SỐ 303 THÁNG 03 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TRUYỆN
TRÍ VÔ LƯỢNG
MAI HIỀN LƯƠNG

Hôm nay chủ nhật, tuy không đi làm nhưng Đại tá Tân vẫn bận lòng ưu tư về công việc ở cơ quan. Hắn thầm nghĩ: chỉ có nơi này mới có thể tìm ra tận ổ của chúng nó. Nghĩ vậy, Tân bảo người tài xế kiêm cận vệ đưa hắn về phía Gia Định. Hắn ghé chợ mua vài trái cây làm quà biếu bà chị. 

Kể từ ngày cộng sản chiếm đoạt miền Nam, Tân được đảng chỉ định phụ trách an ninh tình báo thành phố Hồ Chí Minh. Ở chức vụ này, hắn đã phá vỡ nhiều âm mưu phản động chống phá nhà nước và cách mạng. Sở dĩ Tân lập được công trạng này vì hắn là người miền nam, dễ la cà và gây cảm tình với những người dân mất điểm tựa chính trị. 

Sinh cùng thời với học sinh Trần Văn Ơn, nhân cái chết của người này, hắn thấy rõ mặt thật của thực dân Pháp, lòng yêu nước của tuổi trẻ thúc đẩy Tân tham gia các tổ chức chống Pháp. Sau đó, vì non kém chính trị nên bị cộng sản đánh lừa. Nhờ có học thức chút đỉnh, hắn dần dần được theo học các khóa chính trị cao cấp về lý thuyết cộng sản. Trong cục chính trị của đảng, Tân được xếp vào hàng có căn bản vững chắc. Với Tân, Các Mác đúng là đỉnh cao trí tuệ của loài người. 

Tân có người chị góa bụa. Trớ trêu thay, ông anh rể này lại chết về tay cộng sản. Vì thế nên hai chị em không tránh khỏi ngỡ ngàng pha lẫn cay đắng trong ngày tái ngộ. Để lấp bớt hố ngăn cách, ngăn cách về ý thức chính trị và ngăn cách bởi hậu quả tang tóc xảy ra cho gia đình bà chị, Tân tìm cho Thảo, con bà Hai, một chỗ làm trong cơ quan của Tân. 

Thảo là sinh viên dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ không dính dáng đến quân đội hay cơ quan công quyền của chế độ cũ, chàng khhông bị tập trung vào tù. Thảo không thể nào thích hợp với Tân, người cậu của thế giới vô sản, nhưng vì hoàn cảnh và vì một lý do riêng mà chàng chấp nhận sự giúp đỡ của Tân. 

Hôm nay Tân ghé thăm bà Hai, ngoài ra hắn còn có mục đích thầm kín khác. 

Bước vào nhà trong lúc bà Hai đang chưng dọn bàn thờ Phật để cúng rằm, Tân chào chị: 
"Thưa chị Hai, hồi nãy, nhơn đi qua chợ BÀ Chiểu, thấy có mấy trái cây tươi tôi có mua một chục đem biếu chị, sẵn dịp thăm chị luôn. Hôm nọ nghe thằng Thảo nói chị không khỏe nhưng vì bận việc cơ quan nên chưa đi thăm được. Hôm nay chị khỏe chưa?" 
Bà Hai vui vẻ trả lời: 
"Cậu Ba nó còn nhớ tới chị là quí lắm rồi. Đừng bày vẽ mua sắm cho tốn tiền. Cha mẹ mất đi, chỉ còn lại hai chị em mình, nay mình cũng đã lớn tuổi, ráng tu nhơn tích đức cho con cháu đời sau. Hôm nay rằm, sẵn có trái cây của cậu Ba nó, để chị cúng Phật xong, ở lại ăn cơm một thể." 
Lâu nay, Tân không tán thành sự tín ngưỡng của chị. Ít khi hắn đề cập đến chuyện Trời, Phật. Nay, sẵn dịp này, hắn không bỏ lỡ cơ hội: 
"Chị là Phật tử mà chị có đi chùa thường không? Và chị hay đi chùa nào?" 
Bà Hai thành thật trả lời: 
"Trước cách mạng, chị cũng thường đi chùa nhưng mấy lúc gần đây, vì đa đoan nhiều công chuyện nên chị chỉ ở nhà lo tụng niệm thôi. Chỉ khi nào có rằm lớn thì chị mới bảo thằng Thảo nó chở đi. Chùa của thầy bổn sư chị ở tận trên đường đi Lái Thiêu lận." 
Tân đi sâu vào câu chuyện: 
"Chị cũng biết, nhà nước cách mạng rất tôn trọng tự do tín ngưỡng. Lâu nay, bận lo chống Mỹ cứu nước nên chẳng còn tâm trí đâu để nghĩ đến chuyện Phật Trời. Dạo này, ngày một lớn tuổi, tôi thấy cũng muốn có một chỗ nương tựa cho đời sống tinh thần. Vậy hôm nào có dịp, chị cho tôi theo đến chùa lễ Phật. Thú thiệt với chị, đảng và nhà nước tuy chấp nhận tự do tín ngưỡng nhưng không khuyến khích chuyện cúng kiến vì trong thực tế, Trời Phật đâu có lo cho chuyện no cơm ấm áo cho mình được; nhưng cá nhân tôi thì lại nghĩ khác. Giáo lý của đức Phật chắc cũng có điều hay nên mới có nhiều tín đồ như vậy. Tôi mong có ngày được nghe quí vị cao tăng thuyết pháp để được hiểu rõ hơn." 
Bà Hai nghe nói thế, nghĩ rằng cậu em thật lòng muốn "cải tà qui chánh" nên hớn hở tiếp lời: 
"Nghe cậu Ba nói vậy, chị thiệt mừng trong lòng. Cám ơn Trời Phật. Để chị biểu thằng Thảo nó đưa cho cậu vài cuốn kinh cho cậu đọc tụng." 
Nói xong bà Hai gọi vọng ra nhà sau: 
"Thảo ơi, có cậu Ba tới chơi nè con, ra chào cậu Ba đi con." 
Thảo từ nhà trong bước ra chào Tân: 
"Thưa cậu Ba mới tới chơi. Con đang bận tay ở nhà sau nên không nghe cậu đến." 
Bà Hai nói với Thảo: 
"Cậu Ba mày hỏi má về giáo lý nhà Phật nhưng má có biết gì đâu mà nói, vậy con coi có cuốn kinh nào dễ tụng cho cậu con tụng." 
Bà Hai lâu nay chỉ biết đạo Phật qua việc tụng niệm, cúng sao, cầu an nên mới nghĩ là cậu em muốn tụng kinh như bà. Tự nãy giờ Thảo cứ ngỡ là mình nghe lầm. Chàng nhìn Tân với cặp mắt dọ hỏi, trong khi đó Tân trả lời bà Hai: 
"Thôi được chị Hai, tôi chưa có thì giờ để đi chùa tụng kinh như chị đâu, để hôm nào tìm gặp quí thầy để nghe giảng có lẽ tiện hơn." 
Bấy giờ Thảo mới biết mình không nghe lầm. Chàng đâu có nghĩ là cậu mình buông dao mổ heo sớm quá vậy, nhất là một người cộng sản thuộc hàng cao cấp như Tân. Lòng Thảo cảm thấy có điều chi không ổn, vội nói cho qua chuyện: 
"Hôm nào cậu rảnh, con đưa cậu đi chùa gặp thầy trụ trì cậu sẽ hỏi rõ hơn." 
Không ngờ Tân lại tán đồng ngay: 
"Cũng được, nhưng chùa có xa không?" 
Thảo trả lời phân hai: 
"Nói xa thì cũng không xa, mà gần thì cũng không gần. Nếu cậu thích thì ta đi vậy." 

Ngôi chùa nằm ở ngoại ô, thuộc vùng Gia Định trên đường đi Lái Thiêu. Chùa trông có vẻ quá cũ kỹ, không được trang hoàng sáng sủa và điều đáng buồn là chùa không tấp nập tín đồ như dưới thời chế độ cũ. Trụ trì là một vị sư già thường được gọi là Sư Bảy, thuộc thành phần không tên tuổi ngay từ dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sư ông không thuộc phe Ấn Quang hay Việt Nam Quốc Tự. Hằng ngày Sư vẫn săn sóc mảnh vườn nho nhỏ cùng với đám rẫy để có cơm rau qua ngày. 
Thảo và Tân đến gặp lúc Sư đang làm cỏ ngoài vườn. Thảo cung kính chào Sư đồng thời giới thiệu Tân: 
"Mô Phật, thưa thầy con mới đến, và đây là cậu Ba của con." 
Tân cũng lễ phép chào Sư Bảy: 
"Mô Phật, kính chào Hòa Thượng." 
Sư Bảy chắp tay xá lại: 
"Mô Phật, chào đạo hữu, chào con. Lâu nay ít gặp, trông con khác trước nhiều. Chúng ta hãy vào chùa dùng nước." 
Cả ba im lặng đi vào chùa. Trong khi Sư Bảy đi rửa tay, Thảo lên chánh điện lễ Phật. Tân không đến nỗi xa lạ với những lễ nghi này vì hắn đã từng nương tựa vào cửa thiền trong thời gian hoạt động bí mật. Hôm nay Tân mới có dịp chiêm ngưỡng tượng Đức Phật. Tuy là tượng đất nhưng ánh mắt Ngài dường như tỏa ra niềm an lạc. Lòng Tân chợt cảm thấy chùn xuống, bao nhiêu dự tính trong lòng bỗng như tan biến trong không gian. 
Cả hai trở vào nhà khách vừa lúc vị trụ trì đang rót nước trà vào tách. Sư Bảy phá tan bầu không khí xa lạ: 
"Hôm nay con và đạo hữu đây chắc cũng nhàn rỗi nên mới đến chùa lễ Phật?" 
Thảo vội đáp: 
"Bạch thầy, riêng con cũng muốn đến vấn an thầy, tiện thể cậu Ba của con muốn tìm hiểu giáo lý nhà Phật, kính xin thầy hoan hỉ dành cho một buổi pháp thoại." 
Vị sư hướng mắt nhìn Tân chờ đợi. Tân vào đề: 
"Bạch Hòa Thượng, tôi thật tình chưa hiểu nhiều về đạo Phật tuy có nhiều dịp sinh hoạt nơi chốn thiền môn. Hôm nay đến đây không ngoài ý muốn tìm hiểu những nét chính yếu trong giáo lý của Đấng Thích Ca, kính xin lão Hòa Thượng từ bi khai mở cho tôi những chỗ còn thắc mắc lâu nay." 
Vốn là người miền nam bộc trực, Sư Bảy vui vẻ trả lời: 
"Đạo hữu đừng khách sáo, hãy xem nhau như người nhà. Đạo hữu có điều chi không rõ xin cứ hãy nêu lên để chúng ta cùng thảo luận." 
Tân đi thẳng vào đề: 
"Bạch Hòa Thượng, tôi thấy người ta đi chùa cũng như đi nhà thờ để khấn nguyện cầu xin Phật hoặc Thượng Đế ơn phước nhưng tôi chưa hề thấy kết quả thực tin của sự thành tâm ấy. Và nếu quả thật các vị ấy có quyền năng tuyệt đối với chúng sinh, thế sao các vị ấy không tự chứng tỏ được sự hiện hữu của mình? Tôi nghĩ Thượng Đế không có thực." 
Và để biện minh cho lập trường của mình, Tân say sưa nhai lại những lý luận cũ rích của tổ sư Các Mác: 
"Tôn giáo xuất hiện khi con người rơi vào cảnh đau khổ tuyệt vọng. Khi gặp cảnh ngộ nan giải, trong lúc bất lực và vô vọng không còn chỗ bám víu, con người mới nảy sinh ý tưởng cầu cứu một đấng vô hình. Và khi có một sự ngẫu nhiên trong muôn một, nếu có một trường hợp được vượt qua khổ nạn, đấng vô hình đó trở thành linh thiêng. Kế tiếp là huyền thoại được thêu dệt. Thượng Đế hay Đấng Toàn Năng được ra đời từ những trương hợp tương tự như vậy. Nếu con người sống trong vật chất đầy đủ thì chẳng mấy ai nghĩ đến thần linh. Như vậy khi một xã hội với đầy đủ tiện nghi và có vật chất sung túc thì tôn giáo sẽ chẳng có cơ hội xuất hiện. Hòa Thượng nghĩ sao về điều này?" 
Vị sư ôn tồn trả lời: 
"Tôi chỉ có thể trả lời những gì thuộc phạm vi hiểu biết của mình. Đối với tín đồ ở đây, tôi không hề bảo họ cầu xin chư Phật ban ơn phước. Người Phật tử đến chùa để tu tập sửa đổi tánh hạnh xấu của mình. Việc lễ lạy Phật là để tỏ lòng tôn kính đối với bậc giác ngộ chứ không phải để van xin cầu khẩn một sự ban phước. Phật là một người bình thường như chúng ta. Phật nhận chân cuộc đời này là khổ nên tự tìm con đường giải thoát. Sau khi giác ngộ, Người dùng mọi phương tiện để lưu truyền pháp môn cao quí đó đặng người sau thực hành hầu tự cứu mình chứ Đức Phật không hề tự tôn vinh mình là Đấng Toàn Năng có quyền phán xử người khác. Trọng tâm của giáo lý nhà Phật là chỉ cho chúng sinh vô minh con đường tự giải thoát khỏi những khổ đau của cuộc đời chứ không mưu tìm sự hiện hữu của Đấng Tối Cao." 
Sư Bảy dừng lại nhấm chút trà thấm giọng và tiếp tục: 
"Chủ trương của đạo hữu về cuộc sống vật chất đầy đủ sẽ không cần đến tôn giáo, tôi nghĩ là hơi cực đoan. Vì một xã hội dù được thỏa mãn hoàn toàn về vật chất, con người vẫn không thoát khỏi cái khổ gây ra bởi cái già, cái bệnh, cái chết, cái khổ do lòng ham muốn vô độ, sự giận hờn, ganh ghét và sự ngu muội. Đạo Phật đến với thế gian để giúp con người thoát khỏi những cảnh khổ đó. Đạo Phật không chủ trương hạ thấp giá trị con người bằng cách dạy bảo tín đồ van xin cầu khẩn ở Thượng Đế. Khi nào đi sâu vào giáo lý nhà Phật, đạo hữu sẽ thấy rằng người Phật tử phải ý thức trách nhiệm về hậu quả của hành động gây ra do bản thân mình, qua thuyết nghiệp báo. Vì thế vấn đề Thượng Đế không phải là mối ưu tư của người con Phật." 
"Hòa Thượng nói thế tức là đạo Phật không màng đến sự hiện hữu của Đấng Tối Cao. Như vậy thì Các Mác có cùng chủ trương với Đức Thích Ca?" 
Câu hỏi của Tân không làm vị sư giao động mà người vẫn nhỏ nhẹ trả lời: 
"Đạo hữu kết luận quá sớm sẽ không tránh khỏi sai lầm. Vấn đề thuộc lãnh vực vô hình, tôi không nói có và tôi cũng không nói không có. Dù thật sự tôi biết điều ấy có thực, tôi cũng không thể chứng minh một cách cụ thể để cho đạo hữu có thể cảm nhận được. Tương tự như vậy, khi tôi nói không có thì tôi cũng không thể giải thích cụ thể rõ ràng về những hiện tượng siêu nhiên. Nếu câu trả lời dừng ở đây chắc đạo hữu sẽ không thỏa mãn. Nhưng nếu muốn đi sâu vào vấn đề, trước hết đạo hữu phải buông bỏ những thành kiến đã có trong tư tưởng đạo hữu, đặc biệt là thiên kiến chấp không. Có như vậy, đạo hữu mới mong thấy được phần nào đạo lý cao siêu và mầu nhiệm của Đức Phật." 
Chờ cho Tân thâm nhập những lời của mình, vị sư tiếp lời: 
"Trước tiên, những danh xưng về các đấng vô hình mà thế gian thường dùng, chỉ là những qui ước, khái niệm chứ không nói lên được thực chất của vấn đề. Có và không là hai biên kiến của ý niệm. Rơi vào "cái có," đạo hữu không giải quyết gì được thực trạng của con người, rớt vào "cái không" thì cái thực trạng đó càng trở nên tồi tệ hơn. Khi nào không có một ý niệm nổi lên về cái có hay không, về Thượng Đế hay ma quỉ thì bấy giờ cái mà đạo hữu đang thắc mắc sẽ hiện bày rõ ràng." 
Tân lộ vẻ ngoan cố của mình: 
"Hòa Thượng bảo những danh xưng về các đấng vô hình chỉ là những khái niệm, thế có khác nào Hòa Thượng đồng ý với Các Mác rằng Thượng Đế chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Nói thế có khác gì không có Thượng Đế? Hơn nữa, thuyết nhân duyên và lý vô ngã của nhà Phật cũng chủ trương vô thần giống như Các Mác, đỉnh cao trí tuệ của loài người?" 
Vị sư vẫn kiên nhẫn: 
"Đạo hữu ơi, hãy lắng lòng mình lại. Thoạt tiên, Đức Phật thuyết nhân duyên là để giải tỏa thắc mắc của người đời về sự hình thành của vạn hữu. Chỗ gút mắc là khi ưu tư về vấn đề trên, người ta đã dính mắc trong tâm rằng vũ trụ này đã do một bàn tay nào đó tạo ra hoặc do thuyết ngẫu nhiên hay tự nhiên hay gì gì đó sinh ra. Lập luận của thuyết nhân duyên rất chặt chẽ, mãi cho đến ngày nay vẫn chưa ai phá vỡ được, nên có người vội vã kết luận là đạo Phật vô thần. Thật ra, theo kinh Lăng Nghiêm, thuyết này chưa phải là đệ nhất nghĩa đế. Dụng ý của Phật khi dạy về thuyết nhân duyên là để phá cái chấp trong tâm của người đời về sự hình thành của vũ trụ dưới bất cứ luận thuyết nào. 
Cũng như thế, lý vô ngã là để phá cái chấp trong tâm của những người tin quyết rằng có một Thượng Đế toàn năng, sáng tạo và cai quản vũ trụ. Cái mà đạo hữu cho rằng không có Thượng Đế cũng chỉ là một ý niệm. Nếu cái ý niệm đó không được khơi dậy thì vấn đề có Thượng Đế hay không có Thượng Đế có phải chỉ là lông rùa sừng thỏ hay không?" 
Tân cảm thấy bối rối trước lập luận của nhà sư nhưng hắn vẫn không nhượng bước: 
"Nhưng chắc Hòa Thượng cũng nhất trí với tôi rằng giữa vật chất và tinh thần, cái mà Hòa Thượng gọi là ý niệm, vật chất là cái có trước rồi tinh thần mới nhân đó mà sinh ra? Ví như nhờ có sự hiện hữu của trái cam nên mới có cái biết về trái cam. Nếu không có trái cam thì cái biết về trái cam sẽ không sinh ra." 
Nhà sư điềm đạm trả lời: 
"Lý luận của đạo hữu dựa vào các hiện tượng ngoại giới. Tôi sẽ nương vào đó mà hầu đáp đạo hữu. Trái cam mà bạn nói đó có thường còn hay sẽ hoại diệt? Chắc chắn nó sẽ theo thời gian mà bị hư hoại. Căn cứ vào mọi hiện tượng xảy ra trên đời này, có cái gì sinh ra mà không diệt không? Không có cái gì đi ra ngoài định luật thiên nhiên đó, có đúng thế không? Nay tôi hỏi bạn, cái biết, được sinh ra từ trái cam đó có thường còn hay cũng hoại diệt?" 
Dừng lại vài giây để cho Tân theo kịp vấn đề, nhà sư chậm rãi tiếp tục: 
"Nếu nó thường còn thì trái với định luật sinh diệt của thiên nhiên, nhưng nếu nó hoại diệt theo trái cam nghĩa là khi trái cam bị hư thối và hủy diệt thì cái biết sẽ không còn. Cái biết đó theo trái cam mà hoại diệt, vậy sao khi thấy cái xe thì đạo hữu lại biết đó là cái xe, khi thấy cái nhà thì đạo hữu lại biết đó là cái nhà? Chẳng lẽ cái biết đó lại cứ sinh sinh diệt diệt theo cái nhà, cái xe và trái cam? Hơn nữa, nếu trái núi tồn tại ngàn năm thì cái biết kéo dài ngàn năm hoặc giả con muỗi sống vài ngày thì cái biết chỉ bằng với đời sống con muỗi? Lại nữa, khi cái biết bị hủy diệt theo trái cam thì tại sao khi nghe ai nói về trái cam thì hình ảnh và cái biết về trái cam lại hiển hiện trở lại? Vậy đạo hữu có thấy là thuyết này không đứng vững không?" 
Bị nhà sư hỏi vặn một hơi, Tân thấy choáng váng. Trong khi Tân chưa tìm được lối thoát, nhà sư lại bồi thêm: 
"Theo như lý luận của đạo hữu, trái cam sinh ra cái biết; vậy tại sao cùng một trái cam lại sinh ra nhiều cái biết khác nhau? Ví như người bị loạn thị sẽ có cái biết về trái cam khác với người có con mắt bình thường?" 
Để có lối thoát, Tân hỏi vặn lại: 
"Nếu nói như Hòa Thượng, thì tinh thần sinh ra vật chất hay nói cách khác, tinh thần có trước vật chất?" 
Nhà sư mỉm cười rộng lượng: 
"Có bao giờ tôi bảo như thế đâu? Khi đặt vấn đề trước hay sau, đạo hữu đã khơi dậy ý niệm về khởi thủy và tận cùng. Đạo hữu lại rơi vào biến kế chấp. Thực thể của vấn đề là nếu thế gian này không có con người thì mọi vật trở thành vô nghĩa." 
Tân lại có chỗ bám víu: 
"Nhưng con người là một tổng hợp vật chất, và cái biết của con người xuất phát từ khối vật chất đó?" 
Tân yên trí nhà sư sẽ bị bắt bí bởi câu hỏi trên. Sư Bảy chậm rãi mời Tân uống trà. Đợi khi Tân đưa tay cầm lấy tách trà, nhà sư làm như vô tình cầm lấy bình trà châm vào tách cho Tân nhưng nguyên vòi nước nóng từ bình trà tuôn vào bàn tay của Tân khiến Tân suýt làm rơi tách trà. Hắn xuýt xoa bàn tay và tuy trong lòng không được vui nhưng Tân vẫn cố làm như không quan trọng. Sư Bảy tỏ lời xin lỗi về sự vô ý và cũng nhân đó trả lời câu hỏi của Tân. 
"Này đạo hữu, bàn tay của bạn vừa bị nóng. Cái cảm giác nóng đó đang hiện hữu nơi các tế bào trên tay của bạn. Giả dụ rằng cái cảm giác đó phát sinh từ cái tổng hợp vật chất này, nhưng có một điều chắc chắn là cái cảm giác không phải là vật chất. Đạo hữu có đồng ý với tôi hay không? Vì nếu cái cảm giác ấy là vật chất thì hiện giờ nó ở trong cơ thể bạn, bạn hãy mang nó ra đây cho tôi sờ mó nó xem sao. Chắc chắn bạn sẽ không làm được vì cảm giác không thể là vật chất." 
Sau khi uống một hớp trà để thấm giọng và cũng để cho Tân và Thảo bình tâm lại, nhà sư tiếp tục: 
"Đến đây mới là vấn đề trọng yếu mà tôi muốn nói với đạo hữu. Nơi tay bạn bây giờ có cảm giác đau, vậy phải có cái biết để bạn biết cảm giác đó chứ. Vậy hãy tạm cho rằng cái biết được phát sinh từ cái cảm giác đau, và theo như lý luận của bạn thì rõ ràng cái biết được phát sinh từ một cái không phải là vật chất. Bạn nghĩ sao về vấn đề này?" 
Trong khi Tân chưa tìm được câu trả lời thì nhà sư tiếp: 
"Này đạo hữu, trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật có ví dụ như thế này. Ngài bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông rồi Ngài hỏi đại chúng có nghe không. Đại chúng trả lời là có nghe. Đến khi tiếng chuông dứt, Phật hỏi lại câu cũ, đại chúng trả lời là không nghe. Phật lại bảo ông La Hầu La đánh thêm một tiếng chuông, xong Phật lại hỏi đại chúng là có tiếng không, đại chúng đáp lại là có tiếng. Đến khi tiếng dứt, Ngài lại hỏi là có tiếng không, đại chúng đáp là không tiếng. Nhân đó Phật dạy: Khi nghe tiếng chuông không phải vì có tiếng chuông mà cái nghe phát sinh, đến khi hết tiếng chuông thì không nghe, đừng tưởng rằng cái nghe đã diệt theo tiếng chuông. Vì khi cái nghe đã bị diệt sao lại nghe được cái không tiếng. Đừng lầm lẫn giữa cái không tiếng và cái không nghe. Khi không có tiếng thì đừng tưởng là không có cái nghe. Vậy tiếng là thinh trần giả dối, do duyên hợp mà sinh, còn cái nghe là bản tính chân thật nơi mỗi con người, không sinh diệt theo các tiền trần giả dối." 
Đến đây, quả thật Tân đã đuối lý trước nhà sư nhưng vẫn gắng gượng: 
"Nhưng Các Mác nói rằng vật chất là yếu tố quyết định, vật chất chi phối đời sống con người. Điều này tôi nghĩ không sai vì người xưa nói rằng có thực mới vực được đạo, thầy nghĩ sao?" 
Thảo nhận ra Tân thay đổi cách xưng hô, gọi Sư Bảy là thầy, lòng chàng cảm thấy vui vui, bầu không khí trở nên thân mật và gần gũi hơn. Nhà sư vẫn an nhiên tự tại như bao giờ, ông trả lời Tân: 
"Cái tay sai xử ý tưởng của bạn hay ý tưởng điều động cái tay? Khi nãy tôi rót nước lên tay bạn, đó là cái ý chủ động chứ đâu phải cái tay tự tung tự tác muốn làm gì thì làm. Tôi nói như thế để bạn buông bỏ ý nghĩ rằng vật chất là yếu tố quyết định, chứ không phải tôi muốn nói tinh thần chi phối vật chất. Vì nếu nói như thế thì tại sao ta không bảo được vật chất biến mất trên cõi đời này? Tôi nghĩ đạo hữu đồng ý với tôi rằng vật chất và tinh thần có mối tương quan không thể tách rời." 
"Nhưng ở đây tôi muốn nói vật chất duy trì sự sống con người, vì nếu không ăn con người sẽ chết." 
"Thân thể của bạn thuộc về hình sắc hữu vi, dĩ nhiên nó phải hòa hợp đồng điệu trong thế giới của nó. Thân thể của bạn ví như chiếc xe, chân tâm bạn ví như người tài xế; cái xe thì phải ăn xăng uống nhớt mới chạy được chứ người tài xế có uống nhớt ăn xăng để mà sống bao giờ?" 
Tân bây giờ như người mới được lột xác, thừ người ra đó, chìm đắm trong rừng ánh sáng mới. Lâu nay Tân hấp thụ cái học một chiều hoàn toàn bưng bít và nhồi sọ nên trong một phút giây không thể xóa tan hết tà kiến được huân tập từ lâu. Tân trở nên lễ độ hơn khi hỏi nhà sư: 
"Thưa thầy, vậy thì quan niệm của đạo Phật như thế nào đối với tiến trình thay đổi của xã hội loài người?" 
"Ý đạo hữu muốn nói về các giai đoạn kinh qua của con người từ hình thức công xã nguyên thủy cho đến tư bản rồi đến cộng sản? Các Mác đã hết sức sai lầm khi tưởng tượng ra cái khởi thủy. Vì có cái bắt đầu nên phải có chỗ chấm dứt. Với Các Mác, xã hội cộng sản là xã hội tiến bộ tột cùng. Theo ông, đó là điểm tiến trình cuối cùng của xã hội. Vì nếu nó tiến nữa tức là kinh qua một hình thái xã hội tiến bộ hơn, thế có nghĩa là chủ thuyết cộng sản chưa hoàn hảo. Do đó để bảo vệ lập trường của mình, Các Mác phải chấm dứt tiến trình ở đó. Nhưng khi làm thế, ông ta lại phản bội lại với lập luận căn bản của mình. Đó là sự mâu thuẫn nội tại. Tuy rằng lý thuyết này vay mượn của Hê-ghen, nhưng nó giữ vai trò quan trọng trong chủ thuyết cộng sản. Theo đó, một cái gọi là A, tự nó mang tính a dương. Trong tính a dương này tiềm ẩn một lực đối nghịch a âm. Theo tiến trình, tính a âm phát triển cho đến lúc nó tương đương với a dương và cả hai phá hủy lẫn nhau để cuối cùng cái A sinh ra cái B. Đại lược là như thế và thế giới vật chất cứ như vậy mà phát triển. Theo lý luận này thì yếu tố mâu thuẫn nội tại trong hình thức xã hội cộng sản ở đâu?" 
Uống thêm một miếng trà và không chờ Tân có ý kiến, Sư Bảy tiếp luôn: 
"Nếu nó có thì xã hội cộng sản sẽ không còn là xã hội tiến bộ tột đỉnh; nhưng nếu nó không có thì hóa ra Các Mác phản bội lại lập thuyết của mình. Chọn câu trả lời nào, chủ thuyết Cộng Sản cũng rơi vào chỗ bế tắc. Do đó nhãn quan của Các Mác còn rất giới hạn và cái biết của ông không vượt qua khỏi cánh rừng khái niệm. Đối với vấn đề này, Phật giáo nhìn sự vận hành của vũ trụ như là một chuỗi luân hồi tiếp nối không ngừng. Thế nên tự nó không có điểm bắt đầu thì làm sao có chỗ tận cùng? Đạo hữu có thấy chỗ khác nhau giữa cái trí của bậc giác ngộ và tư tưởng của người tự trói buộc mình vào vòng khái niệm của chính mình vẽ ra?" 
Tân ngồi há hốc, không có được một lời. Nhà sư chờ cho cả hai thấm nhập những lời vừa qua, rồi chẩm rãi tiếp tục: 
"Từ điểm này, tôi muốn nói với đạo hữu một điều hết sức quan trọng. Đó là đạo Phật không có lập thuyết." 
Cả Tân lẫn Thảo đều ngơ ngác. Cả hai không hiểu nhà sư muốn nói gì. Bấy giờ Thảo mới lên tiếng: 
"Thưa thầy, con quá hoang mang ở điểm này. Thày bảo đạo Phật không có lập thuyết thế thì Tứ Diệu Đế là gì? Thập Nhị Nhân Duyên là gì? Nhân quả luân hồi là gì? Nghiệp báo là gì?" 
Sư Bảy từ bi ngước nhìn người đệ tử của mình: 
"Tất cả những thứ con vừa kể cùng tất cả những lời dạy quí báu của Phật không phải là chân lý rốt ráo. Nhân vì chúng sinh thường chấp giữ những sở học nên Đức Phật phải đưa ra những lập luận kiên cố và vững chắc như vậy để phá vỡ sự cố chấp trong tâm họ chứ Phật không muốn người sau khư khư ôm giữ những lời Phật dạy như là khuôn vàng thước ngọc. Do đó sau hơn bốn mươi năm lặn lội đi truyền bá giáo lý nhiệm mầu, Đức Phật không muốn người sau ôm giữ cứng ngắc những giáo lý đó, như những người cộng sản ngày nay đối với chủ thuyết của Các Mác và Lê Nin. Cũng như trong hàng Phật tử có người nghĩ rằng thuyết nhân duyên và thuyết vô ngã là chân lý nên đi đến kết luận là đạo Phật vô thần. Biết trước tâm niệm chúng sinh hay chấp giữ như thế nên Ngài mới nhiều lần nhấn mạnh trong kinh Kim Cương: 
* Pháp ta nói ví như chiếc bè sang sông. Đến bờ bên kia rồi thì hãy mạnh dạn buông bỏ chiếc bè, hoặc 
* Như Lai nói không có pháp nào là pháp được đạo vô thượng chánh đẳng chúng giác, hoặc 
* Nếu có người nói rằng Như Lai có nói pháp, tức là người đó báng Phật, vì họ không hiểu nghĩa ta nói. 
Ngoài ra, trước khi nhập niết bàn, Phật còn nói rằng, suốt thời gian qua, ta không có nói lấy một lời. Vậy những gì thầy nói đây không ngoài ý đó." 
Đến đây, sư bảo Thảo đi gọi chú tiểu Minh vào cho người dạy việc. Khi chú tiểu vào, sư bảo chú lấy cho sư bộ kinh Lăng Già. Quay sang Tân và Thảo, sư bảo: 
"Tiện đây tôi cho hai người xem một đoạn kinh để làm sáng tỏ vấn đề. Đây là quyển kinh Lăng Già, một yếu chỉ của nhà thiền. Kinh này rất khó hiểu, khó vào. Tôi chỉ tạm trích đọc một đoạn liên hệ đến vấn đề đang nói. 
Kinh viết rằng: "Khi ấy Bồ Tát Đại Huệ bạch Phật: 'Thế Tôn! Như Thế Tôn một hôm nói rằng các luận thế gian, mọi thứ biện thuyết dè dặt chớ gần. Nếu gần gũi thì chấp nhận tham dục, chẳng chấp nhận pháp. Thế Tôn cớ sao nói lời như thế?' Phật bảo Đại Huệ: 
'Ngôn luận thế gian, các thứ cú vị, nhơn duyên thí dụ, gom nhóm trang nghiêm dẫn dụ dối gạt kẻ phàm phu, ngu si không vào được chân thật tự thông, chẳng giác tất cả pháp, vọng tưởng điên đảo rơi vào hai bên. Kẻ phàm phu lầm mà tự phá hoại, tiếp nối sanh trong các cõi, không được giải thoát, không thể giác biết tự tâm hiện lượng, chẳng lìa tánh tự tánh vọng tưởng, chấp trước bên ngoài. Thế nên ngôn luận thế gian, các thứ biện thuyết chẳng thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não dối gạt mê loạn. 
Đại Huệ! Thích Đề Hoàn Nhân rộng giải các luận, tự tạo thanh luận, thế luận kia, có một người đệ tử giữ hình tượng rồng, đến thiên cung Đế Thích dựng lập luận tông, cốt phá bánh xe ngàn căm của Đế Thích. Nếu tôi chẳng bằng xin chặt mỗi đầu để đền chỗ thua. Tạo lời cam kết ấy rồi, liền dùng pháp Đế Thích đè bẹp Đế Thích. Đế Thích thua liền phá bánh xe kia. Rồi ông ta trở về nhơn gian. Như thế, Đại Huệ! Thế gian ngôn luận nhơn dụ trang nghiêm, cho đến súc sanh cũng hay dùng các thứ cú vị làm hoặc loạn chư thiên kia và A Tu La kẹt trong kiến chấp sanh diệt, huống là loài người. Thế nên Đại Huệ! Thế gian ngôn luận nên phải xa lìa, bởi hay chuốc lấy nhân sanh khổ, dè dặt, chớ gần gũi.' 
Trước khi giải thích đoạn kinh này, tôi muốn lưu ý các người một điều. Muốn hiểu kinh Phật thì phải lìa văn tự. Nếu khư khư lập lại giống y như kinh viết thì đó không phải là cách đúng đắn của người học đạo. Đoạn kinh tôi vừa đọc, nói rằng các luận thuyết của thế gian luôn luôn chỉ đưa chúng ta vào mê hồn trận của rừng khái niệm, cuối cùng càng thêm não loạn. Điểm mà kinh muốn nhấn mạnh ở đây là vấn đề lập thuyết. Sau đây là các điểm trọng yếu trong kinh mà chúng ta phải lưu tâm để nhìn thấy chủ ý của Đức Phật muốn nói. 
* Thứ nhất: Thích Đề Hoàn Nhân đã dựng lập luận thuyết của riêng mình. 
* Thứ hai: Người đệ tử của Thích Đề Hoàn Nhân giữ hình tượng rồng. Người đệ tử, tức là người trong nội bộ hay là người nhà của Đế Thích. Điều này ám chỉ vấn đề sẽ xuất phát từ trong nội bộ của Đế Thích. Rồng là một biến thể của rắn trong trạng thái hoàn mỹ nhất; rắn tượng trưng cho lòng thâm hiểm, xấu xa. Vì thế kinh nói rằng người đệ tử giữ hình tượng rồng tức là mầm mống ung thối đã tích lũy sẵn từ trước. Thâm ý của đoạn này là hạt nhân hủy hoại luận thuyết của Đế Thích xuất phát ngay từ trong lòng luận thuyết đó. 
* Thứ ba: Người đệ tử dựng lập luận tông, cốt phá bánh xe ngàn căm của Đế Thích. Đoạn này muốn nói luận tông của người đệ tử sẽ phá vỡ luận thuyết của Đế Thích. Bánh xe tượng trưng cho pháp luân, tức là luận thuyết của Đế Thích. Những cây căm là yếu tố nồng cốt của bánh xe. Một bánh xe mà thiếu các cây căm thì không thể gọi là bánh xe được. Ở đây muốn nói luận thuyết của Đế Thích rất vững chắc, lập luận chặt chẽ, dựa trên cả ngàn yếu tố căn bản. 
* Người đệ tử cam kết bị chặt đầu nếu bị thua. 
* Cuối cùng, người đệ tử đã dùng pháp của Đế Thích mà đè bẹp Đế Thích khiến ông ta phải trở về nhân gian. 
Tổng hợp những điều vừa nêu, chúng ta thấy Đức Phật dạy rằng, bất cứ một chủ thuyết nào được dựng lập, càng chi tiết và càng chặt chẽ bao nhiêu thì càng dễ bị phá vỡ bởi những yếu tố mầm mống xuất phát ngay từ chỗ lập luận căn bản của chủ thuyết đó. Nói cách khác, Đức Phật dạy chúng ta về yếu tố mâu thuẫn nội tại, cái mà Các Mác đã vay mượn của Hê-Ghen để dựng lập luận tông của mình. Bạn có thấy rằng Đức Phật đã đi trước Các Mác quá xa không? Và cũng từ điểm này, tôi lập lại với các bạn một lần nữa, đạo Phật không có lập thuyết. Ngay cả thuyết cũng không lập nữa thì lấy gì làm nhân tố nội tại để bị hủy diệt? Đó là lý do vì sao đạo Phật tồn tại với thời gian, mặc dù tôn giáo này không có tổ chức chặt chẽ và hệ thống hóa như các tôn giáo khác. 
Trong các thế luận ngày nay, chủ thuyết cộng sản tương đối có phần chặt chẽ hơn cả. Và rồi các người sẽ thấy chủ thuyết này sẽ sụp đổ và kẻ phá vỡ chủ thuyết lại chính là môn đệ của Các Mác và mầm mống làm ung thối chủ thuyết này xuất phát từ những điểm căn bản lập thuyết của nó. Đó không phải là những điều tôi phỏng đoán mà là những lời Đức Phật dạy cách đây hơn 2500 năm rồi." (*) 
Nhìn về Tân, vị sư hỏi: 
"Đạo hữu có còn gì thắc mắc không? Cứ tự nhiên nêu lên. Cái gì giải quyết được hôm nay đừng để lại hôm sau. Hãy sống với thực tại." 
Mất đi vẻ cao ngạo lúc mới vào, Tân kính cẩn thưa: 
"Tôi thành thật cám ơn thầy đã mở rộng tầm mắt cho tôi. Thế mà lâu nay tôi lại mù quáng và ngu muội nghĩ rằng Các Mác là đỉnh cao trí tuệ của loài người. Thật là khoác lác. Giờ đây tôi xin cáo từ. Một ngày không xa, tôi xin được phép trở lại viếng thầy." 
Tân mãi mê nói đến khi nhìn lên thì nhà sư đã nhắm mắt từ lúc nào rồi. Trông tư thế nhà sư thật là siêu thoát. Tân liếc nhìn Thảo để ngầm hỏi ý kiến, Thảo ra dấu bảo hãy nhẹ nhàng ra về. Cả hai ra sau chùa để cáo biệt các sư sãi. 
Trên đường về, Tân không quên thắc mắc: 
"Thảo này, thầy nhắm mắt lại là ý gì vậy, bộ thầy mệt và không muốn nghe tao nói hả?" 
"Thầy nhập thiền đấy." 
"Thật tao hết hiểu nổi. Đang nói chuyện ngon lành bỗng nhiên lại nhắm mắt ngồi yên như chết. Trời mà biết!" 
Cả hai yên lặng, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Bỗng Tân chép miệng nói, thảo nào! thảo nào! 
Thảo không nghe rõ, hỏi lại: 
"Cậu nói gì?" 
"Tao có nói gì đâu." 
"Thế sao cậu vừa mới kêu tên con những đến hai lần?" 
"Tao đâu có kêu mày mà tao muốn nói hèn chi." 
Câu trả lời của Tân khiến Thảo càng thêm mù tịt: 
"Cậu nói gì thật con không hiểu." 
"Tao nói thảo nào, có nghĩa là hèn chi ngày trước lúc còn sống, bác Hồ căn dặn tụi tao là phải canh chừng Phật giáo triệt để. Ông ấy bảo rằng Phật giáo là đạo đi sát với đời sống nhân dân. Các sư sãi là những người có đạo đức, đặc biệt là giáo lý của họ, xem qua lịch sử đất nước mới thấy sư sãi ngày trước được trọng vọng không phải là vô cớ. Bác Hồ căn dặn nhiều lần là Phật giáo còn là cộng sản có cơ nguy, vậy phải tiêu diệt tận gốc Phật giáo. Ngày nay tao mới thấy là ông ta đúng. Vì thế tao mới gạ gẫm mầy đưa tao đi chùa đặng tao phá vỡ tận gốc phong trào bất bạo động đang bành trướng trong nhân dân chống phá cách mạng." 
Nghe Tân nói mà Thảo thót ruột từng cơn, làm bộ ngây thơ hỏi lại: 
"Bộ có chuyện đó nữa sao hả cậu?" 
Tân cười lớn: 
"Thôi đi ông non. Đừng có giả mù sa mưa, lấy vải thưa mà che mắt thánh. Ông là một trong những thằng chủ chốt phát động phong trào bất bạo động dựa trên căn bản giáo lý nhà Phật. Phong trào này làm tao mất ăn mất ngủ bấy lâu nay. Bao nhiêu sách lược đối phó của nhà nước đối với phong trào này giống như là băng mà gặp nước nóng, giống như là gió vô nhà trống, mất hút tăm hơi." 
Thảo thấy lạnh xương sống, rụng rời cả tay chân. Lâu nay chàng tưởng Tân không biết những hoạt động bí mật của tổ chức chống phá ngụy quyền cộng sản. Không ngờ Tân biết rõ tất cả và đang quăng một mẻ lưới bắt trọn ổ. Vô tình Thảo đưa quỉ về phá nhà trai. Thảo đau buồn quá. Chàng đã làm liên lụy đến sư phụ kính yêu của mình. 
Bỗng nghe Tân nói: 
"Nhưng mà mày đừng lo. Hôm nay tao khác hôm qua rồi. Ngày mai tao sẽ thả bọn con Loan với thằng Phong. Tụi nó là cán bộ nồng cốt của phong trào bất bạo động của mày đấy phải không? Nhớ bảo tụi nó là mai mốt phải kỹ lưởng và kín đáo hơn. Nếu bị bắt lại thì thật là khó xử cho tao. Bù lại, mầy phải hứa làm cho tao một việc." 
Thảo mừng trong bụng như mở cờ, sốt sắng đáp ứng ngay: 
"Cậu muốn gì con cũng cố gắng hết mình." 
"Được rồi, mai mốt sẽ cho biết. Bây giờ thì mình chia tay." 
Thảo không ngờ trong cái rủi lại có cái may. 

Sáng nay, trong khi Thảo đang lui cui quét dọn nhà phụ bà Hai thì Tân đến. Sau khi chào hỏi bà Hai xong, Tân nói riêng với Thảo: 
"Đi mày." 
"Đi đâu cậu?" 
"Mầy không nhớ đã hứa với tao cái gì hôm nọ à?" 
Thảo à lên một tiếng, hỏi lại: 
"Nhưng mà đi đâu và làm gì mới được chứ." 
"Đi thôi, mày đưa tao đi gặp sư phụ." 
Thảo chưng hửng, nhưng chàng vẫn đi thay quần áo và xin phép mẹ để đi với cậu. Trên đường đi, Tân thố lộ dự tính của mình: 
"Tao muốn nhờ mày xin cho tao được qui y với thầy." 
"Tưởng việc gì chứ việc đó thì không dễ..." 
Thảo cố tình kéo dài cho Tân nóng ruột rồi nói tiếp: 
"... mà cũng không khó." 
Tân cười vui vẻ: 
"Mầy có lối nói chuyện sao giống thầy quá vậy?" 
"Đệ tử không giống thầy thì giống ai?" 
Thảo định nói, chẳng lẽ lại giống bác Hồ nhưng vội thắng kịp vì dù sao ông ta vẫn còn là thần tượng của Tân. 
Cả hai trò chuyện quên đường dài. Đến trước cổng chùa, Thảo cảm thấy có điều gì khác lạ. Cổng chùa sao lại khép kín. Lòn tay vào bên trong, Thảo mở chốt cổng dễ dàng. Cả hai đi ngang bên ngoài chánh điện, nhìn vào cửa sổ thấy chú tiểu Minh đang ngồi bất động trước quyển kinh đang mở ra. Đi lần vào trong, cả hai không tìm thấy bóng dáng sư Bảy ở đâu. Nhìn ra vườn rau, vườn rau trơ ra đó. Thảo đành đi vào chánh điện hỏi chú tiểu Minh. Đáng lý Thảo không nên quấy rầy như vậy nhưng chàng linh cảm một điều gì khác thường nên đành phá lệ. Vào gặp chú tiểu Minh, Thảo thấy gương mặt chú buồn thiu, đôi mắt đỏ hoe, Thảo vội hỏi: 
"Có gì thế chú Minh? Thầy đâu rồi?" 
Không cầm được giọt lệ, chú tiểu nghẹn ngào: 
"Thầy đã đi rồi." 
Thảo sững sờ và dồn dập: 
"Thầy đi đâu và đi hồi nào?" 
"Thầy đi ngày hôm qua và bảo rằng có việc phải đi. Và thầy còn dạy rằng, có hợp ắt phải có tan, lâu nay chúng mình như là hành khách chung xe. Đến đây thầy phải xuống trạm này để đi xe khác, còn con nếu làm đúng theo lời thầy dạy thì sau này sẽ gặp lại thầy." 
Thảo run giọng: 

"Thày còn nói gì nữa không?" 
"Có, thầy để lại hai phong thơ bảo giao cho huynh và chú Tân đây." 
Nói xong chú tiểu đi lấy thơ trao cho hai người. Tân run run mở thơ ra đọc: 
Thân gởi đạo hữu Tân, 
Cuộc hội ngộ giữa chúng ta không phải tự nhiên mà có, vô cớ mà thành. Tất cả đều do nhân duyên ngày trước. Nay vì có Phật sự tôi phải đi xa một thời gian. Có gì chưa rõ thì hãy thảo luận với Thảo. Đạo không phải do nói mà được, phải ngay nơi lý mà ngộ và từ nơi sự mà thành. Đừng tìm cầu ở ngoài. Hãy buông bỏ chuyện thế gian, xoay cái nghe lại nghe tiếng nói của tự tâm sẽ ngộ lại chính mình. Chúc đạo hữu sớm thành công. 
Thân ái 
Tân đọc lại nhiều lần bức thơ nhưng vẫn chưa thấy thỏa mãn. Tân nôn nóng hỏi Thảo: 
"Thầy có dặn mầy điều gì không?" 
Thảo đưa cho Tân bức thơ thầy gởi cho mình. 
Thảo con, 
Thầy đã gặp người thầy cần gặp. Duyên hợp không còn thì chia ly là điều không tránh khỏi, vậy con đừng buồn. Sau đây là mấy lời dặn sau cùng, lý sự gồm đủ, con hãy cố gắng theo đó mà thực hành, buổi gặp lại thầy sẽ không xa. 
Đại địa sơn hà lớn lắm sao? 
Đầu lông sao lại lọt ngay vào, 
Lớn to, bé nhỏ không qua niệm, 
Niệm niệm lồng nhau thật khít khao. 

Diệt niệm, qua thân khác, 
Dứt niệm, đồng cỏ dại, 
Giác niệm niệm, hữu nhị, 
Niệm niệm giác, không hai. 
Thương con, 
Thầy 

Ngoài ra sư Bảy còn để lại bộ kinh Lăng Nghiêm để tặng Tân và kinh Lăng Già tặng Thảo. Cả hai cảm thấy ngùi ngùi. Cảnh chùa trở nên vắng vẻ đìu hiu. Sau đó cả hai lặng lẽ ra về. Tân buồn bã tâm sự với Thảo: 
"Không ngờ lúc đồ tể buông dao mổ heo thì Phật quay lưng lại, mình muốn qui y thì thầy đã ra đi." 
Thảo an ủi: 
"Cậu nói thế e là không đúng. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng dạy rằng: Qui y Phật tức là nương về cái tánh diệu giác của mình, qui y Pháp tức là nương theo sự chân chính trong tánh mình, qui y tăng là nương về cái thể thanh tịnh trong tánh mình. Cậu đừng nghĩ rằng phải qui y một ông Tăng hay một ông Sư nào đó thì mới được. Rủi gặp ác tăng hay tà sư mà qui y thì cả thầy lẫn trò đều xuống địa ngục. Đành rằng thiện tri thức là điều cần nhưng không bắt buộc phải có. Lục Tổ cũng dạy rằng: Nếu tự mình hiểu rõ thì chẳng cần cầu nơi ngoài. Bằng một mực cố chấp cho rằng phải cầu bậc thiện tri thức mới mong đặng giải thoát thì không có lý như vậy; bởi trong tâm mình có sẵn cái cơ tri thức tự ngộ. Vậy cậu đừng bận tâm vấn đề qui y. Khi thầy bỏ đi bất ngờ như vậy, chắc là thầy đã rõ là cậu có thể tự ngộ được đạo." 
Tân vẫn ấm ức: 
"Nhưng trong buổi nói chuyện hôm nọ, tao vẫn còn có chỗ chưa thông suốt." 
"Cậu còn thắc mắc chỗ nào?" 
"Thầy dẫn giải một hơi rồi qui tất cả về ý niệm. Thật tao còn quá mơ hồ." 
"Lý thì vô cùng tận, nhưng sự thì phải chính mình bước vào mới nhận được nó." 
"Nhưng tao chưa có một hình ảnh rõ ràng về hai chữ ý niệm do đó tao mới hoang mang." 
"Cậu muốn thấy được vấn đề, cậu phải thực hành. Tự cậu phải quan sát nội tâm của mình, lâu dần cậu mới nhận diện được nó. Để con kể lại một ví dụ đã được thầy dạy ngày trước. Ví như ở sở làm của cậu, thường thường có một người đồng nghiệp tên A hay đùa nghịch quấy rối cậu do đó cậu không mấy thiện cảm với người đó. Một hôm, cậu thấy cây viết, thường ngày để trên bàn, bị biến mất. Ý nghĩ đầu tiên đến với cậu là anh A đã chơi nghịch lấy mất cây viết. Kế đó là vô số ý tưởng khác liên tiếp nổi dậy chung quanh vấn đề cây viết bị mất và anh A. Phân tích câu chuyện cậu sẽ thấy rằng: 
* Thứ nhất, thấy được cây viết bị mất là việc của nhận thức. 
* Thứ hai, cậu nghi ngay thủ phạm là anh A. Biến chuyển dòng tâm thức của cậu lúc đó chính là ý niệm, thường được gọi là niệm. Niệm đầu vừa diệt thì vô số niệm khác tiếp nối nhau sinh sinh diệt diệt không ngừng; ví như cậu sẽ hạch hỏi ông A về cây viết như thế nào, sẽ gây gỗ ra sao, sẽ làm gì... 
* Thứ ba, tại sao cậu lại nghi ông A mà không nghi ông B hay ông C? Là vì trong lòng cậu đã chấp giữ những ý niệm xấu về ông này, lâu ngày trở thành thành kiến trong tâm cậu. Điều đó khiến phán đoán của cậu không được vô tư." 
Tân chợt ngắt lời Thảo: 
"Nhưng nếu tao đoán đúng là thằng A đã lấy cây viết thì tao đâu có lỗi lầm gì?" 
Giờ đây đến lượt Thảo cười rộ lên: 
"Cậu chưa nhìn đúng phương hướng cậu ơi! Mấu chốt của câu chuyện là cậu đã khơi dậy một ý niệm chứ không phải vấn đề ý niệm đúng hay ý niệm sai. Dù đúng hay sai thì bản chất của hai biên kiến đó là ý niệm. Khi một niệm nổi dậy thì cậu sẽ bị chìm ngập bởi vô lượng ý niệm khác tuôn nhau tràn tới, và tư tưởng cậu sẽ nghiêng ngã một trong hai bên, đúng hay sai, phải hay trái, thương hay ghét... Lúc đó điều gì sẽ xảy ra nơi cậu? Tình cảm thương ghét giận hờn sẽ theo đó làm cho tâm trí cậu mất quân bình. Đồng thời, cậu sẽ đánh mất thực tại. Thực tại lúc bấy giờ là cậu mất cây viết. Là người biết nắm giữ thực tại, cậu nên đi tìm cây viết, nếu chuyện đó thực sự cần thiết. Nếu không thì cậu hãy sống với những gì cậu đang sống." 
Đang ngon trớn, Thảo tiếp luôn: 
"Như bài thơ của thầy để lại không ngoài ý này. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng cõi tam thiên đại thiên thế giới để trên đầu một sợi lông mà thế giới đó không nhỏ lại cũng như đầu lông không to lớn hơn. Cả hai chồng khít vào nhau. Phật muốn dạy rằng, cực đại và cực tiểu là hai cực đoan, chỉ là những biên kiến của ý niệm. Do vì có cùng bản chất nên chúng mới có thể chồng khít lên nhau, vì cực đại chính là cực tiểu, cũng như tâm kinh thường dạy rằng sắc tức thị không, không tức thị sắc; sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Yếu chỉ của đạo Phật là khi một niệm mống dậy thì sẽ rơi vào một trong hai cực đoan của vấn đề. Do đó tổ Huệ Năng dạy rằng đối cảnh mà một niệm không sanh chính thị là pháp không hai vậy." 
Tân chợt reo to lên: 
"Như vậy thì phiền não tức thị bồ đề rồi, có phải thế không Thảo?" 
Thảo vui lây trước niềm hân hoan của Tân: 
"Chúc mừng cho cậu. Nhưng cậu nên nhớ rằng tất cả những gì cậu vừa nói cũng chỉ là vọng tưởng mà thôi. Muốn vào được chỗ phiền não tức bồ đề cậu phải quyết chí và tinh tấn thực hành thiền định, có vậy mới không phụ lòng từ bi của thầy đối với chúng ta." 
Tân mơ màng nói cho chính mình nghe: 
"Trí của Phật mới thật là vô đỉnh trí!" 
* (Bài này viết khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ) 
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB) 
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412