Đạo Phật
Khác Với Các Đạo Khác Như Thế Nào?
Kính
thưa quý thầy và quý thiện hữu tri thức
Thưa
quý ban biên tập Hoa Sen
Con
tên là Nguyễn Văn Hòa, là một Phật tử by birth, có nghĩa
là cha mẹ con và ông bà nội ngoại của con theo đạo Phật.
Tuy nhiên con không hiểu nhiều về đạo Phật. Cha mẹ con cũng
như ông bà nội ngoại con thường nói đạo Phật cũng giống
như các đạo khác, cũng dạy con người ở hiền, làm lành,
tránh ác. Con trộm nghĩ, nếu đạo Phật cũng giống các đạo
khác như vậy, thì đâu cần đạo Phật nữa và ông Phật
ra đời là dư thừa. Con nghe nói có tới tam tạng kinh sách
mà một người từ lúc biết đọc đến lúc chết đọc cũng
không hết, vậy để làm gì? Chắc hẳn là có những điểm
khác nhau rất đặc biệt. Vậy con xin hỏi quý ngài một câu
là đạo Phật khác với các đạo khác như thế nào? Con xin
cảm tạ quý ngài trước.
nguyenvanhoa@asia.com
Kính
thưa ông Nguyễn Văn Hòa và Quí Vị,
Xin
được lạm bàn cùng ông Hoà về điểm khác biệt giữa đạo
Phật và các đạo khác:
**
Điểm cốt lõi của Phật giáo là tự mình giải thoát chính
mình ra khỏi khổ đau, sự giúp đở của tha nhân hay thần
thánh - kể cả sự giúp đở của chư Phật, Bồ tát và thiện
tri thức - là phụ. Trong khi đó các tôn giáo khác thì tín
đồ phải nhờ vào đấng Tối Cao (Thượng Đế) giải thoát
khổ đau giùm cho. Đặc tính nầy rất thực tế và dễ chứng
minh như sau: khi đạo hữu Hòa khát nước thì khó chịu và
đau khổ, đạo hữu phải tự mình uống nước mới thấy
mình dễ chịu và bớt khổ, không ai có thể uống nước dùm
cho đạo hữu để đạo hữu bớt cơn khát được cả, kể
cả đức Phật cũng không giúp được việc uống nước nầy.
Nếu giúp được thì người ngoài và cả chư Phật, Bồ tát
hay thiện tri thức chỉ giúp được đạo hữu có ly nước.
Còn uống nước để bớt khổ thì chính đạo hữu phải làm
lấy: Đó là đạo Phật. Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta nước,
uống vào thì phải tự chúng ta làm lấy. Thiên kinh vạn quyển
của đạo Phật là nước, nghiên cứu nước cả đời mà
không uống vào thì vẫn khát (đau khổ), nếu uống vào (thực
hành) thì hết khát (gỉai thoát) thế thôi.
**
Khác biệt về mặt hình thức là đạo Phật chỉ ra cho nhân
loại thấy rằng không hề có một đấng Tối Cao làm chủ
tể của vũ trụ vạn vật để ban phước hay giáng họa cho
chúng sanh. Mà ngược lại họa phước của chúng sanh là do
chính chúng sanh tạo ra trong không gian và thời gian tương đối
của chúng sanh. Do đó về hình thức đạo Phật không hề
có một đấng Tối Cao làm giáo chủ vĩnh viễn như các tôn
giáo khác. Điểm này quan trọng ở chổ là người tín đồ
các tôn giáo khác cho dù hết sức tín tâm thành ý cũng vĩnh
viễn không đạt được cái ngôi vị của đấng Tối Cao đứng
trên chóp bu của các tôn giáo đó. Chỉ duy nhất đạo Phật
cho biết là con người khi thành Phật thì cũng ngang bằng với
đức Phật không hơn không kém: đây là tính Bình Đẳng Tuyệ
Đối chỉ có đạo Phật mới có mà thôi.
**
Khác biệt về mặt nội dung thì so với các tôn giáo khác
đạo Phật có một nội dung triết học phong phú, bao la, thực
tế thực dụng và biến hóa không thể nghĩ bàn. Luận lý
trong Phật học cao thâm viển lự đến độ cả đời của
một nhà thông thái cũng học và hiểu không hết. Nhưng chỉ
cần một tích tắt đạt ngộ là hiểu trọn toàn bô. Phật
học. Dù vậy Phật học lại giản dị vô cùng, trình độ
nào cũng có lý thuyết phù hợp cho trình độ đó. Bản tính
của sự đạt ngộ thì không phân biệt là thông minh hay dốt
nát, nghĩa là người ngu hay kẻ trí đều có thể đạt ngộ
như nhau và tới mục đích như nhau, không ai hơn ai.
Xin
thưa rằng tất cả những gì trên đây là tôi nói ra không
phải đạo hữu Hoà nói ra. Đạo Phật chủ trương là đạo
hữu Hòa phải thực hành học hỏi lấy rồi tự mình nói
ra thì nó mới đích thực là Đạo Phật của đạo hữu vậy.
**
Muốn tự thực hành thì phải học hỏi nơi Thầy và Bạn
- (ai cũng có thể là Thầy ta và ai cũng có thể là Bạn ta)
- rồi tự mình thực hành để đạt được cái thấy biết
của mình. Khi cái thấy biết của mình khế hợp với cái
thấy biết chư Tôn Đức và thiện tri thức thì lúc ấy tâm
ta đã hiểu được cái không hai, không khác với cái thấy
biết của người khác, đó là lúc ta đi vào Đạo.
Kính
cẩn,
Trương
Xuân Minh
Xem
Thêm Bài Góp Ý Của Cư Sĩ Nguyên Đạo Lại Như Bằng
Tôi
xin phép góp một số ý về câu hỏi được đặt : "Sự khác
biệt giữa Đạo Phật và các Đạo khác"
1 -
Ở mức độ Đạo đức thông thường hàng ngày, "ăn hiền
ở lành", "thế nào là phải, thế nào là trái", dựa trên
một số quy luật sống mỗi đạo giáo đặt ra cho người
tại gia, cho từng xã hội, thì có lẽ các Đạo đều có rất
nhiều điểm giống nhau. Vì mục đích chung của các Đạo
là làm sao cho mọi người trong xã hội được sống chung trong
hòa hợp, an lành, làm sao giải quyết các mâu thuẫn giữa
người và người. Sự khác biệt thường thường chỉ
có thể tìm thấy khi tìm hiểu về những ý nghĩa sâu xa của
mỗi điều luật sống, tinh thần áp dụng những giới luật
đó.
2 -
Ta nên rất thận trọng khi so sánh Đạo này hay Đạo kia, vì
nhiều lý do:
a)-
đã theo một Đạo, không ít thì nhiều ta cũng không tránh
khỏi chủ quan thiên vị Đạo của mình
b)-
ta dễ nhầm lẫn mức độ so sánh, phải phân biệt mức độ
"sống Đạo " với mức độ " Giáo lý ". Phải so sánh "cách
sống Đạo"này với "cách sống Đạo" kia, Giáo lý này với
Giáo lý kia. Cùng một Giáo lý, không hẳn cách sống Đạo
phải giống nhau. Hẳn ai cũng thấy sự khác biệt giữa "cách
sống Đạo" của người Ca-tô giáo Việt Nam và "cách sống
Đạo" của người Ca-tô giáo Tây phương. Vì chủ quan, ta d
kết luận "tốt, xấu" về một Đạo mà trong điều kiện
lịch sử nào đó, tín đồ của Đạo đó có một lối "sống
Đạo" không tốt đẹp.
c)-
muốn so sánh 2 Đạo, ta phải nắm vững Giáo lý của từng
Đạo. Đây là điều khó khăn, vì thường thường ta chỉ
giỏi về Giáo lý Đạo mình theo.
3 -
Nếu muốn so sánh, tôi xin gửi đến các Đạo hữu, bài "Giê
Su qua cái nhìn của Người Phật Tử" của Giáo Sư André Bareau.
Dĩ nhiên đây cũng chỉ là một lối so sánh. (xin xem dưới
đây).
4 -
Riêng về phía Phật tử, tôi nghĩ điều quan trọng là biết
rõ Đạo nào mang lại cho mình an lành, "hợp với mình ", và
tôi xin gửi đến các Đạo hữu Đoạn kinh Kalama sau đây:
Bạch
Thế Tôn, có một số Sa môn, Bà la môn đến Kesaputta. Họ
thuyết minh và phát huy giáo lý của mình mà bài xích, khinh
miệt, chê bai và xuyên tạc giáo ly người khác. Và bạch Thế
Tôn, có một số Sa môn, Bà la môn cũng đến Kesaputta, họ
thuyết minh, phát huy giáo lý của mình mà bài xích, khinh miệt,
chê bai và xuyên tạc giáo lý người khác. Đối với họ,
bạch Thế Tôn, chúng con có điều nghi ngờ, phân vân : "Trong
những Sa môn này, ai nói thật, ai nói dối?"
Này
các người Kâlâma, đương nhiên phải nghi ngờ, đương nhiên
phải phân vân. Đối với điều đáng nghi ngờ thì phân vân
khởi lên.Này các người Kâlâma, đừng tin vì nghe nói lại,
đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng
tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng
tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về những
d" kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết,
đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa môn là thầy
mình.Nhưng này các người Kâlâma, khi nào các người tự biết
rõ : Các pháp này là bất thiện, các pháp này là đáng chê,
các pháp này bị người trí chỉ trích, các pháp này nếu
được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến bất hạnh khổ
đau; thì này các người Kâlâma, các người hãy từ bỏ chúng
đi.Nhưng này các người Kâlâma, khi nào các người tự biết
rõ : Các pháp này là thiện, các pháp này không đáng chê,
các pháp này được người trí ca ngợi, các pháp này nếu
được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến hạnh phúc an
vui, thì các người Kâlâma, các người hãy đạt đến và
an trú. "Trong Kinh Tư Sát Phật cũng dạy các đệ tử xem xét
lại ngay cả Phật để thấy rõ chân giá trị của Ngài.
Kính
Nguyên
Đạo
Giê-su
qua cái nhìn của người Phật Tử
G.S.
André Bareau
Bài
thuyết trình của G.S. André Bareau (Giáo sư Collège de France)
tại Trung Tâm Văn Hóa Tin Lành dòng Luther, Paris, ngày 11 Tháng
12 năm 1984.
oOo-
"Giê-su
qua cái nhìn của người Phật tử": đây là một đề tài
lý thú, nhưng quả thực là khó. Trước hết, trong tất cả
những đạo lớn của thế giới, có lẽ đạo Phật là đạo
xa cách đạo Ki-tô nhất trên những giáo lý cơ bản và trên
nhiều điểm quan trọng, mặc dù vẫn gần gũi, hay có vẻ
gần gũi, trên nhiều điểm khác.
Thứ
đến, vì hình thức hành đạo rất đa dạng của đạo Phật
qua thời gian và không gian, vì sự hội nhập của đạo Phật
vào nhiều nền văn minh khác nhau, vào nhiều dân tộc khác
nhau, mà có thể có những "cái nhìn về Giê-su" rất khác nhau
giữa những người Phật tử. Sau hết, nếu chúng ta biết
khá rõ về cái nhìn của người Phật tử, nhất là Phật
tử thời nay, về đạo Ki-tô, chúng ta rất ít khi được nghe
họ nói quan niệm của họ về cá nhân Giê-su.
Trước
khi tìm hiểu người Phật tử thực sự nghĩ sao, tôi thiết
nghĩ cần phải xét xem, căn cứ theo giáo lý cơ bản của kinh
điển nguyên thủy, đã được ghi chép lại từ hơn 20 thế
kỷ nay, người Phật tử sẽ phải nghĩ thế nào về người
sáng lập đạo Ki-tô. Như quý vị đã rõ, đạo Phật là một
đạo có đặc điểm, rất khó hiểu cho người phương tây
chúng ta, là không những từ chối không chấp nhận một Thượng
Đế độc nhất, thường hằng, quyền phép vô biên, tạo hóa
mọi sự vật, chủ tể mọi loài
trong
vũ trụ, mà còn không chấp nhận một cá thể thường hằng
tương đương với cái mà chúng ta gọi là linh hồn. Chính
vì phủ nhận nguyên tắc một cá thể thường hằng mà người
Phật tử không thể chấp nhận một Đấng Tạo Hóa như người
phương tây chúng ta vẫn quan niệm.
Cần
nói cho rõ: Đạo Phật chưa bao giờ phủ nhận sự hiện hữu
của các thần linh, trái lại nữa là khác, theo đạo Phật
có hằng hà sa số các vị trời, hàng triệu thần tiên đủ
loại, lớn nhỏ, thiên thần cũng như địa thần; có những
vị thù thắng vi diệu, thân toàn ánh sáng sống bằng lạc
thọ, có những vị thân thể thô thiển hơn nhưng người trần
không thấy nổi, tất cả đều quyền phép oai vũ hơn người
trần rất nhiều.
Các
vị trời và thần này, dù oai linh quyền phép đến đâu đi
nữa cũng vẫn bị hạn chế trong thời gian sống và trong quyền
phép của mình. Mỗi vị sinh ra bằng hóa hiện ra giữa các
vị trời, sống rất lâu, hàng tỷ năm (người Ấn Độ thường
vẫn hay phóng đại khi phải vận dụng trí tưởng tượng
vốn rất phong phú), sống sung sướng an lành, không đau đớn,
không phiền não lo âu, không bịnh tật, không chết chóc như
các loài hữu tình khác, là loài người hay không phải là
loài người. Nhưng đời sống này dĩ nhiên sẽ phải có kết
thúc, cũng như mọi sự mọi vật đã có bắt đầu, đã được
sanh ra. Một ngày kia, vị trời này sẽ mất đi, bỗng nhiên
biến đi, không đau đớn lo âu, và sẽ tái sinh như bất cứ
một hữu tình nào khác, vào cõi trời, hoặc cõi người, hoặc
cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ, tùy theo nghiệp quá khứ
của vị đó. Vốn không thường hằng, vốn được sinh ra
và mất đi như các hữu tình khác, dĩ nhiên vị trời này
không thể là đấng tạo ra vũ trụ và những loài sinh sống
trong đó. Quyền phép dù rộng lớn đến đâu đi nữa nhưng
vẫn có giới hạn, vị trời này không thể là chủ tể mọi
loài, mọi sự, mọi vật.
Không
chấp nhận một Đấng Tạo Hóa, theo quan niệm chúng ta thường
có bên phương tây Ki-tô giáo, người Phật tử dĩ nhiên không
thể chấp nhận tính thiên khải của Giê-su. Đối với họ,
dựa theo lịch sử, Giê-su chỉ là một con người. Tuy nhiên,
với tất cả những đức tính hiển nhiên của ngài, chắc
chắn sau đó ngài đã sinh vào cõi trời dựa theo luật nhân
quả, do sự "chín mùi" của các thiện nghiệp của ngài.
Tóm
lại, dưới con mắt của đạo Phật, con người Giê-su, sau
khi chết, chắc đã trở thành một vị trời, nghĩa là một
loại siêu nhân của một đẳng cấp nào đó, biểu hiện bởi
những tính chất, những quyền phép, với đời sống lâu dài,
với sinh hoạt đặc biệt; sinh hoạt này có thể là sự quán
chiếu chân lý (contemplation de la vérité) hay chỉ là quán trí
tiếp cận chân lý (méditation d?approche), hay chỉ là hưởng
thụ lạc thú của thiên giới dưới mọi hình thức khác nhau,
có dục tính hay không dục tính, hoặc kiểm xét sinh hoạt
của loài người. Khi vị Giê-su trở thành trời chết đi thì,
trong một tương lai xa hay gần, tùy theo địa vị hiện tại
của ngài trên cõi trời, ngài sẽ tái sinh lại, cũng như vô
số lần khác trong quá khứ. Chắc ngài sẽ sanh lại cõi trời
hay cõi người tùy theo các đức tính và các thiện nghiệp
của ngài, ngài sẽ không bị thu hút vào những cõi xấu xa
như những kẻ tham ác, những loài súc sinh, ngạ quỷ. Nói
cách khác, trong đời sống tương lai, Giê-su có thể còn giữ
được tính trời của mình, theo ý nghĩa của đạo Phật,
hay sinh vào cõi người, và trong trường hợp này sẽ hành
động như một vị Cứu tinh (Messie), trong giới hạn mà đạo
Phật đã định cho vai trò này. Như vậy, đạo Phật không
phủ nhận tính trời của Giê-su, tính trời được hiểu theo
một ý nghĩa nào đó, cũng như không phủ nhận tính người
của ngài; tuy nhiên hai tính này không thể tồn tại cùng một
lúc mà phải kế tiếp nhau.
Nếu
con người Giê-su sanh ra cách đây ngót hai mươi thế kỷ đã
trở thành một vị trời, người Phật tử có thể d dàng
chấp nhận chuyện này, thì, cũng như mọi vị trời khác,
ngài rất đáng được kính trọng, đáng được tôn sùng,
vì vô số thiện nghiệp của ngài trong các đời sống trước;
tính trời của các vị chứng minh cho những thiện nghiệp
của các vị trong các kiếp trước. Hơn nữa, nghi l của đạo
Ki-tô không đòi hỏi sát sanh, cũng giống như nghi l đạo Phật,
vì sát sanh để cúng tế là phạm
vào
một trong những giới cấm cơ bản chung cho cả hai đạo, người
Phật tử không thể chê trách gì tín đồ Ki-tô khi những
người này tôn thờ Thầy của họ, Chúa của họ. Còn hơn
thế nữa, không gì ngăn cản người Phật tử tôn sùng
Giê-su
cũng như tôn sùng các vị thần linh khác xuất xứ từ Ấn
Độ Giáo; trong nhiều chùa ta thường gặp đền thờ các vị
thần này.
Thật
vậy, ngược với đạo Ki-tô, sinh ra trong những điều kiện
hoàn toàn khác, đạo Phật không những chưa bao giờ phủ nhận
sự hiện hữu hoặc phủ nhận tính trời của vô số vị
trời của Ấn Độ cổ xưa, hay của các xứ mà đạo Phật
truyền tới, mà đạo Phật cũng không hạ thấp các vị trời
đó xuống hàng những loài quỷ, xấu xa và tàn bạo, hiện
thân của mọi điều xấu. Ngược lại, đạo Phật đã thu
nhập tất cả những vị này, kể cả những vị vốn rất
hung dữ cũng được mau chóng chuyển hóa. Còn hơn thế nữa,
đạo Phật đã nâng các vị thần này lên hàng mẫu mực cho
Phật tử cư sĩ, nhưng không thể là mẫu cho hàng tăng sĩ
vì đời sống quá sung sướng của cõi trời khiến các vị
trời không thể thành tu sĩ khổ hạnh, không thể trì hành
các giới luật nghiêm túc và khắc khổ, con đường duy nhất
đưa đến giải thoát, Niết-bàn.
Trong
thiên giới phong phú và phức tạp được đạo Phật công
nhận, rất hiếm có những vị trời còn giữ tính dữ dằn
hoặc là căm thù đối với loài người. Nếu có, thường
chỉ là những vị địa tiên thuộc những tầng thấp nhất,
những vị tiểu thần của một thôn xóm nào đó, hay là Mâra,
thần chết, đối thủ chính và dai dẳng của đức Phật,
vì ngài dạy cho muôn loài phương pháp để thoát khỏi sự
chết, hay đúng hơn những sự chết kế tiếp nhau, hệ quả
của những sự tái sinh. Thật ra, Mâra là một hình ảnh có
tính biểu tượng, chỉ được dùng trong đạo Phật, và theo
truyền thuyết thì thường thường lố bịch hơn là ghê gớm,
ngay cả lúc vị thần này xua đoàn quân quỷ do nó sanh ra để
tấn công đức Phật và đức Phật đã xua tan chúng chỉ bằng
một ý niệm của ngài.
Những
vị trời, ngoại trừ một vài vị rất hiếm, đều là những
hữu thể hiền hoà xứng đáng được tôn kính; theo giáo lý
nhà Phật thì đây là một chuyện rất d hiểu, vì nếu các
ngài hưởng được hạnh phúc của cõi trời là vì các ngài
thừa hưởng quả báo của vô số thiện nghiệp trong những
đời trước. Trở lại đề tài của chúng ta, nếu con người
Giê-su đã trở thành một vị trời, và đứng trên quan niệm
Phật giáo thì chuyện này rất đáng tin, ngài xứng đáng được
mọi người tôn kính, không những chỉ tín đồ đạo Ki-tô,
mà cả những người Phật tử và những người theo đạo
khác cũng vậy. Con người Giê-su trở thành một vị trời
do đó được kính trọng, phải chăng điều
này
có nghĩa là giáo lý của ngài dạy cách đây hai ngàn năm cũng
phải được trọng vọng như vậy?
Nói
cách khác, với người Phật tử, giáo lý của Giê-su, đạo
Ki-tô, có đáng được trọng vọng bằng những thiện nghiệp
của ngài không? Chắc chắn là đáng trong chừng mực mà giáo
lý của ngài phù hợp với lời dạy của Đấng Thế Tôn,
nghĩa là có ích lợi cho con người, giúp con người tiến bộ
trên con đường giải thoát hay ít ra giúp tái sinh trong cõi
trời hay cõi người chứ không bị rơi vào những cõi xấu
xa khác. Trái lại, cũng không đáng, vì giáo lý của Giê-su
không dẫn con người tới
Niết-bàn,
hay đúng hơn khiến con người ngừng lại dọc đường, chỉ
dẫn đến tái sinh nơi thiên đàng của một vị trời trong
một thời gian có giới hạn, dù giới hạn này có dài lâu
đến đâu đi nữa, và làm cho con người lầm tưởng rằng
sẽ được ở đó vĩnh vin. Tóm lại, giáo lý của Giê-su chỉ
dành cho cư sĩ, những người muốn có một đời sống tương
lai càng sung sướng, càng lâu dài càng tốt, trong khi giáo lý
của đức Phật nhắm những tu sĩ, những người, sau khi thấu
rõ tính chất vô thường, sự giới hạn trong không gian và
thời gian, của vạn vật, kể cả hạnh phúc trong cõi trời,
không vừa lòng với hạnh phúc đó, quyết định đạt đến
Niết-bàn, chấm dứt mọi tái sinh, dù trong cõi nào đi nữa.
Hệ
luân lý Giê-su truyền dạy cho tín đồ ngài hầu như in hệt
hệ luân lý đức Phật dạy cho Phật tử. Không những cả
đôi bên đều ngăn cấm làm điều ác, lớn hay nhỏ, như giết
người, trộm cắp, tà hạnh, hưởng thụ, dối trá, phóng
dật, v.v..., mà cả đôi bên cũng đều luôn luôn khuyên bảo
tín đồ mình nuôi dưỡng và thể hiện những đức tính như
lòng nhân ái, lòng từ bi, tính kiên trì, lòng từ thiện, lòng
khoan dung mỗi khi bị xúc phạm,... Cả hai đều thấy rõ là
sự thể hiện hệ luân lý chung này chỉ là bước đầu, rất
cần thiết nhưng không đầy đủ, trên con đường dài đưa
đến mục tiêu tối hậu docác vị sáng lập đạo giáo vạch
ra cho tín đồ của mình, thiên đàng cho người theo đạo Ki-tô,
Niết-bàn cho Phật tử. Tóm lại, cùng truyền dạy một hệ
luân lý chung như là bước đầu cơ bản, Giê-su và đức Phật
lúc đầu dẫn đắt tín đồ của mình trên cùng một con đường,
một con đường dài và khó khăn cho nhiều người nhưng không
thể tránh khỏi để chuẩn bị cho chặng đường sau, cho một
đời sống đạo hạnh, tu luyện tâm linh để đạt đến một
quả vị nào đó.
Ngoài
những điểm tương đồng kể trên, giáo lý của Giê-su và
giáo lý của đức Phật khác biệt nhau rất xa. Với đức
Phật, giáo lý của Giê-su sai lạc, không đúng với sự thật,
không đúng với những Thánh đế mà tu sĩ Gotama đã "giác
ngộ". Như vậy, giáo lý đạo Ki-tô, dù với hệ luân lý cao
đẹp, là dẫn dắt tín đồ mình sanh vào một cõi trời, nhưng
lại ngăn chận không cho tiến xa hơn, tới sự giải thoát
khỏi vòng luân hồi, đạt đến Niết-bàn, vì làm cho tín
đồ mình hiểu sai lầm rằng hạnh phúc trên cõi trời là
mục đích cao cả nhất. Đối với người Phật tử, Giê-su
đáng tôn kính vì đã dẫn dắt, bằng hệ luân lý của ngài,
con người đến cõi sung sướng, nhưng ngài cũng không hoàn
hảo vì đã truyền cho tín đồ một đạo lý sai lạc.
Giáo
lý này sai lạc vì nó dựa lên lòng tin nơi một vị trời
độc nhất, thường hằng và tạo hóa mọi vật, tin vào một
linh hồn vĩnh cửu, ẩn trong mỗi con người. Nó sai lạc vì
nó không chấp nhận lẽ vô thường, lẽ vô ngã, do đó đưa
đến phiền não khổ đau, của mỗi hữu tình. Nó còn sai lạc
vì nó khuyên dạy tín đồ phát triển lòng sùng bái vị trời
của họ và lòng thương yêu những con người khác, cả hai
tính này đều có cơ sở là tham ái, trong khi đức Phật khuyên
dạy phải xa lìa tham ái dưới mọi hình thức vì nó là một
chướng ngại quan trọng trên con đường giải thoát, ngài
khuyên dạy phải phá chấp một cách triệt để, và trong tuyệt
đối, không chấp chước cả đến những đức tính cao cả
nhất, như lòng nhân ái, lòng từ bi, lòng từ thiện, lòng
khoan dung. Như vậy, đối với Phật tử, Giê-su là một con
người đáng kính trọng, tôn sùng, là một vị thánh nhân
và chắc đã trở thành trời sau khi là một con người, cách
đây ngót hai mươi thế kỷ. Tuy vậy ngài vẫn thua kém đức
Phật, dù đức Phật vẫn còn là người trong kiếp sống cuối
cùng, trong khi Giê-su có lẽ đã thành trời trong đời sống
đó. Thật ra, dưới con mắt những người Phật tử, tôn sư
của họ, dù
vẫn
còn sống trong cõi người, đã tự nâng mình lên cao hơn mọi
vị trời, đã "giác ngộ" Chân như, tìm ra con đường đưa
đến Niết-bàn, điều mà không một vị trời nào có thể
làm nổi chính vì tính trời của họ. Thật vậy, hạnh phúc
vô hạn của các vị trời khiến các ngài không thấu rõ được
phiền não khổ đau tiềm ẩn trong mỗi hữu tình, dù có mang
hình thái nào đi nữa. Chính sự chứng ngộ khổ đau này,
đối với người Phật tử, là bước đầu trên con đường
rất dài và rất khó khăn đưa đến sự giải thoái khỏi
vòng luân hồi.
Sau
khi đã tìm hiểu cái nhìn mà người Phật tử lẽ ra phải
có về Giê-su, dựa trên giáo lý cơ bản mà người Phật tử
đã học hỏi và tin theo, chúng ta xét trong tựhc tế họ nghĩ
sao về Giê-su, lần này ta dỏỉa trên những lời nói của
chính họ.
Muốn
như vậy, tôi dã dựa vào bốn trong những người cộng tác
xuất sắc nhất của tôi, mỗi vị có một sự hiểu biết
thấu đáo về quan niệm của những người Phật tử, trên
mỗi khía cạnh khác nhau. Thượng tọa Thích Thiện Châu, Tiến
sĩ Văn chương, vốn là một vị tôn đức của Phật giáo
Việt nam. Ông Mohan Wijayaratna, sinh ra trong một gia đình song
giáo, Ki-tô và Phật, sắp trình luận án Tiến sĩ về một
số khía cạnh của Phật giáo Tích lan và cũng đã từng viết
nhiều bài báo rất đáng chú ý, một trong những bài này nói
về đề tài chúng ta bàn đến hôm nay, dưới con mắt người
Tích lan. Đức Cha Eugène Denis, Tiến sĩ Văn chương và nghiên
cứu viên tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS), sống
tại Thái Lan từ hơn ba mươi năm nay và đang nghiên cứu đạo
Phật xứ này. Ông Paul Magnin, nghiên cứu viên tại Viện Nghiên
Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS), đã từng sống lâu năm tại
các xứ Vin đông, nhất là tại Đài Loan, chuyên nghiên cứu
về đạo Phật Trung quốc. Tôi cũng phải nói đến quyển
sách quý báu do đồng nghiệp và cũng là bạn thân của tôi,
Giáo sư Jacques Gernet, xuất bản cách đây hai năm tại nhà
xuất bản
Gallimard
dưới tựa đề "Trung quốc và đạo Ki-tô, tác động và phản
ứng" (Chine et christianisme, ation et réaction); tác phẩm này cho
ta biết và hiểu quan niệm của người Trung quốc, người
Phật tử hay người theo đạo khác, về đạo Ki-tô và về
Giê-su trong những thế kỷ XVII và XVIII.
Lẽ
ra, trong chừng mực nào đó, ta phải gắn bó sự tìm hiểu
cái nhìn của người Phật tử về Giê-su với cái nhìn của
họ về đạo Ki-tô. Nhưng vấn đề này tự nó cũng rất phức
tạp khiến ta không có thì giờ bàn tới bữa nay.
Cái
nhìn của Phật tử về Giê-su thay đổi tùy thời điểm lịch
sử, tùy xứ, tùy tông phái. Nhưng ngày nay nó có xu hướng
trở nên đồng nhất. Người Trung quốc vào thế kỷ XVII và
XVIII có một cái nhìn nghiêm khắc nhất, tuy nhiên rất khó
mà phân định đâu là phần của đạo Phật, đâu là phần
của đạo Khổng hay đạo Lão. Với người trung Quốc, Giê-su
chỉ là một người, bị kết án tử hình vì làm loạn, làm
xáo trộn trật tự xã hội, điều tối kĩ đối với truyền
thống Á đông. Cái chết khổ nhục của Giê-su, bị hành hình
trên cây Thập ác như một tên tội phạm, sự đau đớn phải
trải qua, theo người Phật tử, chỉ là kết quả của ác
nghiệp trong quá khứ, nghiệp càng ác, quả báo càng nặng.
Thuyết nghiệp báo khiến một số Phật tử nghĩ rằng đời
trước Giê-su đã giết người. Hơn nữa, không dủ sức thoát
khỏi cực hình, tự cứu thoát bằng phép tắc nhiệm mầu
thì làm sao Giê-su có thể cứu người khác? Nếu Giê-su là
Thượng đế tối cao, khi ngài đầu thai làm người, đất
trời không ai cai quản, kết quả sẽ khủng khiếp vô cùng.
Còn nếu ngài giáng sinh từ Thượng đế thì ngài thua đức
Phật xa, vì chẳng cần ai giúp sức, dù là thần thánh hay
gì gì đi nữa, đức Phật tự mình đã tìm ra giáo lý giải
thoát và tự lấy quyết định truyền bá giáo lý này. Dù
sao đi nữa, nếu Giê-su là một vị trời, ngài chỉ có thể
là một vị trời như muôn ngàn vị khác, chịu theo quy luật
nghiêm khắc của quả báo tái sinh, và do đó thấp hơn đức
Phật, người đã ra ngoài vòng sanh tử luân hồi. Sự kiện
Giê-su giáng sinh chẳng có gì đáng chú tâm, vì thực ra, nó
chỉ là một hiện tượng mà người Phật tử coi là tương
đối và tùy theo điều kiện mà sanh ra, trong dòng sanh tử
luân hồi vô thường của thế giới.
Hơn
nữa, sự giáng sinh này mâu thuẫn với tính chúa-ba-ngôi mà
giáo lý Ki-tô gán cho ngài. Còn các phép lạ của Giê-su chẳng
thấm vào đâu so với các oai phép Phật đã tung ra, bao trùm
cả vũ trụ vô thủy vô chung, bao gồm hằng hà sa số thế
giới.
Thời
nay, những mâu thuẫn cũ giữa hai đạo đã giảm bớt, cái
nhìn của Phật tử về Giê-su cũng nhẹ nhàng hơn. Dĩ nhiên,
người Phật tử không nhìn nhận, không thể nhìn nhận Giê-su
là vị Cứu thế, hay là Đấng Tạo Hóa, thường hằng và
tối thắng, vì những danh hiệu này đối với Phật tử hoàn
toàn vô nghĩa, hay chỉ định những ảo vọng do vô minh tạo
ra. Dĩ nhiên, người Phật tử cũng không thể đặt Giê-su
cao hơn đức Phật, như một nhà truyền giáo nọ đã vụng
về cố gắng chứng minh rằng đức Phật là kẻ đi trước
chuẩn bị cho Giê-su xuất hiện. Và dĩ nhiên, người Phật
tử không chấp nhận có sự phục sinh của Giê-su, vì khái
niệm phục sinh không có trong giáo lý đạo Phật, cũng như
không có trong giáo lý Ấn độ hay đạo Jaĩna. Sự tái sinh
sau khi chết hoàn toàn khác với sự phục sinh của đạo Ki-tô.
Ngoài
những giới hạn kể trên, giới hạn suy ra dựa vào lời dạy
của đức Phật, hầu như mọi người Phật tử thời nay đều
có thiện cảm với Giê-su. Họ cảm mến ngài, kính phục nữa,
nhưng không phải vì vậy mà họ mảy may có ý cải đạo theo
đạo Ki-tô. Họ saün sàng nêu lên những điểm tương đồng
giữa Giê-su và đức Phật: Một đời sống trong sạch, được
hướng dẫn bởi một hệ luân lý cao cả, vô vị lợi, thấm
nhuần bởi lòng nhân ái, lòng từ bi, lòng từ thiện, lòng
khoan dung, cho đến hy sinh cả tính mạng của chính mình. Theo
họ, cả Giê-su lẫn đức Phật đều đáng kính, cả hai đều
là những vị thánh nhân hiền đức như nhau.
Thượng
tọa Thích Thiện Châu có đưa thêm vài ý khá lý thú, dựa
trên giáo lý Đạo Phật Phát Triển (Mahayana), một phong trào
canh tân trong đạo Phật cách đây hai mươi thế kỷ; đạo
Phật Việt Nam bắt nguồn từ đó, cũng như rất nhiều hình
thái khác của đạo Phật tại Vin đông và Trung đông. Giáo
lý Ba Thân Phật cho phép ta hiểu tính chất của Giê-su rõ
hơn là giáo lý nguyên thủy, hiện còn thịnh hành tại Tích
Lan và Đông Nam Á. Giáo lý Phát Triển quan niệm là đức Thế
tôn có ba thân: Hóa thân hay ứng thân, người thường thấy
được, với thân này Phật đã sanh ra, sống một đời sống
bình thường của mọi người rồi chết đi; Báo thân, ngài
dùng thân này để hiện ra giữa các vị Bồ-tát, tức là
những vị xả thân cứu đời để thành Phật trong một thời
gian rất xa nữa; và Pháp thân, là thật thể của các pháp
trong vũ trụ, thân như thật và vĩnh cửu, các hữu tình đều
có thân này, nhờ thế mà trong tương lai, có thể rất xa,
tất cả đều có thể thành Phật. Ta có thể áp dụng Lý
Ba Thân này vào trường hợp Giê-su để giải thích tính chất
vừa trời vừa người của ngài, giải thích cách nào ngài
vừa ở đời cứu nhân độ thế, vừa ngự trị trên ngôi
tối thượng tuyệt đối. Thân thứ nhất có thể coi là thân
mà mọi người bình thường trông thấy, là thân của Giê-su
lịch sử, đã sanh ra, truyền đạo, đau khổ và chết đi trên
cây Thập ác.
Thân
thứ hai là báo thân huyền diệu mà ba đệ tử Pierre, Jean
và Jacques đã chiêm ngưỡng trên núi.
Thân
thứ ba là thân trời, người thường không thể nghĩ bàn,
thân Cha trong quan niệm Ba Ngôi của đạo Ki-tô. Cách so sánh
này, giữa hai giáo chủ, giúp cho người Phật tử hiểu biết
d dàng hơn về Chúa cứu thế và Kinh thánh, và kính trọng
ngài hơn. Thượng tọa Thích Thiện Châu đưa ra một hình ảnh
tuyệt đẹp: "Ta có thể yêu mến sự tinh khiết của hoa sen,
và cùng lúc thưởng thức cái đẹp của hoa huệ và hoa hồng".
Vị
tăng sĩ Việt Nam nêu ra một điểm gần gũi nữa, giữa đạo
Ki-tô và tông Tịnh độ, một tông phái ở Vin đông khá quan
trọng chỉ tôn thờ Phật A Di Đà, hay "Vô lượng quang Phật",
một vị Phật trước đây đã nguyện đón về đất "Tịnh
Độ" tất cả hữu tình niệm danh hiệu ngài. Phật A Di Đà
có một vị cộng tác nổi tiếng nhất trong các hàng Bồ tát,
đó là Bồ tát Quan Thế Âm, đại từ đại bi, luôn luôn saün
sàng hiện ra cứu giúp những kẻ hoạn nạn và đã từ chối
không thành Phật chừng nào tất cả hữu tình chưa đạt Niết
bàn. Hình ảnh Quan Thế Âm rất gần với hình ảnh Giê-su,
do đó những người tu theo Đạo Phật Phát Triển, nhất là
tông Tịnh độ, có thể tôn kính Giê-su như một vị Bồ tát.
Đạo Phật Phát Triển cho rằng các vị Phật tương lai này,
ngoài những đức tính như lòng từ bi, trí tuệ, lòng nhân
ái, lòng nhẫn nại, v.v... còn "giỏi về phương tiện" để
cứu vớt hữu tình, làm những phép lạ, do đó Phật tử các
tông phái Phát Triển chấp nhận d dàng là Giê-su thực sự
có phép lạ.
Tuy
nhiên, Thượng tọa Thích Thiện Châu nói thêm, Phật tử thuộc
các tông phái Phát Triển [, với quan niệm tôn kính về Giê-su
như đã nói ở trên,] không tránh khỏi ngỡ ngàng trước những
lời cuối cùng có lẽ Giê-su đã thốt ra trên cây Thập ác:
"Chúa ơi, Chúa ơi, sao lại bỏ rơi con?".
Như
vậy, trong các tôn giáo lớn, đạo Phật là đạo xa cách đạo
Ki-tô nhất, về mặt giáo lý cũng như phương cách hành đạo,
nhưng, ngược lại, cũng là đạo biết đánh giá cao nhất
giá trị tâm linh của đạo Ki-tô. Điều đó càng đúng vào
thời đại này, khi mà đạo Ki-tô đã từ bỏ thái độ thù
địch cố hữu của mình với mọi tín ngưỡng khác để chấp
nhận rằng các đạo giáo đó không phải là âm mưu của quỷ
dữ, mà là những cố gắng nhiều khi rất đáng quý nhằm
xoa dịu phiền não khổ đau của con người bằng cách hiến
dâng họ những hy vọng vào một ngày mai xán lạn hơn. Những
quan hệ thường thường rất nồng hậu giữa Phật tử và
tín đồ Ki-tô, và nhất là giữa những người đại diện
của các cộng đồng đôi bên tại trung Á và đông Á, là
những khích lệ lớn và có nhiều ý nghĩa. Trong các kết quả
đáng chú ý nhất, phải kể cái nhìn kính trọng và có thiện
cảm của đa số người Phật tử thời nay với con người
Giê-su, dù là Phật tử xứ nào đi nữa, hay thuộc tông phái
nào đi nữa.
G.S.
André Bareau
(Người
dịch: Lại Như Bằng
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 225 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân