Dung hòa
giữa Đốn ngộ và Tiệm ngộ
Nét đặc sắc
trong Phật giáo Việt Nam
Tiến
sĩ Nguyễn Đức Diện
Khái
niệm đốn ngộ và tiệm ngộ trong Thiền học xuất phát từ
bộ kinh Lăng Già, khi luận về phép tịnh tâm, gạn lọc hết
dòng tưởng niệm. Theo kinh, sự gạn lọc ấy tuỳ chỗ mà
gọi tên, khi thì đốn, khi thì tiệm. Tiệm giống như sự
chín của trái cây hoặc công việc làm đồ gốm , hoặc một
sự điêu luyện nào đó của nghệ thuật cần phải tuần
tự tiến dần theo thời gian. Nếu như một tấm gương phản
chiếu nhanh tức khắc, bất thình lình, không cần có trước
một sự chuẩn bị có ý thức nào, đó là đốn. Sau đó,
tư tưởng đốn ngộ triển khai trong Phật giáo Đại thừa
mà Trung Quôc là nước phát triển mạnh mẽ nhất.
Tương
truyền. Bồ Đề Đạt Ma là sư Tổ của Thiền tông Trung Quốc.
Ông là người Ấn Độ sang Trung Quốc vào đời Lương Vũ
Đế (thế kỷ VI), tiếp đến Tổ thứ hai là Huệ Khả, Tổ
thứ ba là Tăng Xán, Tổ thứ tư là Đạo Tín, rồi đến ngũ
Tổ Hoằng Nhẫn. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát cho Huệ
Năng là đệ lục Tổ. Đến đây, Thiền tông chia làm 2 phái:
Nam tông (đốn ngộ) đại diện là Huệ Năng và Bắc tông
(Tiệm ngộ) đại diện là Thần Tú. Nguyên nhân của sự phân
chia Bắc và Nam là do Hoằng Nhẫn có hai học trò là Thần
Tú và Huệ Năng, song, ngũ Tổ đã không truyền đạo cho Thần
Tú – người học trò xuất sắc, mà lại truyền cho Huệ
Năng – người giã gạo không biết chữ. Thần Tú không phục
đã lập nên Bắc tông, còn Huệ Năng lập nên Nam tông. Bản
chất của việc phân chia đốn ngọ và tiệm ngộ là do bất
đồng cố hữu trong phương pháp giác ngộ mà thôi. Phương
pháp giác ngộ của Thần Tú thể hiện tập trung trong bài
kệ sau :
“Thân
là cây bồ đề
Lòng
như đài gương sáng
Luôn
luôn phải siêng năng lau phủi
Chớ
để dính bụi trần”.
(Thân
thị bồ đề thụ
Tâm
như minhkính đài
Thời
gian cần phất thức
Vật
sử nhạ trần ai?) (1)
Theo
Thần Tú. muốn giác ngộ chân lý đạo người học phải qua
nhiều bước, nhờ giáo dục, đọc kinh, nghe giảng... Nghĩa
là cần đến phương tiện ngôn ngữ, văn tự. Phương pháp
này là giác ngộ dần dần, từ thấp đến cao, từng bước
tuần tự (tiệm ngộ). Trong khi Thần Tú đề cao tiệm ngộ
thì Huệ Năng lại xiển dương đốn ngộ (giác ngộ ngay lập
tức). Quan điểm ấy thể hiện qua bài kệ sau:
“Vốn
không có cây bồ đề
Cũng
không có đài gương sáng.
Từ
xưa đến nay không có một vật gì
Vậy
có chỗ nào để dính bụi bẩn”..
(Bồ
đề bản vô thụ
Minh
kính diệc phi đài
Bản
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhạ trần ai?) (2).
Huệ
Năng cho rằng đạo vốn không có hình danh sắc tướng, từ
xưa đến nay nó không phải là một cái gì cụ thể (bản
lai vô nhất vật), nên không phải tìm cầu ở bất cứ nơi
nào, nhận ra điều đó tức giác ngộ. Phương pháp ngộ đạo
của Huệ Năng là đột ngột, tức khắc, bất thình lình.
Khi ánh sáng trí tuệ loé lên tức giác ngộ, nên không cần
đến ngôn ngữ, văn tự. Xuất phát từ quan điểm ấy, nên
đã hình thành hai phương pháp giác ngộ đối lập nhau. Hai
khuynh hướng – đại diện cho hai phương pháp đã đấu tranh
với nhau nhằm phát huy ảnh hưởng của mình trong dân chúng.
Trong khi Huệ Năng đi về phương Nam thì Thần Tú tiến về
phương Bắc. Phương pháp giác ngộ của Lục Tổ Huệ Năng
cũng là của Thiền tông nói chung, của Thiền tông Trung Hoa
nói riêng.
Phật
giáo thâm nhập vào nước ta khá sớm, song về mặt tông phái
chủ yếu là Thiền. Tuy chia thành các phái khác nhau nhưng bản
chất của đạo vẫn không đổi. Tất cả các phái đều cho
rằng đạo không có hình tướng, không phải ở đâu xa, ở
ngay trước mắl ta. Muốn giác ngộ, người học đạo hãy
trở về với chính mình, không tìm cầu ở bất cứ nơi nào
khác.
Mặc
dù, chịu ảnh hưởng rất nhiều của Phật giáo Trung Hoa,
nhưng người Việt đã tiếp nhận đạo Thiền theo phong cách
riêng, nghĩa là trong khi đề cao đốn ngộ, vẫn không gạt
bỏ tiệm ngộ ra khỏi phương pháp tu hành. Quan điểm này
thể hiện rất rõ từ thời Lý. Theo Thiền Uyển Tập Anh,
sư Bản Tịch (? - 1140), thuộc thế hệ 13 của phái Tỳ Ni
Đa Lưu Chi, đã hiểu thấu các phép đốn giáo và tiệm giáo.
Đây không chỉ là lập trường riêng của phái này, ngay trên
văn bia Sùng Nghiêm Diên Thành, dựng năm 1118 cũng viết: “Tuy
giác phân ư đốn tiệm, tuỳ cơ ngộ hữu thiển thâm” nghĩa
là: “Tuy phân ra đốn giác và tiệm giác, nhưng đó chỉ là
tuỳ cái cơ giác ngộ của mỗi người nông hay sâu”. Đối
với những người không có đốn căn hay đốn cơ thì phải
dẫn dắt bằng cách khác. Theo các thiền sư thời Lý, “việc
dẫn dắt bằng cách khác” có thể thông qua học tập truyền
bá tri thức ...
Dung
hoà giữa đốn ngộ và tiệm ngộ trên con đường giác ngộ
và giải thoát không chỉ diễn ra ở thời Lý, mà còn phát
triển mạnh mẽ ở thời Trần. Trần Thái Tông – người
đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
tin rằng “Bồ Đề giác tính, kẻ kẻ viên thành, bát nhã
thiện căn, người người cụ túc”. Và ông cho rằng, con
đường trở về với bản tính đó (giác ngộ) có thể thực
hiện bằng nhiều cách, tuỳ theo trình độ khác nhau. Ông nói:
“Mở cửa phương tiện, tuỳ lối chỉ đường về, theo bệnh
cho thang thuốc” (3).
Vì
vậy Trần Thái Tông đặc biệt chú tâm dẫn dắt mọi người
từng bước trên con đường tu đạo. Ông đặc biệt coi trọng
sám hối, nên đã soạn ra Lục thời sám hối khoa nghi (tức
nghi thức sám hối sáu buổi trong ngày, mỗi buổi sám hối
về một tội lỗi của một căn trong sáu căn: mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý). Trần Thái Tông vừa chú trọng sám hối,
vừa chú trọng trì giới. Ngay trong bài Thọ giới luận, ông
đã viết năm bài văn về ngũ giới (Giới sát sinh văn, Giới
thâu đạo văn, Giới sắc văn, Giới vọn ngữ văn, Giới tửu
văn). Ông chủ trương có giới mới có định, có định mới
có tuệ. Như vậy, có nghĩa là định trước, tuệ sau. Rõ
ràng Trần Thái Tông muốn dung hợp cả đốn và tiệm. Ông
nói: “Tính căn phân biệt, ngu trí khác nhau, nếu trỏ cho
một cửa thôi thì khó vào nơí giác ngộ. Cho nên đức Phật
ta mở rộng đại trí, nguyện mở cửa phương tiện, tuỳ
lối chỉ đường về, theo bệnh cho thang thuốc”. Trong khi
đó, Thiền Trung Quốc mà đại diện là Huệ Năng lại chủ
trương định, tuệ đồng thời, trong định có tuệ, trong
tuệ có định, như ngọn đèn và ánh sáng.
So
sánh phương pháp giác ngộ của Trần Thái Tông với phương
pháp giác ngộ của Huệ Năng ta thấy, phương pháp cùa Trần
Thái Tông là tiệm giáo, gần với quan điểm giác ngộ của
Thần Tú, còn phương pháp của Huệ Năng là đốn giáo. Tuy
nhiên, chỗ khác Trần Thái Tông lại viết: “Tịch tịch tỉnh
tỉnh là phải, tỉnh tỉnh loạn tưởng là sai. Tỉnh tỉnh
tịch tịch là phải, tich tịch tỉnh tỉnh là thuốc, vô ký
loạn tưởng là sai” (4). Quan điểm trên của Trần Thái Tông
lại giống với quan điểm của Huệ Năng. Điều đó cho thấy,
mặc dù đề cao đốn ngộ nhưng Trần Thái Tông vẫn chủ
trương dung hoà giữa đốn ngộ và tiệm ngộ trên con đường
giải thoát. Vì vậy, Trần Thái Tông rất coi trọng các hình
thức tụng kinh, niệm Phật, toạ thiền. Thái Tông cho rằng
tuy chịu mọi hình giới mà không toạ thiền thì sức định
không sinh, mà sức định không sinh thì vọng niệm không diệt.
Trong bài Niệm Phật luận, ông còn phân biệt ba hạng người:
Thượng trí, trung trí và hạ trí. Một lần nữa ta thấy,
quan niệm của Trần Thái Tông về các hình thức tu đạo khác
nhau do “tính căn phân biệt”. Rõ ràng, Trần Thái Tông không
chỉ dung hoà giữa đốn và tiệm mà còn muốn kết hợp giữa
Thiền và Tịnh. Khuynh hướng kết hợp Thiền và Tịnh ở
Trần Thái Tông còn có cơ sở trong quan điểm kết hợp tự
lực với tha lực. Trần Thái Tông viết: “Năng sở lưỡng
y, Phật, Ngã song kế”, nghĩa là phải dựa vào cả hai, cả
Phật và Ta.
Không
chỉ có Trần Thái Tông dung hoà giữa đốn ngộ và tiệm ngộ,
Tuệ Trung Thượng Sĩ – ngôi sao sáng nhất trong vườn thiền
nhà Trần cũng có quan điểm ấy. Trong khi đề cao đốn ngộ,
bác bỏ phương pháp ngộ đạo bằng con đường giảng giải
về đạo, Tuệ Trung vẫn thừa nhận có những trường hợp
phải dùng giáo lý can thiệp vào quá trình tu tập. Chẳng hạn.
khi có người hỏi xung quanh vấn đề ăn chay, ăn mặn trong
tu Phật. Tuệ Trung nói: “Bản lai vô nhất vật”. Theo Tuệ
Trung, vốn không có bất cứ một vật gì, tất cả đều do
tâm sinh ra mà thôi, nên không thể quy vào tội hay phúc. Tội
là do tâm, do không giữ được tâm bình lặng. Như vậy,
Tụê Trung đã có ý thức dùng giáo lý kinh điển nhằm gợi
mở tâm lý thiền cho học trò. Phương pháp này hoàn toàn không
có trong thiền Huệ Năng. Bởi lẽ, mục đích giáo pháp của
Huệ Năng là đốn ngộ, giác ngộ tức thì nhanh chóng. Không
những thế, Tuệ Trung còn sử dụng trực giác như một phương
pháp ngộ đạo. Điều này bị quy định bởi bản thể trong
Phật giáo là không thể dùng ngôn ngữ văn tự diễn tả.
Quan điểm này cũng giống với Trần Thái Tông. Trần Thái
Tông cho rằng cả Phật lẫn Tổ giác ngộ được là nhờ
trực giác. Ông nói: “Phỏng khiến Thích Ca dặn bảo ở Linh
Sơn, đều cũng là chốn lôi thôi. Đạt Ma truyền pháp ở
Thiếu Thất vẫn chỉ là ổ rắc rối”. Điều đó chứng
tỏ Trần Thái Tông thừa nhận vị trí quan trọng của nhận
thức trực giác. Tiến xa hơn, Tuệ Trung còn thừa nhận việc
học tập, thông qua con đường truyền bá tri thức. Ông nói:
“Cái
học của bậc Thánh cao minh thông suốt cả xưa nay, rõ ràng
kinh tạng ở Long cung đã thấu suốt được tâm hoa”.
(Thánh
học cao minh đạt cổ kim
Thiết
nhiên long tạng, quán hoa tâm)(5)
Theo
Tuệ Trung, chính vua Trần Thánh Tông (1240–1290) đã thấm nhuần
đạo Thiền đến cốt tuỷ là nhờ học tập giáo lý kinh
điển. Ta còn gặp tư tưởng trên qua một số lần đối thoại
giữa Tuệ Trung và học trò. Chẳng hạn, có một môn tăng
đến hỏi Tuệ Trung: Thưa Thượng Sĩ: Tôi cho rằng sống chết
là việc lớn. Nó vô thường mau lẹ. Chưa rõ tấm thân này
từ đâu sinh ra? Chết rồi sẽ về đâu? Tuệ Trung đáp:
“Đôi
vành luân chuyển giữa bầu trời
Biển
cả lo gì chút bọt trôi”.
(Trường
không túng sử song phi cốc,
Cự
hải hà phương nhất điểm âu)(6)
Hai
câu thơ trên, Tuệ Trung đã có ý thức giải thích cho người
học đạo biết, sự vận hành của thời gian là vô cùng nhanh
chóng không cưỡng lại được, và sự sống chết cũng diễn
ra như những hiện tượng khác. Ngoài những tư tưởng nêu
trên, trong một số Công án thiền , Tuệ Trung còn dùng ngôn
ngữ can thiệp vào quá trình giác ngộ. Chẳng hạn, có môn
tăng đến hỏi: “Thế nào là đạo?”. Tuệ Trung đáp: “đạo
không ở trong câu hỏi, câu hỏi không ở trong đạo”. Môn
tăng hỏi tiếp: “Hàng đại đức xưa nói: Vô tâm tức là
đạo đúng chăng?” Tuệ Trung đáp: “Vô tâm nào phải đạo,
vô đạo cũng vô tâm”. Tuệ Trung nói tiếp: “Nếu họ bảo
vô tâm là đạo thì tất cả cây cỏ đều là đạo cả sao?.
Ngược lại nếu nói vô tâm không phải là đạo thì sao còn
nói chuyện hữu, vô làm gì”. Tuệ Trung đọc bài kệ:
“Vốn
không tâm không đạo,
Có
đạo chẳng không tâm.
Tâm
đạo là hư tịch,
Biết
nơi nào truy tầm?”
(Bản
vô tâm vô đạo,
Hư
đạo bất vô tâm.
Tâm
đạo nguyên hư tịch,
Hà
xứ cánh truy tầm?) (7)
Trong
khi đọc bài kệ, Tuệ Trung có ý thức gợi bảo, giải thích
cho học trò biết, đã là đạo thì không thể dùng ngôn ngữ
diễn tả được. Qua lời giải thích trên ta thấy Tuệ Trung
đã dùng ngôn ngữ can thiệp vào quá trình giác ngộ.
Phương
pháp giác ngộ của Trần Thái Tông, Tuệ Trung cũng là của
Thiền tông Việt Nam đều chủ trương dung hoà giữa đốn
và tiệm, kết hợp giữa thiền và giáo ... nghĩa là dựa vào
căn cơ của từng người, “tuỳ bệnh cho thuốc”. Phương
pháp này là cơ sở để thực hiện chủ trương không chỉ
giác ngộ cho mình mà còn giác ngộ cho người khác. Tuệ Trung
viết:
“Giác
ngộ cho mình và giác ngộ cho người vượt khỏi đường mê”.
(Giác
tha, giác tự bất mê đồ). (8)
Chủ
truơng không chỉ giác ngộ cho mình mà còn giác ngộ cho mọi
người của Tuệ Trung nói riêng, của Thiền Việt Nam nói chung
góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam có sắc thái riêng. Điều
này hoàn toàn không có trong Thiền Trung Hoa trước và sau Huệ
Năng. Ở Trung Quốc từ Bồ Đề Đạt Ma đến ngủ tổ Hoằng
Nhẫn, các thiền sư thường ẩn tránh trên núi cao, hoằng
pháp trong im lặng, ít được quần chúng biết đến. Từ sau
Hoằng Nhẫn, vì tín đổ đông đúc, các thiền đường không
đủ chỗ cho việc tu hành, khi ấy việc hoằng pháp mới hướng
ra bên ngoài vào các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, phuc
vụ cho người tu hành. Việc làm này là do nhu cầu giải thoál
của những người tu hành chứ không phải phục vụ giải
thoát cho mọi người. Nói cách khác, phương pháp ngộ đạo
của Huệ Năng nói riêng, của Thiền học Trung Quốc nói chung
là tu luyện, nhằm cải tạo, khắc phục hoat động tâm lý,
tinh thần của cá nhân theo yêu cầu giải thoát của đạo
Phật.
So
sánh phương pháp giác ngộ của Thiền Việt Nam với Thiền
của Lục Tổ Huệ Năng, ta thấy mặc dù cùng một nguồn gốc,
nhưng Thiền Việt Nam khác hẳn Thiền Trung Hoa. Trong khi Thiền
phái Huệ Năng tuyệt đối hoá đốn ngộ dẫn đến phủ nhận
những tri thức khác, thì Thiền Việt Nam lại dung hoà nhiều
phương pháp tu. Phương pháp giác ngộ của Huệ Năng tuy siêu
việt nhưng lại không phổ biến, nếu không muốn nói là cực
đoan. Tư tưởng trên của Huệ Năng đã được nhà nghiên
cứu Thiền học Suzuki đề cập đến trong Thiền luận thông
qua cuộc đối thoại giữa Chí Thành (học trò Thần Tú) với
Hluệ Năng. Một lần Huệ Năng hỏi Chí Thành: Thầy ông dậy
như thê nào? Chí Thành đáp: Thầy tôi dậy phải chặn đứng
các tư tuởng trong tâm và ngồi im quán tưởng, ngồi không
nằm. Nghe xong, Huệ Năng nói, phép giới, định, tuệ của
thầy ông dùng tiếp hàng Đại thừa, còn giới, định, tuệ
của tôi tiếp hàng tối thượng thừa.
Thiển
Việt Nam tiếp thu và ảnh huởng tư tưởng Thền Trung Quốc,
song đã có sự sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh và con
người. Trong khi Thiền Trung Quốc tập trung cho sự giải thoát
cá nhân nhiều hơn, thì Thền Việt Nam lại chú ý đến sự
giải thoát cho mọi người. Phương pháp giác ngộ của Thiền
Việt Nam là kết quả của sự vận dung tổng hợp các phương
pháp cụ thể: thiền, vong nhị kiến, phá chấp với việc
học tập. Mỗi phương pháp cụ thể có vai trò nhất định,
song giữa chúng lại có quan hệ với nhau rất chặt chẽ trong
quá tình trực nhận bản thể. Như vậy, dung hoà giữa đốn
ngộ và tiệm ngộ, kết hợp chặt chẽ giữa thiền và giáo
(kết hợp gỉữa Thiền với học tập) là bản sắc riêng,
độc đáo trong Phật giáo Thiền tông Việt Nam./.
Chú
thích:
(1),
(2): Theo tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu. NXB Văn học Hà Nội 1995, Tr 645–647.
(3),
(4): Theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam. NXB KHXH Hà Nội 1988,
Tr.226–227.
(5),
(6), (7), (8): Thơ văn Lý-Trần tập 2. Quyển Thượng NXB KHXH
Hà Nội 1988. Tr. 245, 310–317, 286.
(đăng
trong Tạp chí nghiên cứu Phật học – số 6 (62) – 2002)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 204 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân