HƯ THỰC
CÕI TÂM LINH
CHÂN
PHƯƠNG
Tôi
thường đến thăm cha tôi vào lúc chiều tà và lần nào cũng
đi quanh ghé chào hàng xóm của ông. Thế giới người chết
thật thanh bình, chẳng có cảnh đua giành tranh cãi, tất cả
ở bên nhau êm ả dù lrước kia có thể khác nhau về thân
phận hoặc quan niệm sống. Hơn nữa, họ còn gợi được
tình nhân ái giữa những người sống, vì nhiều khi đến
đây tôi thấy đã có nhang thắp đỏ cắm trên mộ cha tôi
cùng những nhà mồ bên cạnh.
Dường
như tôi có cơ hội làm quen với “thế giới chết” hay “cõi
âm” từ nhỏ. Thời tiểu học (cấp 1), tôi được cha tôi
cho ngủ một mình trên căn gác nhỏ có cửa quay ra một hồ
sen rộng và bên kia là tòa thành cổ. Thường mỗi lần nửa
khuya thức giấc, tôi nghe có tiếng sáo vi vu vọng lên từ
phía cổng thành. Dân địa phương cho rằng khu thành cổ có
ma vì nhiều người đã chết ở đó và kể ra lắm chuyện
ly kỳ rùng rợn. Tuy có chút e dè, tôi vẫn ngủ trên gác và
lòng thấy bâng khuâng vào những đêm vắng im tiếng sáo.
Nói
về cái chết, một điều làm tôi thắc mắc khá lâu là cha
tôi và một số bạn của ông dự đoán được thời điểm
lìa đời của mình, có người còn gọi con cháu đến để
dạy bảo rồi nằm xuống ngủ giấc nghìn thu. Về sau, tôi
được biết ngoài ăn uống quân bình âm dương theo phương
pháp Thực dưỡng Ohsawa, các bác còn dụng công hành Thiền
và dường như cha tôi cũng thế. Vào những năm cuối đời,
cha tôi ít tiếp xúc với ai và thường ngồi yên nhắm mắt;
tôi hỏi thì ông bảo “Ngồi vậy thấy khỏe” mà chẳng
giảng giải gì thêm. Có điều lạ là những lời ông nói,
đôi lúc có vẻ vu vơ, về người hoặc sự việc giống như
tiên tri hoặc thần giao cách cảm, nghĩa là ngay hoặc sau lúc
đó đã xảy ra đúng thật.
Một
điều khác cũng làm tôi thắc mắc đó là sự “hiển linh”.
Mẹ tôi thường kể lại những chuyệ n phù hộ, mách bảo
của bà ngoại tôi, chẳng hạn có lần nhà tôi lọt giữa
vùng giao chiến, vài quả đạn pháo rơi nổ trước sân nên
cả gia đình phải tản cư (sơ tán). Khi đến nơi tạm trú,
mẹ tôi lo lắng sợ những lu (chum) tương bà làm bị bể;
nhưng sáng hôm sau, bà hớn hở báo tin: “Bà ngoại đang
coi nhà giùm”. Sau cuộc chiến trở về, tôi thấy nóc nhà
bị đạn phá nát khoảng lớn, nhưng đồ đạc trong nhà không
hư hao mấy và đặc biệt những lu tương ở mé hiên gần
bên chỗ nát không sứt mẻ chút nào. Mẹ tôi cho rằng bà
ngoại linh thiêng vì là người thành tâm mộ đạo, lại mất
đúng dịp đêm rằm.
Tôi
cố tìm lời giải thích hợp lý cho những sự kiện như vậy,
nhưng những gì tôi thu thập từ nhà trường không thể trả
lời thỏa đáng, tuy thuyết tương đối và vũ trụ nhiều
ngăn của Einstein có mở ra một khoảng lung linh mờ nhạt.
Mãi đến khi nghiên cứu triết học, nhất là của Phật giáo,
và y học cổ truyền phuơng Ðông, tôi nhận thấy tất cả
đều phát xuất từ tâm tưởng và hành vi của con người.
Theo
giáo sư Ohsawa, nhà y triếl lừng danh của thế kỹ XX, cơ thể
con người giống như một bộ máy thu phát tín hiệu (hoặc
máy vi tính) có khả năng tiếp nhận và truyền đi các thông
tin trong ngoài thế gian lẫn trong vũ trụ nhờ vào nguồn năng
lượng gọi là “khí” vốn có nơi bản thân và môi trường
sống. Tuy nhiên, khả năng này thường bị hạn chế do người
ta không biết cách tu dưỡng, ăn ở không theo đúng qui luật
thiên nhiên mà ông gọi là “Trật tự của vũ trụ”, tôn
giáo gọi là “Pháp”. “Đạo” hoặc “Luật”, khiến
thân tám bị suy yếu hoặc hư hỏng và khí trong cơ thể bị
pha tạp hoặc mất điều hòa.
Còn
giới khoa học, trên đường tiến sâu vào bên trong, đã thấy
con người là một cơ cấu kép gồm hai phần: thể chất (thân)
và tinh thần (tâm) có ảnh hưởng mật thiết với nhau,
trong đó thân là phuơng tiện chuyển tải hoặc phô diễn các
hoạt động của tâm. Nhiều nghiên cứu khoa học cho biết
cơ cấu này chứa sẵn một năng lực to lớn có thể thực
hiện những công việc tưởng như “phi thường” hoặc “siêu
phàm”; nhưng muốn khai triển năng lực này, người ta phải
trải qua một quá trình tập luyện tu dưỡng có phương pháp,
hoặc lâm vào tình lhế khấn trương bức bách. Thí dụ cụ
thể là khi cháy nhà, người ốm yếu có thể vác cái tủ
nặng ra ngoài, hoặc một bà mẹ có thể nâng bổng đầu xe
ôtô để cứu con mình bị chẹt ở dưới. Hơn thế nữa,
nhiều du khách Âu Mỹ khi đến thăm Trung Quốc đã chứng kiến
các vị sư chùa Thiếu Lâm thi triển những công năng đặc
dị “khó tin nhưng có thật”.
Riêng
về cõi tâm, giới nghiên cứu chia làm ba lớp chính đan lồng
vào nhau: ý thức, tiềm thức và siêu thức. Ý thức có thể
gọi là “dục tâm” vì chịu sự chi phối của lý trí phân
biệt, ưa ghét, hơn thua, tức cái tâm của phần đông người
đời. Tiềm thức (tương đương Mạt na thức) là lớp lưu
trữ những ấn tượng và kinh nghiệm mà các giác quan (nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân) cảm nhận được, rồi cho chúng trỗi
dậy thành trí nhớ, thành giấc mơ khi ngủ hoặc hình ảnh
phóng chiếu (ảnh chiếu) khi đang thức. Tuy nhiên, giấc mơ
hoặc ảnh chiếu có hai loại chính: loại thông thường và
loại linh cảm.
Giấc
mơ hoặc ảnh chiếu thông thường chịu ảnh hưởng của dục
tâm, có tác dụng giúp người ta xả bớt những xung động
thần kinh dồn ứ, hoặc thỏa mãn những ước muốn sâu xa
không hoàn thành được trong cuộc sống có ý thức hàng ngày.
Còn giấc mơ linh cảm (hiển linh) hoặc ảnh chiếu linh cảm
(thần giao cách cảm, tiên tri) thì do siêu thức tác động;
mặc dù chưa hiểu rõ cơ cấu, giới nghiên cứu khoa học đã
nhận biết hoạt động của siêu thức, một dạng tiềm thức
tích chứa những thông tin phổ quát về quá khứ, hiện tại
lẫn tương lai (tương đương A lại da thức). Họ cũng nhận
thấy siêu thức chỉ khai triển khi các giác quan ngưng nghỉ
hoàn toàn, chẳng hạn như trong thí nghiệm sau đây.
Một
nhóm người tình nguyện được cho ngồi trong những thùng
nước ấm, tay chân đuợc trói chặt, mắt bịt kín, không
ăn, không bài tiết ở trong căn phòng cách âm và không có
mùi gì lọt vào. Như vậy, các giác quan được giữ yên và
họ ngủ thiếp một mạch khoảng 24 tiếng đồng hồ. Khi thức
dậy, họ cho biết đã chứng kiến nhưng cảnh tượng lạ
lùng huyền ảo và có cảm giác lâng lâng kỳ diệu. Ngay cả
những người thường không có óc tưởng tượng, lúc đó
cũng thấy những hình ảnh rực rỡ khiến họ kinh ngạc tột
độ và bị cuốn hút vào cuốn phim nội tâm. Điều đáng
nói là sau đó hầu hết nhóm người này đã sống tích cực
tốt lành hơn.
Tôi
cũng biết vài người bạn tập Thiền cũng trãi qua cảnh tượng
tương tự; thí dụ cảm thấy mình bị một luồng gió thổi
bay đi giữa khoảng không mờ mịt hoặc thăng lên cao trong
mộl vùng trắng xóa, điều đặc biệt là họ vừa “biết”
đang bay vừa “thấty” mình đang nằm hoặc ngồi và nếu
chớm ý thức muốn ngưng thì tỉnh lại. Sau mỗi lần tập
như vậy, họ thấy sung sướng tuyệt vời. Có vị sư gọi
đây là trạng thái “sơ thiền”.
Trường
hợp này tương tự những nghiên cứu mà các bác sĩ Mỹ Raymond
Moody và Michael Sabom tiến hành qua phỏng vấn hàng mấy trăm
người “chết lâm sàng” (chết đi sống lại) và công bố
trong hai tập sách “Life After Life” (Sự sống vẫn tiếp diễn)
và “Recollections Of Death” (Những hồi ức về cõi chết).
Những người này kể lại trong lúc “hồn lìa khỏi xác”
không chỉ trải qua cảnh êm đềm siêu thoát, mà còn thấy
được khung cảnh phòng cấp cứu và hoạt động của các
y bác sĩ ở đó.
Nhìn
chung, đến nay sức mạnh tinh thần hoặc năng lực tâm linh
chẳng còn huyền bí nữa. Khoa học đã lần ra ngõ vào cõi
giới nội tâm, và bằng các phương tiện ngày càng tinh vi,
họ giúp người ta thấy được cái cơ chế diễn ra trong sâu
cùng của bản thể để có thể nhìn lại đời sống trong
nguyên vẹn trọn toàn và hiểu được mỗi cá nhân chỉ là
một bóng nước trong đại dương vũ trụ bao la, một âm thanh
trong muôn vàn nốt nhạc tạo nên tấu khúc vô cùng vô tận
của chân không diệu hữu, nhờ đó mà biết vai trò đúng
thật của mình và góp sức làm cho cõi đời được yên vui
lành mạnh.
THAM
KHẢO:
–
Phật học phổ thông của HT Thiện Hoa. Thành hội PG TP.HCM
ấn hành, 1992.
–
Làm thế nào để sống vui của G. Ohsawa. Ngô Thành Nhân dịch.
NXB. Khánh Hòa. 1992.
–
Beyond the Superconscious mind của A.A. Acarya. NXB. Ananda Marga. Singapore.
1991.
(Bài
này được đăng trong tuần báo Giác ngộ số 134 [Vu Lan] 2002)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 225 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân