-
Kính dâng bài viết nầy như tấm lòng của một người mong
được xem là con thảo lên Chư vị đang mang hạnh nguyện“
Truyền Đăng Tục Diệm” làm lợi ích cho muôn người, cho
Đời và cho Đạo, nhân mùa An Cư Kiềt Hạ.
-
Xin được chia sẻ với tất cả các bạn- Đời hoặc Đạo-
chưa quen, chưa biết mặt hoặc những người đã hân hạnh
được gặp, quen biết.
-
Thương tặng Thanh- người vợ và là người bạn Đạo.
Từ
trên tầng 95 của Nhà hàng nằm trong khu Johnson Hancock, thành
phố Chicago qua cửa kiếng nhìn khung cảnh chung quanh. Kìa bờ
hồ Michigan trải mình bên dưới, nước trong xanh. từng con
sóng nhỏ tắp vào bờ, sủi bọt trắng.
Những
dấu ngoằn nghèo, có những con kiến nhỏ nhiều màu sắc di
động trên các con đường . Chung quanh, những toà nhà cao sừng
sững, vững vàng, hiên ngang, oai vệ dưới bầu trời. Các
cửa kiếng của toà nhà đều đuợc dán màu đen nhạt, nên
nhìn xung quanh tạo cảm giác như nhìn xuống vực sâu.
Phong cảnh thật đẹp, trầm ấm, khoan thai như…
Một
cuộc đời đã mất
dưới
vực sâu u huyền
đá
buồn vì héo hon
biển
reo vì đợi chờ
bàn
tay thảo linh dược
một
thoáng dễ buông lơi
sắc
màu vờn sóng nhỏ
trùng
dương hội biển khơi.
Minh
Thanh
Bữa
cơm thịnh soạn được dọn ra, trình bày rất đẹp, bắt
mắt, nhưng giá tiền lại không vừa. Những người hầu bàn
đi qua lại để phục vụ, thanh lịch, miệng luôn mỉm cười.
Dù sao, nhìn thấy nụ cười nở trên môi mọi người cũng
đủ làm cho thức ăn thêm ngon. Du khách, ai nấy đến đây
đều muốn có cái nhìn quang cảnh xung quanh từ trên độ cao
nầy, để thấy được toàn cảnh thành phố Chicago. Phải
công nhận rằng cảnh quá tuyệt đẹp. Là một người tập
tành viết văn làm thơ, dù rằng văn thơ của mình sáng tác
cũng chẳng ai thèm đọc tới, nhưng trước cảnh đất trời
nầy, lòng tôi cũng thấy xốn xang như muốn tỏ bày một cái
gì đó, nhưng rồi hỡi ơi! văn thơ bay mất.
Gia
đình tôi là một gia đình rất thích du lịch. Năm nào cũng
vậy, khi những cơn nắng hạ lăn mình, tràn lan, và những
trận mưa gàn dở nhảy múa ….có nghĩa là gia đình bắt đầu
hỏi nhau phải đi du lịch nơi đâu và dành nhiều thời gian
để chọn lựa, để đồng ý nơi chốn đến thăm viếng và
quyết định book vé máy bay. Có lúc thì ra nước ngoài, lúc
thì ngoạn cảnh trong nước Mỹ. Có lẽ, một lúc nào đó,
sẽ chỉ còn đi trong nước Mỹ mà thôi và không đi xa được
nữa, nhất là khi tuổi về già…đi đứng sẽ lụm khụm,
đi đâu cũng cần Bác sĩ đi kèm, nhưng không biết “đầu
tiên” có đủ hay không….
Đi
du lịch cũng là dịp sum họp gia đình sau bao ngày tháng học
hành, bận rôn với cuộc sống, cũng là dịp mở mang kiến
thức, chia sẻ sự hiểu biết v.v…du lịch cũng để quên
những bận bịu, bỏ lại những vướng mắc sau lưng trong
một khoảng thời gian nào đó, vì mọi thứ đều ở quá xa,
vượt khỏi tầm tay để giải quyết và cũng để thấy, cảm
nhận được không gian bao la, thời gian thoáng rộng.
Tôi
lần đầu tiên có duyên và đến viếng Chicago. T. thì đã
hai lần đến nơi đây, lần nầy là lần thứ ba. Tôi thì
chắc một lần thôi cũng đủ, còn biết bao nhiêu chỗ phải
đi để học hỏi; đời một người lữ khách vẫn rảo chân
bước không dừng. Chỉ mong rằng “ tâm dừng” nhưng đời
vẫn hoạt hoá để dấn thân vào đời, tùy theo nguyện ước
mà làm một cái gì đó, dù nhỏ nhoi nhưng có ý nghĩa..
Gia
đình tôi có mặt tại khu Navy Pier vào buổi chiều, ngập bóng
người. Dân địa phương cùng du khách đổ về trên bến cảng
nầy vui chơi, ca hát và chờ đón xem bắn pháo bông, nổ tỏa
sáng rực cả bầu trời, khoảng nửa giờ đồng hồ. Phong
cảnh chung quanh nhộn hịp, dòng người đổ càng lúc càng
đông, những bước chân dồn dập, chen lẫn nhau trên con đường
dọc theo bờ hồ, đủ màu sắc.
Tôi
chợt nhớ đền bản nhạc “Chiều trên bến Tam Giang” của
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Ở nơi đây không có cảnh chờ
đợi, ngóng trông bồi hồi của người con gái đối với
người yêu, người lính chiến đang xông pha ngoài mặt trận,
để lòng có nhiều nổi lo âu…” chợt nghĩ đến anh, chợt
nghĩ đến những điều không dám nghĩ…”. Một tấm lòng
quá đẹp, có lẽ trong một bản nhạc không thể chuyên chở
đủ hết chiếu sâu đại dương của nổi lòng đó! Biết
bao nhiêu sự cách xa đau lòng đã xẩy ra thường trực trong
thời chiến, mà bút mực viết hoài vẫn chưa dứt. Quê hương
tôi, chiến tranh nồi da xáo thịt đã qua rồi. Tuy nhiên, có
lúc tưởng chừng như đời sống sẽ bình yên, mọi người
Việt sẽ được sống trong an bình, no ấm, tự do v.v…làm
lại cuộc đời, để bù lại cho sự chết chóc hy sinh của
biết bao nhiêu triệu sinh mạng, bao nhiêu tài nguyên, trí tuệ..
của cả một dân tộc, cho một chủ nghĩa ngoại lai. Nhưng
cho đến giờ phút nầy, người Việt vẫn còn nhìn nhau nhưng
trong chia cách, ngờ vực, do bởi đâu?
Bến
cảng nầy chỉ đón chào những niềm vui, những nụ cười,
những ly cà rem nhiễu chảy, những chiếc bong bóng nhiều màu
bay ngập ngừng khỏi đầu người, những tiếng náo động
do số người đông đúc, những tiếng nhạc mang nhiều bản
sắc, những trò biểu diễn v.v..
Chicago
có nhiều cảnh đẹp và nhiều nơi chốn cần đến tham quan
để thưởng thức những nét đẹp của thiên nhiên và các
của công trình do con người phối hợp, tạo dựng. Ai chưa
đến, cũng nên đến một lần để chiêm ngưỡng dung nhan
của thành phố nầy.
Hồ
Michigan trong xanh, hiền hoà, màu xanh biếc. gió từ khơi thổi
vào. Bây giờ, đã tháng 6 mà gió thổi cũng vẫn còn mang hơi
lành lạnh. .. dù không khí trong lành, dễ chịu. Tôi chợt
nhớ đã đọc được ở đâu đó vài câu hỏi nho nhỏ:
“
Người bạn đố mọi người biết nước biển màu gì?
-
tại sao ta lại nhìn thấy nước biển có màu xanh???
----------
Nước
biển không màu nhưng càng sâu bao nhiêu nước biển càng xanh
bấy nhiêu...
Nước
mưa không màu nhưng mưa càng to nước mưa sẽ thành màu xám
bạc...
Nước
mắt không màu nhưng nước mắt càng rơi sẽ thành màu sương
khói...
Mồ
hôi không màu nhưng mồ hôi rơi xuống ruộng sâu mồ hôi sẽ
thành màu nâu đất...” ( Sưu tầm )
Ngồi
trên chiếc du thuyền Odyssey trôi nổi trên bờ hồ Michigan.
Con gái tôi đã đặt chỗ trước cho gia đình để vừa thưởng
thức bữa ăn Brunch, cùng thưởng thức nhạc và ngắm cảnh.
Tuy
thức ăn là lạ, đơn giản nhưng ăn thật ngon, có thể vì
không khí nhộn nhịp lẫn êm đềm trong khoang thuyền như có
cái gì rất lạ, rất quyến rũ. Những cơn sóng mấp mô đập
vào mạn thuyền, vờn mình, theo đuổi, ngẫng đầu trắng
xoá. Tiếng nhạc trổi lên của hai nguời nhạc sĩ: một với
chiếc đàn guitar, một với chiếc Keyboard hoà lẫn nhau, thật
thoải mái, ngang dọc..Lời ca, tiếng nhạc chảy róc rách làm
tâm hồn sảng khoái.
Mọi
ưu phiền một lúc nào đó quên lãng, những nhăn mặt nhíu
mày biến mất, nụ cười hớn hở trên môi hiện rỏ trên
gương mặt của mọi người.
Cùng
chạy lên sân thượng của du thuyền Odyssey. Ồ! Cảnh Skyline
hiện rõ mồm một. sừng sững những toà nhà cao ốc, cao thấp
xen kẻ ẩn trên nền trời trong xanh. Chung quanh nhiều chiếc
du thuyền khác xuôi ngược, phơi mình trên mặt nước. Trời
xanh, nuớc xanh…sâu thẳm, bung ra như làm cho không gian lớn
rộng, không biên giới. Nhịp thở của trời đất cùng nhau
hoà hợp…
Mênh
mông là nước, xanh xanh sâu lắng, cười đùa. Vung tay là nước,
cười ra nước, hồn của nước non. Giữa khoảng không nầy,
không gì có thể bám víu.
Trong
cuộc đời, có nhiều khi chúng ta rơi vào dòng nước chảy,
dù hồ, dù biển bao la, dù sóng ngùn ngụt…và giữa biển
đời không chỗ nương thân cho cái tâm lăng xăng, có người
thấy cô đơn, có người cười ra nước mắt, có người trở
nên thầm lặng, rút thân về tâm…để nhìn ngắm mây trời
thênh thang. Có người điên cuồng, lao vào vòng xoáy để tìm
những ngày đã mất, để vọng tuởng về một tương lai xa
gần nào đó với những hy vọng. Chúng ta lao đi như mũi tên
bắn vào khoảng không và tự lòng rơi vào tê tái, buốt giá,
trống rỗng, vì thực ra trong tâm vẫn đầy là những nội
kết, ưu phiền đã quấn ta trong đau khổ.
Chúng
ta có không gian chung quanh và có quá đầy đủ, nhưng trong
tâm ý riêng lại luôn cho rằng không gian mình chật hẹp. Cho
nên, đòi hỏi không gian phải lớn hơn, phải rộng hơn vì
đó là bước đuờng cần phải đi, phải chiếm đoạt v.v…để
che lấp cho sự trống vắng của tâm hồn, trong lúc chỗ đó,
nơi đó cũng chứa đầy những tầm thường của thuờng nhật
được ta dán tên lên thành những gì cao đẹp. Đó là nổi
ao ước trầm luân của con người không có nhìn thấu triệt
về thực tại. Thực tại của vị lai không có, thực tại
của quá khứ không còn, chỉ còn chỗ "không “ là thực
tại, vì bao chứa tất cả.
Máu,
mồ hôi, nước mắt hay là những gì đi nữa theo sau những
mơ ước và ước mơ, chưa chắc hoặc chưa hẳn là những
gì bao chứa của thực tại.
người
vẫn thế trong niềm mê dại
buổi
chiều hoang, mưa bước nhẹ nhàng
nắng
có thể hình thành ma quái
trong
mắt ngời vẫn có sao rơi
Tự
tình xưa vang bóng con người
dòng
nước vỡ lung linh ánh nguyệt
đời
một đến, bao lần giả biệt
bóng
chim trời vắng mất trên không
Minh Thanh
Một
trong các bản nhạc của nhạc sĩ tài ba Trịnh Công Sơn, trong
lúc nầy đây, lại vang lên trong tôi ca khúc “ Biển sóng”.
“ Biển sóng , biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngả
dưới tim người…ngả dưới chân đồi”.
Có
thể vì nhìn chung quanh thấy đâu đâu cũng biển, cũng màu
xanh…Biển sóng lại tượng hình theo bản nhạc. Lời ca da
diết như tiếng thở, tiếng rên. Ai có thể xô chúng ta ngả
gục đầu trong cuộc đời nầy. Chỉ có chúng ta mơ màng theo
hình theo bóng, đuổi bắt những mờ ảo và để rồi vụt
mất, bay xa. Lời ca ảo não, rào rạt, bức xúc như lời tâm
sự. Dù chúng ta có kêu gào, than thở, chờ mong, nhưng biển
sóng vẫn vô tình, thản nhiên đưa đẩy mọi người theo dòng
đời, do chuyển lực.
Biết
cuộc đời là khổ. Đó là một nhận thức phải tiếp cận,
đi vào và cần chuyển hoá. Bên kia cái khổ hay nói đúng hơn-
bản chất của khổ là Hạnh phúc. Chúng ta không thể tìm
thấy Hạnh phúc bất cứ nơi nào nếu không chuyển hoá cái
khổ. Có người không hiểu, dán cho nhản hiệu là «
thú đau thương », quên rằng do những cảm xúc bùng nổ đó
có thể làm hũy hoại đi cái « bản tâm ». Tiền tài, danh
vọng, tình yêu v.v…có thể đầy con người đến chỗ bế
tắc, sa đọa, tranh giành, đấu tranh, chán nản, đau khổ …nhưng
cũng từ chất liệu đau thương nầy hay là bản chất thường
tình của con người, dấy lên cuộc cách mạng tâm linh quan
trọng chuyển đổi đời người qua sự chuyển hoá, chuyển
tâm, dấn thân làm lợi ích vì con người, vì các khổ nạn
đối diện.
Mỗi
người đều có cái khổ. Khổ thân, khổ tâm, khổ vì «
bốn đại không điều hoà », khổ Đạo, khổ đời, khổ
gia đình, khổ chồng vợ, con cái, thân bằng quyến thuộc,
gia tộc, bạn bè…Cái khổ đeo dai dẳng như hình với bóng.
Có người đời sống tương đối hạnh phúc, an lạc, nhiều
điều kiện thuận lợi so với biết bao nhiêu người khác,
nhưng cũng ráng tạo ra cảnh khổ cho mình, cho người thân
v.v. để có cái khổ mà mình mong muốn, để gọi đó là cuộc
đời « C’est la vie » hay « It is life » cho thêm phần
nghiêm trọng.
Khi
cái tâm bất an, lăng xăng chạy nhảy, chúng ta lại vô tình
hay cố ý tạo ra những tình huống khổ đau cho mình, cho người.
Chúng
ta có thể nói rằng những thứ như: tài sắc danh thực thụy-
cái cốt lõi của con người bình thường- là vô nghĩa trong
cuộc đời đối với ta, bởi vì trong tay mình chưa nắm, chưa
có được gì hết. Cũng như khi có đầy đủ tiền bạc, có
sức khoẻ, có đủ thứ… ta rất dễ đại ngôn, lên cao vút
tận mây xanh như một bậc thượng nhân thứ thiệt, «
tám ngọn gió không xoay chuyển được mình » ( trong lúc chỉ
một ngọn gió bất thường thổi qua, lại nhảy mũi, cảm
mạo). Trong lúc, thực tế rất quan trọng là chúng ta
có dám chuyển hoá, chuyển thành phương tiện thiện xào có
ích cho thân - huệ mạng của mình và người. Đó chính là
sống thực.
Đừng
bao giờ cho rằng tôi không bao giờ bệnh, không có đau khổ
v.v…khi mỗi ngày mình lại sống, ăn uống đầy đủ bổ
duỡng. Đừng bao giờ cho rằng mình thấy xót xa, đau khổ
của người, trong lúc mình chưa bao giờ cảm nhận được
đau khổ đó như thế nào, để cảm thông, chia sẻ. Đừng
bao giờ để một lúc nào đó, thân sẽ hỏi tâm rằng : “
Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai?”= Hỏi rằng : Khách nầy
từ đâu đến vậy ?.( 1 ) . Thân còn không biết mình là ai,
rất xa lạ. Who are You ? Vậy mình ai giữa trời đất nầy
?
Hãy
nhìn những người dân của đất nước Iraq. Họ sống không
có một chọn lựa, chết chóc xảy ra từng giờ từng ngày
và không thể kiểm soát được. Họ đau khổ, than khóc, mất
nhà mất cửa, mất tất cả và còn chăng- chỉ là tiếng khóc
nhức buốt tự cõi lòng. So với nổi thống khổ của họ,
chúng ta có thấm thía vào đâu mà lên giọng làm tàng là mình
« đau khổ cùng mình ».
Một
tháng trước đây, tôi thỉnh được một tượng Phật Thích
Ca cổ bằng gỗ. Tượng ngồi kiết già, an nhiên tự tại,
to cao lớn như một người khổng lồ. Lớp sơn ngoài đã tróc,
sần sùi, còn in dấu màu vàng thếp. Gương mặt Tượng thật
là đẹp, hiền hoà. Hiếm thấy một Tượng nào được dáng
dấp, gương mặt, mắt mũi, nụ cười, tư thế v.v…như vây.
Thực sự cũng không biết Tượng được tạo vào niên đại
nào, tuy nhiên, nhìn ngắm Tượng thì biết là Tượng rất
là xưa, xưa lắm và làm cho người chiêm bái cảm thấy sự
an lạc, ấm cúng, vì từ Tượng như chứa đựng muôn vạn
lời Kinh, bao tâm thành của khoảng thời gian nào.
Trong
căn phòng vừa là thư viện vừa là chỗ thờ Phật, thờ Tổ
Tiên. Với lòng tôn quí, nên tôi thấy cần phải an trí Tôn
Tượng Ngài cho trang nghiêm, cho nên việc đầu tiên là phải
dời một kệ chứa sách để có khoảng trống cho Tượng.
Sau khi đã an vị Tượng và khi sắp xếp lại tủ sách cho
gọn gàng, thứ lớp, ngay ngắn. Bỗng một Tượng Phật khác,
chỉ là mặt Đức Phật được nung đúc bằng đá đỏ, cứng
chắc như khối đá, nặng khoảng 1 kg từ trên kệ sách thứ
5 rơi xuống. Chắc chưa có ai bị búa đập đầu, vì nếu
đã từng bị thì sẽ biết cái đau như thế nào. À quên,
nếu búa đập đầu thì đã sống dưới lòng đất rồi, đâu
còn nói điều gì nữa. Có lẽ Tượng Phật đã chờ đúng
thời tiết, đúng nhân duyên…để rơi trên đỉnh đầu của
tôi, chứ không thèm rơi vào chỗ khác.
Đau
quá, thật là đau kinh khủng. Tôi ngồi bệt xuống, người
tôi hoàn toàn bần thần, choáng váng, mất định tâm, đầu
tê rần rần, cứng người. Nuớc mắt tự nhiên chảy xuống,
tôi ráng sức lấy đôi bàn tay xoa xoa vào chổ đau, vừa niệm
chú, niệm Phật. Sợ bị bể sọ đầu. Không lẽ mình ra đi
bây giờ, chứ sao người như bị tê dại. Ai mà chết lãng
nhách như vậy. Chết phải chết đàng hoàng cho ra vẽ, chứ
ai lại chết vì Tượng Phật rớt trúng đầu, mắc cở lắm.
Hay là mình sẽ bị điên, bị tửng tửng, nhưng nghĩ cũng
không được nữa. Dù sao, đường đường là thân «
nam nhi chi khí », vào ra cữa nhà, í quên « vào sanh ra
tử », ai lại bị ra đi một cách vô duyên quá vậy.
Tôi
chợt nhớ người chị ruột, lớn nhất nhà. Lâu lắm rồi,
cả mấy chục năm đã qua. Trong một lần chị em giỡn
nhau, tôi chạy trước, còn chị thì chạy đuổi theo sau, vô
tình tôi làm rớt đồ và từ trên cao, chiếc bình bông bằng
sứ đang đuợc trưng trên kệ bị rơi xuống, đúng ngay đầu
chị tôi. Chị khóc tức tưởi, ôm đầu, kêu đau. Tôi chỉ
biết nói : « Xin lổi chị » và thôi. Có lẽ lúc đó còn
nhỏ quá, mới 10 tuổi đầu, nên không ý thức được sư
nguy hiểm hay đau của cái đau bị đồ vật nặng rơi xuống
đầu như thế nào, nên trong bụng cũng còn nghĩ là chị cũng
làm bộ nữa. Một ý nghĩ vô cùng xấu, sai lầm. Vì sau đó,
mỗi lần trở trời, mưa gió, chị tôi hay bị đau đầu ?
Nay, chị đã không còn nữa. Duyên chị em ruột thịt chỉ
còn có trong một đời nầy và những kiếp sau, ai biết được
?
Nay
ngồi đây, đau đớn vì bị khối đá nung rắn chắc nầy
rơi xuống đầu, tôi mới cảm thấy thấm thía cơn đau mà
ngày xưa chị bị và chịu đựng. Chỗ bị thương, sưng vù
lên, đè xuống chút xíu, sọ đầu bị lõm. Gặp vợ con tôi
đi chợ về, tôi vội nói là vừa bị Tượng Phật rớt trúng
đầu, tưởng chết rồi, nhưng đừng nói ai biết, kỳ lắm…
Thanh- vợ tôi, sợ hãi, chạy vội đến, lấy tay sờ lên đầu
để xem xét. Hai đứa con thì lo lắng, muốn đưa tôi đi bệnh
viện để chụp hình đầu, sọ xem sao, có nức hoặc bễ sọ
không, có bị máu bầm trong não không ?….Tôi nói chắc không
sao đâu, vì hiện giờ thì rất tỉnh táo. Có gì, thì đã
bị hôn mê rồi.
Nhìn
những người thân lo lắng, sợ sệt…khi biết tôi bị như
vậy, lòng chợt dâng nhiều xúc cảm. Gia đình tôi là vậy,
nổi đau của người nầy chính là niềm đau của người,
chia sẻ từng chút một, từ tâm tình cho đến cuộc sống.
Chứ nếu mà thấy bị đau mà cười thì có mà chết. Ai đâu
cười trên sự đau khổ của người khác, phải không ? Nhất
là người đó lại là thân của mình. Người ngoài mình không
dám làm vậy, huống chi là người nhà, tàn nhẫn lắm…. «
Người cười khi thấy tôi đau. Tôi đau khi thấy người đang
mỉm cười ». May mắn là gia đình ai nấy đều lo lắng, quan
tâm đến.
Tuy
nhiên, cho đến hiện giờ, chỗ sưng đã không còn, nhưng chỗ
lõm trên sọ vẫn còn đó. Sờ nhẹ lên trên, người như bị
nổi gai, tê rần ? Khi trời mưa gió, người hơi bị tê, đầu
nặng. Chắc không đến nổi nào? Chắc không sao ? Dù gì thì
cũng đã mãn nguyện khi sống rồi, chỉ mong rằng khi mình
ra đi biết trước ngày giờ để sắp xếp mọi chuyện, để
cám ơn mọi người, để nhiếp tâm cho hướng đi mới.
Nhìn
dòng nước chảy, xanh biếc, bập bềnh theo thủy triều lên
xuống, hiện rõ bóng dáng vô thường của cuộc đời. Sự
vô thường làm cho cuộc đời thật đẹp, đẹp hơn, vì sẽ
mang lại cho chúng ta sự trân quí cuộc đời nầy và sẽ sống
sao cho ý nghĩa….
Có
một bài thơ được sáng tác vào năm ngoái 2006, khi quán chiếu
thấy cuộc đời huyễn mộng. Có những thứ vượt khỏi tầm
tay, xa rời, không thực. Cảm nhận đầy đủ sự vô thường
của đời sống, tâm tôi thắt lại, bóp nát rơi rụng những
vần thơ tuôn chảy :
Đứng
ngắm bên đời, trường ảo mộng
Hàng
cây núp bóng, tuổi thơ ngây
Bao
năm chăm sóc tình ươm mộng
giọt
nước đêm trăng vẫn lặng lờ…
Những
buổi chiều hoang, mây lặng lẽ
Lá
cây vàng điểm, lá vàng cây
Vi
vu gió thổi muôn trăng rụng
từng
sóng vô thường chở ánh trăng…
(
Trích : « Bên đời- Từng sóng vô thường chở ánh trăng »
của Minh Thanh )
Trong
một bài kinh, Đức Phật cho ví dụ về cái thân xác như là
ta có 4 bà vợ : có bà vợ được ta săn sóc, nâng niu, lo lắng
từ cái ăn, cái mặc. Có bà vợ được săn sóc về sức khỏe,
bệnh hoạn v.v…Nhưng tất cả sẽ rời bỏ ta đi như một
cơn gió thoảng, để tìm một thân hình mới, đẹp, trẻ trung
hơn. Còn thân chúng ta hiện giờ thì già cỗi, héo tàn theo
gió bụi phong sương, theo thời gian dài chồng chất. Chúng
ta nghĩ sao khi một lúc nào đó, được báo động rằng : «
Thôi bye bye nhé. You già rồi, tôi cần một thân xác khác,
mới lạ, đẹp hơn You nhiều lắm… ».
Những
lời nói được xuất phát từ cái thân mà chúng ta đã bao
năm săn sóc, cúc cung, tận lực, phục vụ…bằng tất cả
tấm lòng thương yêu, quí mến và giờ đây, muốn từ giả
ta ra đi, vì lý do nầy hay lý do khác… « Không. Không.
Tôi không còn, tôi không còn yêu You nữa You ơi ! » ( Xin lỗi
Nhạc sĩ Nguyển Ánh Chín vì đổi lời nhạc « Không
» ). Thật là thấm thía. Thật là chua xót….cho cái sự vô
thường, biến đổi nầy. Có phải bên đời nầy là một
trường ảo vọng, nối tiếp, biến chuyển. Sau lớp cây già
vẫn còn ẩn tàng của tuổi thơ năm nào, đã được chúng
ta chăm sóc, yêu thương, dung dưỡng, nhưng rồi chỉ như là
dòng nước vô tình, vô thường lặng lờ chở ánh trăng.
Chấp
vào thân, chấp vào những gì mình sở hữu, vào những nội
kết giăng bủa bước chân, vào những tấm lòng đối xữ
tương duyên qua bao thời gian đi theo v.v…chúng ta sẽ đau khổ.
Dù chúng ta có kêu gào, có đập đầu vào gối khóc than, có
uống nước ngọt Coca Cola để tự tử ( Ghi chú: Người
bị tiểu đường uống không đưọc nước ngọt), dù
có xức dầu cù là, dầu xanh vào mắt cho nước mắt chảy
xuống ròng ròng cho tha thiết, ỉ ôi…nhưng tất cả sẽ phản
bội ta để ra đi khi đúng thời gian.
«
Ôi đời người, chỉ dài có một hơi thở ».
Thở vào mà không thở ra, thì đời sẽ có muôn màu, muôn
sắc bong bóng, vì hoa mắt, ngộp thở và nhắm mắt xuôi tay.
Chết sẽ không còn thở và nằm im, bất động và có bị
thọt lét cũng không thèm cười. Không ai vực dậy một thây
ma đã chết để luyến thương, tiếc nuối, để làm những
trò hề. Chỉ có chúng ta không ý thức được thân mạng cao
quí của con người nên mới làm trò hề trên thân tâm của
mình.
Thời
gian trước, là một người sinh ra trong một gia đình theo Đạo
Phật, bình dân và không hiểu gì về Phật Pháp. Nhưng khi
lớn lên, lúc còn là sinh viên, tôi lại đến với Đạo Phật
bằng sự nghiên cứu và tu học. Khi bắt đầu nghiên cứu
về Đạo Phật, tôi cứ hay bị bâng khuâng, thắc mắc hoài
về Tứ Diệu Đế. Rồi sau đó, khi đọc đến Kinh Pháp Hoa
nói về : « Ba cõi không an giống như nhà lửa », và « Ái
hà thiên xích lãng. Khổ ải vạn trùng ba » cũng như cho đến
khi biết đến câu trong Kinh Bát Đại Nhân Giác : Đệ nhất
giác ngộ:
Thế gian vô thường,
Quốc độ nguy thúy.
Tứ đại khổ không,
Ngũ ấm vô ngã.
Sanh diệt biến dị,
Hư ngụy vô chủ.
Tâm thị ác nguyên,
Hình vi tội tẩu.
Như thị quán sát,
Tiệm ly sanh tử.
lòng
càng mang nhiều nổi ưu tư, muốn đi sâu vào tận suối nguồn
của bản Kinh. Lời Kinh rất rõ ràng, trong sáng, dễ hiểu,
nhưng đi vào nội dung, cảm thấy như cách xa vạn dậm. Tuy
nhiên, càng về sau, khi cuộc đời đã trải qua bao nhiêu phong
trần biến đổi. Quán chiếu lại đời, mới cảm thấy thấm
thía và tường tận về nội dung của Kinh dạy.
Làm
sao biết là khổ, biết là ba cõi không an, hay là…là…khi
mình không nắm bắt được bản chất của cuộc sống. Như
vậy, những gì được diễn tả trong kinh điển không phải
là thực tại, mà chỉ được trình bày, chỉ thẳng đến
tiêu đích, như ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thể nhập vào
thực tại, vào nội dung Kinh, thì phải chứng nghiệm đuợc
lời Kinh. Bằng cách nào ? Bằng hành trì, bằng sống với,
trực nhận với. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi biết
rằng là Đạo Phật là Đạo của thực hành, của sống. Kinh
nghiệm, thực nghiệm, nhận thức, sống thực v.v…là vươn
mình lên trên những nội kết đã bao đời chất chứa, dù
tịnh dù nhơ, dù đau khổ, dù hạnh phúc và từ đó, mầm
sống thực mới có mặt. Đoá sen được mọc lên từ bùn
nhơ và bùn nhơ lại chính là tất cả những nội kết, chất
liệu làm cho bông sen thanh khiết, vi diệu, trong sáng. Không
có những chất liệu nầy, không thể có đoá sen tuyệt đẹp.
Trong
Kinh Phật thuyết Kinh Di Đà, chúng ta nhận thấy rằng chư
Phật trong mười phương đã đồng ca ngợi Đức Phật Thích
Ca là một vị Giác ngộ đã làm một việc vô cùng khó khăn,
hiếm có là vào cõi đời Năm trược: « Kiếp trược, kiến
trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược
», thành Phật và giáo hoá chúng sanh. Nhưng, chúng ta cũng
cần hiểu rằng : Tất cả chư Phật đều thành Phật từ
nơi các cõi khổ đau, bất tịnh. Đó chính là nét đẹp tuyệt
vời của Đức Phật và Đạo Phật.
«
Là đệ tử Phật thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm,
đọc tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại
nhân đã giác ngộ.
-
Thứ Nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, chế
độ chính trị nào cũng dễ xụp đổ, những cấu tạo của
bốn đại [1] đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ,
con người do tập hợp của năm ấm [2] mà có, lại không có
thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không
có thực quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là nguồn suối
phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của
tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được
cõi sinh tử.
-
Thứ Hai là giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng
nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử
đều do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì
không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm
mình được thư thái.
-
Thứ Ba là giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh
lợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi cũng theo đó
mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ Tát [3] thì khác hẳn:
họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với
đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của
mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ.
-
Thứ Tư là giác ngộ rằng tính lười biếng đưa đến chỗ
đọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo,
phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, và ra khỏi ngục
tù của năm ấm và ba giới [4].
-
Thứ Năm là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam
hãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thì thường xuyên nhớ
rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt
được biện tài để giáo hoá cho mọi người, để cho tất
cả đạt tới niềm vui lớn.
-
Thứ Sáu là giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta
sinh ra nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm
những nhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên
tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua
những điều ác mà người khác đã làm đối với mình và
không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác.
-
Thứ Bảy là giác ngộ rằng năm thứ dục vọng [5] đã gây
nên tội lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy là người
sống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục,
thường quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếc
áo cà sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí,
rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để
hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi
để tiếp xử với tất cả mọi người.
-
Thứ Tám là giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho
nên mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy
cho nên ta phải phát tâm Ðại Thừa, nguyện cứu tế cho tất
cả mọi người, nguyện thay thế cho mọi người mà chịu
khổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt
tới niềm vui cứu cánh.
Tám
điều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đại
nhân, Phật và Bồ Tát; những vị này đang tinh tiến hành
đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân
đến được Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độ
thoát cho chúng sinh, họ đều dùng tám điều giác ngộ ấy
để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến chúng
sanh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ
được ngũ dục và hướng tâm vào con đường thánh .
Nếu
đệ tử Phật mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi
khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giác
ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử,
thường trú trong sự an lạc » ( * )
Một
buổi chiều, sau khi đi làm về nhà và ngồi viết những trang
giấy nầy như viết những lời tâm tình. Viết, ghi chú và
đọc lại lại lời Kinh mà năm xưa Đức Phật đã dạy, lòng
tràn trề nổi lòng qui kính, tưởng nhớ đến Đấng Cha Lành
với tất cả tấm lòng yêu thương mà Ngài đối với muôn
loài chúng sanh.
Đức
Phật- Từ tuổi thanh xuân, chứng Đạo quả và suốt những
năm dài trên mọi nẻo đường, một chiếc y, một bình bát…đoạn
đường dài đến 49 năm, dấu chân của Ngài không mệt mỏi,
dù sau nầy thân đã già yếu của tuổi đời 80.
Là
người Phật tử, nhưng đọc lại nhiều bài Kinh, chúng ta
chảy nước mắt. Cuộc đời của Ngài quá đơn giản như
tâm địa bao la của Ngài. Có những bài Kinh kể rằng, sau
khi đi khất thực trở về Tịnh xá, Ngài xúc miệng, rữa
tay và ngồi xuống trên tấm bồ đoàn và những lời Kinh được
giảng ra từ lúc đó, tuôn tràn những trận mưa Pháp. Có những
khi Ngài tự thuyết vì thấy ích lợi cho mọi người, có khi
là thuyết Pháp khi có người thưa hỏi. Tấm lòng đó cao cả
quá, dày đặc như cả vũ trụ bao la, chúng ta lấy gì để
báo đáp ?
Thân
thể do cha mẹ sanh ra, nhưng thân huệ mạng là do những tấm
lòng của những Bậc Thánh nhân đó dạy dỗ, trao truyền.
Ân đức nầy, chúng ta trả ra sao? Những người con Phật,
Phật tử như chúng ta với bao gánh nặng Đạo và Đời trên
đôi vai, do duyên lành từ nhiều đời nhiều kiếp, may mắn
gặp được Phật-Pháp-Tăng và chuyển hoá đời sống của
nội tâm, để mong thoát ra khỏi những đau khổ của kiếp
người, nhưng chúng ta sẽ làm gì cho Đời, cho Đạo ?
Trong
cuộc đời hiện tại, chúng ta thừa hưởng và có quá đầy
đủ về mọi mặt. Về vật chất, chúng ta sung sướng hơn
người xưa cả vạn lần, thần thông biến hoá đủ thứ được
xử dụng trên cõi đời nầy, muốn gì có đó ; nhưng tâm
hồn chúng ta thì sao ?
Có
nhiều người nói về tôi rằng không hiểu biết về Phật
Pháp. Cuộc sống anh đầy rẫy sự vuớng mắc, chấp trước
từ vợ con, danh vọng, tiền tài, nhà cao cửa rộng, tham sân
si còn đầy đủ v.v. và v.v., thì làm sao mà tu ? làm sao mà
làm lợi ích gì cho con người ?
Thưa
vâng, những lời nói đó thật đúng hoàn toàn. Đã bao lần,
trong cuộc đời, đối diện hay gặp phải nhiều giông bão,
mưa gió. Đây là nói về những gì xẫy ra trong đời sống,
chứ không phải là mưa bão hay giông tố mưa to của thời
tiết, vì nếu là giông bão thì tôi đã di tản đi nơi khác
để lánh nạn rồi hoặc nếu bị mưa to gió lớn thì đóng
cữa ở trong nhà cho yên thân. Nhưng đây là nói về những
xáo trộn của nội tâm, của đời sống, những bất
hạnh đổ ập tới ….tôi có đủ cả những thất tình lục
dục để đối đải, để đau khổ, để xúc cảm v.v..nhưng
tự trong tâm lại buông những lời thành tâm sám hối. Sám
hối những gì tôi đã gặp phải trên đường đời. Sám hối
những đau khổ, đắng cay, chua xót… mà có những người
đem đến cho tôi với tất cả sự thành thật nhất mà mình
có được và cầu xin cho mọi người đều thoát ra khỏi những
nghịch cảnh như tôi đã gặp.
Trong
Pháp thân ( Dharmakaya= Dharma body ) của Phật, bàng bạc thực
tại và là thực tại, là « nguyên ngôn » v.v…có nghĩa đồng
thời tương duyên tương sanh theo Lý Duyên Khởi, cũng có nghĩa
là « Một tất cả, tất cả là một ».
Tôi
có một Đạo Phật của tôi và tôi có quyền đó theo quan
niệm và nhận thức của riêng mình. Trong « vô thức
tập thể = Collective Unconscious » của muôn loài, bàng bạc,
ẩn hiện tánh Phật, một thực tại sáng suốt và tương duyên
tương sinh. Tất cả đều liên hệ lẫn nhau, hổ tương lẫn
nhau và đã bao lần chúng ta cầu nguyện, hồi hướng : «
đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo » hoặc
« tình dữ vô tình, đồng thành Phật Đạo ». Xé lẻ bầu
trời, chia ra làm nhiều mảnh thì chúng ta chỉ có một không
gian nằm trong lòng bàn tay. Hãy để bầu trời mở rộng, bầu
trời sẽ thênh thang, bao la vô tận.
Thời
buổi hiện nay, là thời của thị trường, của marketing. Tất
cả đều cố gắng định số trên data, trên số lượng. Nhìn
bề mặt, đó là khối lượng lớn, nhưng đi vào chiều sâu,
đó là môt sự nguy hiểm. Cái bản chất, cái nội dung là
cái hồn của sự kiện, còn dữ kiện chỉ là một đáp ứng,
có thể đưa đến bội thực….như viên đá rơi trong hồ
nước, làn sóng sẽ lan, lan rộng…nhưng quan trọng vẫn là
bản chất giác ngộ, giải thoát của nuớc.
Bạn
ạ ! Đã bao lần tôi đã chết gục trên dòng sông định mệnh,
dòng sông của cuộc đời, của nội kết, của bao ngày qua.
của những vọng niệm lăng xăng. chết để cho con người
mới sống lại, thay đổi, từng giờ từng phút. chết đi
để những hoạt cảnh cũ sẽ chỉ là những chất duỡng tố
bồi đấp cho dòng sống mới…

Bóng
dáng ai ngày đó
một
thoáng đã qua rồi
người
bao năm bịn rịn
hồn
đầy những mù khơi
Cánh
chim tìm giấc mộng
xoải
cánh trên trời xanh
bông
nở màu muôn thuở
mây
cuối trời ngóng trông.
Minh
Thanh
Là
người con Phật, tôi học hỏi hạnh khiêm cung với lòng trung
thực “có sao, nói dzậy người ơi”. Tôi chỉ là một Phật
tử đơn thuần, giản dị, mộc mạc và không hiểu nhiều
về giáo lý cao xa. Lại là người có gia đình, vợ con, lo
chạy ăn từng bữa. Những lời giảng dạy nào của Thầy
Tổ, của Đức Phật, tôi chỉ tóm lược và áp dụng được
chút nào hay chút đó. Nhớ lời Phật dạy: “ Con hãy là hòn
đảo của chính con” và qua gương hạnh của Ngài, tôi tập
tễnh để bắt chước. Đằng sau cái giả tạo của sự bắt
chước nầy, mong rằng sẽ trở thành nhát cuốc đào sâu vào
nội tâm để trở thành hiện thực.
Bạn
có thể là người thông thái, học rộng hiểu nhiều. Có thể
bạn đang bay bổng trên mọi phương trời, từ vật chất đến
tinh thần. Bạn đang làm những việc vô cùng to lớn, tôi thật
mừng cho bạn vì bạn có đầy đủ phước báu, đầy đủ
mọi phương tiện v.v…để làm và hãnh diện.
Còn
tôi, là một người “cùng tử” đã lang thang qua bao nhiêu
kiếp và nay được làm con người, nên khi áp dụng Đạo Phật
vào đời sống, lại giản lược để ứng dụng trong cái
vụng về, giản dị, dễ hiểu. Có gia đình, tôi ráng sống
trọn vẹn cho gia đình, vì tôi nghỉ rằng nếu gia đình xáo
trộn, bất an…thì chính lúc nầy, tôi đã không có hạnh
phúc. Và không có hạnh phúc, an lạc, tôi sợ những gì cho
ra của tôi cũng đầy như tâm niệm không hay, không tốt.
Còn
nếu như con cái, những thân duyên ruột thịt của tôi, không
nên người, không thành nhân và bê tha, tôi sẽ có nhiều bất
an, lo lắng. Như thế, làm sao tôi có thể cống hiến những
gì ích lợi cho các đàn trẻ nhỏ khác. Bạn có thể nói tôi
chấp nhất, sợ hãi vu vơ, sợ nầy sơ kia sợ nọ và sẽ
không làm gì được có lợi cho Cộng đồng, nhưng bạn nghĩ
sao nếu tâm tôi đang có nhiều vấn đề, nhiều vấn nạn
hoặc như mang nhiều tánh si tham sân, tranh giành quyền lợi,
danh vọng v.v..và sẽ đem những vấn nạn đó cho cuộc đời,
tôi thấy không ổn.
Con
người tiền sử đã bắt đầu kết đoàn khi ý thức sự
nguy hiểm rình rập của môi trường chung quanh và tư tưởng
thành lập những đoàn thể cũng thành hình. Đó cũng là sự
kết hợp của gia đình.
Gia
đình trở thành quan trọng trong xã hội, vì đó là nền tảng
của xã hội. Mỗi quốc gia kết hợp, thành hình bởi nhiều
con người và tất cả con người đều từ gia đình mà ra.
Giữa một xã hội quá nhiều biến động, thay đổi và những
biến chuyển đều ảnh hưởng và tác động đến con người.
Con người dù ở đâu, bất cứ mội trường nào, đều mang
dáng dấp của gia đình- một sự kết đoàn của những nhân
tố là con người.
Có
nhiều chủ thuyết cố phá bỏ gia đình và tạo điều kiện
biến con người thành những động vật, nhưng thất bại.
Tôn giáo mà có nhiều người cho là “thuốc phiện ru ngủ
con người”, chính là vì muốn đẩy con người theo một hướng
nào đó, một lý tưởng nào đó…mà đôi khi với những tiêu
đích xa vời, huyễn hoặc.
Đạo
Phật ngược lại, vì nhận thức con người là thiêng liêng,
tối ư quan trọng và con người từ gia đình mà có mặt, nên
hướng đi của Đạo Phật là trình bày cho con người phương
pháp đưa “ tâm trở về thân”. Từ nền tảng nầy, con
người chuyển hoá thành đời sống tâm linh của mình, xuất
thế- xuất khỏi phiền não, những tâm địa xấu ác, những
tạp nhiễm v.v…và đi vào thế cuộc, vào đời sống của
con người, của gia đình, của xã hội, đem những sức sống
tâm linh nầy để chuyển hoá, xây dựng như lý tưởng : “đồng
thành Phật Đạo”.
Trong
Đạo Nho cũng có quan niệm, tinh thần về “Xuất” và “Sử”,
làm thành nền tảng cao đẹp của con người. Như trong Đạo
Lý Người Xưa kể rằng:
“
Khi Khổng Tử hỏi học trò của Ngài về : Thế nào là
người Trí? Thế nào là người Nhân?.
-
Tử Lộ nói: Người Trí là làm cho người ta biết đến mình;
người Nhân là làm thế nào để cho người ta yêu mình.
-
Tử Cống nói: Người Trí là biết người; nguời Nhân là
yêu người.
-
Nhan Hồi trả lời: Người Trí là người tự biết mình; người
Nhân là người tự yêu mình.
Khổng
Tử khen Tử Lộ và Tử Cống là người có học vấn. Còn
riêng về Nhan Hồi thì được khen ngợi rằng: Đây mới đáng
gọi là Bậc Sĩ Quân Tử, vì cái Trí và Nhân nầy bao trùm
cả muôn loài, muôn vật. Bởi vì xét người thì dễ, còn
xét mình thì rất khó. Nhân thì lấy chữ Tâm làm đầu, nên
không tự yêu mình, không chuyển đổi những nội kết khổ
đau, những phiền não, ganh tị, oán hờn v.v…đã làm khổ
mình, thì làm sao có thể yêu thưong những người khác được”.
( Trích “Đạo lý người xưa” do Hồng Khanh - Kỳ Anh biên
soạn)
Gia
đình là nhịp đập trái tim, là duyên nợ mà tôi cần phải
chuyển hướng theo tinh thần Phật Pháp, vì tôi là Phật tử
và những người thân đó đều là những vị Phật sẽ thành.
Làm sao cân bằng giữa đời sống Đạo và Đời? Tôi chỉ
mong phải làm sao, khi lìa bỏ thân nầy ra đi, sẽ thấy mình
mỉm cười vì đã sống trọn vẹn với tình với nghĩa.
Văn
hoá Việt Nam nói rằng: “Một bồ cái lý, không bằng một
tí cái tình”.
Trên
vũ trụ nầy, không có con người thì tất cả đều là vô
nghĩa, trống rỗng, vô hồn và do đó, Đạo Phật được gọi
là Nhân bản, vì đặt nặng vị trí nơi con người.
Thánh
Gandhi nói rằng: “ Be the change you wish to see in the world”,
tôi ứng dụng Đạo Phật theo “cặp kính màu” của mình
( như GS. Võ Đình Cường nói), có lẽ đó là điều không
hài lòng và không đúng với bạn.
Có
khoảng không gian, thời gian lo cho gia đình, dạy dỗ con cái,
hướng thiện. Có chua xót, đau khổ, cảm thông khi thấy những
hoạn nạn, khổ đau của người khác vì mình từng bị đau
khổ, nên cũng đóng góp chút chút cho xã hội, cho con người.
Dành chút thời gian để tu tập, để áp dụng những lời
dạy của Đức Phật vào đời sống hàng ngày và theo nhận
xét của bạn, như thế thì tôi phải qua vô lượng kiếp nữa
mới hiểu, mới biết mùi vị Đạo và giải thoát được.
Tôi thực sự may mắn như vậy sao?
Tôi
chỉ là người làm vườn, săn sóc vườn tâm của mình, sau
những ngày giờ lo sinh kế. Không tận diệt si tham sân, nhưng
mong lấy những chất liệu làm nên si tham sân, chuyển hoá
và tạo thành phân bón nuôi dưỡng tâm. Hoa sen tâm chỉ mọc
từ bùn nhơ, nở hoa và toả hương thơm ngát. Không có những
chất liệu bùn nhơ, sẽ không có một cánh sen đẹp. Không
có những chất tố cấu tạo nên một con người, do si tham
sân, do thất tình, lục dục và được chuyển hoá để làm
nên duỡng chất để nuôi tâm, thì chúng ta sẽ có một bông
sen bằng nhựa, bằng plastic.
Không
có đau khổ sẽ không có hạnh phúc. Không có phiền não, sẽ
không có Bồ Đề. Tất cả những công trình văn hoá, những
công trình văn minh, tâm linh cao quí của nhân loại để phục
vụ con người, phục vụ cho trái đất và làm cho tất
cả có ý nghĩa kỳ diệu đều đến từ chất liệu được
chuyển hoá nầy.
Theo
đà tiến hoá của nhân loại, với sự kiện toàn cầu hoá
và đến một lúc nào đó, biên giới giữa các quốc gia sẽ
ngắn lại, chan hoà. Tất cả các tôn giáo sẽ biến đổi
theo hướng của nhập cuộc với trào lưu tiến hoá của nhân
loại. và sẽ có những tôn giáo bị đào thải, nhất là những
tôn giáo độc thần, mang tính giáo điều, cuồng tín đã bao
lần đưa loài người vào những thảm cảnh đau thương, khổ
nạn, chiến tranh. Loài người sẽ sáng mắt ra, đem trí tuệ
nhìn tận được nguồn cơn, nguồn gốc đã làm cho chiến
tranh, hận thù, chém. giết lẫn nhau, giữa con nguời, dù với
bất cứ lý do nào.
Chúng
ta không nói như Nhất Chi Mai: “Sống mình không thể nói.
Chết mới nói được ra lời”, mà phải nói từ bây giờ,
khi còn sống. Đạo Phật sẽ trở nên phổ quát, biến rộng.
Phật giáo của kinh viện không còn, mà chỉ lại những con
người hành đạo. Bởi vì loài người đã kinh qua một sự
đau khổ tận cùng, nên ý thức rõ tôn giáo nào có giá trị
ích lợi cho con người.
Con
người văn minh, tiến hoà là con người đối thoại. Tôn giáo
nào thực sự mang lại an lạc, hoà bình cho con người, cho
muôn loài, thì tôn giáo đó cũng phải đối thoại, với bao
dung, với trí tuệ và từ bi
Con
người hành đạo chính là sống với những gì mà mình kinh
qua, nhận thức thấu đáo và cảm nhận được trung thực
những điều đó và có an lạc. Đó là kinh nghiệm và sống
với thực tại. Sự hành đạo, sống Đạo cũng chính
là sự truyền đạo đúng nghĩa nhất. Vì đó chính là mạng
sống tâm linh của mình, của mọi người, phải không bạn?
Ngày
11.07.2007
______________________________________________
1-
Trong “ Hồi hương ngẫu thơ” của Hạ Trí Chương.
(2)
Bản dịch và Chú thích của HT. Thích Nhất Hạnh:
(Trích:
"Nghi Thức Tụng Niệm", NXB Lá Bối, California, 1989)
Chú
Thích :
Bốn
Ðại là bốn nguyên tố hay là bốn chất cấu thành vũ trụ.
Bốn đại gồm có: Ðịa đại, Thủy đại, Hỏa đại, và
Phong đại.
Năm
ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sắc là thân thể
có hình có sắc. Thọ là cảm thọ vui buồn. Tưởng là tri
giác bằng hình ảnh tưởng tượng lại. Hành là dụng tâm
làm việc này hay việc khác. Thức là phân biệt, hay biết.
Năm ấm cũng còn gọi là năm uẩn.
Bồ
Tát là dịch âm từ chữ Phạn, dịch âm đầy đủ là Bồ
đề tát đỏa, có nghĩa là giác hữu tình Bồ Tát là người,
sau khi tin Phật, học Phật, phát nguyện tự độ, độ tha,
thậm chí hy sinh cả bản thân mình để cứu giúp người.
Muốn làm Bồ Tát trước hết phải có tâm nguyện lớn, chủ
yếu là bốn lời nguyện:"Chúng sinh vô biên thề nguyện độ,
phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lương thệ
nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành". Mọi
người từ khi phát tâm cho đến khi thành Phật được gọi
là Bồ Tát, vì vậy mà có phân ra Bồ Tát phàm phu và Bồ
Tát hiền thánh. Các vị Bồ Tát được nói tới trong các
kinh Phật thường là các vị Bồ Tát hiền thánh.
Ba
giới là dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, là ba cõi
sống của chúng sinh: Loài người thuộc về dục giới, cõi
sống của chúng sinh còn có lòng tham dục. Sắc giới là cõi
sống của loài Trời. Ở cõi Trời sắc giới này, chúng sinh
đã thoát khỏi mọi lòng dục, nhưng vẫn còn sắc thân. Vô
sắc giới là cõi gồm những chúng sinh, không những không
còn có lòng dục mà cũng không còn có sắc thân nữa, chỉ
còn có tinh thần thuần tuý mà thôi.
Năm
thứ dục vọng là năm thứ ham muốn: sắc, thanh , hương ,
vị, và xúc .
08-21-2007
05:23:46