BA PHÁP
ẤN
Định
Huệ dịch
(Trích
dịch từ Phật Giáo Thiền Học Dữ Đông Phương Văn Minh của
Trần Binh)
Ba
pháp ấn là ba con dấu xác nhận ba giáo nghĩa "Các hành vô
thường, các pháp vô ngã, niết-bàn tịch tịnh" là yếu lĩnh
của Phật pháp. Nội dung này được thấy rất sớm trong phẩm
Tứ Đoạn Ý, KINH TĂNG NHẤT A-HÀM qua bốn nghĩa : "Các hành
vô thường, các hành đều khổ, các pháp vô ngã, niết-bàn
ngưng nghỉ" thành bốn pháp ấn. Về sau, các Luận sư đem
"Các hành đều khổ" sáp nhập vào "Các hành vô thường" thành
ba pháp ấn.
KINH
LIÊN HOA DIỆN ghi : "Tất cả hành vô thường, tất cả pháp
vô ngã và niết-bàn tịch diệt là ba pháp ấn".
LUẬN
THÀNH THẬT nói : "Tất cả pháp vô ngã, các pháp vô thường,
niết-bàn tịch tịnh là ba pháp ấn, tất cả mọi lý luận
đều không bác phá được, vì đó là chân lý".
Ba
pháp ấn hay bốn pháp ấn, chính là chủ đề được các Kinh
A-hàm lặp đi lặp lại nhiều lần, và chúng cũng khái quát
yếu nghĩa của 4 đế, 12 nhân duyên …
1.
Pháp ấn "Các hành vô thường"
Hành
nghĩa là vận động biến dịch. Các hành là chỉ cho tất
cả pháp hữu vi, nghĩa là tất cả các hiện tượng do nhân
duyên sanh, có nương gá, có tạo tác, nói một cách khái quát
tức là năm uẩn, chúng đều vô thường, trước có nay không,
hiện tại có về sau không, tồn tại ở trong sự sanh diệt
biến dịch như dòng nước chảy, ngọn lửa cháy, luồng gió
thổi. Kinh số 456 trong TẠP A-HÀM ghi : "Tất cả hành vô thường,
đều là pháp sanh diệt". Tất cả các pháp sắc, tâm đều
như vậy. Thân thể vật chất thì biến dịch từ trẻ đến
già, còn hoạt động tâm lý thì niệm niệm sanh diệt không
ngừng. Kinh số 289 trong TẠP A-HÀM ghi : "Tâm ý thức ngày đêm
chuyển biến trong từng khoảnh khắc giống như khỉ vượn".
Đây là ấn tượng được cảm nhận trong lúc trực quán các
hiện tượng vật lý và tâm lý con người. Tiến thêm một
bước, vận dụng lý tánh phân tích có thể phát hiện sự
sanh diệt biến hóa xuyên qua mỗi giờ, mỗi khắc, mỗi phút,
mỗi giây, không có thời gian dù một niệm tạm dừng, bất
biến. KINH AN BAN THỦ Ý ghi : "Khoảng thời gian búng ngón tay,
tâm có 960 lần chuyển biến". Phẩm Phân Biệt Nghiệp, LUẬN
CÂU-XÁ nói : "Các pháp hữu vi vừa có liền không. Nếu ở
chỗ này sanh thì ở chỗ này diệt, không cho từ chỗ này
chuyển đến chỗ khác". Phẩm Tứ Đại Tướng, LUẬN THÀNH
THẬT nói : "Vì các pháp niệm niệm diệt nên không cho từ
chỗ này chuyển đến chỗ khác".
Trong
kinh Đại thừa thường đem tính vô thường ngay nơi sanh liền
diệt của vạn vật tỷ dụ như ánh chớp, lửa nháng, sương
mai, bọt nước. KINH KIM CANG nói tất cả pháp hữu vi "như
sương mai, như ánh chớp". KINH LĂNG GIÀ cho rằng các pháp hữu
vi "không thật, mau như điện chớp, thế nên nói là như huyễn".
Phật học nhận thức sâu sắc đến tính biến dịch tuyệt
đối của vạn vật, lóe lên tư tưởng biện chứng pháp thô
sơ ngay ở thời cổ đại.
Nếu
nói pháp ấn vô thường của Phật học chỉ nhấn mạnh một
cách phiến diện về tính biến dịch mà phủ nhận tính ổn
định tương đối của sự vật thì đó là một nhận định
sai lầm. Phật học Đại, Tiểu thừa đều có nói đến hai
đế chân, tục. Hai đế này dung thông mới là chân lý. Về
mặt chân đế, vạn vật tuyệt đối vô thường biến dịch;
còn nếu nhìn từ phía tục đế thì tính ổn định tương
đối của vạn vật cũng chưa từng bị phủ nhận, và gọi
đó là "tương tợ tương tục". Tính ổn định tương đối
"tương tợ tương tục" này là phương tiện tất yếu được
nhận thức ra trong sinh hoạt thế tục. LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ
37 nói : "Vô thường phá chấp thường, chẳng nên chấp vô
thường là chân lý. Sao vậy ? Vì nếu các pháp là tướng
vô thường, niệm niệm diệt thì sáu thức không thể nắm
giữ sáu trần". Ý muốn nói vô thường chỉ dùng để phá
trừ cái chấp lầm vô thường là thật thường bất biến,
chứ không phải phủ nhận mặt ổn định tương đối của
sự vật. Nếu chỉ thấy vô thường thì không thể nào nhận
thức được đúng đắn về cảnh tướng vô thường. Vậy,
cần phải thừa nhận tính ổn định tương đối trước,
rồi mới từ tướng ổn định tương đối này mà nhìn đến
tính biến dịch vô thường của tuyệt đối, như trong KINH
TIỂU PHẨM BÁT NHÃ 3 ghi : "Vì không hoại sắc nên quán vô
thường; vì không hoại thọ, tưởng, hành, thức nên quán
vô thường. Người nào chẳng quán như thế, bị gọi là người
hành tương tợ Bát nhã Ba-la-mật". Ly khai tướng ổn định
tương đối của năm uẩn mà phiến diện chấp lý vô thường
thì bị chê là "tương tợ". (Tợ nghĩa là dường như phải
mà không phải).
Phật
học, từ quan điểm giá trị nhân sinh của tôn giáo xuất
phát, nhận năm uẩn, các hành vô thường là khổ. Kinh số
437 trong TẠP A-HÀM ghi : "Vì tất cả các hành là pháp biến
dịch, nên ta nói hễ có sở thọ thì đều là khổ". Qua lời
Phật dạy, chúng ta thấy chẳng những các khổ thọ trong cuộc
sống con người là khổ, mà ngay cả lạc thọ cũng đều vô
thường nên cũng là khổ. "Các thọ đều là khổ" cũng được
xem như là một pháp ấn.
2.
Pháp ấn "Các pháp vô ngã"
Ngã,
Phạn ngữ : Atman, là một phạm trù trọng yếu của các nhà
triết học Ấn Độ. Ngã bị phủ nhận bởi pháp ấn "Vô
ngã" trong kinh luận Phật giáo, là cái Ngã trên ý nghĩa thực
thể thuộc hình nhi thượng, khác với ý nghĩa tự ngã mang
tính chủ thể và nhân cách trong tâm lý học và luân lý học.
LUẬN THANH TỊNH ĐẠO giải thích nghĩa của Ngã là "tự tại".
Tự tại tức là tự tồn tại không nhờ vào các yếu tố
khác, là chủ tể thực sự thường trụ bất biến. Về sau,
các Luận sư tổng kết Ngã có bốn nghĩa : Thường, nhất,
chủ, tể. Phẩm Ai Thán, KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN ghi : "Nếu
pháp nào là thực, là chân, là thường, là chủ, là y, tánh
không biến dịch thì pháp ấy được gọi là Ngã". Từ Phật
giáo Nguyên thủy cho đến Phật giáo Đại thừa đều nói
thực chất của nghĩa Vô ngã là phá trừ chấp trước nhận
lầm cái thực sự không tự tại là cái Ngã chân thực tự
tại.
Lý
luận chủ yếu của Phật giáo Nguyên thủy dùng để khẳng
định các pháp vô ngã chính là pháp ấn vô thường vừa được
trình bày ở trên. Pháp ấn "Các pháp vô ngã" này nhằm giải
trừ chấp trước năm uẩn là thật, là thường, là tự ngã,
như Kinh số 33 trong TẠP A-HÀM ghi : "Sắc vô thường, vô thường
thì khổ, khổ thì chẳng phải Ngã, không có Ngã thì cũng
không có Ngã sở. Quán như thế gọi là chân thật chánh quán.
Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức vô thường, vô thường
thì khổ, khổ thì không phải Ngã, không có Ngã thì không
có Ngã sở. Sắc chẳng phải là Ngã, nếu sắc là thật Ngã
thì lẽ ra sắc không có bệnh khổ sanh. Vì sắc vô ngã nên
sắc có bệnh khổ sanh. Vậy sắc có bệnh khổ hay không là
do sắc có Ngã hay vô ngã. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy".
Ý nói sắc, thọ, tưởng, hành, thức, các hoạt động sinh
lý, tâm lý không nhận tự ngã làm chủ tể bên trong của
bản tánh mong cầu thường lạc, mà lại mang tính ngoại tại,
tính bất tự tại, do đó, sắc, thọ, tưởng, hành, thức
đều chẳng phải tự ngã thật thường, nếu nhận lầm cái
chẳng phải Ngã này làm chân ngã thật thường thì thuộc
về "điên đảo kiến" trái với chân thật.
Kế
đến, do vì các pháp duyên khởi, nên tất nhiên năm uẩn chẳng
phải Ngã. TỨ BÁCH LUẬN THÍCH nói : "Ngã được định nghĩa
là không nương nhờ vào tha tánh". Sự tồn tại không nương
nhờ vào bất cứ một điều kiện nào mới được gọi là
Ngã. Nhưng tất cả pháp hữu vi đều nhờ duyên mà khởi,
sự tồn tại của con người bất quá là sự tập hợp của
năm uẩn, như KINH TẠP A-HÀM 44 ghi : "Như do các bộ phận hợp
lại thành chiếc xe, cũng vậy, do dựa vào năm uẩn mà có
tên gọi là chúng sanh". Tuy có cái "giả danh" chúng sanh, nhưng
không có một cái chân ngã tự tại không dựa vào duyên mà
tồn tại. KINH TẠP A-HÀM 12 tiến thêm một bước phân tích
năm uẩn của chúng sanh, mỗi uẩn đều vô thường. Sắc vô
thường, hoặc nhân hoặc duyên sanh ra sắc, chúng cũng vô thường,
nhân vô thường, duyên vô thường thì sắc do nhân duyên sanh
làm sao thường được ! Bốn uẩn thọ, tưởng, hành, thức
cũng vậy. Nhận lầm năm uẩn vốn nhờ vào duyên mà tồn
tại, không tự tại, vô thường làm tự ngã chân thường,
thì bị gọi là "điên đảo kiến". Từ chấp ngã sanh ra chấp
ngã sở, rồi hướng ra ngoài tìm cầu, nuôi lớn phiền não,
tự tư tự lợi. Đây là nguồn gốc khiến cho con người bị
trôi lăn trong sanh tử và đây cũng là cội rễ của các vấn
đề xã hội. Phật giáo cực lực đề xướng học thuyết
Vô ngã cốt dạy người quán chiếu đúng như thật, dùng lý
tánh làm mỏng đi ngã chấp, bớt đi phiền não.
Phật
học gọi thật tánh của pháp hữu vi vô ngã là "Không", như
phẩm Tà Tụ, KINH TĂNG NHẤT A-HÀM ghi : "Vô ngã tức là không".
Về sau, ngài Sư Tử Khải thuộc Đa Văn bộ, trứ tác Luận
Thành Thật, nói nghĩa KHÔNG có hai tầng : Không có thật ngã
trong thân tâm chúng sanh do năm uẩn hợp thành, như trong bình
không có nước, chỉ có uẩn, không có ngã, hoặc không có
ngã trong uẩn, cho nên KHÔNG. Lại quán ngay chính năm uẩn cũng
đều duyên khởi vô thường, như chính bản thân cái bình
cũng không, năm uẩn đều không, cho nên KHÔNG. Nghĩa KHÔNG
này được các tông phái Đại thừa phát huy thành Nhân vô
ngã và Pháp vô ngã, hoặc Nhân không, Pháp không. Nhân vô ngã
hoặc Nhân không nghĩa là cái Ngã mà chúng sanh lầm chấp thật
ra là Không, chỉ có căn, chỉ có cảnh, chỉ có thọ do căn
và cảnh tiếp xúc sanh, chỉ có tâm do căn và cảnh tiếp xúc
sanh, chỉ có chấp ngã, ngã tưởng, chỉ có chấp ngã, ngã
kiến, chỉ có ngã, ngã ngôn thuyết, ngã hý luận. Trừ bảy
điều này ra, ngã tướng hoàn toàn không (LUẬN DU GIÀ SƯ ĐỊA
55). Cái Ngã mà chúng sanh chấp đó vốn Không, chỉ có sự
tập hợp của năm uẩn và
tâm
chấp trước lầm lạc, cho nên nói là Nhân vô ngã, Nhân không.
Pháp vô ngã, Pháp không là chỉ cho mọi hiện tượng, chẳng
những bao quát thân tâm chúng sanh mà còn bao quát tất cả
các pháp hữu vi cấu thành thế giới vật chất, còn bao quát
cả pháp vô vi như Phật, tịnh độ, niết-bàn … cho đến
cả bản thân của quan niệm KHÔNG, hết thảy đều vô ngã,
đều KHÔNG. LUẬN DU GIÀ SƯ ĐỊA 46 ghi : "Tính vô ngã trong
các pháp nghĩa là trong tất cả sự ngôn thuyết thì tất cả
ngôn thuyết tự tánh các pháp đều không". Ý nói tất cả
các hiện tượng được biểu đạt qua ngôn ngữ khái niệm
đều phải có chỗ nương tựa để tồn tại, không phải
thật sự tự tại. Ngay cả pháp vô vi, trong khái niệm, cũng
dựa vào sự đối đãi với pháp hữu vi mà lập. Đối với
tất cả các khái niệm phân biệt này, kể cả khái niệm
Vô ngã, KHÔNG, cũng không phải không có chỗ dựa, ít nhất
là dựa vào sự phân biệt của ý thức con người mà sanh,
cho nên đều Vô ngã, KHÔNG. Có thể nói thuyết Vô ngã này
đã phát huy triệt để pháp ấn "Các pháp vô ngã" của Phật
giáo Nguyên thủy.
Phật
học luận về "Các pháp vô ngã" còn có ý phê phán hữu ngã
luận, hữu thần luận của Bà-la-môn giáo. Theo quan điểm
Phật giáo thì tạo vật chủ Tự Tại Thiên của giáo thuyết
Bà-la-môn và quan niệm thần ngã là linh hồn của cá nhân
làm ông chủ ở bên trong thân xác, đều thuộc về tà chấp
"ngã kiến". Sở chấp của họ chắc chắn không phải là cái
Ngã chân thường. Vì muôn pháp từ nhân duyên sanh, nên đâu
có chỗ cho Tự Tại Thiên làm tạo vật chủ sanh ra muôn vật
! Vì năm uẩn đều duyên khởi vô ngã, nên không có một thần
ngã thật thường trụ ở bên trong thân. Kinh luận Đại, Tiểu
thừa có không ít lời phê phán đối với Tự Tại Thiên luận
và Thần ngã luận.
Phật
học đề cao vô ngã, là từ góc độ chân đế phá trừ chấp
trước của chúng sanh chấp giả ngã làm chân thật, chứ không
phủ định ngã trên ý nghĩa thế tục. LUẬN CÂU-XÁ 30 nói
: "Chấp chân ngã là có thì bị kiến chấp làm tổn thương,
bác tục ngã là không thì làm hỏng nghiệp lành". Nếu trên
ý nghĩa thế tục mà không thừa nhận cái ngã của chủ thể
nhân cách thì sẽ đưa tới bờ vực nguy hiểm là làm lành
không hưởng được quả báo lành, gây ra tác hại trong việc
giáo hóa xã hội. Phật học không tán đồng và bài xích nó
là "ác thủ không kiến". Phái Trung Quán trong Phật giáo Đại
thừa còn nói vô ngã cũng không phải cứu cánh và cần phải
phá trừ. Phẩm Quán Pháp, TRUNG LUẬN nói : "Do vì phá ngã pháp
mà nói vô ngã, Ngã quyết định bất khả đắc, huống là
có vô ngã ? Nếu quyết định có vô ngã thì rơi vào đoạn
diệt". Ý nói thuyết vô ngã chỉ là pháp phương tiện dùng
để phá chấp "nhận giả làm chân", nếu vì thế mà xác lập
một cái "vô ngã" làm chân lý tuyệt đối thì lại đi tới
một cực đoan khác, rơi vào hầm sâu tà kiến "Đoạn diệt
luận". Do đó, vô ngã chẳng phải là nghĩa lý rốt ráo của
Phật pháp. Nghĩa lý rốt ráo của Phật pháp nói chỉ thú
cứu cánh của vô ngã là khẳng định có "đại ngã" chân
thường tự tại, "Phật tánh chân ngã", kinh điển hệ Đại
thừa Như Lai Tạng trình bày trực tiếp nghĩa này, như phẩm
Ai Thán, KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN ghi : "Chỉ đoạn trừ chấp
trước, chẳng đoạn trừ ngã kiến. Ngã kiến ở đây tức
là Phật tánh". Thậm chí còn nói "pháp nào chỉ nói vô ngã
mà không nói có Phật tánh chân ngã, thì pháp đó là pháp
bất liễu nghĩa". Phật tánh chân ngã nói ở đây, trên thực
tế chính là niết-bàn đã được Phật giáo Nguyên thủy khẳng
định trong ba pháp ấn. KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN ghi : "Tất
cả các pháp đều không có Ngã, nhưng niết-bàn này thì chân
thật có Ngã".
3.
Pháp ấn "Niết-bàn tịch tịnh"
Niết-bàn
là cảnh giới giải thoát tối cao mà Phật giáo và các tôn
giáo tại Ấn Độ đương thời theo đuổi tìm cầu. Phạn
ngữ Nirvàna, trong kinh luận Phật giáo, nó mang nhiều tên gọi
khác nhau, như PHÁP UẨN TÚC LUẬN, LUẬN TỨ ĐẾ nêu ra đến
66 tên gọi khác nhau của Niết-bàn, đại lược có thể chia
hàm nghĩa thành hai phương diện tiêu cực và tích cực. Theo
nghĩa tiêu cực, nirvàna có nghĩa thổi tan, tắt ngấm, đặc
biệt chỉ cho sự tắt mất vô minh của nội tâm, sự thô
động của phiền não, từ đó chấm dứt sanh tử luân hồi.
Kinh số 18 trong TẠP A-HÀM ghi : "Tham dục dứt hẳn, sân khuể
đã trừ, ngu si đã hết, tất cả phiền não không còn thì
gọi là niết-bàn". Theo nghĩa tích cực, nirvàna biểu thị
công quả thù thắng sau khi dứt hết phiền não, có các tên
gọi khác nhau như : Bất tử, vô bệnh, vô suy lão, thanh tịnh,
giải thoát, bất chung một, cam lộ, quy thú, an ổn, hoàn mãn,
thường hằng … Trong KINH A-HÀM thường dùng cụm từ "tất
cánh tịch tịnh", "cứu cánh thanh lương", "thật cực an lạc"…
biểu thuật cảnh giới niết-bàn. LUẬN THANH TỊNH ĐẠO nói
: "Cái DIỆT này có đặc tướng của tịch tịnh, có tác dụng
của bất tử, hoặc có
tác
dụng làm cho an lạc", "niết-bàn là thường".
Trong
kinh Đại thừa, đem công đức của niết-bàn quy nạp về
bốn đức : Thường, lạc, ngã, tịnh; hoặc tám vị : Thường,
hằng, an, thanh lương, bất lão, bất tử, vô cấu, khoái lạc.
Tóm lại, niết-bàn không ngoài cá thể chân ngã được an
lạc hạnh phúc vĩnh hằng và thanh tịnh. Phật giáo Tiểu thừa
nói có hai thứ niết-bàn là Hữu dư y và Vô dư y. Hữu dư
y niết-bàn nghĩa là người tu hành đời này đã đoạn phiền
não chứng A-la-hán, trên tinh thần được đến giải thoát,
an hưởng tịch tịnh, thanh lương, cực lạc. Dù đã giải
thoát nhưng tinh thần vẫn còn tạm thời nương tựa vào nhục
thân do nghiệp báo đời trước cảm nên, còn có chút khổ
và không tự tại do nhục thân sanh ra. Vô dư y niết-bàn nghĩa
là ly khai vĩnh viễn sự trói buộc của nhục thân do nghiệp
sở cảm, tận hưởng sự an lạc của niết-bàn. KINH BẢN
SỰ ghi : "Lậu tận, tâm giải thoát, còn trong thân rốt sau,
là Hữu dư niết-bàn. Các hành vẫn tương tục, các sở thọ
đều diệt, tịch tịnh mãi thanh lương, là Vô dư niết-bàn".
Đối với A-la-hán, Vô dư y niết-bàn chủ yếu chỉ cho chỗ
quy túc sau khi chết. Tóm lại, hai thứ niết-bàn của Tiểu
thừa đều chỉ mang ý nghĩa cá nhân giải thoát khổ sanh tử
và vĩnh viễn hưởng niềm an lạc, thiên về tự lợi. Vượt
lên trên hai thứ niết-bàn kể trên, Đại thừa còn nói tới
một thứ niết-bàn nữa, đó là "Vô trụ xứ niết-bàn". LUẬN
THÀNH DUY THỨC 10 nói : "Vô trụ xứ niết-bàn nghĩa là chân
như ra khỏi sở tri chướng, thường được hỗ trợ bởi
đại bi, bát-nhã, do đó không trụ sanh tử, niết-bàn, làm
lợi lạc hữu tình tận đến đời vị lai, dụng mà thường
tịch, cho nên gọi là niết-bàn". Ý nói cá nhân tuy được
giải thoát trụ nơi Vô dư niết-bàn nhưng không yên nghỉ
trong cảnh tịch tịnh này, mà phát khởi lòng từ bi, từ thể
khởi dụng, phát huy diệu dụng của bản tánh, phân thân hóa
hiện, đi vào sanh tử cứu giúp chúng sanh không bao giờ ngừng
nghỉ. Tuy vào sanh tử mà siêu việt sanh tử cho nên gọi là
chẳng trụ sanh tử. Tuy nhập niết-bàn mà chẳng hưởng thường,
lạc, ngã, tịnh một mình cho nên gọi là chẳng trụ niết-bàn.
Chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ niết-bàn, nên gọi là Vô
trụ. Dùng tâm vô trụ này hoạt động thường trực cho sự
nghiệp hóa độ chúng sanh.
Theo
đây, Phật học nói niết-bàn, trên thực tế chẳng qua chỉ
cho trạng thái tinh thần sau khi được tịnh hóa, dứt hết
phiền não vô minh và nó được kiến lập theo sự thể nghiệm
chủ quan của người tu hành. Niết-bàn được chứng đắc
từ quá trình tu tập quán chiếu đúng như thật "Các hành
vô thường" và "Các pháp vô ngã". Vậy trong ba pháp ấn, pháp
ấn thứ ba là quả của hai pháp ấn trước.
(Xem
Kinh Pháp Ấn trong số 303)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 01-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 204 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân