Tinh Thần
Giác Ngộ của Đạo Phật
Thích
Thông Phương
Chúng
ta hẳn thấy rõ, những giáo pháp được Phật nói ra đều
từ ánh sáng giác ngộ
đó
mà lưu xuất. Thiếu ánh sáng giác ngộ thì Phật pháp có còn
là Phật pháp chăng? Hay chỉ là những trang chữ nghĩa chết?
Theo
ngài Lâm Tế, pháp thật chính là Tâm, rời tâm không có pháp
thật nào khác. Nếu người cứ bám vào văn tự, chữ nghĩa
để tìm Phật pháp hẳn không thể thấy Phật pháp thật.
Bởi vì giác ngộ là ở nơi tâm, từ “tâm giác ngộ” mới
thấy được pháp và chính từ đó mới nói ra pháp. Do đó,
pháp có nói ra, cốt đều chỉ cho người trở về bản tâm
là gốc. Đây là một lẽ thật trên hết, người học Phật
không thể quên!
Với
con người, ai nấy đều cho đó là một định luật từ ngàn
xưa để lại không thể làm sao hơn, nhưng với Ngài, Ngài
quyết phải thắng được định luật đó. Điều mà bao nhiêu
con người cho là “vốn như thế”, với Ngài thì “không
phải vốn như thế” mà nó “phải có nguyên nhân của nó”,
tìm được nguyên nhân tức sẽ có cách giải quyết. Do đó,
Ngài sẵn sàng vượt thành xuất gia, bỏ lại đằng sau mọi
sự nghiệp cao sang của thế gian, quyết tìm nguyên nhân dẫn
đến sanh tử luân hồi triền miên này, không thể cúi đầu
chấp nhận như thế được. Và quả nhiên, Ngài đã thành
công.
Trong
Kinh tạng Nikaya, có bài kinh kể rằng: - Một hôm Phật đi
trên đường để lại những dấu chân in sâu trên đất. Có
một vị Bà la môn tên Dona giỏi về tướng số, thấy dấu
chân có xoắn ốc biết là tướng phi phàm, ông liề n đi theo
dấu chân tìm đến gặp Phật. Ông hỏi:
–
Ngài có phải Tiên không?
–
Ta không phải Tiên.
–
Ngài có phải A tu la không?
–
Ta không phải A tu la.
–
Ngài có phải Dạ xoa không?
–
Ta không phải Dạ xoa.
–
Ngài có phải người không?
–
Ta không phải người.
–
Thế Ngài là gì?
Phật
bảo:
–
Nếu Tiên mà sạch hết lậu hoặc thì ta là Tiên. Nếu A tu
la mà sạch hết lậu hoặc thì ta là A tu la. Nếu Dạ xoa mà
sạch hết lậu hoặc thì ta là Dạ xoa. Nếu người mà sạch
hết lậu hoặc thì ta là người. Còn ta, vì đã sạch hết
các lậu hoặc nên ta là Phật, là Thế Tôn.
Như
vậy, Phật vốn có đủ trong tất cả, nếu Tiên, A tu la, Dạ
xoa, người mà sạch hết lậu hoặc, tức đã . . . thành Phật
rồi. Đây là một ý nghĩa rất quan trọng, từ đó càng làm
sáng tỏ tinh thần vô ngã tuyệt vời trong đạo Giác Ngộ.
Mê không cố định là mê mải, mà có thể chuyển “mê”
thành “giác”, không còn phải mặc cảm tội lỗi để chìm
sâu trong đường tối tăm. Đều có thể chuyển hết! Đó
là một niềm tin vững mạnh để vươn lên, một chân lý bình
đẳng cao tuyệt, một ánh sáng hy vọng đầy vui sướng! Chúng
ta không phải làm chúng sanh mê muội mãi mãi!
Rõ
được ý nghĩa trên, chúng ta thấy chắc chắn không nghi ngờ:
nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ, đây là điều
không thể thiếu, nhưng giác ngộ có cạn, có sâu tùy trình
độ mỗi người. Nếu cạn thì giác điều dở, điều xấu
để bỏ; làm điều lành, điều tốt để chuyển hóa ngay
trong cuộc sống của mình.
Lên
bậc nữa, là giác ngộ vô thường, vô ngã, giác cái nhân
sanh tử, mê lầm ái ngã khiến dứt sạch thì đạt vô sanh
Niết bàn.
Tiến
lên nữa, giác bản tánh chân thật bất sanh bất diệt cùng
Phật không khác, giác Phật tánh sẵn có nơi mọi chúng sanh.
Mê bản tánh này là căn bản vô minh, là mở đường đi vào
cuộc luân hồi từ vô thỉ! Giác bản tánh này là con đường
thành Phật.
Trong
Huyết mạch luận, Tổ sư bảo:
–
“Phật nói tất cả chúng sanh trọn là người mê, nhân đây
tạo nghiệp, rơi vào sông sanh tử, muốn ra lại vào, chỉ
vì chẳng thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê nhân đâu hỏi
đến việc trong ấy, không có một người lãnh hội được,
tự nhà mình giơ tay, động chân vì sao chẳng biết?”.
Là
việc chúng ta sống hàng ngày, tuy giơ tay, động chân nhưng
hỏi đến lại lờ mờ không biết, cứ đi nhận những cái
đâu đâu không mê là gì? Hãy xét kỹ xem. Ai xen vào trong ta
để làm những chuyện đó? Quả thật không ai khác xen vào,
vậy tại sao mình không rõ? Cho nên, mọi người cần giác
ngộ trở lại chỗ này, đó chính là bản hoài Phật ra đời
mà trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã thố lộ rõ rằng: “Các
Đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật
để được thanh tịnh mà hiện ra đời; vì muốn chỉ tri
kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra đời; vì muốn cho chúng
sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra đời; vì muốn cho
chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra đời”.
Nói
đơn giản, chư Phật ra đời chỉ vì một việc: “Chỉ bày”
cho chúng sanh, “ngộ nhập” tri kiến Phật, mà tri kiến Phật,
tức là sự “thấy biết giác ngộ”.
Chúng
ta hãy nhớ lại, Đức Phật Thích Ca sau bao năm tìm học ở
các vị thầy, cuối cùng Ngài buông hết, đến dưới cội
bồ đề ngồi thiền định, rồi giác ngộ, vậy sự giác
ngộ đó từ đâu đến? Người học Phật đều biết rằng,
khi sao Mai mọc, Ngài giác ngộ thành đạo Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác; vậy trước khi sao Mai mọc, đạo Chánh đẳng
giác đó ở đâu? Đến khi sao Mai mọc, nó ở đâu chạy lại
khiến Ngài giác? Rõ ràng giác đó, chính là tâm giác thôi,
quyết không thể có gì khác. Giác ngộ vốn ở ngay nơi tâm,
ngoài tâm tìm giác ngộ, đó là giác ngộ trong kinh điển,
trong sách vở ghi chép lại.
Cũng
trong Huyết mạch luận, Tổ sư bảo:
“Phật
là tự tâm mình làm thành, nhân đâu lìa ngoài tâm này tìm
kiếm Phật? Phật trước, Phật sau chỉ nói tâm ấy, tâm tức
là Phật, Phật tức là tâm, ngoài tâm không Phật, ngoài Phật
không tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật, Phật ở chỗ nào?”.
Ở
đây, Tổ xác định rõ, Phật chính là tự tâm chúng ta, không
thể tìm đâu khác. Bởi, ngoài tâm làm sao có giác? Ngoài tâm,
Phật lấy cái gì giác? Cái giác đó ở đâu? Ở sao Mai? Hay
ở dưới cội bồ đề? Lẽ thật rõ ràng như thế! Mà ai
không có tâm? Không có
tâm
hẳn đã thành người thiên cổ rồi! Vậy ai có tâm, thì quyết
đều có giác.
Muốn
đến chỗ cứu cánh chân thật thì phải tự chứng nghiệm,
ngoài ra, không có cách gì khác. Chính Đức Phật, ngay từ
buổi đầu mới thành đạo, Ngài đã ngầm nói lên ý đó
rồi. Tức là thành đạo xong, Ngài chưa muốn đi thuyết pháp,
đợi Phạm Thiên thỉnh mấy phen Ngài mới hứa khả.
Trong
kinh Thánh Cầu – Trung Bộ kinh - chính Phật đã thuật lại:
–
“Này các Tỷ kheo, rồi ta suy nghĩ như sau: - Phá p này do ta
chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch
tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí
mới hiểu thấu”.
Và
trong kinh Tạp A Hàm, tập II, bài kinh 404, lúc Phật ở tại
nhà Phước Đức, Ngài nắm một nắm lá trong tay hỏi các
Tỷ kheo: – Lá cây trong tay ta nhiều hay lá cây trong rừng
nhiều?
Các
Tỷ kheo đáp: – Lá cây trong tay Phật rất ít, còn lá cây
trong rừng nhiều không tính kể. Phật liền bảo: – Ta thành
Đẳng chánh giác, những pháp do ta tự thấy mà vì người
giảng nói chỉ ít như lá cây trong tay. Còn chánh pháp ta tự
tri khi thành Đẳng chánh giác mà không nói ra thì nhiều như
lá cây trong rừng.
Tại
sao Phật tu hành giác ngộ rồi Ngài không muốn nói lại cho
người? Phật nói rõ: “Vì pháp ấy sâu kín, khó thấy, vượt
ngoài mọi lý luận, chỉ người trí mới hiểu thấu”. Tức
ngầm chỉ, chỗ Ngài chứng đó, vốn vượt ngoài ngôn ngữ,
danh tự, bỏ xa lý luận, suy nghĩ hiểu biết, chỉ có người
tự chứng mới cảm thông thôi. Vậy làm sao nói đây? Chính
là Phật đã ngầm nhắc cho hàng đệ tử sau này, phải thấy
thấu đến chỗ sâu kín đó, chớ kẹt trên ngôn ngữ mà Ngài
đã nói ra.
Trong
nhà thiền có đoạn nhân duyên: Một thiền sư ở trên núi,
nhân có việc xuống đồng bằng. Lúc trở về, gặp một người
cư sĩ cỡi ngựa chạy ngang qua, ông cư sĩ thấy sư bèn gò
cương ngựa lại hỏi:
–
Thầy đi về đâu?
Thiền
sưđáp:
–
Tôi về đạo tràng.
Cư
sĩ nói:
–
Nơi nơi đều là đạo tràng, vậy thầy về chỗ nào?
Bất
ngờ, thiền sư thoi vào hông cư sĩ bảo:
–
Kẻ vô lễ ! Đã đến đạo tràng mà không xuống ngựa?
Cư
sĩ câm họng.
Cho
thấy, ông cư sĩ học câu nói “đâu đâu cũng là đạo tràng”,
nhưng khi bị thiền sư gạn lại đành tắc tị. Rõ ràng ông
chưa có chỗ sống chân thật, chưa tự mình cảm nghiệm qua.
Nếu quả thực ông cư sĩ có chỗ sống chân thật hẳn hoi,
thì tự sẽ có câu trả lời dễ dàng.
Bắt
nguồn của đạo Phật là từ sự giác ngộ, vậy người học
Phật cũng phải có giác ngộ, không thể thiếu. Thực tế,
giác ngộ không phải cái gì xa lạ, ở đâu đâu, mà ở chính
ngay tâm người. Điều xác quyết là, giác ngộ không thể
có trong sách vở chữ nghĩa, sách vở chữ nghĩa hẳn không
thể ghi chép được ánh sáng giác ngộ. Đừng phí công giam
mình trong những cái khuôn chết đó, mà phải tự sống dậy
ngay chính mình.
Ai
ai cũng có tâm thì ai ai cũng có quyền Giác, không ai có thể
ngăn cản ai. Đây là một lẽ thật bình đẳng cho tất cả,
và cũng chính là điểm đặc biệt trong nhà Phật. Rất là
nhân bản, rất là con người!
Phật
là một bậc “Đạo sư” tức vị thầy dẫn đường, còn
lại là mỗi người phải tự đi, không thể ỷ lại vào ai
khác. Đó cũng là điều mà người xưa đã khẳng định:
Ngã
tâm bổn dữ Phật tăm tề,
Khoáng
kiếp phiêu trầm chỉ vị mê.
Bồ
đề Phạn ngữ, Đường ngôn giác,
Tâm
tinh nhi tri thị Bồ đề.
Nghĩa
:
Tâm
ta, tâm Phặt vốn không hai,
Nhiều
kiếp nổi chìm bởí tại mê.
Tiếng
Phạn bồ đề, Tàu gọi giác,
Tâm
“tịch” mà “ tri” ấy Bồ đề!
Tâm
ta - tâm Phật cũng một tâm. Nói Bồ đề, nói giác cũng là
danh từ, cần giác ngộ trở lại ngay chỗ tâm “tịch” mà
“tri” ấy. Tức phải nhớ kỹ: tịch mà tri, nghĩa là “Lặng”
mà “Biết”, “Biết” mà “Lặng”, phải đủ hai nghĩa
như thế không thể thiếu một. Lặng mà thiếu Biết là mê
mờ, Biết mà thiếu Lặng là động khởi, là sinh diệt lăng
xăng. Còn ngay cái Biết mà lặng lẽ không một đối tượng
gì, không một bạn bè nào, thì Phật, Tổ hiện sáng ngời
trong đó!./.
(đăng
trong tuần báo Giác Ngộ số 159, 13-02-2003)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 204 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân