NGHIỆP
LỰC VÀ THẦN THÔNG
Tiến
sĩ Trần Đức Công
Hiện
nay có nhiều chuyên gia nghiên cứu về nghiệp, ở đây chỉ
nêu lên một số nét đặc trưng của nó. Nghiệp là cái mà
Phật pháp đặc biệt nêu ra. Trong định nghĩa về nghiệp
và vai trò của nghiệp, đức Phật tuyên bố rất rõ chữ
nghiệp có nghĩa là hành động về thân, về lời, và về
ý, nhưng hành động ấy phải là hành động có tự tâm sở,
tức là một hành động có ý mình làm, tự mình quyết định
làm, không ai xúi dục, không do ai sai bảo. Vì đã là hành
động tự mình ý thức làm, tự mình quyết định làm, nên
đức Phật xác định chúng tức là chủ nhân của nghiệp,
là thừa tự của nghiệp, vừa chịu trách nhiệm những hành
động của chúng ta, lại vừa tự mình chịu kết quả các
hành động của chúng ta làm.
Các
kết quả đền đáp lại những hoạt động về thân, khẩu,
ý thì gọi là nghiệp báo. Ngoài ra người ta cũng gọi nghiệp
báo là nhân quả trong đường luân hồi.
Không
phải hoạt động nào cũng có báo, những việc vô ký như
đi, đứng, nằm, ngồi, v.v.... không làm hại và cũng không
làm lợi cho ai thì không có nghiệp báo, hoặc nói một cách
khác chỉ có nghiệp báo vô ký không có ảnh hưởng gì trong
đường luân hồi.
Những
hành động có quả báo rõ ràng được chia làm 3 thứ:
a.
Thiện nghiệp: là những việc lành, có lợi cho người và
đem lại quả báo tốt cho mình.
b.
Ác nghiệp: là việc dữ, có hại cho người và đem lại quả
báo xấu cho mình.
c.
Bất động nghiệp: tức là những hành động tu luyện tự
tâm, làm cho không lay động trước cảnh ngũ dục, những cảnh
khổ vui và những cảnh có hình tướng. Tu luycn cái tâm như
thế gọi là tu thiền định.
Chính
những thiện nghiệp, ác nghiệp, bất động nghiệp tổng hợp
lại tạo thành cái quả dị thục của một đời, tức là
cái nghiệp báo dắt dẫn thụ sinh trong đường luân hồi.
Những
hành dộng tu tập thiền định, tức là bất động nghiệp,
có tác dụng rất 1ớn. Người tu hành được định nào, thì
thụ sinh theo định ấy, các nghiệp khác không thể lay chuyển
được.
Ngoài
bất động nghiệp ra, còn có những nghiệp đặc biệt, có
thể lấn át phần nào ảnh hưởng của các nghiệp khác, đó
là:
a.
Cực trọng nghiệp: là những nghiệp lành, nghiệp dữ rất
to lớn, ảnh hưởng nghiệp báo chung, như cứu mạng nhiều
người, hoặc tàn sát nhiều người v.v... nó quyết định
phần lớn sự lên, xuống trong đường luân hồi.
b.
Tích tập nghiệp: là những việc lành, việc dữ làm thường
xuyên và thành thói quen. Do sự huân tập hàng ngày, nên có
ảnh hưởng rấl lớn đến nghiệp báo chung.
c.
Cận tử nghiêp: là những việc làm khi gần chết, do những
việc làm này, nên ảnh hưởng nhưng mạnh hơn những việc
làm đã làm từ đầu.
Tổng
hợp những ảnh hưởng của tất cả các việc làm lành, dữ,
sau khi kể đến ảnh hưởng lớn lao của bất động nghiệp,
cực trọng nghiệp, tích tập nghiệp, và cận tử nghiệp,
thì có thể hình dung được nghiệp báo chung của một đời.
Nghiệp báo của một đời do sự tổng hợp ảnh hưởng của
các nghiệp đã làm cho đời ấy, cộng với ảnh hưởng của
các nghiệp đã làm trong các đời quá khứ. Ví dụ: sự huân
tập của các nghiệp trong quá khứ đã dẫn dắt tâm thức
của một chúng sinh vào loài người. Trong suốt một đời
làm người, nếu chúng sinh ấy tạo một số nghiệp thiện
và nghiệp ác, ảnh hưởng xấp xỉ ngang nhau, thì nghiệp báo
chung của chúng sinh ấy sau khi chết vẫn cứ dẫn dắt vào
loài người có thể Thiện nhiều hơn một ít thì thông minh,
ác nhiều hơn một ít thì ngu ngốc. Ðạo Phật quan niệm có
vô lượng, vô biên thế giới, trong đó có vô lượng, vô
biên cảnh giới loài người, thiện nhiều hơn thì sinh vào
những cảnh giới tốt, ác nhiều hơn thì sinh vào những cảnh
giới xấu.
Cái
sức dẫn dắt của nghiệp báo vào loài người hay loài khác
thuộc về nghiệp lực, và nghiệp báo dẫn dắt như thế gọi
là dẫn nghiệp.
Nghiệp
bao gồm cả ba kiếp là quá khứ, hiện tại, vị lai và bao
gồm cả không gian mười phương vô tận. Cái gọi là vũ trụ
tức là gồm có thời gian và không gian vô hạn. Trong cái thời-không
đó hình thành mọi thế gian quốc độ: khí thế gian, và hữu
tình thế gian. Trái đất mà chúng ta đang sống là khí thế
gian, cũng là quốc độ thế gian. Ngoài ra, thuộc về những
Chúng sinh có tính linh là hữu tình thế gian. Những thế gian
đó đều được hình thành bởi nghiệp lực. Căn nguyên của
nghiệp lực là tâm lực. Nói một cách tổng quát, do nghiệp
lực mà có thân (chính báo) và thế giới (y báo). Chính báo
và y báo có thể thế này hay thế khác, tốt hay xấu là do
nghiệp lành hay dữ. Nhưng dù sao hễ còn nghiệp là còn hiện
tượng giới. Dứt trừ được nghiệp là trở về với Chân
Như, là nhập Niết Bàn. Thế gian do nhiều nghiệp lực chung
(cộng nghiệp) của Chúng sinh mà hình thành. Hoàn cảnh, cá
tính, tư tưởng, và sự cảm thụ của mỗi người đều khác
nhau, đó là do nghiệp riêng (biệt nghiệp) của họ khác nhau.
Trong biệt nghiệp cũng có cộng nghiệp. Thí dụ như sinh ra
trong cùng một thời đại, cùng một khu vực, cùng một hoàn
cảnh, thì có cộng nghiệp giống nhau. Tất cả mọi sự kiện
xảy ra đều do những nguyên nhân từ trước, những nguyên
nhân này tạo nên những quả mà không ai có thể tránh khỏi.
Một quốc gia cũng thế, nghiệp quả của một quốc gia ảnh
hưởng đến tất cả những người cư ngụ trong đó. Sự
quan hệ giữa cộng nghiệp và biệt nghiệp là vô cùng phức
tạp và mật thiết đã tạo ra sức mạnh ngoài sức tưởng
tượng của con người; và không thể dùng sức mạnh khoa học
kỹ thuật hay thần thông để chiến thắng nó được.
Quả
báo đời này là do hạt giống (chủng tử) quá khứ sinh ra
hiện hành. Hành vi tâm lý và sinh lý đời này trở thành hạt
giống, nếu nó chưa nở trong đời này thì lại là hạt giống
cho đời sau. Vì vậy mới nói: “Muốn biết việc đời trước,
xem thụ báo đời này. Muốn biết việc đời sau, xem việc
làm đời này”.
Nghiệp
quá khứ là nguyên động lực của cái kiếp sống hiện tại:
nó chỉ huy tất cả, thành ra con người giống như bộ máy
bị một “định mệnh” vô hình chi phối (mà người ta thường
gọi là số mệnh), cái túc nghiệp (nghiệp quá khứ) ấy giống
như sức của mũi tên, chỉ khi nào sức của mũi tên hết
thì mũi tên sẽ rơi xuống đất. Bởi vậy, tạo nghiệp lành
trong hiện tại tuy cũng phá được một phần nào nghiệp báo
của quá khứ, nhưng vẫn bất lực trước một “định mệnh”
khắt khe, đó là vì cái đà của sức mạnh mũi tên còn rất
lớn. Có thể coi đây là một định nghiệp quá nặng tất
yếu phải chịu một sự quả báo nào đó, không thể khác
được. Việc nhất định phải xảy ra thì quỉ thần cũng
không thể giúp đỡ được. Giả sử có ai biết trước đi
chăng nữa thì cũng chẳng có ích lợi gì, chỉ có thể thay
đổi tình thế phần nào bằng những hành vi và tư tưởng
tốt của mình mà thôi. Người đời thường dùng mọi thủ
thuật để chống lại những hoàn cảnh gây bất lợi cho mình,
nhiều khi đã nắm chắc phần thắng trong tay nhưng bỗng có
những yếu tố bất ngờ làm đảo lộn tình thế. Vì họ
thiếu hiểu biết nên mới cho rằng: “số mệnh đã như vậy,
không thể chống lại được; con người có số rồi, sống
chết cũng có số rồi, cứ làm càn, làm bậy đi”. Thật
là đáng tiếc!
Trong
quá trình diễn biến của lịch sử, nhiều lúc đất nước
bị lâm nguy, không thể xoay chuyển được tình thế. Đó cũng
là một “định mệnh” quá khắt khe khiến mọi người trong
xã hội phải bất lực Ðôi khi người ta hay dùng những danh
từ như “vận mệnh quốc gia”, “vận nước” để chỉ
cho tình thế thuận lợi hoặc bất lợi của quốc gia, mà
những tình thế ấy không thể đảo ngược được. Thời
Tam quốc, các nhà trí thức thường nói: mệnh nhà Hán đã
hết, không thể cứu vãn được. Gia Cát Lượng là người
có tài ngang trời dọc đất, cũng thấy được sự suy vong
của nhà Hán, vừa bước ra khỏi lều tranh đã chia ba thiên
hạ. Vì rất cảm kích tấm lòng thành của Lưu Bị ba lần
lặn lội đường xa đến cầu ông, nên ông chịu ơn sâu này
mà tình nguyện phò giúp Lưu Bị, cố sức cứu lại nhà Hán.
Tuy bước đầu giành nhiều thắng lợi, giữ vững nhân hoà,
chiếm được đất Thục, đứng vào thế chân vạc chia ba
thiên hạ, song về sau có những yếu tố mang lại sự thất
bại đưa đến rất bất ngờ (nằm ngoài sức tính toán của
ông) khiến ông phải than: mưu sự tại nhân, thành sự tại
thiên. Nhà Hán lúc bấy giờ quá thối nát cho nên phải sụp
đổ, không thể tồn tại được!
“Vận
mệnh” của con người nói riêng và của cộng đồng nói
chung do ai làm chủ tể và sai khiến? Không phải là “Thượng
đế”, cũng không phải là “Diêm vương”, cũng không phải
là Phật hay Bồ Tát, mà là do chính mình tạo ra (nói riêng
cho một cá nhân), chính những cá nhân trong xã hội tạo ra
(nói chung cho cả cộng dồng). “Vận nước” vào lúc suy
đồi là do chính những cá nhân trong xã hội đã phun ra “tà
khí cực độc” làm cho “khí thế gian” của cả dân tộc
rất u ám nặng nề, không thể tiêu ngay được. “Tà khí”
ấy sẽ làm cho tâm địa mỗi con người trong xã hội ngày
càng trở nên đen tối khiến cho nhiều bậc thiện trí thức
càng ngày càng bị “mòn mỏi ốm yếu” rồi sẽ “chết
mòn”, từ đó làm cho xã hội càng ngày càng suy yếu...
“Số
phận” của mỗi con người không giống nhau, đó là do biệt
nghiệp. Thế còn cộng nghiệp? Thời đại mà chúng ta sinh
ra là thời đại khổ não, thời đại chiến tranh, nhất là
các cuộc đại chiến thế giới trong thế kỷ 20, những lò
lửa thiêu sống người của bọn phát xít Ðức, những cuộc
thảm sát ở Campuchia, những trận đói lớn, những cuộc di
tản bỏ trốn sang nước ngoài, những cuộc nội chiến tinh
thần âm ỉ do những sự đối kháng tư tưởng làm mất hết
nhân tính, rồi đến một lúc nào đó sẽ bùng nổ trở thành
những đợt sóng thần dữ dội dìm không biết bao sinh mạng
xuống đáy đại dương; rồi thì đầu thế kỷ 21 đã xảy
ra vụ khủng bố vào ngày 11/09/2001 ngay tại trung tâm Thủ
đô nước Mỹ, tiếp theo là những trận tấn công ồ ạt
của Mỹ vào Apganistan nhằm tiêu diệt bọn khủng bố, và
chiến tranh cứ thế tiếp diễn. Ðó là cộng nghiệp chung
của thế hệ, của thời đại chúng ta. Cổ nhân nói: “Muốn
biết kiếp binh đao cuộc thế, hãy nghe tiếng dao nhà đồ
tể lúc đêm khuya”. Bụng chúng ta đã nuốt bao nhiêu mạng
sống rồi, biết bao trâu, bò, lợn, gà, thậm chí cả động
vật hoang dã như hổ, báo, voi v.v... bị con người lấy thịt
ăn, hầm xương nấu cao! Chất thải công nghiệp độc hại
hằng ngày tuôn ra gây nên sự ô nhiễm cho các loài động
vật, trong đó kể cả các động vật sống dưới biển. Tại
Việt Nam, rừng Tánh Linh bị tàn phá đến nỗi loài voi ở
đây không còn chỗ sống chúng liền quay lại tấn công con
người. Chẳng nhẽ bạn ăn người ta mà không phải trả nợ
sao? Chẳng nhẽ bạn hủy diệt môi trường sống của họ,
cướp nhà và phá nhà của họ mà người ta không thù oán
bạn hay sao?
Thái
độ Phật giáo đối với vấn đề “đời trước làm việc
ác, đời này tuy cố gắng nhưng vẫn có thể chịu báo ứng
quả xấu” do vậy:
1.
Phải tiếp tục làm nhiều điều thiện hơn nữa mà chớ có
nản lòng.
2.
Đối với “quả ác” khi đã không thể thay đổi được
thì con người dũng cảm tiếp nhận với tâm trạng an nhiên
tự tại, vì người quân tử dám làm dám chịu, chớ nên oán
trời hay trách người mà rắp tâm bỏ trốn hay đổ vấy cho
kẻ khác.
Dù
đã cố gắng hết sức nhưng nhiều tai ương vẫn dồn dập
đổ lên đầu chúng ta thì mọi người chớ có thối chí mà
làm càn làm bậy? Hãy tin tưởng vào những hành vi tư tưởng
trong sáng của mình. Hãy tin rằng tương lai rực rỡ không
phụ bạc những con người luôn luôn có tâm hướng thượng!
Bởi vì thuyết nghiệp lực của Phật Pháp cho rằng tất cả
là kết quả của hành vi hữu tình. Hoàn cảnh xấu xa tồi
tệ do sai lầm trong quá khứ gây ra, thì hãy nên bằng sự
cố gắng hợp lý của thân tâm hiện tại để thay đổi.
Ngay cả trong trường hợp bất lực trong kiếp này, thì vận
mệnh bi thảm ở tương lai cũng chưa phải là kết cục cuối
cùng, mà chỉ là một đoạn của cả một quá trình.
Đáng
tiếc rằng trên thực tế có nhiều người khi nghe nói tới
đức Phật sẽ nghĩ ngay rằng Ngài là người có vô lượng
thần thông, biến hóa khôn lường, trừ được mọi tai ương
cho bất cứ ai... Thực tế đã có người hỏi: “Nếu đức
Phật là bậc đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi thì
tại sao đức Phật lại nhẫn tâm dửng dưng trước nỗi thống
khổ của nhiều người? Và tại sao Ngài không dùng thần thông
trừ hết lũ tham nhũng hại dân, hại nước? Kẻ trộm vào
chùa ăn cắp tượng Phật mang bán, tại sao Ngài bất lực
đến nỗi để cho chúng hỗn láo như vậy?”. Có những kẻ
cho rằng tu theo lời Phật dạy tất sẽ có thần thông, muốn
gì được nấy, rồi họ đi tu cốt để mong có thần thông.
Vậy thần thông có thể trừ bỏ được nghiệp lực ác không?
Sau đây ta sẽ nêu lên một vài trường hợp có thần thông
nhưng vẫn phải chịu bất lực trước quả báo.
Khi
Phật còn tại thế, Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi chứng
quả A La Hán đã có đủ lục thông. Vì thần thông siêu việt
nên Tôn giả có thể dùng nó đi từ thế giới này đến thế
giới nọ trong chớp mắt, hoặc dùng thần thông hoá hiện
tuỳ ý. Một hôm Phật ngự trên một tầng lầu, dưới tầng
trệt các Tỳ kheo nói chuyện ồn ào, Phật bảo Tôn giả Mục
Kiền Liên làm cho các Tỳ kheo đó đừng làm ồn nữa. Tôn
giả liền duỗi chân ra thì cái nhà xoay tròn, các Tỳ kheo
hoảng hốt không dám nói chuyện nữa. Với thần thông như
vậy, vì lòng hiếu thảo Ngài dùng thiên nhãn thông tìm thấy
mẹ Ngài đang mang thân ngã quỉ khổ vô cùng. Ngài thương
xót mẹ nên đi khất thực được một bát cơm, liền vận
lnần thông đem đến dâng cho mẹ. Khi được cơm, tay trái
bà bưng bát cơm, tay phải bốc cơm đưa lên miệng, nhưng cơm
vừa tới miệng liền hoá thành lửa. Tôn giả thấy vậy liền
rơi nước mắt.
Chúng
ta đặt câu hỏi: nếu thần thông của Tôn giả Mục Kiền
Liên siêu việt thì tại sao Ngài không dùng thần thông thổi
tắt lửa để mẹ Ngài dùng cơm mà lại đứng khóc. Như vậy
rõ ràng thần thông không trừ được nghiệp ác cho người
thân, không chi phối được nghiệp lưc, cũng không đưa người
đến sự an lạc vĩnh viễn. Thử hỏi xem có thần thông để
làm gì?
Do
không cứu được mẹ, Tôn giả trở về thuật lại cảnh
khổ của mẹ, cầu Phật dùng phương tiện để cứu giúp.
Phật dạy:
–
Mẹ ngươi nghiệp ác quá nặng, sức ngươi cúng dàng không
thể cứu được. Ngươi phải làm lễ Vu Lan chư tăng:
Sơn
lâm thiền định
Thọ
hạ kinh hành
Lục
thông La Hán
Nhờ
oai lực của các vị này cầu nguyện thì mẹ ngươi mới thoát
được kiếp ngã quỉ.
Khi
đó, Tôn giả vâng theo lời Phật dạy sắm sửa trai diên,
thỉnh chư Tăng đang thiền dịnh ở núi rừng, đang kinh hành
dưới cội cây, là những bậc chứng được lục thông A La
Hán cùng trợ lực cầu nguyện thì mẹ Ngài mới thoát kiếp
ngã quỉ. Vì lý do Tôn giả Mục Kiền Liên không đủ sức
cứu mẹ, nên phải nhờ số đông chư Tăng đã chứng A La
Hán trợ lực mới cứu được.
Khi
về già, một hôm chính Tôn giả đi khất thực qua chân núi
bị ngoại đạo lăn đá đè Ngài chết. Bình thường gặp
những chuyện như thế này Ngài dùng thần thông bay bổng là
tránh được hoạ. Nhưng bây giờ nghiệp lực đến, thấy
đá lăn từ trên xuống, Ngài dùng thần thông bay đi nhưng
bay không được nên bị đá đè chết. Như vậy thần thông
bất lực trước quả báo.
Thời
đức Phật còn tại thế, có bốn người ngoại đạo tu chứng
được ngũ thông. Thiên nhãn thông là thấy tất cả người
vật gần hay xa. Thiên nhĩ thông là nghe khắp tất cả âm thanh
lớn nhỏ gần xa. Tha tâm thông là biết được ý nghĩ người
khi mới khởi nghĩ chưa nói ra lời. Thần túc thông là biến
hoá thân hình lớn nhỏ tuỳ ý, thăng thiên độn thổ không
ngại. Túc mạng thông là biết được vô số kiếp về trước.
Bốn vị này biết mình sắp bị quỉ vô thường đến bắt
đi, nên mỗi người tìm cách để trốn thần chết. Vị thứ
nhất dùng thần thông bay lên hư không núp trong đám mây xanh.
Vị thứ hai vận thần thông lặn xuống đáy biển. Vị thứ
ba dùng thần thông chui vào lòng núi. Vị thứ tư chui trốn
ở trong lòng đất. Tất cả bốn vị đều nghĩ rằng chỗ
mình trốn quỉ vô thường không thể tìm được. Nhưng đến
giờ thần chết đến thì vị thứ nhất ở trên mây hết
thần thông rơi xuống đất nát thây. Vị thứ hai ở dưới
biển hết thần thông ngợp chết nổi lên. Vị thứ ba ở
trong lòng núi hết thần thông đá nứt đè chết. Vị thứ
tư ở trong lòng đất hết thần thông bị đất sụp chôn
thây luôn.
Lại
một trường hợp nữa: có một vị tu sĩ đạt đạo chứng
được ngũ thông, thuyết giảng giáo lý rất hay đến nỗi
Trời Ðế Thích cũng đến nghe. Một hôm, Trời Ðế Thích
nghe giảng xong ra ngoài ngồi bên gốc cây khóc. Vị tu sĩ lấy
làm lạ hỏi:
–Tại
sao nghe giảng xong ông lại khóc. Tôi giảng có chỗ nào ông
không đồng ý.
Ðế
Thích đáp:
–
Không. Ngài giảng rất hay, vì tôi thấy Ngài sắp chết nên
tôi thương tôi khóc.
Tu
sĩ hỏi:
–
Vậy phải làm sao cho khỏi chết?
Ðế
Thích đáp: Nếu Ngài muốn khỏi chết, hãy đến cầu cứu
với Đức Phật Thích ca.
Tu
sĩ hỏi:
–
Đức Phật Thích Ca là ai và đang ở đâu?.
Ðế
Thích đáp:
–
Ngài là một vị giác ngộ hoàn toàn sạch hết vô minh lậu
hoặc, đang ở tịnh xá trúc lâm gần thành Vương xá.
Vị
tu sĩ bèn vận thần thông bay đi tìm Phật, dọc đường ông
nghĩ rằng: đi cầu Phật dạy nên có lễ vật để cúng dường
Ngài. Ông thấy bên đường có những cây ngô đồng đang trổ
hoa thật đẹp, bèn nhổ và cầm đến cúng Phật. Khi tới
tịnh xá Trúc Lâm, thấy Phật đang thuyết pháp cho chúng Tỳ
kheo nghe, ông quì xuống dâng hai cây ngô đồng lên Phật và
thưa:
–
Thưa Thế Tôn, con xin cúng dường Ngài hai cây ngô đồng và
cầu xin Ngài dạy cho con phương pháp tu để khỏi chết.
Lúc
đó Phật không dạy gì hết, chỉ bảo:
–
Buông!
Tu
sĩ buông tay thứ nhất, ngã cây ngô đồng thứ nhất.
Phật
lại bảo:
–
Buông!
Tu
sĩ buông cây thứ hai, ngã cây ngô đồng thứ hai.
Phật
nói tiếp
–
Buông!
Tu
sĩ sửng sốt thưa:
–
Hai tay con cầm hai cây ngô đồng, lần thứ nhất Phật bảo
buông, con buông cây thứ nhất, lần thứ hai Phật bảo buông,
con buông cây thứ hai là hết. Phật bảo buông nữa con không
biết buông cái gì?
Phật
nói:
–
Ta đâu có bảo ông buông hai cây ngô đồng. Lần thứ nhất
ta bảo ông buông là đừng chạy theo ngoại cảnh. Lần thứ
hai ta bảo ông buông là đừng chấp sáu căn làm ngã. Lần
thứ ba ta bảo ông buông là không chấp sáu thức làm ngã.
Nếu ông buông hết ba thứ đó thì ông hết chết.
Nghe
Phật nói, tu sĩ nhận ra yếu chỉ, tu một thời gian chứng
A La Hán. Hết chết là không còn nghiệp dẫn đi trong luân
hồi sinh tử, chứ không phải thân tứ đại hiện đời không
hoại, không chết. Ðể thấy rằng dù có tu luyện được
thần thông đến đâu mà chưa buông xả được cảnh, thân
và tâm thức thì cũng chưa thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Cũng
trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, cô Kisa Gotami là một
phụ nữ rất thật thà chất phác có một đứa con trai. Chẳng
may con cô lâm bệnh rồi một hôm qua đời. Thương con quá
đỗi, cô tin tưởng rằng con mình không thể chết, vội vác
nó lên vai, chạy tìm đức Phật và xin Ngài cứu sống. Có
lẽ cô ta tin rằng đức Thích tôn có phép mầu nhiệm cải
tử hoàn sinh cho nên mới xin Ngài như vậy. Ðức Phật bèn
bảo cô đi tìm kiếm một ít hột cải nơi một nhà nào không
có người chết để Ngài cứu tử hoàn sinh cho đứa trẻ.
Hột cải thì cô kiếm ra, nhưng nhà mà không có người chết
thì cô đi khắp cùng cũng không tìm đâu ra được. Tức thì
cô hiểu đức Phật muốn dạy gì bèn đem chôn cất con và
trở lại xin đức Phật cho phép cô xuất gia làm Tỳ kheo ni.
Một đêm ngồi trước ngọn đèn, thấy đèn mờ dần rồi
tắt, cô suy xét hiểu được lý sinh diệt vô thường thế
là liền đắc quả A La Hán.
Lại
một hôm Phật cùng các đệ tử đi qua một khu rừng, vừa
đến một mé sông thấy có một vị Ðạo sĩ Du già ngồi
ở cội cây. Phật hỏi: “Ông ở đây bao lâu và đã tu được
gì?”. Ðạo sĩ nói: “Tôi tu 40 năm và đã được phép khinh
thân, đi qua con sông không cần phải ghe xuồng gì cả!”.
Nói đoạn, Ðạo sĩ niệm chú, bước qua sông nhẹ như chiếc
lá trưước những cặp mắt thán phục của các đệ tử Phật.
Phật nói với Đạo sĩ: “Tưởng gì lạ, chứ để đi qua
con sông như thế mà phải tốn công phu tu luyện 40 năm, thật
là uổng phí công phu vô ích quá! Chỉ với đồng tiền này,
người đưa đò sẽ đưa chúng tôi qua bên kia sông một cách
dễ dàng”.
Đạo
sĩ phải mất bốn mươi năm luyện tập để được thần
thông cũng chỉ để qua sông, trong khi đó Phật chỉ tốn ít
tiền mà đưa được cả mọi người qua sông! Thử hỏi xem
thần thông ấy có giá trị gì? Nhà Phật không trọng thần
thông, coi đó chỉ là trò biểu diễn vui chơi, không làm cho
con người thoát được khổ đau.
Nói
về thần thông thì ngay trong trang đầu, cuốn Cổ thư đã
cảnh cáo: “Người học đạo phải có một quan niệm đúng
đắn về “quyền năng” để tránh mọi phiền phức và nguy
hiểm về sau. Trước hết, những quyền năng dường như khác
thường không hề có tính cách phản thiên nhiên, trái với
các định luật vũ trụ. Sở dĩ nó khác thường vì trong giai
đoạn thời gian và không gian đó, số ngưòi có được những
quyền năng đó rất hiếm mà thôi. Tất cả mọi quyền năng
đều tiềm tàng trong tất cả mọi người nhưng chưa được
phát triển nên chưa xuất hiện. Chỉ khi con người hoàn toàn
làm chủ lấy chính mình thì quyền năng sẽ tự nhiên khai
mở, nhưng vẫn còn rất nhiều nguy hiểm đợi chờ. Thói xấu
đầu tiên cần phải ý thức là sự kiêu căng. Mặc dầu quyền
năng tiềm ẩn trong tất cả mọi người nhưng vì số người
có quyền năng rất ít nên các tu sĩ đắc thần thông thường
tưởng lầm họ đã trở nên một đấng này, đấng nọ; họ
tưởng rằng mình đã sáng suốt, đã được giao phó các sứ
mạng lớn lao, không thể lầm lạc được nữa. Từ đó đưa
đến nguy cơ thứ hai là sự lầm lẫn, một tu sĩ đắc thần
thông cần phải biết rằng có rất nhiều người khác cũng
có các quyền năng tương tự chứ không phải mình là người
duy nhất được những ân huệ đó. Vì không ý thức điều
này, tu sĩ dễ lầm lạc về những điều mình chứng nghiệm.
Thiếu khả năng xét đoán, thiếu những tiêu chuẩn để trắc
nghiệm xem điều mình ý thức có hợp với Chân lý hay không,
thiếu ý thức về tỷ lệ tương đối nên y dễ lầm lẫn
một điều tầm thường thành ra các Chân lý trọng đại gây
lầm lẫn cho những người đi theo sau. Nguy hiểm thứ ba là
sự không trong sạch, tinh khiết về đời sống cũng như tư
tưởng. Chỉ một ý niệm bất tịnh nhỏ cũng đủ lôi cuốn
những ảnh hưởng xấu xa và một sai lầm từ khởi điểm
sẽ làm lệch hẳn đường đi cùng mục đích tu hành đến
những nơi chốn phiêu 1ưu, vô định...”
Theo
sách Cổ thư thì có năm phương pháp để khai mở năng khiếu
thần thông: bẩm sinh, dược chất, thần chú, tu luyện và
thiền định. Sau khi nói về năm phương pháp khai mở thần
thông này, cuốn Cổ thư lại cảnh cáo: “Quyền năng là những
năng khiếu tự nhiên sẽ đến khi người tu đạt đến một
mức nào đó, đó chỉ là những phương tiện giúp người
tu tiếp tục con đường của mình, nghĩa là giải thoát khỏi
luân hồi sinh tử. Tuyệt nhiên, quyền năng không phải là
những điều cầu mong, hay mục đích của vấn đề tu hành.
Kẻ nào ham mê thần thông sẽ gặp những hậu quả vô cùng
tai hại”.
Phật
dạy các đệ tử: “Ngộ được đạo thì tự nhiên sẽ có
thần thông. Nếu được thần thông mà chưa ngộ được đạo
thì thần thông ấy có khi bị mất”. Đệ tử Phật thâm
nhập thiền định thì cũng có ngũ thông, nhưng Đức Phật
cũng không cho phép họ lợi dụng những thần thông đó để
truyền bá Phật pháp, càng không cho phép để mưu cầu danh
lợi. Nếu không phải ở hoàn cảnh đặc biệt thì không được
tùy tiện biểu hiện. Ví dụ một vài trường hợp đặc biệt
như hàng phục ngoại đạo hoặc quỉ thần; vì sợ sau này
Thiên ma ngoại đạo dùng thần thông hay phép lạ làm mê hoặc
lòng người. Thần thông đối với xã hội, đối với mình
nguy hiểm như thế nào chỉ có Đức Thích tôn mới có thể
hiểu sâu sắc. Những kẻ lợi dụng thần bí để kêu gọi
truyền bá Phật pháp là những kẻ có tội đối với Phật
giáo chúng ta. Phật thường nhắc nhở dặn dò các đệ tử:
“Phải dùng giáo lý chân chính dạy người. Khi người hiểu
được giáo lý rồi tin theo, thì lòng tin đó mới được chân
chính”.
Vì
thế nên Phật không từ trên không rơi xuống, hay tự nhiên
xuất hiện; mà Ngài lại thị hiện cũng như người, lớn
lên có vợ con, rồi đi tu và thành đạo v.v... để cho Chúng
sinh sau này đừng có tin tưởng những điều huyền bí hoặc
thần kỳ.
Khi
Phật còn tại thế, có người đàn-việt đem dâng cái bình
bát cho chư tăng, lại để trên đầu một cây cột phướn
cao, và thưa rằng: “Nếu vị nào lấy được, tôi sẽ cúng
cho”.
Khi
đó ông Tân-Đầu-Lô-Phả-La-Đọa-Xà-Tôn-giả dùng thần thông
lấy cái bình bát ấy. Ông bị Phật quở trách rất nghiêm
khắc, và phạt ông phải ở lại thế gian ứng cúng, làm phúc
điền cho Chúng sinh không được nhập diệt. Và Phật còn
chế ra luật cấm các đệ tử không được dùng thần thông
hay phép lạ trước người phàm phu.
Thần
thông không phải là nét đặc sắc của Phật pháp, vì nó
không thể đạt được chánh giác giải thoát, mà là chung
cho cả ngoại đạo. Phật dạy có 50 món ma chướng thường
dùng đủ thần lực đến nhiễu hại người tu. Chúng cũng
đủ năm phép thần thông biến hóa, chỉ chưa được lậu
tận thông.
Phật
pháp coi trọng “lậu tận thông”, tức là sự thanh tịnh
hết phiền não. Trọng tâm của người học Phật, bất luận
là Đại Thừa hay Tiểu Thừa, đều là làm thanh tịnh các
nghiệp chướng. Tu theo đạo Phật trước tiên là tránh ba
nghiệp ác và tạo ba ngihệp lành của thân, khẩu, ý. Vì nghiệp
có sức mạnh đưa người tới chỗ khổ hay vui. Trong kinh Hoa
Nghiêm có bài kệ sau:
“Xưa
kia tạo ra bao ác nghiệp,
Đều
do vô thủy tham sân si.
Từ
thân-khẩu-ý mà sinh ra
Hết
thảy nay con đều sám hối”.
Đức
Phật dạy con trai của Ngài là La Hầu La như sau: “Này La
Hầu La, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp;
sau khi phản tỉnh nhiều lần hãy hành khẩu nghiệp; sau khi
phản tỉnh nhiều lần hãy hành ý nghiệp”. Kinh Pháp Cú có
câu: “Thận trọng lời nói, kiềm chế ý nghĩ, thân không
làm ác, ba nghiệp thanh tịnh, là được đạo thánh nhân”.
Phật còn nói rõ: Muốn có thọ mạng, không thể cầu xin thọ
mạng hay tán thán thọ mạng để làm nhân đem lại thọ mạng.
Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành
con đường đưa đến thọ mạng, đưa đến dung sắc, đưa
đến an lạc, đưa đến tiếng đồn tốt, đưa đến sinh thiên,
vị ấy mới thành tựu được, mới đạt được năm điều
khả lạc mà mình ước muốn ở đời.
Khổng
Tử nói: “Mạ lên không tốt là do người, tốt mạ lúa không
chắc hạt là do người”. Theo lý lẽ đó, nếu kiếp trước
làm điều ác, đến đời này biết ăn năn hối lỗi và làm
nhiều việc thiện thì “có thể không phải chịu quả ác”.
Trong Kinh A Hàm, Phật dạy: “Người gây nhân bất thiện,
trước hoặc sau họ biết tu thân, tu giới, tu tâm thì quả
sẽ đổi thay. Nếu người gây nhân bất thiện mà không biết
tu thân, tu giới, tu tâm thì gây nhân nào sẽ thụ quá nấy,
đó là nhân nào quả nấy. Và gây nhân mà biết chuyển nghiệp
thì quả sẽ đổi thay”. Phật dẫn dụ như sau: có một gia
chủ chăn nuôi một bầy dê, một hôm có người thưòng dân
đến trộm dê bị gia chủ bắt được đánh, sau đó lại
còn đưa ra pháp luật bỏ tù. Lần khác, kẻ trộm dê là người
của quan lớn, gia chủ chỉ bực tức nói nặng đôi câu chứ
không đối xử thậm tệ như người thường dân trước. Kế
tiếp, kẻ trộm dê là lính của vua, thì gia chủ không dám
nói nặng nhẹ và chỉ van xin, năn nỉ đừng bắt dê. Trong
ba trường hợp dụ cho: ngưòi không biết tu thân, tu giới,
tu tâm gây nhân bao nhiêu thì phải trả quả bấy nhiêu, vì
vậy mà nói nhân nào quả nấy, đó là dụ người thường
dân trộm dê không thế lực. Trường hợp người trộm dê
là lính của quan thì chỉ bị trách móc nặng nhẹ, đó là
dụ cho người biết tu thân, tu giới, tuy có thọ nhận quả
ác nhưng quả báo nhẹ hơn. Trường hợp người trộm dê là
lính của vua thì không bị đánh đập, không bị nói nặng
nhẹ. Ðó là dụ cho người tuy có tạo nhân ác, nhưng biết
tu thân, tu giới, tu tâm thì nghiệp quả được hoá giải.
Ðáng
tiếc rằng người đời thường phổ biến những kinh nghiệm
sống cho nhau như: ai đánh thuế lời nói? Ai bịt được mồm
thiên hạ? Lời nói gió bay chẳng để lại dấu vết gì.
Người
xưa đã từng dạy: đạo trời, phép nước và lưới trời
lồng lộng thưa mà khó lọt. Thử hỏi xem ai đo được ý
nghĩ của nhau? Nhưng chỉ một ác ý thôi đã chịu quả báo
rồi, không thể trốn chạy được. Một ý ác đối với tha
nhân đủ gây thành mộl ý nghiệp không hay, bởi nó đã gieo
vào A lại da thức một hột giống xấu cho ta và cho người,
huống chi là lời nói xấu gây thành khẩu nghiệp. Bởi vậy
mới nói: thế gian khách quan sẽ không còn phải là khách quan
nữa nếu ta nhận thấy nó chỉ là “sản phẩm” của A lại
da thức của chúng ta, vì vậy “tạo” và vật “thọ tạo”
là một.
Thực
tế cũng cho thấy động lực chính của sự tạo nghiệp là
ý thức (thức thứ 6). Ý thức có một tác dụng vô cùng mạnh
mẽ, nó chi phối tất cả mọi thức khác, lại có quyền sáng
tạo và thay đổi cả một đời người. Trong giai đoạn hiện
tại, cá nhân phải chịu gánh tất cả những quả báo của
nghiệp quá khứ (túc nghiệp), và nghiệp báo hiện tại (hiện
nghiệp). Nhưng “ý thức” với sự phụ hoạ của các thức
khác trong giai đoạn sống hiện tại lại cũng có quyền năng
tạo nghiệp mới để làm động lực cho sự phát sinh một
sinh mạng sau này.
Khi
học Phật thì nhiều người đều thấy rằng chỉ cần tận
tâm tận lực, làm thiện trừ ác, làm theo hạnh Phật, nói
theo lời Phật, học theo Bồ Tát, thì “vận mệnh” tương
lai sẽ nắm chắc trong tay ta. Tuy nhiên ở đây ta nên bàn thêm
về cặp mâu thuẫn thiện và ác.
Thiện
ác (theo nghĩa thông thường) cần phải được nhìn với cặp
mắt đại đồng, cần phải được xem như hai đứa trẻ sinh
đôi cùng một vú mẹ, như một quả tim với hai luồng máu
đỏ đen... Hay nói theo triết học Kinh Dịch của Trung Hoa thì
thiện ác giống như cặp âm dương, tuy thấy như mâu thuẫn
mà chẳng hề bao giờ rời nhau. Sở dĩ được gọi là dương
vì phần dương lấn phần âm, được gọi là âm là vì phần
âm lấn phần dương. Thực ra không có một sự vật nào trên
đời mà thuần âm hay thuần dương, cũng như không có cái
gì là thuần ác hay thuần thiện. Không có một đức hay nào
mà không bị đeo theo cái tật xấu của nó. Phải biết vượt
lên trên cả ác lẫn thiện, thì mới mong siêu thoát luân hồi
sinh tử mà vào cảnh trí Niết Bàn.
Tu
“thiện nghiệp” để phá trừ “ác nghiệp”, lại được
một số đông người học Phật cho là phương liện để đi
dần đến Phật thừa. Nhưng họ đã lầm. Họ đã quên rằng
muốn được giải thoát, muốn vào được Niết Bàn, phải
vượt lên trên cặp mâu thuẫn thiện ác mới cầu được
Trí tuệ Bát Nhã. Một cái “ngã” dù có to lớn, tốt đẹp
bao nhiêu, vẫn là cái “ngã”. Cũng như một sợi dây xích
bằng sắt hay bằng vàng vẫn là sợi dây xích, nó vẫn ràng
buộc, cột chặt con người trong vòng sinh tử luân hồi và
đau khổ của họ. Cả hai đều mê lầm như nhau, đều bị
màn Vô minh và ái, thủ, hữu... che lấp, bị tham, sân, si dày
vò cấu xé tâm hồn. Cho nên tu “thiện nghiệp”, tu cầu
phúc... sẽ không bao giờ đưa đến “giải thoát” được!
Người
ta vì không nhận rõ được cái chân lý ấy nên thường tưởng
lầm rằng “tu giải thoát” là lấy cái thiện mà trừ cái
ác, không dè thiện hay ác đều có nguồn gốc từ Vô minh.
Bởi vì ác là do lòng ích kỷ mà ra, thì thiện cũng là một
hình thức khác của “ngã chấp”, tức là trong óc nghĩ có
mình. Bị ác nghiệp thì bị lăn trôi trong dòng sinh tử luân
hồi, nhưng được thiện nghiệp thì cũng vẫn bị như vậy
thôi, tất cả đều bị bó mình trong nghiệp báo. Bởi vậy,
tu là để chấm dứt dòng nhân quả nghiệp báo, là tu để
chứng nhập Niết Bàn. Nếu lại tu theo cách cầu phúc báo,
tu theo thiện nghiệp để rồi phải bị mãi trói buộc trong
vòng sinh tử luân hồi, thì cái “tu” đó là tu theo con đường
“tiệm pháp”, tức là con đường tu thập thiện (thiên thừa),
con đường lo trau dồi các đức hay tính tốt chỉ có thể
kiến tạo một đời sống giải thoát trên cõi ta bà, sẽ
không bao giờ đưa ta đến giải thoát luân hồi sinh tử được.
Khi
Thái tử Tất Ðạt đa tu sắp thành đạo dưới cội cây bồ
đề, Ma Ba Tuần biết Ngài sắp chứng đạo nên cùng nhau đến
phá Ngài. Quân ma có tới 18 ức bao vây Ngài dưới cội cây
bồ đề. Ma bảo:
–
Sa môn mau đứng dậy.
Thái
tử lặng thinh không đáp như thế đến ba lần. Ma hỏi:
–
Sa môn sợ ta chăng?
Thái
tử đáp:
–
Ta không kinh sợ.
Ma
hỏi:
–
Sa môn thấy bốn chúng binh của ta chăng? Ông chỉ một mình,
không binh khí, đầu cạo, mặc y bảy thân, lại nói không
sợ?
Thái
tử đáp bằng bài kệ:
Giáp
nhân cung tam muội
Tay
cầm tên trí tuệ
Phước
nghiệp làm binh khí
Nay
sẽ phá quân ngươi
Ma
bảo:
–
Nếu không nghe theo lời ta, ta sẽ làm cho thân hình ông tan
thàrh tro bụi.
Thái
tử nói:
–
Ta tự xem xét trên trời, cõi người, ma và thiên ma, nhân và
phi nhân cùng bốn độ chúng của ngươi không thể đụng được
một mảy lông của ta.
Ma
nói:
–
Sa môn, nay muốn cùng ta giao chiến chăng?
Thái
tử đáp:
–
Muốn được giao chiến.
Bấy
giờ Thái tử mặc áo giáp nhân từ, Ngài dùng cung tam muội,
tên trí tuệ và binh khí phúc nghiệp để giao chiến với ma
quân và giành chiến thắng một cách vẻ vang.
Chúng
ta thấy đức Phật khi chiến đấu với ma quân chỉ dùng có
bốn loại binh khí:
1.
Nhân từ là do tự tâm phát khởi lòng thương yêu vô lượng
vô biên với tất cả mọi loài không oán khóng thù ai nên
ma không hại được. Còn chúng ta thì lòng từ chưa bủa khắp,
sử kỷ tiếp vật còn thân, còn sơ nên ma tham, ma sân có chỗ
vào vì vậy mà cứ hay bị thua ma.
2.
Chính định là do lóng lặng mọi phiền não sâu nặng nhất
mà được thanh tịnh, nhờ tâm thanh tịnh nên trí tuệ phát
sáng; dù ma có hiện hình tướng kỳ quái thô hạo hung dữ
đến đâu, Ngài vẫn mặc nhiên không run, không sợ nên ma
không hại được. Chúng ta do tâm không an định nên sợ và
thua ma.
3.
Với trí tuệ sáng suốt, Phật thấy rõ thân này không thật
thì các tướng mạo của ma quỉ nào có thật nên không bị
chi phối bởi ma. Chúng ta vì trí tuệ chưa sáng, thấy thân
này thật, ma cũng thật, sinh tâm kinh sợ nên bị ma hại.
4.
Phúc nghiệp do công phu tu tập, làm lợi ích Chúng sinh, phúc
đức kết nhóm nhiều đời nhiều kiếp nên ma không hại được.
Chúng ta tu sở dĩ thường gặp chướng nạn là vì phúc đức
mỏng, sức tu tập yếu nên ma nhiếp phục dễ dàng.
Ðiều
căn bản không một người tu nào có thể thiếu được là
phải giữ tâm không oán, không thù; lần lần để tâm tĩnh
lặng cho trí tuệ phát sáng, và hằng ngày làm việc thiện
lành lợi ích cho mọi người. Người ta có câu nói: kẻ nào
không biết tha thứ là kẻ ngu! Vậy nên chớ có dùng oán báo
oán, ngược lại phải dùng ân báo oán.
Khi
tu hành đừng ỷ vào sự thông minh, tài giỏi, khôn khéo lanh
lợi mà phải xét nét công hạnh tu tập của mình. Trên thực
tế có rất nhiều người khôn lanh, thông minh, tài giỏi nhưng
cũng không tránh được chướng nạn khổ đau. Ngược lại,
người có nhiều phúc đức thì vượt qua tất cả mọi chướng
ngại, sự tu tập dễ dàng tiến mau nên được kết quả tốt.
Nếu thấy phúc đức mình cạn mỏng thì lo vun trồng cho được
sâu dày, hầu giúp mình vượt qua mọi chướng nạn và tiến
tới chỗ cứu cánh viên mãn.
Nếu
tu mà nghiệp thức còn thì dù có chứng thần thông siêu việt
đến đâu cũng không giải cứu được khi nghiệp báo đến.
Vì thế, đạo Phật không trọng thần thông, mà sợ gây nghiệp
ác khuyên tạo nghiệp lành. Ðối với những ác nghiệp quá
mạnh khi đã không thể thay đổi được thì con người dũng
cảm tiếp nhận với tâm trạng an nhiên tự tại. Thế nên
mọi hiện tượng huyền bí lạ lùng không phải là cái đích
cho người tu Phật hướng đến. Con người ở thế giới này
gây ác nghiệp thì nhiều, còn thiện nghiệp thì ít. Người
tu Phật chân chính là tự trau dồi đức hạnh sửa mình để
trở thành người tốt, nhân từ đức hạnh, tâm bình an, trí
tuệ sáng suốt, hằng ngày làm lợi ích cho mọi người đó
là điều cơ bản. Không hiếu kỳ, không lười biếng, không
ỷ vào thần quyền ma lực, tu như thế mới đúng với tinh
thần của đạo Phật. Như trên đã nói, trọng tâm của người
học Phật là làm thanh tịnh các nghiệp chướng. Chỉ khi nào
làm thanh tịnh các nghiệp chướng thì lúc ấy mới thành Phật.
Trong kinh “Tứ Thập Nhị Chương” Phật có nói rằng: “Bao
nhiêu vẩn đục trong tâm đều rũ sạch trong trắng không chút
vết dơ, như thế là sáng suốt hơn cả, từ khi chưa có trời
đất cho đến ngày nay, muôn ngàn sự vật trong mười phương
không gì là không nghe, không thấy, chứng được “Nhất thiết
trí” mới có thể gọi là sáng suốt!”. Nếu nói cho cả
xã hội thì chính hoạt động của những cá nhân trong xã
hội đã tạo ra hình thức cho xã hội đó. Do vậy, muốn có
được một xã hội văn minh thịnh vượng thì trước hết
mỗi thành viên trong xã hội phải tự chuyển hoá chính mình.
Phật dạy: “Tâm bình thế giới bình”. Sách Nho nói: “Sửa
mình theo lễ, thì thiên hạ về nhân, lẽ thật là như thế”.
Sách xưa dạy: “Từ Thiên tử đến hạng thứ nhân, đều
lấy sự tu thân làm gốc; nếu thân không tu, thì nhà không
yên, nước không trị, thì xã hội cũng không sao tự do được”./.
Tài
liệu tham khảo
[1]
Thích Thanh Từ–Tu là chuyển nghiệp–Thành hội Phật giáo
TP. Hồ Chí Minh ấn hành–PL 254l–1997.
[2].
Thích Thiện Hoa–Phậl học phổ thôngThành hội Phật giáo
TP. Hồ Chí Minh ấn hành–PL 254l–1997.
[3].
Nghiêm Hoài Cẩn–Kinh Viên giác luận giải–Nhà xuất bản
Tôn giáo–Hà Nội–1999. (dịch giả: Mai Xuân Hải–Lương
Gia Tĩnh).
[4].
Thích Ấn Thuận–Phật pháp khái luận-Nhà xuất bản Ðại
học và Giáo dục chuyên nghiệp–Hà Nội–1992.
[5].
Narada Maha Thera–Bồ Tát đạo (dịch giả Hồ Ðắc Thăng),
Mười pháp Ba la mật (dịch giả Phạm Kim Khánh)–Thành hội
Phật giáo TP Hồ Chí Minh–Phật lịch 2539–1995.
[6].
Thích Minh Châu–Tự mình hãy thắp đuốc lên mà đi–Nhà
xuất bản TP Hồ Chí Minh–1999.
[7].
Lobsang Rampa–Tây Tạng huyền bí–Viện văn hoá nghệ thuật
Việt Nam–Trung tâm phổ biến văn hoá nghệ thuật–1991.
[8]
Chu Sở–Thế giới tái sinh–Nhà xuất bản văn hoá dân tộc–Hà
Nội 1999.
[9].
Tâm Minh Lê Ðình Thám–Phật học thường thức–Nhà xuất
bản Tôn giáo–2000.
(Bài
này được đăng trong Tạp chí nghiên cứu Phật học, số
4 năm 2002)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 204 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân