CỘI GỐC
SANH TỬ VÀ NIẾT BÀN
HT
THÍCH THANH TỪ
Thật
ra người tu không phải ham tu là tu được, mà đòi hỏi phải
thâm nhập Phật pháp cho sâu, sau đó ứng dụng tu mới đạt
kết quả tốt. Nếu chỉ biết tu mà không hiểu Phật pháp,
đó là một thiếu sót lớn, có thể dẫn đến nguy hại. Bởi
người không hiểu Phật pháp dễ đi lệch lạc, rơi vào tà
đạo lúc nào không hay. Vì vậy đối với Tăng Ni cũng như
Phật tử, hiểu Phật pháp là mầu chốt trọng yếu trên đường
tu.
Chúng
ta tu ai cũng muốn giải thoát sanh tử, thế nên trước hết
cần phải biết nguyên do nào chúng ta phải trầm luân trong
sanh tử. Biết gốc trầm luân sanh tử rồi mới biết nhân
giải thoát. Vì thế ở đây tôi nêu lên hai vấn đề gốc
sanh tử và gốc giải thoát, để chúng ta biết cái nào hiểm
nguy thì tránh, cái nào cao siêu lợi ích thì hành. Trong kinh
Phật dạy đầy đủ tất cả đường lối tu trì, nhưng vì
chúng ta không đủ duyên nên không nghe, không nhận được.
Trước
tiên nói về có và không hay khen và chê, tôi xin dẫn kinh Trường
A Hàm. Một hôm Ðức Phật trên đường về tinh xá Trúc Lâm,
có hai thầy trò ngoại đạo theo sau. Ông thầy tìm đủ cách
chỉ trích chê bai Ðức Phật, ngược lại người trò dùng
mọi lời lẽ tốt đẹp tán thán khen ngợi Như Lai. Vì thế
chư Tỳ kheo bực bội không vui, về tới tinh xá các thầy
liền bạch Phật:
–
Bạch Thế Tôn, tại sao đối với Ðức Phật mà ông thầy
thì chê, người trò lại khen, như vậy ai đúng?
Ðức
Phật trả lời:
–
Các ngươi đừng nói ai đúng, nếu nghĩ khen là đúng, chê
là đúng thì các ngươí sẽ bị phiền não. Nếu nói khen đúng
thì người được khen sinh tâm ngạo mạn. Nếu nói chê đúng
thì người bị chê sẽ sanh ra bực bội. Như vậy đừng để
khen chê làm cho tâm mình sanh phiền não.
Phật
tử đối với việc khen và chê thế nào? Chúng ta được khen
có vui không, bị chê có buồn không? Ta nên nhớ chắc gì người
khen là thực khen, nhiều khi họ khen xã giao cho được lòng
mình. Hoặc nhiều khi người ta ghét nên chê cho mình bực bội,
như vậy chê cũng không đúng. Thành ra khen chê không có lẽ
thật. Như vậy nghe khen vui, nghe chê buồn là mình sáng suổt
hay không sáng suốt? Chắc chắn là không sáng suốt rồi.
Bây
giờ làm sao người ta khen mình đừng vội mừng, người ta
chê mình đừng vội giận mà phải xét lại mình? Ðiều này
hết sức nhỏ nhưng chúng ta phải cẩn thận đừng bị lầm.
Phật nói có những điều người ta khen Thế Tôn nhưng cái
khen đó chỉ là hình thức bề ngoài, không có gì quan trọng.
Còn một điều quan trọng hơn, đáng để khen hơn của một
vị Tỳ kheo là khi mắt đối với sắc tâm không dính, không
nhiễm, biết rõ ràng mà không bị nó cột trói. Ðây là điều
đáng khen mà thế gian không biết, chỉ có những đệ tử
chứng A la hán mới khen những điều đó.
Khi
tai ta nghe tiếng, biết rõ ràng tiếng khen tiếng chê mà tâm
không dính, không bị cột trói. Khi mũi ngửi mùi biết rõ
thơm hôi nhưng cũng không dính mắc... cho đến lưỡi nếm
vị thân xúc chạm, ý đối với pháp trần không dính không
mắc một thứ nào hết mới đáng được khen ngợi, nhưng
người đời lại không biết. Chỉ có những vị A la hán mới
biết khen ngợi như thế thôi.
Người
thế gian thường khen những hình thức giả tạm bên ngoài,
còn cái thực là đối với sáu trần biết rõ ràng mà không
dính không nhiễm thì không khen. Ví dụ quí Phật tử thấy
chư Tăng Ni tu, người nào ra đường nghiêm trang tề chỉnh,
đi ngó dưới đất, không ngó qua ngó lại, hoặc thấy thầy
cô nào ăn mặc rách rưới sơ sài . . . quí vị khen thầy cô
đó tu rất nghiêm chỉnh đạm bạc. Còn những thầy cô được
người đem biếu tặng vật gì đẹp mắt nhưng không ham, không
nhận, quí vị làm sao biết mà khen? Như vậy chúng ta chỉ
thấy hình thức bên ngoài, còn tâm niệm trong sáng không dính
không mắc bên trong người đời ít ai thấy được.
Người
tu hình thức tu rất nghiêm trang nhưng nội tâm còn dính mắc
thì vẫn không thể giải thoát. Còn người tuy hình thức tầm
thường nhưng mọi dính mắc đều không cột trói được,
người đó tự nhiên được giải thoát. Cho nên chúng ta phải
biết rõ trọng tâm khen chê không phải ở hình thức mà ở
tâm niệm của mỗi người. Ai đã thoát được, đã tháo gỡ
được những cột trói của dục lạc thế gian, đó là người
đáng khen. Còn hình thức bên ngoài nghiêm trang nhưng đụng
đâu dính đó thì chưa đáng khen.
Bây
giờ tôi dẫn trong kinh Tạp A Hàm, có một bài kinh kể lại
câu chuyện thế này. Hồi Phật còn tại thế, ngài Phú Lâu
Na đến bạch với Phật rằng:
–
Bạch Thế Tôn, con muốn tìm nơi vắng vẻ chuyên tu. Cúi xin
Thế Tôn vì con giảng nói chỗ tâm yếu, để con chóng vào
Niết bàn.
Ðức
Phật dạy:
–
Muốn đạt được chỗ tâm yếu đó không gì hơn là mắt
thấy sắc đừng bị sắc trói cột, đừng dính với sắc.
Tai nghe tiếng đừng để tiếng lôi cuốn, đừng dính nhiễm
với tiếng. Mũi ngửi mùi đừng bị mùi cột trói, đừng
dính mắc với mùi. Lưỡi nếm đừng bị vị trói buộc, đừng
dính mắc với vị. Thân xúc chạm dù cho êm ái nhẹ nhàng
vui thích hay thô nhám khó chịu cũng không bị dính cột trói,
đừng dính mắc với xúc. Ý duyên với pháp trần không bị
pháp trần lôi dẫn, không dính mắc với pháp trần. Nếu mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, không dính mắc với sáu trần, đó là
nhân đến Niết bàn.
Nghe
Phật dạy như vậy rồi, ngài Phú Lâu Na đảnh lễ từ giã
Thế Tôn, xin tìm một chỗ vắng vẻ tu. Ðức Phật hỏi ngài
định đi đâu, ngài thưa định sang một nước ở phương
Tây để tu.
Ðức
Phật nói:
–
Ta nghe dân xứ ấy hung dữ lắm, ông qua đó họ làm khó, làm
sao tu được?
Ngài
Phú Lâu Na bạch:
–
Bạch Thế Tôn, nếu người ta khó dễ với con, con vẫn can
đảm tinh tấn tu.
Phật
hỏi:
–
Giả sử như họ chửi mắng ông thì ông nghĩ sao?
–
Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con là vẫn còn hiền vì
chưa đánh đập con.
–
Giả sử họ dùng tay chân thoi đánh ông thì ông nghĩ sao?
–
Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay chân thoi đánh con là vẫn
còn hiền vì chưa dùng dao gậy đánh con.
–
Giả sử họ dùng tới dao gậy đánh ông thì ông nghĩ sao?
–
Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng dao gậy đánh con là vẫn còn
hiền vì chưa giết con.
–
Giả sử họ giết ông thì ông nghĩ sao?
–
Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con thì cũng tốt vì họ giải
quyết sớm giùm con thân ô uế này. Con cám ơn họ nhiều hơn.
Bấy
giờ Phật bảo:
–
Nếu ông được như vậy thì nên qua đó tu.
Ngài
Phú Lâu Na với pháp Phật dạy và ý chí sắt đá đã qua xứ
ấy tu, chỉ ba tháng thôi liền chứng quả A la hán.
Chúng
ta thấy muốn được quả A la hán dễ hay khó? Tu ba tháng mà
chứng A la hán thì quá dễ phải không? Nhưng muốn như vậy
phải làm được hai việc. Thứ nhất bị người ta đánh đập
chửi mắng, nhẫn đến giết mình cũng không giận. Chưa được
như vậy e khó vào Niết bàn. Vì còn giận là còn phiền não,
còn phiền não làm sao được Niết bàn? Nên điều thứ nhất
là trước mọi thử thách như chửi mắng, đánh đập cho tới
bị giết mình cũng không buồn không giận, tâm không thối
chuyển mới có thể vào Niết bàn một cách mau chóng. Thứ
hai là mắt, tai, mũi, lưỡi đối với sáu trần không dính
không mắc.
Chúng
ta còn dính mắc nhiều quá, thấy cái gì đẹp trố mắt nhìn
hoài không chán. Nghe ai nói gì đụng chạm tới mình thì quạu
lên liền, không tha được. Như vậy mắt thấy sắc dính sắc,
tai nghe tiếng dính tiếng, mũi ngửi mùi dính mùi, lưỡi nếm
vị dính vị... dính đủ hết. Bởi dính nên tu không đến
được Niết bàn, nếu đừng dính thì được Niết bàn dễ
chớ đâu có khó. Ta thử nghĩ đối trước tất cả hoàn cảnh
khó khăn, bị đánh đập hay chèn ép mà mình không phiền không
giận, như vậy tâm an lành biết mấy, sự tu có gì phiền
não đâu.
Sở
dĩ chúng ta hay phiền não là tại sao? Vì bị chê một chút
liền nổi giận, không phải giận một buổi. Giận hai ba ngày
tức là hai ba ngày hết tu. Ðó là duyên nghịch. Còn gặp duyên
thuận như thấy người đẹp vật đẹp, tâm sanh ưa thích,
hướng theo đó mãi cũng hết tu. Vì thế cả ngày tâm cứ
chạy theo những trần cảnh bên ngoài, không chút yên ổn.
Tới giờ tụng kinh niệm Phật cũng không yên. Tay cầm quyển
kinh miệng đọc mà lát nhớ chuyện này chuyện nọ, chớ không
chịu nhớ kinh. Đó là thói quen luôn đuổi theo và dính mắc
với sáu trần của chúng ta, vì vậy bị trói buộc mãi không
có ngày thoát ra.
Qua
hai câu chuyện trên, chúng ta thấy thật ra đạo không xa, nhưng
vì mình đắm nhiễm quá thành ra cách xa. Giả sử bây giờ
có ai mắng chửi mình, ta vẫn lặng thinh không buồn không
giận, đó là dở hay là hay? Chắc không phải dở rồi. Ngược
lại, nếu người ta chửi mình một, mình chửi lại hai ba
thì hay hay1à dở? Mới nhìn thấy như hơn, nhưng hơn cái hung
dữ của thế gian, còn thua về mặt đạo đức. Vì đứng
trên đạo đức càng tranh hơn tranh thua thì càng mất đạo
đức. Ðã là người tu, chúng ta phải chú trọng đạo đức
sao cho mỗi ngày mỗi tăng tiến hơn, tập khí thế gian mỗi
ngày mỗi giảm bớt đi. Như vậy mới xứng gọi là Phật
tử chứ!
Chúng
sanh luôn bị ba thứ độc tham sân si sai sử. Nghe người ta
nói câu gì trái tai thì chú độc sân nổi lên, thúc mình phải
ăn thua với người ta. Ta làm dữ với thiên hạ, thắng được
thiên hạ tức là đã thua và đầu hàng chú sân rồi. Ngược
lại khi nghe một câu nói trái tai, chú sân vừa muốn thúc
mình làm dữ, ta liền dẹp chú, không nghe chú, bắt chú nép
phục mình, đó là ta đã thắng được chú độc sân rồi.
Phật dạy người tu là người tự thắng mình. Thắng một
vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình là chiến công
oanh liệt nhất.
Phật
tử vào chùa thường thấy tấm biển to ghi bốn chữ “Ðại
Hùng bảo điện”, đó là lời tán thán Ðức Phật là đấng
Ðại hùng Ðại lực. Ngài đại hùng chỗ nào, đại lực
chỗ nào? Ðại hùng vì Ngài thắng được Ngài, đại lực
vì Ngài thắng được tất cả ma quân. Còn chúng ta bây giờ
hùng với người ngoài mà thua với chính mình nên không thể
gọi là đại hùng, đại lực. Người tu phải tự chiến thắng
được mình, mới thật là đại hùng đại lực, mới có thể
thành tựu Phật quả.
Vì
thế nhà Phật dạy chúng ta tu là phải nhìn cho kỹ, thấy
cho rõ mình như thế nào đối với sáu trần, có dính có nhiễm
không? Nếu dính nhiễm thì phải gỡ bỏ. Chừng nào không
còn dính, không còn nhiễm nữa mới thật là người biết
đi trên con đường giải thoát.
Trở
lại vấn đề cái gì là gốc dẫn chúng ta đi trong trầm luân
sanh tử và cái gì là gốc dẫn chúng ta tới Niết bàn giải
thoát? Kinh Lăng Nghiêm nói rất rõ về việc này. Một hôm
ngài A Nan bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội
gốc của sanh tử, cái gì là cội gốc của Bồ đề Niết
bàn?”. Ngay lúc đó Ðức phật không trả lời. Lát sau bỗng
dưng nghe trên hư không, mười phương chư Phật đều đồng
thinh trả lời rằng: “Này A Nan, cội gốc của sanh tử là
sáu căn của ông, cội gốc Bồ đề Nìết bàn cũng là sáu
căn của ông”.
Sáu
căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Ðó là cội gốc
của trầm luân sanh tử và cũng là cội gốc của Bồ đề
Niết bàn. Tại sao? Chúng ta sử dụng sáu căn thế nào để
được thoát ly sanh tử, hoặc chìm trong trầm luân sanh tử.
Như tôi đã kể, mắt đuổi theo sắc dính với sắc nên bị
nó dẫn dắt, lôi kéo. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi
nếm vị cũng như thế. Ví dụ lưỡi nếm những thức ăn
ngon ta thấy thích, thức ăn không ngon ta thấy bực. Do đó
thay vì ăn để sống, chúng ta lại ăn để phiền não. Bởi
đâu có bữa cơm nào cũng vừa với lưỡi hết. Nếu vừa
ý thích, thì ta thèm ăn thêm tức là tham. Nếu không vừa ý
thích, ta bực dọc tức là sân, đó là phiền não. Mà phiền
não là cội gốc dẫn đi trong trầm luân sanh tử.
Nếu
xét kỹ trọng tâm ngon dở ở tại chỗ nào? Tại bao tử.
Bao tử trống thiếu thì đem vô cái gì cũng ngon hết, còn
bao tử đầy thì của quí cũng thành không ngon. Như vậy cái
ngon dở đâu có giá trị thật, nhưng vì ta quên, chỉ nhớ
sự đòi hỏi của cái lưỡi thôi, thành ra chạy theo nó mãi.
Lỗ mũi, con mắt, lỗ tai... cũng như vậy. Rồi thỏa mãn thân
nữa, cả đời làm không dư xu nào hết cũng vì những sự
đòi hỏi này. Nhiều người than khổ quá, đi làm hoài không
được nghỉ. Ai đày đọa mình mà khổ như vậy? Có phải
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nó hành không?
Thế
nên ngườí biết tu sống vừa phải, đừng lệ thuộc vào
những thứ ấy tự nhiên được an nhàn. Ăn để mà sống
thì ăn cái gì cũng được, miễn no bụng thôi. Mặc để che
thân thì mặc gì cũng được, miễn lành lặn là tốt rồi.
Thân này dù xấu đẹp gì vài mươi năm cũng phải chết, như
vậy chẳng lẽ ta thỏa mãn để rồi chết sao? Muốn mà không
được thì đau khổ, chớ có lợi ích chi. Thân này không thật,
hạnh phúc cũng không thật, chúng ta lầm mê tuởng là thật
nên phải chịu trôi lăn trong trầm luân sanh tử mãi.
Ðối
với người biết tu thì sáu căn đối với sáu trần: sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp không dính không nhiễm, đó là
cội gốc Bồ đề Niết bàn. Sắc là hình sắc đẹp xấu,
thanh là những âm thanh hay dở, hương là mùi thơm hôi, vị
là những vị ngon dở, xúc là những cảm giác xúc chạm của
cơ thể, pháp là những bóng dáng trong nội tâm hiện ra. Khi
sáu căn đối với sáu trần có dính có nhiễm thì đi trong
sanh tử. Khi sáu căn đốí với sáu trần không dính không
nhiễm là Bồ đề Niết bàn.
Vì
như có người thích uống rượu. Ban đầu uống một cốc
chơi, lần lần uống hai cốc ba cốc, thời gian năm tháng bảy
tháng sanh ghiền. Hồi đầu uống chơi nên còn tự do, muốn
uống thì uống, không muốn thì thôi. Nhưng khi ghiền rồi,
không có rượu phải chạy ra quán mua rượu về uống. Cái
gì dẫn họ chạy? Cái ghiền rượu. Mà ghiền là tập nhiều
lần thành thóì quen nên ghiền. Ðã ghiền thì phải lệ thuộc
vào nó, do đó bị nó dẫn đi, mất hết tự do. Chính mình
tạo rồi mình mất tự do, nếu không tạo thì đâu có mất.
Tự
do tức là nhân của giải thoát, còn bị các trần dẫn đi
là gốc của trầm luân, chớ có gì lạ đâu. Chúng ta tự
kiểm lại mình xem ta đang chuẩn bị đi lên hay bị lôi xuống.
Bị lôi xuống là khổ, còn giải thoát đi lên thì an nhàn.
Nếu bị những sở thích lôi kéo, không làm chủ được là
biết mình bị lôi xuống. Nếu những gì thế gian thích mà
mình vẫn không bị dính không bị mắc, đó là đi lên. Cho
nên sự tu của mình không phải đi hỏt ngựời này người
kia. Tôi thường bị nhíều Phật tử hỏi: “Thưa Thầy, Thầy
xem dùm con có căn tu không?”. Tôi lrả lời: “Ai cũng có
căn tu hết, chỉ muốn tu hoặc không muốn tu thôi”. Tại
sao ai cũng có căn tu? Bởi Phật nói ai cũng có tánh Phật,
tức là có căn tu. Người chịu tu thì tu được, người không
chịu tu thì tu không được, chớ đừng hỏi có hay không có.
Quí
Phật tử thử xét trong tâm mình có bao giờ hoàn toàn nghĩ
xấu hay hoàn toàn nghĩ tốt không? Có khi nghĩ tốt, có khi
nghĩ xấu. Như vậy nơi tâm chúng ta có đủ thiện ác. Bây
giờ tu là làm sao? Bỏ ác, giữ thiện, chỉ vậy thôi. Có
thiện sẵn là có căn rồi, còn hỏi ai chi nữa? Cho nên chúng
ta tu là loại trừ điều dữ, nuôi dưỡng điều lành cho tăng
trưởng. Như vậy ai cũng có căn hết. Có lắm vị đi coi ngày
coi tháng coi tuổi thử xem mình tu được hay không? Nhiều vị
xuất gia hay vào chùa cũng phải lựa ngày lành tháng tốt mới
đi, tôi cho như vậy là quá kỹ. Với tôi, ngày nào đi tu cũng
là ngày tốt, còn ngày nào đi ăn trộm cũng là ngày xấu hết.
Như
vậy ai cũng có đủ sáu căn tức là có đủ cội gốc của
Bồ đề Niết bàn và cội gốc của trầm luân sanh tử. Chỉ
đừng để sáu căn nhiễm dính với sáu trần là giải thoát,
ngược lại là trầm luân, chứ không gì lạ. Chúng ta xét
thật kỹ mới thấy sự tu của mình không phải ở trên mây
xanh, mà nó ngay nơi con người chân thật của chính mình. Bây
giờ có người nào không ăn chay, không tụng kinh nhưng thấy
sắc đẹp không tham, nghe tiếng hay không nhiễm, khen không
mừng, chê không giận là người đó có tu. Còn người ăn
chay trường, tụng kinh giỏi mà thấy sắc, nghe tiếng, ngửi
mùi... cái gì cũng dính cũng nhiễm là chưa biết tu. Nên tu
là khéo gỡ, đừng cột trói đừng dính mắc.
Người
tu là người gỡ bớt sự dính nhiễm của sáu căn; người
không biết tu chẳng những không gỡ mà còn tập thêm, đã
nhiễm càng nhiễm thêm. Vì vậy khổ hoài từ đời này sang
đời khác. Ðó là tôi giải thích rõ vì sao sáu căn là cội
gốc của Bồ đề Niết bàn, sáu căn cũng là gốc của trầm
luân sanh tử.
Trong
kinh Kim Cang, ngài Tu Bồ Ðề xin Phật dạy làm thế nào hàng
phục tâm và an trụ tâm để tiến lên quả vị Bồ đề?
Ở đây, tôi chỉ nói phần an trụ. Phật dạy : “Bất ưng
trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hưong, vị, xúc, pháp
sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không
nên dính mắc nơi sắc sanh tâm Bồ đề, không nên dính mắc
nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm Bồ đề, nên không
dính mắc mà sanh tâm Bồ đề. Nghe câu này, Lục Tổ Huệ
Năng đại ngộ, còn chúng ta không ngộ gì hết. Tại sao? Vì
muốn tâm an trụ để được giác ngộ thì đối với sáu
trần tâm đừng dính mắc. Chúng ta còn dính mắc nên tâm không
an, không an làm sao giác ngộ giải thoát được.
Ví
dụ tay tôi nắm cái ly thì dính mắc ở cái ly nên không thể
nắm được cái khác. Vì vậy còn bám vào một vật gì là
mắc kẹt vào vật đó. Nếu trên bàn có năm ba thứ nhưng
tay tôi không nắm thứ nào hết nên rảnh rang không dính mắc.
Nhờ không dính hắn vào một vật nên tôi có thể cầm vật
nào cũng được. Không bám nên không dính mắc, đó là vô
sở trụ. Chỗ không dính mắc ấy là tâm Bồ đề.
Tôi
thường ví dụ như người vác cục đá to leo núi, việc này
rất khó . Vì đá nặng mà trèo dốc cao nữa nên rất khó
đi. Bây giờ có người khuyên kẻ đó bỏ cục đá xuống,
như vậy khó hay dễ? Bỏ xuống khỏe ru phải không? Cũng thế,
chúng ta đang dính đang nhiễm, Phật bảo mình buông đi, đừng
dính nhiễm nữa, như vậy dễ hay khó? Thế mà chúng ta lại
than khó! Tại sao buông xuống nhẹ mà lại khó? Nghe khen, nghe
chê buông bỏ hết cho khỏe, dễ quá tại sao mình không chịu
buông? Thật lạ lùng.
Ví
dụ như người ghiền rượu, mỗi ngày phải tốn tiền đi
quán bao nhiêu lần, khổ hay sướng? Khổ. Bây giờ biểu bỏ
rượu đi, đừng uống nữa khỏi tốn tiền, hết khổ nhưng
họ nói bỏ rượu khó quá. Tại sao khó? Tại vì đeo mang quen
rồi, buông ra thấy khó. Nếu chúng ta can đảm buông một cái
thì dễ thôi, lỗi là tại mình không gan. Bởi vậy người
tu đòi hỏi phải có ý chí, phải gan dạ.
Tất
cả các nghiệp thiện cũng như nghiệp ác đều do chính mình
là chủ nhân tạo nên. Ta đã tạo cho mình khổ thì cũng chính
ta làm cho mình hết khổ, chớ đâu có ai thế được. Gan một
chút bỏ hết đi thì hết khổ; không chịu gan rồi cứ kêu
khổ hoài. Rõ ràng ta không đủ can đảm làm những việc lợi
ích cho bản thân mình, thì mong gì giúp ích cho ai? Vì thế
không nói tu từ đâu mà chính nơi sáu căn của mình biết
gỡ bỏ, tự nhiên chúng ta yên lành tự tại.
Sở
dĩ ta niệm Phật, tụng kinh, tọa thiền mà tâm vẫn bất an
là tại vì nhớ sắc, nhớ thanh. Như buổi chiều có ai nói
một câu nặng, mình trả lời chưa vừa ý; lát sau ngồi thiền
hay niệm Phật không yên. Cứ tìm. câu đối đáp cho xứng
với câu nói hồi chiều. Rõ ràng tâm mình không an là tại
vì dính sắc trần, thanh trần bên ngoài. Bây giờ đến giờ
tu thì gác qua một bên, không nhớ nghĩ chi hết, tự nhiên
tâm an. Cho nên Phật dạy chỉ tâm không dính mắc với sáu
trần là an trụ. An trụ được tâm đó mới tiến tới Bồ
đề, giải thoát.
Phật
tử cứ sợ không biết sau khi chết mình đi đâu nên tìm hết
thầy này đến thầy khác để hỏi. Sao không tự hỏi mình?
Bình thường thương người này giận người kia, trong tâm
hiện lên hình ảnh những kẻ ấy hoài thì khi chết sẽ bị
chúng dẫn đi thôi. Nếu tâm còn oán thù hờn giận thì oán
thù hờn giận sẽ dẫn mình đi gặp nhau để trả thù. Chúng
ta có mâu thuẫn mà không biết. Mình ghét ai không muốn gặp
thì lẽ ra buông luôn đừng nhớ người đó, đằng này không
muốn gặp mà cứ nhớ hoài. Nhớ gương mặt sao dễ ghét sao,
giọng nói cũng khó ưa... ôm ấp trong lòng hoài. Như vậy khi
gần nhắm mắt những hình ảnh đó sống trở lại khiến
cho gặp nhau ở đời sau nữa. Ðó là mâu thuẫn.
Chúng
ta tu mà chất chứa buồn phiền thù hận hoài thì khi nhắm
mắt sẽ bất an. Ðó là đi theo đường khổ. Cho nên chỉ
cần nhìn lại lòng mình trong hiện tại là biết chết sẽ
về đâu, gặp ai, khỏi cần hỏi thầy cô nào hết. Chúng
ta biểt tu rồi gỡ bỏ bớt, đừng thèm giận nhau chi. Buồn
giận nhiều có đi tới đâu? Phút cuối cùng ai rồi cũng phải
chết, mang giận hờn theo chi cho khổ. Vì vậy Phật dạy người
tu phải hỷ xả, vui vẻ bỏ hết để được an vui khi sống
cũng như lúc chết. Nên nhớ ngày mai chúng ta tiến lên hay
lùi xuống đều tùy tâm niệm trong hiện tại Nhiều người
nói quí thầy tu xả được, chớ chúng tôi đâu có xả nổi.
Trong sách nhà Phật có nói câu này: “Tăng hận bất cách
túc”, nghĩa là Tăng giận không được quá một đêm. Phật
thông cảm cho quí thầy còn phàm tăng cũng giận, nhưng không
quá một đêm. Vậy quí Phật tử giận chừng bao lâu? Năm
mười năm chưa quên. Ðối với người tu đạo lực còn yếu,
gặp cảnh trái nghịch cũng bực bội, nhưng một chút thôi
rồi bỏ đi, không được ôm ấp lâu. Người không biết tu
khi gặp cảnh trái nghịch giận hoài không quên.
Như
vậy chỉ cần nhìn lại mình, ta biết sự tu tiến nhiều ít.
Hồi chưa biết tu ai làm gì trái ý, mình giận mười năm.
Bây giờ biết tu, ai làm trái ý, mình giận chừng ba năm là
đã có tiến bộ. Ðến khi khá hơn chút nữa, ai làm gì trái
ý, mình giận chừng ba bốn bữa thôi. Bao giờ giận chỉ một
đêm thôi là làm Tăng được rồi đó. Cuối cùng gặp thuận
nghịch chi mình cũng cười, không giận chi hết, đó là chúng
ta bắt đầu tiến lên bước giải thoát.
Lục
Tổ Huệ Năng khi nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”,
chẳng những ngài không dính mắc sáu trần mà còn thấy ngay
nơi thân này có tâm thể thanh tịnh, nên ngài liền thốt lên:
Ðâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình vốn
tự đầy đủ, đâu ngờ tâm mình trùm khắp tất cả v.v...
Chúng ta do ý niệm dấy động chạy theo sáu trần sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp nên dính mắc sáu trần. Thế mà ta lại
còn cho ý niệm đó là tâm mình nữa. Tâm tôi nhớ hình sắc,
tâm tôi nhớ âm thanh v.v... Cứ thế liên miên hết niệm này
khởi tới niệm kia đuổi theo bóng dáng sáu trần nên bất
an. Nhưng hỏi lại tâm đó có thật không? Nhớ cái này nhớ
cái nọ, lát sau mất hết, như vậy nó đâu có thật. Bây
giờ nếu chúng ta dừng lại, không đuổi theo sáu trần nữa
thì được an ngay.
Khi
nhận tâm niệm dính với sáu trần là tâm mình, ta thấy tâm
ấy sanh diệt liên tục. Còn nếu những tâm niệm đó lặng
xuống hết, không còn dính bóng dáng nào nữa, lúc đó tâm
mình ra sao? Thênh thang trùm khắp, nên không sanh diệt từng
chập từng chập như trước. Hiểu thấu và ứng dụng được
như thế là ta giải thoát rồi. Học kinh nhiều mà không ứng
dụng được thì có lợi ích gì? Chúng ta học kinh Phật để
tu, chớ không phải để tụng cho Phật nghe. Mình không chịu
ứng dụng tu, cứ tối tụng lại cho Phật nghe, thử hỏi có
phụ lòng Phật không? Ví như cô giáo dạy học trò khi ra đường
gặp các cụ già phải giở nón chào, chấp tay cúi đầu, thưa
dạ đàng hoàng. Con bé đó thuộc lòng lời dạy trên, nhưng
khi ra đường gặp các cụ nó không thèm giở nón chào, không
chắp tay cúi đầu. Tới lúc vô trường nó lại đọc thuộc
lòng cho cô giáo nghe. Thử hỏi nếu cô giáo biết được chuyện
này có khen không?
Chúng
ta cũng vậy như trong kinh Bát Nhã, Phật dạy “Quán Tự Tại
Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là
Bồ tát Quán Tự Tại khi thực hành sâu Bát nhã Ba la mật
đa, Ngài soi thấy năm uẩn không thật liền qua tất cả khổ
nạn. Quí thầy cô của mình cứ đọc thuộc làu cho Phật
nghe như thế mà không chịu hành thâm, nên rồi khổ nạn tới
liên miên phải không. Phật biết, chắc Ngài cũng buồn lắm.
Bởi Phật dạy là muốn chúng ta thực hành để hết khổ,
chớ không phải đem lời Phật dạy ra đọc hoài mà không
chịu tu. Cho nên người học đạo thực hành một câu Phật
dạy quí bằng hòn ngọc vô giá ở thế gian. Vì vậy tôi thường
nhắc nhở chư Tăng Ni cũng như quí Phật tử, chúng ta đọc
kinh nhưng phải ứng dụng tu, chớ không nên đọc suông.
Chúng
ta tu phải ráng làm sao đừng để dính với sáu trần là được
giải thoát, ngược lại cứ dính mắc sáu trần hoài thì trầm
luân không có ngày ra khỏi. Như vậy sáu căn là nhân giải
thoát nếu chúng ta không dính với sáu trần, hoặc sáu căn
là nhân trầm luân sanh tử nều dính với sáu trần. Nên biết
tu ngay nơi sáu căn, chớ không ở đâu khác. Quyền định đoạt
được giải thoát hay trầm luân là của chúng ta. Chính mình
can đảm, chủ động để được giải thoát, cũng chính mình
chủ động để trầm luân trong sanh tử, không thể trách móc
kêu than ai hết. Như vậy đạo Phật tôn trọng quyền tự
do tuyệt đối không ai bắt ta trầm luân, cũng không ai nâng
ta lên giải thoát. Hiểu như thế rồi, chúng ta không được
quyền đổ thừa tại trời hay tại ai làm cho mình khổ, mà
phải biết rõ là tại mình.
Ðó
là ý nghĩa thâm trầm và sâu xa của đạo Phật về cội gốc
sanh tử và cội gốc Niết bàn. Mong tất cả nghe hiểu và
ứng dụng tu đạt được kết quả viên mãn./.
(Bài
này được đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 132 + 133 năm
2002)
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân