Đến
đây, sư bảo Thảo đi gọi chú tiểu Minh vào cho người dạy
việc. Khi chú tiểu vào, sư bảo chú lấy cho sư bộ kinh Lăng
Già. Quay sang Tân và Thảo, sư bảo:
"Tiện
đây tôi cho hai người xem một đoạn kinh để làm sáng tỏ
vấn đề. Đây là quyển kinh Lăng Già, một yếu chỉ của
nhà thiền. Kinh này rất khó hiểu, khó vào. Tôi chỉ tạm
trích đọc một đoạn liên hệ đến vấn đề đang nói.
Kinh
viết rằng: "Khi ấy Bồ Tát Đại Huệ bạch Phật: 'Thế Tôn!
Như Thế Tôn một hôm nói rằng các luận thế gian, mọi thứ
biện thuyết dè dặt chớ gần. Nếu gần gũi thì chấp nhận
tham dục, chẳng chấp nhận pháp. Thế Tôn cớ sao nói lời
như thế?' Phật bảo Đại Huệ:
'Ngôn
luận thế gian, các thứ cú vị, nhơn duyên thí dụ, gom nhóm
trang nghiêm dẫn dụ dối gạt kẻ phàm phu, ngu si không vào
được chân thật tự thông, chẳng giác tất cả pháp, vọng
tưởng điên đảo rơi vào hai bên. Kẻ phàm phu lầm mà tự
phá hoại, tiếp nối sanh trong các cõi, không được giải
thoát, không thể giác biết tự tâm hiện lượng, chẳng lìa
tánh tự tánh vọng tưởng, chấp trước bên ngoài. Thế nên
ngôn luận thế gian, các thứ biện thuyết chẳng thoát khỏi
sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não dối gạt mê loạn.
Đại
Huệ! Thích Đề Hoàn Nhân rộng giải các luận, tự tạo thanh
luận, thế luận kia, có một người đệ tử giữ hình tượng
rồng, đến thiên cung Đế Thích dựng lập luận tông, cốt
phá bánh xe ngàn căm của Đế Thích. Nếu tôi chẳng bằng
xin chặt mỗi đầu để đền chỗ thua. Tạo lời cam kết
ấy rồi, liền dùng pháp Đế Thích đè bẹp Đế Thích. Đế
Thích thua liền phá bánh xe kia. Rồi ông ta trở về nhơn gian.
Như thế, Đại Huệ! Thế gian ngôn luận nhơn dụ trang nghiêm,
cho đến súc sanh cũng hay dùng các thứ cú vị làm hoặc loạn
chư thiên kia và A Tu La kẹt trong kiến chấp sanh diệt, huống
là loài người. Thế nên Đại Huệ! Thế gian ngôn luận nên
phải xa lìa, bởi hay chuốc lấy nhân sanh khổ, dè dặt, chớ
gần gũi.'
Trước
khi giải thích đoạn kinh này, tôi muốn lưu ý các người
một điều. Muốn hiểu kinh Phật thì phải lìa văn tự. Nếu
khư khư lập lại giống y như kinh viết thì đó không phải
là cách đúng đắn của người học đạo. Đoạn kinh tôi
vừa đọc, nói rằng các luận thuyết của thế gian luôn luôn
chỉ đưa chúng ta vào mê hồn trận của rừng khái niệm,
cuối cùng càng thêm não loạn. Điểm mà kinh muốn nhấn mạnh
ở đây là vấn đề lập thuyết. Sau đây là các điểm trọng
yếu trong kinh mà chúng ta phải lưu tâm để nhìn thấy chủ
ý của Đức Phật muốn nói.
*
Thứ nhất: Thích Đề Hoàn Nhân đã dựng lập luận thuyết
của riêng mình.
*
Thứ hai: Người đệ tử của Thích Đề Hoàn Nhân giữ hình
tượng rồng. Người đệ tử, tức là người trong nội bộ
hay là người nhà của Đế Thích. Điều này ám chỉ vấn
đề sẽ xuất phát từ trong nội bộ của Đế Thích. Rồng
là một biến thể của rắn trong trạng thái hoàn mỹ nhất;
rắn tượng trưng cho lòng thâm hiểm, xấu xa. Vì thế kinh
nói rằng người đệ tử giữ hình tượng rồng tức là mầm
mống ung thối đã tích lũy sẵn từ trước. Thâm ý của đoạn
này là hạt nhân hủy hoại luận thuyết của Đế Thích xuất
phát ngay từ trong lòng luận thuyết đó.
*
Thứ ba: Người đệ tử dựng lập luận tông, cốt phá bánh
xe ngàn căm của Đế Thích. Đoạn này muốn nói luận tông
của người đệ tử sẽ phá vỡ luận thuyết của Đế Thích.
Bánh xe tượng trưng cho pháp luân, tức là luận thuyết của
Đế Thích. Những cây căm là yếu tố nồng cốt của bánh
xe. Một bánh xe mà thiếu các cây căm thì không thể gọi là
bánh xe được. Ở đây muốn nói luận thuyết của Đế Thích
rất vững chắc, lập luận chặt chẽ, dựa trên cả ngàn
yếu tố căn bản.
*
Người đệ tử cam kết bị chặt đầu nếu bị thua.
*
Cuối cùng, người đệ tử đã dùng pháp của Đế Thích mà
đè bẹp Đế Thích khiến ông ta phải trở về nhân gian.
Tổng
hợp những điều vừa nêu, chúng ta thấy Đức Phật dạy
rằng, bất cứ một chủ thuyết nào được dựng lập, càng
chi tiết và càng chặt chẽ bao nhiêu thì càng dễ bị phá
vỡ bởi những yếu tố mầm mống xuất phát ngay từ chỗ
lập luận căn bản của chủ thuyết đó. Nói cách khác, Đức
Phật dạy chúng ta về yếu tố mâu thuẫn nội tại, cái mà
Các Mác đã vay mượn của Hê-Ghen để dựng lập luận tông
của mình. Bạn có thấy rằng Đức Phật đã đi trước Các
Mác quá xa không? Và cũng từ điểm này, tôi lập lại với
các bạn một lần nữa, đạo Phật không có lập thuyết.
Ngay cả thuyết cũng không lập nữa thì lấy gì làm nhân tố
nội tại để bị hủy diệt? Đó là lý do vì sao đạo Phật
tồn tại với thời gian, mặc dù tôn giáo này không có tổ
chức chặt chẽ và hệ thống hóa như các tôn giáo khác.
Trong
các thế luận ngày nay, chủ thuyết cộng sản tương đối
có phần chặt chẽ hơn cả. Và rồi các người sẽ thấy
chủ thuyết này sẽ sụp đổ và kẻ phá vỡ chủ thuyết
lại chính là môn đệ của Các Mác và mầm mống làm ung thối
chủ thuyết này xuất phát từ những điểm căn bản lập
thuyết của nó. Đó không phải là những điều tôi phỏng
đoán mà là những lời Đức Phật dạy cách đây hơn 2500
năm rồi." (*)
Nhìn
về Tân, vị sư hỏi:
"Đạo
hữu có còn gì thắc mắc không? Cứ tự nhiên nêu lên. Cái
gì giải quyết được hôm nay đừng để lại hôm sau. Hãy
sống với thực tại."
Mất
đi vẻ cao ngạo lúc mới vào, Tân kính cẩn thưa:
"Tôi
thành thật cám ơn thầy đã mở rộng tầm mắt cho tôi. Thế
mà lâu nay tôi lại mù quáng và ngu muội nghĩ rằng Các Mác
là đỉnh cao trí tuệ của loài người. Thật là khoác lác.
Giờ đây tôi xin cáo từ. Một ngày không xa, tôi xin được
phép trở lại viếng thầy."
Tân
mãi mê nói đến khi nhìn lên thì nhà sư đã nhắm mắt từ
lúc nào rồi. Trông tư thế nhà sư thật là siêu thoát. Tân
liếc nhìn Thảo để ngầm hỏi ý kiến, Thảo ra dấu bảo
hãy nhẹ nhàng ra về. Cả hai ra sau chùa để cáo biệt các
sư sãi.
Trên
đường về, Tân không quên thắc mắc:
"Thảo
này, thầy nhắm mắt lại là ý gì vậy, bộ thầy mệt và
không muốn nghe tao nói hả?"
"Thầy
nhập thiền đấy."
"Thật
tao hết hiểu nổi. Đang nói chuyện ngon lành bỗng nhiên lại
nhắm mắt ngồi yên như chết. Trời mà biết!"
Cả
hai yên lặng, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.
Bỗng Tân chép miệng nói, thảo nào! thảo nào!
Thảo
không nghe rõ, hỏi lại:
"Cậu
nói gì?"
"Tao
có nói gì đâu."
"Thế
sao cậu vừa mới kêu tên con những đến hai lần?"
"Tao
đâu có kêu mày mà tao muốn nói hèn chi."
Câu
trả lời của Tân khiến Thảo càng thêm mù tịt:
"Cậu
nói gì thật con không hiểu."
"Tao
nói thảo nào, có nghĩa là hèn chi ngày trước lúc còn sống,
bác Hồ căn dặn tụi tao là phải canh chừng Phật giáo triệt
để. Ông ấy bảo rằng Phật giáo là đạo đi sát với đời
sống nhân dân. Các sư sãi là những người có đạo đức,
đặc biệt là giáo lý của họ, xem qua lịch sử đất nước
mới thấy sư sãi ngày trước được trọng vọng không phải
là vô cớ. Bác Hồ căn dặn nhiều lần là Phật giáo còn
là cộng sản có cơ nguy, vậy phải tiêu diệt tận gốc Phật
giáo. Ngày nay tao mới thấy là ông ta đúng. Vì thế tao mới
gạ gẫm mầy đưa tao đi chùa đặng tao phá vỡ tận gốc
phong trào bất bạo động đang bành trướng trong nhân dân
chống phá cách mạng."
Nghe
Tân nói mà Thảo thót ruột từng cơn, làm bộ ngây thơ hỏi
lại:
"Bộ
có chuyện đó nữa sao hả cậu?"
Tân
cười lớn:
"Thôi
đi ông non. Đừng có giả mù sa mưa, lấy vải thưa mà che
mắt thánh. Ông là một trong những thằng chủ chốt phát động
phong trào bất bạo động dựa trên căn bản giáo lý nhà Phật.
Phong trào này làm tao mất ăn mất ngủ bấy lâu nay. Bao nhiêu
sách lược đối phó của nhà nước đối với phong trào này
giống như là băng mà gặp nước nóng, giống như là gió vô
nhà trống, mất hút tăm hơi."
Thảo
thấy lạnh xương sống, rụng rời cả tay chân. Lâu nay chàng
tưởng Tân không biết những hoạt động bí mật của tổ
chức chống phá ngụy quyền cộng sản. Không ngờ Tân biết
rõ tất cả và đang quăng một mẻ lưới bắt trọn ổ. Vô
tình Thảo đưa quỉ về phá nhà trai. Thảo đau buồn quá.
Chàng đã làm liên lụy đến sư phụ kính yêu của mình.
Bỗng
nghe Tân nói:
"Nhưng
mà mày đừng lo. Hôm nay tao khác hôm qua rồi. Ngày mai tao sẽ
thả bọn con Loan với thằng Phong. Tụi nó là cán bộ nồng
cốt của phong trào bất bạo động của mày đấy phải không?
Nhớ bảo tụi nó là mai mốt phải kỹ lưởng và kín đáo
hơn. Nếu bị bắt lại thì thật là khó xử cho tao. Bù lại,
mầy phải hứa làm cho tao một việc."
Thảo
mừng trong bụng như mở cờ, sốt sắng đáp ứng ngay:
"Cậu
muốn gì con cũng cố gắng hết mình."
"Được
rồi, mai mốt sẽ cho biết. Bây giờ thì mình chia tay."
Thảo
không ngờ trong cái rủi lại có cái may.
*
Sáng
nay, trong khi Thảo đang lui cui quét dọn nhà phụ bà Hai thì
Tân đến. Sau khi chào hỏi bà Hai xong, Tân nói riêng với Thảo:
"Đi
mày."
"Đi
đâu cậu?"
"Mầy
không nhớ đã hứa với tao cái gì hôm nọ à?"
Thảo
à lên một tiếng, hỏi lại:
"Nhưng
mà đi đâu và làm gì mới được chứ."
"Đi
thôi, mày đưa tao đi gặp sư phụ."
Thảo
chưng hửng, nhưng chàng vẫn đi thay quần áo và xin phép mẹ
để đi với cậu. Trên đường đi, Tân thố lộ dự tính
của mình:
"Tao
muốn nhờ mày xin cho tao được qui y với thầy."
"Tưởng
việc gì chứ việc đó thì không dễ..."
Thảo
cố tình kéo dài cho Tân nóng ruột rồi nói tiếp:
"...
mà cũng không khó."
Tân
cười vui vẻ:
"Mầy
có lối nói chuyện sao giống thầy quá vậy?"
"Đệ
tử không giống thầy thì giống ai?"
Thảo
định nói, chẳng lẽ lại giống bác Hồ nhưng vội thắng
kịp vì dù sao ông ta vẫn còn là thần tượng của Tân.
Cả
hai trò chuyện quên đường dài. Đến trước cổng chùa, Thảo
cảm thấy có điều gì khác lạ. Cổng chùa sao lại khép kín.
Lòn tay vào bên trong, Thảo mở chốt cổng dễ dàng. Cả hai
đi ngang bên ngoài chánh điện, nhìn vào cửa sổ thấy chú
tiểu Minh đang ngồi bất động trước quyển kinh đang mở
ra. Đi lần vào trong, cả hai không tìm thấy bóng dáng sư Bảy
ở đâu. Nhìn ra vườn rau, vườn rau trơ ra đó. Thảo đành
đi vào chánh điện hỏi chú tiểu Minh. Đáng lý Thảo không
nên quấy rầy như vậy nhưng chàng linh cảm một điều gì
khác thường nên đành phá lệ. Vào gặp chú tiểu Minh, Thảo
thấy gương mặt chú buồn thiu, đôi mắt đỏ hoe, Thảo vội
hỏi:
"Có
gì thế chú Minh? Thầy đâu rồi?"
Không
cầm được giọt lệ, chú tiểu nghẹn ngào:
"Thầy
đã đi rồi."
Thảo
sững sờ và dồn dập:
"Thầy
đi đâu và đi hồi nào?"
"Thầy
đi ngày hôm qua và bảo rằng có việc phải đi. Và thầy còn
dạy rằng, có hợp ắt phải có tan, lâu nay chúng mình như
là hành khách chung xe. Đến đây thầy phải xuống trạm này
để đi xe khác, còn con nếu làm đúng theo lời thầy dạy
thì sau này sẽ gặp lại thầy."
Thảo
run giọng:
"Thày
còn nói gì nữa không?"
"Có,
thầy để lại hai phong thơ bảo giao cho huynh và chú Tân đây."
Nói
xong chú tiểu đi lấy thơ trao cho hai người. Tân run run mở
thơ ra đọc:
Thân
gởi đạo hữu Tân,
Cuộc
hội ngộ giữa chúng ta không phải tự nhiên mà có, vô cớ
mà thành. Tất cả đều do nhân duyên ngày trước. Nay vì có
Phật sự tôi phải đi xa một thời gian. Có gì chưa rõ thì
hãy thảo luận với Thảo. Đạo không phải do nói mà được,
phải ngay nơi lý mà ngộ và từ nơi sự mà thành. Đừng tìm
cầu ở ngoài. Hãy buông bỏ chuyện thế gian, xoay cái nghe
lại nghe tiếng nói của tự tâm sẽ ngộ lại chính mình.
Chúc đạo hữu sớm thành công.
Thân
ái
Tân
đọc lại nhiều lần bức thơ nhưng vẫn chưa thấy thỏa
mãn. Tân nôn nóng hỏi Thảo:
"Thầy
có dặn mầy điều gì không?"
Thảo
đưa cho Tân bức thơ thầy gởi cho mình.
Thảo
con,
Thầy
đã gặp người thầy cần gặp. Duyên hợp không còn thì chia
ly là điều không tránh khỏi, vậy con đừng buồn. Sau đây
là mấy lời dặn sau cùng, lý sự gồm đủ, con hãy cố gắng
theo đó mà thực hành, buổi gặp lại thầy sẽ không xa.
Đại
địa sơn hà lớn lắm sao?
Đầu
lông sao lại lọt ngay vào,
Lớn
to, bé nhỏ không qua niệm,
Niệm
niệm lồng nhau thật khít khao.
*
Diệt
niệm, qua thân khác,
Dứt
niệm, đồng cỏ dại,
Giác
niệm niệm, hữu nhị,
Niệm
niệm giác, không hai.
Thương
con,
Thầy
Ngoài
ra sư Bảy còn để lại bộ kinh Lăng Nghiêm để tặng Tân
và kinh Lăng Già tặng Thảo. Cả hai cảm thấy ngùi ngùi. Cảnh
chùa trở nên vắng vẻ đìu hiu. Sau đó cả hai lặng lẽ ra
về. Tân buồn bã tâm sự với Thảo:
"Không
ngờ lúc đồ tể buông dao mổ heo thì Phật quay lưng lại,
mình muốn qui y thì thầy đã ra đi."
Thảo
an ủi:
"Cậu
nói thế e là không đúng. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ
Huệ Năng dạy rằng: Qui y Phật tức là nương về cái tánh
diệu giác của mình, qui y Pháp tức là nương theo sự chân
chính trong tánh mình, qui y tăng là nương về cái thể thanh
tịnh trong tánh mình. Cậu đừng nghĩ rằng phải qui y một
ông Tăng hay một ông Sư nào đó thì mới được. Rủi gặp
ác tăng hay tà sư mà qui y thì cả thầy lẫn trò đều xuống
địa ngục. Đành rằng thiện tri thức là điều cần nhưng
không bắt buộc phải có. Lục Tổ cũng dạy rằng: Nếu tự
mình hiểu rõ thì chẳng cần cầu nơi ngoài. Bằng một mực
cố chấp cho rằng phải cầu bậc thiện tri thức mới mong
đặng giải thoát thì không có lý như vậy; bởi trong tâm
mình có sẵn cái cơ tri thức tự ngộ. Vậy cậu đừng bận
tâm vấn đề qui y. Khi thầy bỏ đi bất ngờ như vậy, chắc
là thầy đã rõ là cậu có thể tự ngộ được đạo."
Tân
vẫn ấm ức:
"Nhưng
trong buổi nói chuyện hôm nọ, tao vẫn còn có chỗ chưa thông
suốt."
"Cậu
còn thắc mắc chỗ nào?"
"Thầy
dẫn giải một hơi rồi qui tất cả về ý niệm. Thật tao
còn quá mơ hồ."
"Lý
thì vô cùng tận, nhưng sự thì phải chính mình bước vào
mới nhận được nó."
"Nhưng
tao chưa có một hình ảnh rõ ràng về hai chữ ý niệm do đó
tao mới hoang mang."
"Cậu
muốn thấy được vấn đề, cậu phải thực hành. Tự cậu
phải quan sát nội tâm của mình, lâu dần cậu mới nhận
diện được nó. Để con kể lại một ví dụ đã được
thầy dạy ngày trước. Ví như ở sở làm của cậu, thường
thường có một người đồng nghiệp tên A hay đùa nghịch
quấy rối cậu do đó cậu không mấy thiện cảm với người
đó. Một hôm, cậu thấy cây viết, thường ngày để trên
bàn, bị biến mất. Ý nghĩ đầu tiên đến với cậu là anh
A đã chơi nghịch lấy mất cây viết. Kế đó là vô số ý
tưởng khác liên tiếp nổi dậy chung quanh vấn đề cây viết
bị mất và anh A. Phân tích câu chuyện cậu sẽ thấy rằng:
*
Thứ nhất, thấy được cây viết bị mất là việc của nhận
thức.
*
Thứ hai, cậu nghi ngay thủ phạm là anh A. Biến chuyển dòng
tâm thức của cậu lúc đó chính là ý niệm, thường được
gọi là niệm. Niệm đầu vừa diệt thì vô số niệm khác
tiếp nối nhau sinh sinh diệt diệt không ngừng; ví như cậu
sẽ hạch hỏi ông A về cây viết như thế nào, sẽ gây gỗ
ra sao, sẽ làm gì...
*
Thứ ba, tại sao cậu lại nghi ông A mà không nghi ông B hay
ông C? Là vì trong lòng cậu đã chấp giữ những ý niệm xấu
về ông này, lâu ngày trở thành thành kiến trong tâm cậu.
Điều đó khiến phán đoán của cậu không được vô tư."
Tân
chợt ngắt lời Thảo:
"Nhưng
nếu tao đoán đúng là thằng A đã lấy cây viết thì tao đâu
có lỗi lầm gì?"
Giờ
đây đến lượt Thảo cười rộ lên:
"Cậu
chưa nhìn đúng phương hướng cậu ơi! Mấu chốt của câu
chuyện là cậu đã khơi dậy một ý niệm chứ không phải
vấn đề ý niệm đúng hay ý niệm sai. Dù đúng hay sai thì
bản chất của hai biên kiến đó là ý niệm. Khi một niệm
nổi dậy thì cậu sẽ bị chìm ngập bởi vô lượng ý niệm
khác tuôn nhau tràn tới, và tư tưởng cậu sẽ nghiêng ngã
một trong hai bên, đúng hay sai, phải hay trái, thương hay ghét...
Lúc đó điều gì sẽ xảy ra nơi cậu? Tình cảm thương ghét
giận hờn sẽ theo đó làm cho tâm trí cậu mất quân bình.
Đồng thời, cậu sẽ đánh mất thực tại. Thực tại lúc
bấy giờ là cậu mất cây viết. Là người biết nắm giữ
thực tại, cậu nên đi tìm cây viết, nếu chuyện đó thực
sự cần thiết. Nếu không thì cậu hãy sống với những gì
cậu đang sống."
Đang
ngon trớn, Thảo tiếp luôn:
"Như
bài thơ của thầy để lại không ngoài ý này. Kinh Hoa Nghiêm
nói rằng cõi tam thiên đại thiên thế giới để trên đầu
một sợi lông mà thế giới đó không nhỏ lại cũng như đầu
lông không to lớn hơn. Cả hai chồng khít vào nhau. Phật muốn
dạy rằng, cực đại và cực tiểu là hai cực đoan, chỉ
là những biên kiến của ý niệm. Do vì có cùng bản chất
nên chúng mới có thể chồng khít lên nhau, vì cực đại chính
là cực tiểu, cũng như tâm kinh thường dạy rằng sắc tức
thị không, không tức thị sắc; sắc chẳng khác không, không
chẳng khác sắc. Yếu chỉ của đạo Phật là khi một niệm
mống dậy thì sẽ rơi vào một trong hai cực đoan của vấn
đề. Do đó tổ Huệ Năng dạy rằng đối cảnh mà một niệm
không sanh chính thị là pháp không hai vậy."
Tân
chợt reo to lên:
"Như
vậy thì phiền não tức thị bồ đề rồi, có phải thế
không Thảo?"
Thảo
vui lây trước niềm hân hoan của Tân:
"Chúc
mừng cho cậu. Nhưng cậu nên nhớ rằng tất cả những gì
cậu vừa nói cũng chỉ là vọng tưởng mà thôi. Muốn vào
được chỗ phiền não tức bồ đề cậu phải quyết chí
và tinh tấn thực hành thiền định, có vậy mới không phụ
lòng từ bi của thầy đối với chúng ta."
Tân
mơ màng nói cho chính mình nghe:
"Trí
của Phật mới thật là vô đỉnh trí!"
*
(Bài này viết khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ)
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân