TƯ TƯỞNG
BÁT NHÃ TÂM KINH
Tiến
sĩ Phật học Thích Thanh Quyết
Bát
nhã Ba La mật đa Tâm kinh gọi tắt là Bát nhã Tâm kinh hoặc
Tâm kinh gồm 1 quyển. Năm Trinh Quán thứ 23 (649) Ðường Huyền
Trang (600–664) dịch từ Phạn văn ra Hán văn, Sa môn Trí Nhân
ghi chép lại. Hiện tồn bản dịch sớm nhất do Cưu Ma La Thập
(343-413) dịch gọi là Ma ha Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, gồm
1 cuốn. Từ đó tới nay Tâm kinh được truyền dịch tại
Trung Quốc ít nhất là 21 lần. Các cao tăng học giả xưa nay
chú, sớ kinh này nhiều không kể xiết. Ðược ghi chép trong
Đại Tạng Kinh hơn 80 loại(1). Song lưu hành rộng rãi nhất
vẫn là Bát nhã Tâm kinh do Huyền Trang dịch, toàn kinh gồm
260 chữ. Xưa nay tụng niệm hoặc chú giải đều dựa theo
bản dịch này.
Chữ
“Tâm” trong Tâm kinh vốn chỉ trái tim, nghĩa mở rộng chỉ
những điều tinh tuý, cốt tuỷ, bí mật. Vì thế xưa nay thường
dịch là Chú. Tâm kinh ngôn giản ý rộng, thống nhiếp ý nghĩa
vô cùng sâu rộng, vô cùng cốt yếu của các kinh Bát nhã.
Vì nó hiển thị ra nội dung và tinh thần quan trọng nhất
của bộ kinh này, cho nên gọi là Tâm kinh. Vốn tại thời
kỳ Ðại thừa Phật giáo phát triển rực rỡ, các kinh điển
sản sinh rất nhiều. Trừ kinh Vô Lượng Thọ đại biểu cho
tín ngưỡng Tịnh độ, kinh Pháp Hoa đại biểu cho đức từ
bi của Phật Ðà, nhưng đáng được chú ý lại là các kinh
điển thuộc loại Bát nhã. Bát nhã dịch là Trí tuệ, tức
là loại trí tuệ dùng để hoá trừ vô minh, vọng chấp của
bản thân, dùng để chứng chân lý một cách chân thực. Ðiều
mà Phật giáo cho là giải thoát chân chính, không thể toàn
bộ nương nhờ, dựa dẫm vào sự cứu độ của Phật và
Bồ Tát. Phật và Bồ Tát cứu độ chúng sinh cốt ở chỗ
các vị thuyết pháp, dùng vô lượng phương tiện thiện xảo
để dẫn dắt chúng sinh, khiến chúng sinh lìa xa chấp trước.
Chúng sinh muốn đạt tới cảnh giới “bất trước” này,
cần phải tự khai ngộ, muốn chứng đắc tự tâm khai ngộ,
chỉ có thăng tiến, đề cao trí tuệ mới hoá giải được
vọng chấp. Tất cả các hoạt động dạy và học, các sự
tu trì của giới và định, đều là để hướng tới mục
tiêu đạt được trí tuệ này. Ðại thừa Phật giáo cho rằng
có 6 loại thực tiễn gọi là “Lục độ”, cũng gọi là
“Lục độ ba la mật đa”; bao gồm: bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ. “Ba la mật đa”
dịch là hoàn thành (người xưa dịch là đến bờ bên kia,
tức bờ giác), giai đoạn cuối của thực tiễn tu trì Phật
giáo Ðại thừa, chính là sự hoàn thành của hoạt động
trí tuệ. Vì thế “Bát nhã ba la mật đa” là sự triệt
để quy túc (quy tụ). Bỏ cái này thì sẽ không có bất cứ
một tính thực tiễn nào. “Bát nhã ba la mật đa” trong lý
tưởng thành Phật có vị trí rất đặc thù, vô cùng quan
trọng. Vì thế các kinh điển dùng nó làm chủ đề càng ngày
càng nhiều, hình thành nên các kinh điển thuộc loại Bát
nhã. Kinh điển thuộc hệ thống Bát nhã biên soạn sớm nhất
là Bát thiên tụng Bát nhã kinh, tiếp theo có Nhị vạn ngũ
thiên tụng Bát nhã kinh, Thập vạn tụng Bát nhã kinh, Kim cương
Bát nhã kinh, Lý thú Bát nhã kinh v.v... Song lưu hành rộng
rãi nhất, được các học giả hoan nghênh nhất chính là Tâm
kinh. Kinh này như trên đã nói bản dịch rất nhiều, tại
Trung Quốc hiện còn 9 loại dịch bản khác nhau. Theo khuôn
khổ phân làm 2 loại: Quảng và Lược. Lược bản chỉ có
phần Chính tông mà khuyết phần Tựa và phần Lưu thông. Quảng
bản thì đủ cả 3 phần: Tựa, Chính văn, Lưu thông. Kết
cấu của toàn kinh, trước hết thuyết minh rõ Năng quán trí,
sau biện minh Sở quán cảnh, sau nữa hiển minh Sở đắc quả,
cuối cùng tán thán Ðại minh chú, song nói chung chủ yếu vẫn
là làm sáng tỏ 3 phần trên: Năng quán trí, Sở quán cảnh,
Sở đắc quả.
Năng
quán trí tức hiểu sâu Bát nhã, đoạn đầu Tâm kinh nói:
“Bồ tát Quán Tự Tại, lúc thực hành sâu Bát nhã ba la mật
đa, quán chiếu thấy ngũ uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức
đều không, cứu độ hết thảy khổ ách”, đó chính là
tổng cương lĩnh của toàn bộ Tâm kinh. Tất cả nghĩa lý
sâu xa của Tâm kinh, thậm chí nghĩa lý của toàn bộ Phật
pháp, đều nằm trong câu này, mà câu đầu “Quán Tự Tại
Bồ Tát” đây là cương yếu trong cương yếu. “Quán” là
quán chiếu, là dùng trực quán Bát nhã soi thấu các pháp,
thấy rõ tự tính của các pháp đều là “không tính” từ
đó mà chứng đắc được tự tại giải thoát. “Quán Tự
Tại Bồ tát” chính là bậc Ðại Bồ tát dùng tuệ nhãn
Bát nhã sâu sắc để quán chiếu thực tướng của vũ trụ
và nhân sinh. Ngay trong lúc thâm nhập thực quán Bát nhã, có
thể từ trong cảnh ô uế, phiền não này mà thẳng đến cảnh
giới thanh lịnh tốt lành của bờ giác bên kia. “Quán Tự
Tại” cũng không nhất định đặc chỉ Ðức Quán Thế âm
Bồ Tát. Chỉ cần người có đủ trí tuệ đạt ngộ, quán
chiếu vạn pháp mà tâm vẫn tự tại, không bị vạn pháp
lôi kéo đó chính là “Quán Tự Tại”(1). Trí tuệ đó có
thể “Quán chiếu thấy ngũ uẩn đều không”, đó chính
là “thâm sâu Bát nhã”. Bát nhã tiếng Phạn là Prajna tạm
dịch là “trí tuệ”, trong các kinh văn thường không dịch
là “Trí tuệ” mà vẫn bảo lưu âm Phạn, chính là vì “Trí
tuệ” chỉ là dịch rõ ra một bộ phận ý nghĩa của chữ
“Bát nhã”, mà không thể thay thế toàn bộ ý nghĩa sâu
xa của Bát nhã. “Bát nhã” bao gồm 3 tính chất, một là
Thực tướng Bát nhã. Thực tướng là tướng chân thực, tướng
như thực của các pháp, lìa nhất thiết danh ngôn khái niệm,
hư vọng, phân biệt, song lại có đầy đủ nhất thiết tướng.
Hai là, Quán chiếu Bát nhã tức dùng Bát nhã để quán chiếu
đương thể thực tướng của vạn pháp. Ba là, Văn tự Bát
nhã, tức nhờ vào việc dùng văn tự, ngôn ngữ để chỉ
dạy dẫn dắt chúng sinh, khiến họ khai ngộ. Trong đó Văn
tự Bát nhã là cảnh giới thân chứng của Ðại thừa Bồ
Tát. Tóm lại, Bát nhã là trí tuệ vô phân hiệt, siêu việt
đối đãi, xa lìa hết thảy vọng tướng, phủ nhận hết
thảy nhận thức sai biệt của thế tục, là trí tuệ hiểu
thấu thẳng tới nhận thực tự tính của vạn pháp đều
là tính không.
Tiếp
theo là biện minh Sở quán cảnh tức hiển thị thực tướng
các pháp chính là không tướng. Ở đây chính là phá trừ
uẩn, xứ, giới, duyên sinh, tứ đế, trí, đoạn trừ pháp
chấp. Cuối cùng là hiển thị Sở đắc quả, trước hết
đắc quả Niết bàn, sau là đắc quả Bồ đề. Hiển lộ
rõ thập phương chư Phật đều nhờ có “hành thâm Bát nhã”
mà đắc quả thành Phật. Vừa rồi (đoạn trên) đã giải
thích rõ Năng quán trí. Nay tiếp tục giải thích Sở quán
cảnh và Sở đắc quả.
1.
Ý nghĩa “Ngũ uẩn đều không” của Bát nhã không quán:
Hàng
Bồ tát thâm nhập trực quán Bát nhã sẽ quán chiếu thấy
“Ngũ uẩn đều không” đây chính là yếu chỉ của Tâm
kinh. “Ngũ uẩn” bao gồm 5 yếu tố sắc, thụ, tưởng, hành,
thức. Tức bao gồm tất cả các yếu tố vật chất và tinh
thần để tạo ra vạn pháp. Nếu tại “Ngũ uẩn” này thấy
rõ bản chất của chúng đều là không có tự tính, tức là
nhận thức được tính không của vạn pháp. “Ngũ uẩn”
lại gọi là “Ngũ ấm” hoặc “Ngũ tụ”. Nghĩa của “uẩn”
là tích tụ, tức là tổng tích tụ của một loại nào đó.
Trong “Ngũ uẩn” thì “sắc uẩn” là bao gồm tất cả
các hiện tượng vật chất. Bốn uẩn khác: thụ, tưởng,
hành, thức thuộc hiện tượng tinh thần. “Sắc” trong “Sắc
uẩn” có 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất là chất ngại, tức những
chướng ngại, trở ngại do vậl chất gây ra. Nghĩa thứ hai
là biến hoại tức không vĩnh hằng tồn tại. “Sắc” bao
gồm 11 loại: “Ngũ căn” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tức
năng lực của nhận thức, “Ngũ cảnh” là đối tượng
của “Ngũ căn” tức đối tượng của nhận thức, còn gọi
là “Ngũ trần” (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và “Vô biểu
sắc”. “Vô biểu sắc” là khi thụ giới, lấy cái thân,
khẩu, biểu nghiệp khoẻ mạnh làm duyên, toàn thân là một
loại sắc thể của tứ đại tạo thành. Sắc thể này có
công năng phòng ngừa sự sai trái và tội ác. Vì luôn luôn
phòng ngừa sự sai trái và tội ác của thân, khẩu cho nên
dùng nó làm giới thể. Vì nó không biểu hiện ra ngoài bằng
hình tướng cụ thể nên gọi là “Vô biểu”. Sở dĩ gọi
là “sắc” vì nó do tứ đại: đất, nước, gió, lửa trong
thân sinh ra, không giống các sắc thông thường khác. Ðây
cũng là một loại hiện tượng tinh thần. Sách Đại thừa
Ngũ uẩn luận nói: “Thế nào là sắc uẩn? Nghĩa là tứ
đại và những thứ đo tứ đại tạo ra như đất, nước,
gió, lửa và bốn tính như cứng, ướt, nóng, động. Sở dĩ
gọi nó là “Ðại” vì chúng tồn tại khắp trong bất cứ
một vật thể nào. “Ngũ căn”, “Ngũ cảnh” là năm loại
năng lực cảm giác và năm loại đối tượng bị cảm xúc
tới, bị cảm giác tới.
Về
vấn đề hoạt động tâm lý tức hiện tượng tinh thần,
Phật giáo chia làm 4 yếu tố lớn: thụ, tưởng, hành, thức.
“Thụ” là lúc chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh, trong
nội tâm sinh ra một loại tác dụng có ý nghĩa lĩnh nạp cảm
thụ. “Thụ”' có “khổ thụ”' và “lạc thụ”, tức
là chỉ cảm giác khổ, vui về mặt tinh thần khi mà các khí
quan của thân tâm tiếp xúc với ngoại giới. Ngoài ra còn
có một cảnh giới trung dung, khiến cho người có cảm giác
không khổ, không vui gọi là “xả thụ”.
“Tưởng
uẩn” là chỉ tất cả những quan niệm, biểu tượng, cho
đến khái niệm của sự phản ánh do những yếu tố sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp... cấu thành. Tức là tác dụng
của tưởng.
“Hành
uẩn” nghĩa chính là tạo tác, tương đương với các hoạt
động tư duy như động cơ, ý chí, ý muốn, ý hướng vv...
ý chí của hành uẩn sẽ sản sinh ra nghiệp quả.
“Thức
uẩn” là sự tổ hợp của tri giác, là năng lực nhận thức
thông qua các khí quan cảm giác đối với cảnh mà nhận thức,
nhận biết sự vậl và hiện tượng. Trên thực tế đó chính
là tác dụng nhận thức của căn và trần tiếp xúc với nhau
mà sản sinh ra, tức là “lục thức”. Vì “Ngũ uẩn” là
cái pháp do nhân và duyên hội tụ với nhau mà sinh ra. Mà phàm
là phép do nhân và duyên sinh ra, đều không có thực thể,
tức là không có một thực thể cố định, trường tồn bất
biến nào. Nếu như tách lìa “Ngũ uẩn” này để tìm một
cái thực thể tự ngã, là không bao giờ có. Vào thời Đường
tại Trung Quốc hai ngài Pháp Nguyệt và Trí Tuệ Luân đã dịch
“Ngũ uẩn giai không” thành “ngũ uẩn tự giai không”.
“Tự tính” chính là tính thực thể độc tồn bất biến.
Tính thực thể này không thể dùng những khí quan thông thường
mà có thể dễ dàng nhận thức được, nắm bắt được,
cho nên gọi là “đều không”, tức “thực tướng” không
chịu sự khống chế của bấl cứ nhân duyên nào, vì nó không
có tự tính. Tất cả các yếu tố để cấu thành “Ngũ uẩn”
bản thân cũng là “không”, “vô tự tính”. Cho nên tất
cả sự khổ nạn, những nỗi thống khổ của thế gian đều
là những pháp do nhân duyên sinh ra thảy đều không, rốt cuộc
không. Nếu như chúng ta thể nghiệm, quan sát sự vật hiện
tượng và bản thân như vậy sẽ độ thoát được tất cả
khổ ách của ta và chúng sinh–“độ nhất thiết khổ ách”.
Những “khổ ách” trên không ngoài hai thứ: thuộc về bản
thân thì có sinh, lão, bệnh, tử; thuộc về bên ngoài thì
có ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, cầu bất đắc khổ
v.v... Căn nguyên của tất cả khổ ách này chính là vì chúng
sinh luôn coi bản thân mình có tính thực thể trường tồn.
Luôn lấy mình làm tiền đềc, “khổ ách” vì thế mà sản
sinh ra. Nếu như chúng ta thông đạt, hiểu thấu tự tính của
vạn pháp là không, vô ngã như thế sẽ không có bất cứ
khổ ách nào rồi.
Tóm
lại, Phật giáo nói con người là do “Ngũ uẩn” hoà hợp
mà sản sinh ra, tức là sự thống nhất hài hoà giữa cái
hiện tượng tinh thần và hiện tượng vật chất, hoặc là
sự thống nhất giữa thân và tâm. Mục đích của Phật giáo
là “Ngũ uẩn” hoà hợp sinh ra con người và vạn pháp chính
là ở chỗ phá trừ “chấp ngã” tức phá trừ sự chấp
trước coi “tâm” là ngã hoặc bản ngã. Tư tưởng của
Phật giáo Tiểu thừa Hữu bộ cho rằng: con người do “Ngũ
uẩn” hoà hợp mà có, về mặt bản chất là “không” nghĩa
là không có tự tính, từ đó kiến lập ncn quan niệm “Nhân
vô ngã”. Tư tưởng của Phật giáo Ðại thừa tiến thêm
một bước cho rằng: “Ngũ uẩn” bản thân cũng là không.
Vì bản thân mỗi “uẩn” cũng là do nhiều yếu tố nhỏ
bé khác tạo nên, như vậy sẽ kiến lập nên quan niệm “pháp
vô ngã”.
2.
Ý nghĩa của “sắc không tương tức” trong tư tưởng Bát
nhã không quán
“Ngũ
uẩn giai không” của Bát nhã không quán cốt ở chỗ sau khi
phá trừ hai chấp “nhân vô ngã” và “pháp vô ngã”, nhưng
lại sợ rằng phá trừ chấp “hữu” lại dễ đắm chìm,
sa lầy vào chấp “không”. Cho nên Bát nhã Tâm kinh được
coi là đề cương của Kinh đại Bát nhã đã tiến sâu thêm
một bước, làm cho người tu Phật, học Phật không được
chấp “hữu” và không được chấp “không”; (Hữu còn
gọi là sắc, vì sắc là sự tồn tại hiện hữu của vạn
pháp), đó chính là ý nghĩa “Sắc không tương tức” của
tư tưởng Bát nhã không quán. Kinh nói:
“Sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc; Sắc tức là không,
không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng giống như
thế”
Cặp
phạm trù triết học Phật giáo “sắc, không” là tối quan
trọng trong tư tưởng Bát nhã không quán. “Sắc” là chỉ
tất cả vạn vật do nhân duyên hoà hợp mà tồn tại. Sự
vật mà do nhân duyên hoà hợp mà tồn tại thì tự tính của
nó không độc lập, không vĩnh hằng tồn tại, cho nên nói
tự tính của nó là “không”. “Không” là chỉ vạn vật
tuy có hình tướng, song xét về thực tướng của chúng thì
không có vật nào không phải là giả tướng do nhân duyên
hoà hợp mà thành. Khi chân thể (bản thể chân thực) được
hiển hiện ra thì vạn tướng đều “không tịch”, cho nên
nói “Sác chẳng khác không” nhưng “không” ở đây không
phải là không đoạn diệt, không cứng nhắc, không tuyệt
đối mà là “chân không” là bản thể của “sắc uẩn”.
“Bất dị” (chẳng khác) ở đây có ý nghĩa không khác biệt,
không xa lìa. Nếu “sắc” mà lìa “không” thì không bao
giờ có “sắc”. Nếu “không” mà lìa “sắc” vĩnh viễn
không bao giờ có “không”, tức là “không” chỉ tồn tại
trong “sắc” và “sắc” chỉ hiển hiện trong “không”.
“Không sắc”, “sắc không” hai cái này không lìa nhau,
nó là hai mặt của một vấn đề nằm trong một chỉnh thể
thống nhất, không thể độc tồn, bỏ cái này thì cái kia
tự mất. Có cái này tồn lại tức khắc cái kia sẽ tồn
tại. Cho nên nói “không chẳng khác sắc”. Nói một cách
đơn giản rằng: “sắc” tuy hiển hiện một cách rõ ràng
nhưng lại không có thực thể, không có tự tính, cho nên “sắc
chẳng khác không”, tuy nhicn không có thực thể mà hiển hiện,
rõ ràng, cho nên nói “không chẳng khác sắc”.
Trong
kinh nói “bất dị” (chẳng khác) vẫn có hàm nghĩa “tương
đẳng” (ngang nhau) trên quan niệm vẫn có sự tồn tại một
cách tương đối giữa “sắc” với “không”. Vì thế trong
kinh văn lại dựa trên cơ sở “không sắc bất dị” (không
sắc chẳng khác) thuyết minh sâu thêm sự tuyệt đối giống
nhau, ngang hàng nhau của “sắc không”, chỉ ra hết thảy
“sắc” đều là biểu hiện của giả tướng, lại không
phải là sau khi “sắc” diệt mới là “không”, mà là bản
thân của “sắc” chính là “không”, vì chúng không có
tự tính tồn tại một cách vĩnh hằng, một cách chân thực.
Nó là “giả hữu”, “huyền hữu” mà không phải “thực
hữu”'. Cho nên ngay thể của nó chính là “không” (đương
thể tức không).(2)
Cũng
như thế, thụ, tưởng, hành, thức đều là pháp hữu vi, do
nhân duyên hoà hợp mà sinh ra. Ðã là pháp do nhân duyên tạo
ra thì thể tính của chúng là vô tính, là không thể nắm
bắt được tức là “không”. Mặt khác, thụ, tưởng, hành,
thức do nhân duyên hoà hợp mà tồn lại, chúng cùng với “không”
là hai mặt của một thể cho nên “tương tức” với “không”
nghĩa là thụ, tưởng, hành, thức tức là “không”, “không”
tức là thụ, tưởng, hành, thức. Thụ, lưởng, hành, thức
chẳng khác “không”, “không” chẳng khác thụ, tưởng,
hành, thức v.v... cho nên kinh nói “thụ, tưởng, hành, thức
cũng giống như vậy”(3). Cho nên nói, không có một cái “không”
nào lìa khỏi “sắc” mà được tồn tại, cũng không có
một cái “sắc”, nào lìa khỏi “không” mà được tồn
tại. Từ đó mà chúng ta phải nhận thức và tu tập được
trong thế giới sinh diệt có bất sinh bất diệt, trong cảnh
sinh tử có Niết bàn Bồ Ðề. Căn cứ vào luận điểm này,
Thiền Tông đã đưa ra rất nhiều mệnh đề nổi tiếng để
áp dụng khi lập Thiền như: “Tức tục nhi chân” (Tục mà
là chân), “Tức thế nhi xuất thế” (thế gian mà lại xuất
thế gian), “Sinh tử tức Niết bàn” (cõi sinh tử tức là
cõi Niết bàn), “Phiền não tức Bồ Ðề” (trong cảnh phiền
não mà nhận thức ra thì 1à Bồ Ðề) v.v...
3.
Ý nghĩa “chư pháp không tướng” của Bát nhã không quán.
Như
trên đã trình bày, Tâm kinh trước tiên phá trừ hai chấp
trước “nhân ngã chấp” và “pháp ngã chấp” cho nên hiểu
rõ “Ngũ uẩn giai không”, nhưng lại sợ ngườí tu hành
bỏ chấp “hữu” lại quay ra chấp “không”, hoặc coi “không”
và “sắc” là hai mặt tách biệt nhau, đối lập nhau. Cho
nên lại giảng “không sắc tương tức”. Tức hết thảy
pháp đều là từ nhân duyên hoà họp mà sinh, tự tính của
nó là vô tự tính gọi là “không”. “Không” và “sắc”
là “tương y tương thành” tức là dựa vào nhau mà cùng
tác thành cho nhau. Ðiều này không thể dùng ngôn ngữ và nhận
thức thô thiển mà có thể nói ra được, nhận thức được.
Cho nên Tâm kinh dùng một loạt từ phủ định để nói rõ
“tính không” của nó. Ðồng thời cũng là thông qua sự
vạch ra, hiển lộ trên mà tiến hành phá trừ một cách sâu
sắc, tuyệt đối “pháp vô ngã”. Kinh nói: “Xá Lợi Tử,
các pháp đó không tướng, không sinh không diệt, không bẩn
không sạch, không tăng không giảm vì thế trong “không”
không có sắc, không có thụ, tưởng, hành, thức (Ngũ uẩn).
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (lục căn). Không có
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (lục trần). Không có nhãn
giới cho đến không có ý thức giới (lục thức). Không có
vô minh cũng không có chuyện hết vô minh, cho đến không có
già chết cũng không có chuyện hết già chết (12 nhân duyên).
Không có khổ, tập, diệt, đạo (tứ đế). Không có trí cũng
không có chuyện đắc”.
Ở
đây ta thấy Tâm kinh giảng rõ các pháp không tướng, tức
các pháp tính không. Tiếp theo lại giảng rõ Thập nhị xứ
tính không, Thập bát giới tính không, Thập nhị nhân duyên
tính không, Tứ đế tính không, năng chứng và sở chứng,
năng đắc và sở đắc đều tính không... vì trong Tâm kinh
nói “vô sở đắc”. Trung luận quyển 3 nói “pháp do nhân
duyên sinh, ta nói tức là không, cũng chỉ là giả danh, đó
là nghĩa Trung đạo. Chưa từng có một pháp, không từ nhân
duyên sinh, vì thế hết thảy pháp, pháp nào cũng là không”.
Tâm
kinh trước hết dùng “Lục bất” để phủ định bất cứ
đặc tính nào của các pháp, vì thể tính của các pháp là
không tính. Cho nên không thể dùng bất cứ một tính chất
nào để miêu tả nó. Hơn nữa “tính không” là “vô sở
đắc”, cho nên bất cứ một sự miêu tả nào, dùng bất
cứ một thứ ngôn ngữ nào, tiến hành bất cứ một phương
thức tư duy nào để tư duy, nhận thức đều không bao giờ
đạt tới, không bao giờ nhận thức tới. Mà chỉ có thể
dùng hình thức phủ định để phủ định mọi sự chấp
trước của nhận thức thế gian, từ dó mới có thể tự
mình thể nghiệm một cách sâu sắc đến “tính không” của
vạn pháp. “Các pháp đó không tướng, không sinh, không diệt...”
ở đây “không tướng” cũng chính là “không tính” tức
“tính không” vì như trên đã trình bày các pháp do nhân
duyên sinh ra, không có tự tính riêng biệt, không có tướng
trạng vĩnh tồn. Trí độ luận quyển 6 nói rằng: “Các pháp
do nhân duyên sinh, đó gọi là không tướng, cũng gọi là giả
danh, cũng gọi là Trung đạo”. Ta thấy một khi nhận thức
được vạn pháp tính không, tướng không thì nhận thức đó
gần cận đến Trung dạo. Vì các pháp chỉ là nương vào nhân
duyên mà tồn tại, chưa từng có sinh, cho nên chưa từng có
diệt. Kinh Duy Ma Cật, phẩm Bất nhị pháp môn nói: “Pháp
vốn không sinh nay sẽ không diệt”. Ta thấy “bất sinh bất
diệt” chính là tên khác của “Thường trụ”. Cặp phạm
trù “sinh diệt” này trong Phật giáo vô cùng quan trọng.
Trung luận quyển 1 nói: “Không phải sinh cũng không phải
diệt, không phải hằng thường cũng không phải gián đoạn,
không phải đồng nhất cũng không phải sai khác, không đến
cũng không đi... là đệ nhất trong các pháp”. “Sinh diệt”
là pháp hữu vi, vì chúng do nhân duyên giả hoà hợp mà có,
tự tính của nó là vô tự tính “không”, “bất sinh bất
diệt”. “Bất sinh bất diệt” chính là một cặp phạm
trù nói rõ nhất về “chân không vô tướng”. Người tu
hành chứng nhập được lý không tính, không tướng này sẽ
xa rời và siêu việt tất cả các cặp phạm trù có ý nghĩa
đối đãi như: sinh diệt, cấu tịnh, tăng giảm v.v... Nói
cách khác, tất cả các pháp “sinh diệt”, “cấu tịnh”,
“tăng giảm” v.v... đều nhờ nhân duyên mà có, “vô sở
đắc” tức vô sở chấp trước, vô sở phân biệt cho nên
tự tính của chúng là không tính.
Thứ
hai Tâm kinh tiến hành phủ định mười hai xứ và mười tám
giới. Coi tất cả mọi hiện tượng, mọi nhận thức của
vũ trụ vạn vật tổng phân làm “năng thủ”' và “sở
thủ” tức nhận thức năng lực và nhận thức đối tượng.
“Năng thủ” bao gồm lục căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân,
ý). “Sở thủ” bao gồm Lục cảnh (sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp). Bởi chúng sinh lấy “lục thức” phan duyên “lục
cảnh” mà nhiễm ô “lục căn” cho nên gọi là “lục trần”.
“Căn” ở đây có nghĩa là khả năng sinh sản, làm tăng
thêm lên, như rễ cây có sức tăng trưởng, mọc ra các cành,
như nhãn căn có sức mạnh có thể sinh ra khả năng nhận thức
của mắt. Sách Đại thừa nghĩa chương quyển 4 nói: “Có
khả năng sinh ra thì gọi là căn”. “Cảnh” chính là nói
tâm vin vào đó mà chạy theo, ví dụ “sắc” là nhãn thức
vin vào đó gọi là “sắc cảnh”, “pháp” là nơi ý thức
vin vào đó gọi là “pháp cảnh”. Phật giáo cho rằng: Sở
dĩ người ta có thể sinh ra các loại nhãn thức là vì bên
trong có “lục căn”, bên ngoài có “lục trần”. Trong đó
“pháp” là điều nhận thức của “ý căn”, là đối tượng
của nội tâm. Ví dụ lúc là tai không nghe, mắt không nhìn
thấy, song các loại cảnh giới mà nội tâm phan duyên tới
gọi là “pháp trần”. Mọi hoạt động của nhận thức
không rời “năng thủ” và “sở thủ”, mọi hoạt động
của tinh thần đều nhờ vào nó mà sản sinh ra. “Căn”,
“trần” hoà hợp thì sinh ra “thức”. Tức sáu căn “năng
thủ” và sáu trần “sở thủ” hoà hợp với nhau thì sinh
ra sáu thức, cộng thành mười tám thức. Sở dĩ sáu căn,
sáu trần, sáu thức gọi là giới vì chúng liên quan với nhau,
nhưng mỗi cái tự có tác dụng, tự có sai khác, không lẫn
lộn nhau. Nhưng sáu căn và sáu cảnh đều là duyên sinh, không
phải là tự sinh, cho nên mười tám giới là do “căn”, “cảnh”
và “thức” hoà hợp mà sinh ra cũng là chúng duyên hoà hợp
mà có, bản thân không có tự tính, rốt cuộc không.
Ba
là, Tâm kinh tiến hành phá trừ chấp trước của 12 duyên
khởi. Kinh văn nói “không có vô minh, cũng không có chuyện
hết vô minh; cho đến không có già chết, cũng không có chuyện
hết già chết”.
Sở
dĩ người tu hành chứng đạo có thể giải thoát sinh tử
phiền não chính là vì họ nhận thức được phép tắc của
12 duyên khởi, họ nắm bắt được nguyên nhân của sự lưu
chuyển đó. Phép duyên khởi ở trong vòng lưu chuyển đó bản
tính của nó là “không”, không có tính thực thể. Cho nên
kinh nói: “Không có vô minh”, “không có lão tử”. “Vô
vô minh”, “vô lão tử” đều nằm trong 12 duyên khởi của
cửa hoàn diệt. Ta thấy sự sinh khởi của các hiện tượng,
sự vật đều do nhân duyên. Sự diệt vong, li tán của các
sự vật cũng đều bởi nhân duyên. Sinh và diệt đều là
hiện tượng nhân quả. Cho nên pháp thanh tịnh trong cửa hoàn
diệt cũng bởi duyên khởi, cũng là “không”, không có tự
tính. Cho nên kinh nói: “Không có chuyện hết vô minh”, không
có chuyện hết lão tử. “Vô minh” và “lão tử” là bao
gồm toàn hộ cửa lưu chuyển của 12 đốt nhân duyên. Tức
nó đại biểu cho tất cả sự vật sản sinh và phát triển.
Xét về mặt hiện tượng chúng là có, có sự tồn tại, nhưng
chỉ là giả có (giả hữu) chứ không phải thực có (chân
hữu): tức tồn tại một cách tạm thời, không vĩnh hằng.
“Vô minh tận”, “Lão tử tận” là cửa hoàn diệt đại
biểu cho 12 mắt xích nhân duyên. Song Tâm kinh nói “Vô vô
minh tận”, “Vô Lão tử tận” chính là muốn nói rõ cửa
hoàn diệt và cửa lưu chuyển đều không có tự tính, rốt
cuộc không, không có tướng sinh diệt cũng không có tưởng
diệt tận của 12 nhân duyên.
Bốn
là, Tâm kinh tiến hành phủ định “Tứ đế”. Nghĩa là
lúc Bồ Tát thực hành sâu sắc trí tuệ Bát nhã thì Quán
chiếu thấy “Tứ đế” đều không. “Tứ đế” còn gọi
là “Tứ Thánh đế”. “Tứ Thánh đế” đầy đủ hai tầng
nhân quả, tức nhân quả thế gian (khổ, tập) và nhân quả
xuất thế gian (diệt, đạo). Nhân quả của thế gian lấy
khổ đế làm quả, tập đế làm nhân. Còn nhân quả xuất
thế gian thì lấy diệt đế làm quả, đạo đế làm nhân.
Xét thấy hai tầng nhân quả nhiễm tịnh này đều bởi các
nhân duyên hoà hơp mà sinh ra cho nên không có tự tính, thảy
đều là không.
Cuối
cùng Tâm kinh tiến hành phủ định “năng chứng trí” và
“sở chứng lý”. Kinh nói “vô trí diệc vô đắc”. “Trí”
là năng quán, năng chứng; “đắc” là sở quán, sở đắc.
Nếu xét từ góc độ của tư tưởng Bát nhã không quán vừa
nói trên ta thấy “năng sở bất lập” cho nên năng chứng,
sở chứng và năng quán, sở đắc đều là không vì đều
không có tự tính. Cho nên trong kinh dùng chữ “vô”.
4.
Ý nghĩa liễu ngộ vô sở đắc của tư tưởng Bát nhã không
quán
Như
trên đã nói qua “vô sở đắc” tức đạt tới chân lý
tối cao của bản thể vô tướng, trong tâm không hề có chỗ
chấp trước, không hề có sự phân biệt. Không chấp trước,
không phân biệt ở đây không có nghĩa là mù mờ vô phân
biệt hoặc ngu vô phân biệt mà là “vô phân biệt trí”,
tức đạt được trí tuệ xa lìa tất cả mọi hình tướng,
khái niệm, danh ngôn v.v... đạt đến cảnh giới nhận thức
bình đẳng nhất như, như như. Trí tuệ này còn gọi là “Không
tuệ”.
Xét
từ góc độ Bát nhã không quán, tất cả mọi hiện tượng
sự vật đều không có một tự tính riêng biệt cố định
bất biến, tồn tại một cách vĩnh hằng. Tức tính của vạn
pháp đều là không vì chúng không có tự tính và “vô sở
đắc”. Từ đó lại từ góc độ Bát nhã không quán mà nhận
thức đến “Ngũ uẩn”, “Thập nhị nhân duyên”, “Thập
nhị xứ”, “Thập bát giới”, “Tứ đế” v.v... đều
chỉ là “giả hữu tính không” vì thế nên xa lìa “ngã
chấp” và “pháp chấp” để đạt tới thực sự giải
thoát.
Tóm
lại, Bát nhã Tâm kinh tuy chỉ vẻn vẹn 260 chữ đã thâu tóm
toàn bộ từ tư tưởng Phật giáo Nguyên thuỷ đến tư tưởng
Phật giáo Ðại thừa, đã giải quyết triệt để những tư
tưởng then chốt nhất của đạo Phật. Trải qua ngót hai nghìn
năm nay, kinh này đã được các học giả, các Phật tử xuất
gia cũng như tại gia trên thế giới chú giải, phân tích, tán
thán v.v... đặc biệt là truyền tụng và áp dụng vào việc
tập Thiền, cho nên mỗi câu kinh đều trở thành những Thiền
ngữ hoặc Thiền công án. Phật tử Việt Nam đặc biệt là
người xuất gia xưa nay không ai là không thuộc, coi đó là
những bài kinh đầu tiên khi bước vào cửa Thiền. Từ đó
truyền lụng suốt đời. Song hiểu kinh này một cách rốt
ráo theo đúng tư tưởng của Phật giáo Ðại thừa thì còn
phải chọn lọc. Kinh này không chỉ lưu truyền rộng rãi ở
các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v...
mà hiện nay còn lưu truyền khá phổ biến ở các nước phương
Tây như Anh, Mỹ, Ðức, Pháp v.v... Kinh này không chỉ được
các học giả và các Phật tử phương Ðông tiến hành nghiên
cứu tu tập mà còn được các học giả, các nhà triết học,
các nhà tư tưởng, các nhà tâm linh trên toàn thế giới nghiên
cứu áp dụng. Từ đó, kinh này đã được dịch ra nhiều
thứ tiếng khác nhau trên thế giới như tiếng Anh, tiếng Trung,
tiếng Nhật, tiếng Việt, tiếng Triều Tiên, tiếng Tây Tạng,
tiếng Mông Cổ, tiếng Pháp... chắc chắn kinh này sẽ vĩnh
hãng tồn tại cùng với sự trường tồn của Phật pháp,
sẽ vĩnh hằng phát huy tác dụng “độ nhất thiết khổ ách”
cùng với những tác dụng, những giá trị triết học cao cả
của Phật giáo xưa nay./.
Ghi
chú:
(1)
Tham khảo Bát nhã Tâm kinh dịch chú tập thành, Tiền ngôn,
Phương Quảng Xương, nhà xã hội cổ tịch Thượng Hải xuất
bản năm 1994
Xem
Bát nhã ba la mật đa tâm kinh sớ của Tịnh Tuệ thời Ðường
và Bát nhã tâm kinh dịch chú lập thành tr.146
(2)
Tham khảo Pháp tính không tuệ của Thái Hư Đại sư
(3)
Trung luận quyển 4
(Bài
này được đăng trong Tạp chí nghiên cứu Phật học, số
4 năm 2002)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 225 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân