Trong
truyện hư cấu “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân có một nhân
vật suốt ngày tham ăn, tham ngủ, tham sắc là Trư Bát Giới,
một biểu tượng cho tâm tham lam, ngu si.
Thật
vậy, trong mười hai con giáp, không có con vật nào bị chê
và rủa nhiều bằng con heo. Chẳng hạn như con bò thì bị
chê là “Ngu như bò”, còn con gà thì bị chê là “Đẻ nhiều
như gà”, v.v… Con heo thì khác hơn, vì cái gì xấu nhất
trên cõi đời này đều trút lên đầu nó, như “làm biếng
như heo, ăn như heo, ngủ như heo, mập như heo, ở dơ như heo,
ăn cái gì mà lú như heo, v.v…” Trong truyền thống Tây Tạng,
các nhà họa sĩ vẽ những bức tranh “Thangkas” liên hệ
về vòng sanh tử luân hồi, có vẽ hình ảnh của ba con thú:
Heo, gà, rắn ngay trung tâm điểm của biểu đồ đó. Mỗi
con vật biểu trưng cho tâm tình vọng động của chúng sanh.
Con heo tượng trưng cho tâm ngu si. Con gà tượng trưng cho tâm
tham lam. Con rắn tượng trưng cho tâm sân hận. Trong bức tranh
này, ba con thú đó liên hệ với nhau qua hình ảnh là con heo
xuất sanh từ miệng con rắn: Biểu trưng rằng do sân hận
mà phát khởi vô minh, khiến cho mình có những lời nói hay
hành động dại dột. Con rắn xuất sanh từ miệng con gà:
Biểu trưng rằng do tham lam mà mới sanh khởi tâm sân hận
khi không được những gì mình muốn. Con gà xuất sanh từ
miệng con heo: Biểu trưng rằng do ngu si nên mới khởi tâm
tham lam đắm trước vào thân tâm, ngoại cảnh. Như vậy, chúng
ta thấy rằng theo Phật giáo Tây Tạng, con heo biểu trưng cho
vô minh.
Theo
định nghĩa, Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā, bo. ma
rig-pa) chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (sa.
triratna) và nguyên lý Nghiệp (sa. karma). Vô minh là yếu tố
đầu tiên trong lý Duyên khởi với mười hai nhân duyên (sa.
pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng
trong Luân hồi (sa. samsāra). Vô minh cũng là một trong ba ô
nhiễm, Tam lậu (sa. āsrava), một trong ba phiền não (sa. kleśa)
và khâu cuối cùng của mười trói buộc (Thập triền, sa.
sayojana). Vô minh được xem là gốc của mọi bất thiện trong
thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (sa. dukkha). Đó
là tình trạng tâm thức không thấy sự vật "như nó là" (Như
thật tri kiến), cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra
khổ. Vô minh sinh Ái và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự
tái sinh. Theo quan điểm Đại thừa, vì vô minh mà từ tính
Không (sa. śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người
còn mê lầm tưởng đó là sự thật và không thấy tự tính
(Si). Trong các trường phái Đại thừa, vô minh cũng được
hiểu khác nhau. Trung quán tông (sa. mādhyamika) cho rằng, vô
minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của
ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của
riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình
và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật.
Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính
đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một
là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng
cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau.
Đối với Kinh lượng bộ (sa. sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ
(sa. vaibhādika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc,
cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất
là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế
giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là một
kiến giải điên đảo, vô minh cho rằng thế giới độc lập
với ý thức (tâm) mặc dù Duy thức tông cho rằng thế giới
và ý thức chỉ là một.
Đúng
như thế, theo đạo Phật, giềng mối của tất cả phiền
não khổ đau của chúng sanh hay lý do bị trôi lăn trong vòng
sanh tử luân hồi cũng chính là vô minh. Vì vậy khi giải thích
về mười hai nhân duyên, đức Phật đặt vô minh làm đầu.
Nghĩa là, do vô minh mà dẫn đến hành, thức, danh sắc, sáu
nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh (già, bịnh, chết).
Trong
kinh Vô Minh có ghi lại những lời đối đáp giữa ngài Xá
Lợi Phất và ngài Ma Ha Câu Hi La. Khi được ngài Ma Ha Câu
Hi La hỏi về ý nghĩa của vô minh, ngài Xá Lợi Phất giải
đáp rằng: “Vô minh tức là không biết. Không biết những
gì? Sắc là vô thường mà không biết như thật sắc là vô
thường; sắc là pháp ma sanh diệt mà không biết sắc là pháp
sanh diệt. Thọ tưởng, hành, thức cũng như thế. Này Ma Ha
Câu Hi La! Đối với năm ấm này mà không thấy, không biết
như thật, ngu si, mờ tối, không sáng tỏ, thì đó gọi là
vô minh…” Nghĩa là chúng ta thường mê muội đối với những
hình tướng, hình sắc bên ngoài, nhất là hình dạng đẹp
xấu của con người, và thường cho chúng là thật có, nên
bám víu, chấp chặt vào chúng.
Vào
thời chiến tranh trước 1975, có một anh nọ rất si tình với
một cô thiếu nữ. Một hôm, cô ta đang đi trên một chuyến
xe đò về miền Tây thì bị giựt mìm, nên thân thể bị nổ
tung tan nát. Nghe tin người tình của mình bị nạn, anh ta vội
lái xe Honda chạy đến thì chỉ thấy những mảnh thịt vụn
của cô ta và một số người trên chiếc xe đò đó. Từ đó,
anh ta mới cảm nhận lý vô thường, bất tịnh của thân xác
con người mà không còn đắm đuối như trước nữa.
Lại
có một câu chuyện về một vị vua khóc lóc khổ sở sau khi
bà hoàng hậu yêu quí của ông ta qua đời. Vì quá thương
bà hoàng hậu, ông ta trách móc hết tất cả quần thần, dân
chúng, cho đến chư tăng rằng tại sao không ai cứu sống bà
ta, mà trong khi đó ông ta luôn lo lắng cho quần thần, dân
chúng, và nhất là cúng dường Tam Bảo. Vì thế, ông ta ra
lịnh đốt phá chùa chiền, bắt tăng ni hoàn tục. Đang ngồi
thiền trên núi, một vị thiền sư đắc đạo quán chiếu
thấy rõ cơn Pháp nạn đang xảy ra, nên buộc lòng phải xuống
núi, vào kinh can gián nhà vua. Đến nơi, vị thiền sư bèn
hỏi nhà vua rằng Ngài có muốn đi gặp hoàng hậu chăng? Đương
nhiên, là nhà vua trả lời muốn. Vị thiền sư bèn bảo nhà
vua nhắm mắt lại, rồi Ngài liền dùng thần thông hóa hiện
mình và nhà vua làm hai con châu chấu đi trên một cánh đồng
lúa rộng lớn. Nơi đó, vị thiền sư chỉ cho nhà vua thấy
một cặp châu chấu đang tình tứ với nhau trên bãi cỏ, và
con châu chấu cái chính là bà hoàng hậu mới vừa qua đời
không lâu. Nhà vua thấy vậy, bèn chạy đến ân cần hỏi
han rằng “Trẫm đây này! Trẫm ngày đêm nhớ đến ái
khanh! Hãy mau theo Trẫm trở về hoàng cung hưởng dục lạc.”
Con châu chấu cái nghe lời của một con châu chấu lạ hoắt
như thế nên quắt người, bỏ chạy theo con châu chấu đực
kia. Lúc đó, thấy nhà vua định chạy đuổi theo, vị thiền
sư liền ngăn lại và nói rằng sau khi đã thay hình đổi dạng
thì làm gì mà bà hoàng hậu nhớ đến nhà vua được; vậy
hãy trở về hoàng cung. Nghe lời vị thiền sư khuyên bảo,
nhà vua nhắm mắt và trong chốt lát cả hai liền trở về
hoàng cung, hiện lại thân người. Kể từ đó, nhà vua hiểu
được thế thái nhân tình, không còn khóc than vì bà hoàng
hậu nữa, và trở lại cuộc sống bình thường, chăm lo cho
dân chúng, bãi bỏ lịnh phá chùa chiền, bắt tăng ni hoàn
tục.
Trong
hiện đời, trung tâm thương mại thế giới (world trade center)
là một trong những biểu tượng cho nền kinh tế giàu có của
xứ Mỹ. Thế nhưng, chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ ngay
sau ngày 9-11-2001, trung tâm đó bị sụp đổ tan tành ra tro
bụi.
Trong
cuộc sống của chúng ta, từ thân, tâm, đến ngoại cảnh
đều là vô thường cả. Thân của chúng ta đều phải trải
qua bốn giai đoạn sanh già bịnh chết. Tâm của chúng ta vô
thường vọng động, với biết bao cảm thọ buồn vui, thương
ghét lẫn lộn suốt cả ngày. Rồi tâm tưởng cũng vậy, suy
nghĩ những chuyện phải quấy, đúng sai, hơn thua không bao
giờ ngừng. Hành và tâm thức của chúng ta cũng vô thường
như thế.
Do
đó, ngài Xá Lợi Phất nhắc nhở ngài Ma Ha Câu Hi La cũng
như chúng ta rằng, nếu nhận biết được sắc, thọ, tưởng,
hành, thức là vô thường thì mới sáng suốt (minh), có trí
huệ, bằng ngược lại thì không sáng suốt (vô minh).
Thật
vậy, vô minh là một chủ đề rất lớn, và cũng là một
vấn đề quan trọng mà đức Phật thường răn dạy chúng
ta. Trong bài kinh Chóp Mái (S. ì.262)của kinh Tương Ưng Thí
Dụ, đức Phật dạy rằng: “-- Ví như, này các Tỷ-kheo,
một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào,
tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào
góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều
đâm đầu vào một gốc. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm
có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô
minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều
châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào
một gốc.”
Trong
kinh A Hàm, đức Phật dạy: "Nầy hỡi các đệ tử, khởi
điểm của một cuộc hành trình xa xôi nầy thật không thể
quan niệm được. Chúng sanh bị bao trùm kín mít trong màng
Vô Minh. Bị dây Ái Dục trói buộc chặt chẽ, không thể khám
phá khởi điểm của cuộc luân chuyển triền miên, cuộc hành
trình vô định."
Trong
kinh Bậc Hiền so sánh với kẻ Ngu (Tạp 12.12, Ðại 2, 83c)
(S.ii,19), đức Phật dạy rằng: “-- Ðối với kẻ ngu,
này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược,
thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh
sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có
xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai,
người ngu cảm thọ lạc khổ. -- Này các Tỷ-kheo, bị vô
minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người
ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận.
Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo,
người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn
trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung,
đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người
ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ,
ưu, não. Ta nói rằng: "Người ấy không thoát khỏi đau khổ.”
Ngoài
ra, từ vô minh mà phát sanh biết bao tâm tình vọng động.
Đức Phật Bổn Sư có kể lại một câu chuyện rằng xưa
kia có một con heo rừng kiêu căng hống hách vì ỷ lại sức
mạnh của mình. Một hôm, nó muốn thách đấu với sư tử
chúa sơn lâm. Tuy nhiên, do hôm đó, con sư tử đã ăn uống
no nê nên không màng đến sự đánh đấm. Tuy nhiên, con heo
rừng kiêu căng vẫn thách đố, hẹn vài ngày sau tranh tài
cùng sư tử và đương nhiên là được chấp thuận. Khi trở
về hang và thuật lại điều này với đàn heo rừng thì tất
cả đều run sợ, cho rằng con heo rừng kiêu ngạo này chắc
muốn chết mới dám thách đố với sư tử. Bàn qua tán lại
một hồi, một con heo rừng khác hiến kế cho con heo kiêu căng
kia rằng từ hôm nay cho đến ngày tranh hùng với sư tử, ngươi
nên trét lên mình bằng phân người thì con sư tử kia sẽ
không dám đụng đến chân lông vì loài sư tử chỉ thích
sống sạch sẽ, ăn những gì thanh tịnh. Con heo kiêu căng kia
bèn y theo kế đó mà làm. Đến ngày tranh hùng, con heo kiêu
căng với mình mẩy ướt đẳm phân người đi ra thách đố
với con sư tử. Quả thật, vì không chịu nổi mùi phân người,
nên con sư tử đành phải đứng xa mà nói rằng “Nếu thân
ngươi không tẩm đầy phân người thì chắc chắn đã bị
Ta xé ra từng mảnh vụn rồi.” Con heo kiêu căng thấy sư
tử bỏ đi bèn tru rống thêm những lời kiêu hãnh: “A! Như
vậy ta đã thắng chúa tể sơn lâm rồi! Thà Sống Dơ còn
hơn Chết Sạch!”. Đó là sự kiêu hãnh của nó và cũng chính
là tâm thức si mê của chúng ta. Do si mê nên mới khởi tâm
thái kiêu ngạo, một trong những tùy phiền não theo Duy Thức
Học. Thật vậy, không những thúc đẩy tâm thái kiêu ngạo,
sự si mê còn dẫn đến biết bao tâm tình vọng động khác
như sân hận, ganh ghét, đố kỵ, v.v… Thế nên, trong đạo
Phật, hình ảnh con heo luôn đi liền với sự si mê vọng động
và những tâm thức mê muội khác.
Tuy
nhiên, mê và ngộ chỉ như lật bàn tay. Khi mê thì bị những
tâm tình vọng động khống chế, còn khi ngộ thì chúng ta
làm chủ nhân ông của cuộc đời mình. Cũng vậy, hình ảnh
con heo không phải chỉ giới hạn trong việc biểu trưng cho
tâm thức si mê, mà nó cũng được biểu trưng cho lòng dũng
cảm, trí huệ sáng suốt trong câu chuyện tiền thân mà đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đề cập đến “Con heo của thợ mộc”.
Chuyện kể rằng vua Ba Tư Nặc vì giận cháu mình là vua A
Xà Thế đã từng giết cha (vua Tần Bà Sa La), và khiến cho
hoàng hậu Vi Đề Hi (em của vua Ba Tư Nặc) bịnh chết, nên
không cho ngôi làng Kàsi (phẩm vật hồi môn mà nhà vua cho
em mình, hoàng hậu Vi Đề Hy). Vì vậy, vua A Xà Thế cứ khởi
binh đánh với vua Ba Tư Nặc. Vì vua Ba Tư Nặc già yếu, nên
lần nào ra trận cũng thua ông vua trẻ A Xà Thế. Do đó, sau
khi hội ý với quần thần và được họ đề nghị rằng
phải nên cầu thỉnh chư tăng cố vấn thì mới mong thắng
trận. Thế nên, vua Ba Tư Nặc phái một cận thần đến tịnh
xá Kỳ Viên thỉnh ý chư tăng. Tình cờ hôm đó, vừa đến
tịnh xá, ông quan cận thần nghe và thấy có hai vị trưởng
lão là Utta và Tissa thức suốt đêm để bàn quốc sự. Trưởng
lão Dhanuggahatissa nói với trưởng lão Utta rằng cái ông vua
bụng bự Ba Tư Nặc đấy vì không biết dùng chiến thuật
nên bị thua hoài là phải. Trưởng lão Utta hỏi rằng vậy
chiến thuật đó là gì? Trưởng lão Dhanuggahatissa đáp rằng
phải nên dùng chiến thuật đóng binh trên hai ngọn đồi rồi
giả kế nghi binh để vua A Xà Thế bị lọt vòng vây mà bắt
sống. Quan cận thần nghe lời bàn của hai vị trưởng lão
như thế, nên lẳng lặng trở về triều, trình bày kế đó.
Vua Ba Tư Nặc bèn y theo và quả nhiên bắt sống được vua
A Xà Thế. Sau đó, vua gả con gái mình và cho ngôi làng đó
cho vua A Xà Thế làm của hồi môn. Trong chùa, có nhiều vị
biết được chuyện này và đem ra bàn tán xôn xao, nên tới
tai đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bước ra và dạy rằng không
phải đây là lần đầu mà Dhanuggahatissa bàn về chiến thuật
thế gian. Ngài kể lại rằng thuở xưa có một thợ mộc vào
rừng thấy một con heo rừng con bị lọt hố, nên thương tình
đem về nuôi. Lớn lên, con heo rừng đó rất lanh lợi, dùng
sừng và sức kéo cây, gỗ, đồ nghề giúp người thợ mộc.
Vì sợ con heo rừng này bị người săn bắt, nên người thợ
mộc thả nó về rừng. Con heo này bèn chạy vào rừng sâu,
tìm kiếm chỗ sinh sống thích hợp. Sau cùng, tìm thấy một
cái hang lớn bên cạnh một sườn núi có đầy đủ hoa quả
rễ cây, nó bèn ở lại trong hang đó. Qua hôm sau, có một
đàn heo rừng ốm yếu xanh xao kéo đến làm bạn và kể cho
nó nghe rằng sở dĩ chúng đói khát vì mạng sống của chúng
luôn bị đe dọa bởi một con hổ ở gần đó. Nghe lời này,
nó an ủi đàn heo rừng và lập kế bắt giết con hổ đó
bằng cách cho đào những hố lớn nhỏ xung quanh hang, rồi
chờ con hổ tới, khiêu khích để nó bị lọt hố. Quả nhiên,
chẳng bao lâu, theo thói ăn quen, con hổ hung hăng tìm đến
và định bắt thịt các con heo rừng. Tuy nhiên, vừa nhảy
đến để vồ lấy thịt, con hổ đâu ngờ rằng con heo rừng
thông minh đã đào hố gài bẫy, nên liền bị lọt xuống
hố, rồi bị cả đàn heo rừng ủi đất chôn sống. Kể đến
đây, đức Bổn Sư nói rằng thuở đó Ngài chính là vị thần
cây chứng kiến cảnh con hổ bị chôn sống, còn con heo rừng
thông minh khi xưa, nay chính là trưởng lão Dhanuggahatissa.
Qua
câu chuyện này, chúng ta thấy rằng tất cả loài vật đều
có tánh linh và sự sáng suốt, chứ không phải hoàn toàn ngu
muội như chúng ta thường gán ghép, nhất là loài heo. Đó
là lý do tại sao chúng ta phải tôn trọng tất cả chúng sanh,
vì ai ai cũng đều có Phật tánh, hay tánh giác sáng suốt.
Dù bị vô minh vọng động dẫn dắt lưu chuyển trong sanh tử,
nhưng tánh giác đó vẫn thường hằng không mất.
Thật
vậy, trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy ngài Phú Lâu Na
rằng nếu hết mê thì sẽ ngộ. Để chỉ rõ điều đó, đức
Phật lấy ví dụ chàng Diễn Nhã Đạt Đa trong thành Thất
La Phiệt ôm đầu chạy đi cùng làng và nói rằng đã bị
mất đầu. Cũng vậy, đức Phật dạy rằng “Này Phú Lâu
Na ! Ông chỉ cần đi ngược dòng tương tục của ba thứ:
Thế gian, nghiệp quả và chúng sanh; ba duyên đó đã chặt
đứt thì ba nhân chẳng có cơ sở để sanh. Bấy giờ cái
tánh điên cuồng Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ông tự hết.
Hết tức là Bồ Đề. Cái chơn tâm trong sáng khắp cùng pháp
giới xưa nay, không do ai cho mà tự được; chẳng cần tu chứng
nhọc nhằn vất vả lôi thôi ! Ví như người có hạt như
ý châu trong vạt áo mà không biết không hay, gần suốt cuộc
đời tha phương cầu thực cùng khổ lang thang bỗng có người
thiện hữu phát hiện, chỉ hạt châu cho; bấy giờ người
cùng khổ trở thành giàu có nhất đời, ngồi gẫm lại nửa
đời lưu lạc tự hận cho số kiếp dại khờ: Thì ra viên
như ý châu không phải từ ngoài, ai đem đến !”
Lại
nữa, cũng trong kinh đó, đức Phật dạy ngài A Nan rằng bị
trói buộc mê muội hay giác ngộ giải thoát cũng chính từ
sáu căn. Nếu cởi trói một căn thì năm căn liền được
giải thoát. Ví dụ, nếu lưỡi của chúng ta không đắm chấp
vào mùi vị của trái xoài chẳng hạn, thì khi tai nghe tiếng
có người nhắc về xoài mình không thèm thuồng, hay khi mắt
nhìn thấy trái xoài trong chợ mình cũng không màng đến, và
đương nhiên, thân của mình không tiến đến để mua lấy
trái xoài đó, Dĩ nhiên nếu không đắm chấp vào trái xoài
hay bất cứ trái cây nào thì chúng ta không phải chọn lựa
thức ăn hợp khẩu vị, mà sẵn lòng ăn bất cứ thức ăn
nào để nuôi sống thân mạng. Và đó chính là chúng ta thoát
ra ngoài sự trói buộc của thức ăn. Nếu được như thế
thì từ từ chúng ta cũng sẽ huân tập được thói quen không
đắm trước đồ vật, con người, và cuộc sống của chúng
ta được thảnh thơi, ít bị căng thẳng, lo âu buồn phiền.
Vì vậy, vua Trần Nhân Tông khi còn ngồi trên ngai vàng lo việc
nước mà vẫn ung dung tự tại qua bài kệ sau:
“Sống
đời vui đạo để tùy duyên (Cư trần lạc đạo thả tuỳ
duyên)
Đói
thì ăn, mệt thì ngủ khò (Cơ tắc xan hề khốn tắc nhiên)
Của
báu trong nhà, thôi tìm cầu (Gia trung hữu bảo, hưu tầm mích)
Đối
cảnh vô tâm chớ hỏi thiền (Đối cảnh vô tâm mạt vấn
thiền).”
Nghĩa
là chúng ta sống với đời và vui với đạo qua cách sống
tùy theo nhân duyên. Gặp duyên gặp cảnh thì chúng ta tùy theo
đó mà giải quyết, chứ không cưỡng cầu, cưỡng duyên.
Thật vậy, dù rất muốn sống an lạc hạnh phúc, nhưng chúng
ta khổ sở vì năm món dục lạc như tiền tài, sắc dục,
danh vọng, thức ăn, ngủ nghỉ rất nhiều cũng chỉ vì còn
quá nhiều sự mong cầu, cưỡng duyên do vô minh vọng động
mà ra. Nay hãy bàn riêng về tiền bạc. Với số tiền lương
hàng tháng, chúng ta tùy theo đó mà lo lắng cuộc sống vật
chất cho gia đình, như mua thức ăn, đồ đạc, trả tiền
bills trong nhà, rồi nếu có dư dã thì bố thí, cúng dường
Tam Bảo. Ngược lại, nếu giây phút nào chưa vừa lòng với
nhân duyên hoàn cảnh hiện tại thì chúng ta có thể đi làm
hai ba công việc để có khả năng mua sắm nhiều hơn, ăn xài
nhiều hơn, hưởng thụ nhiều hơn thì đương nhiên sẽ bị
vất vả hơn. Thật vậy, đôi khi con người chúng ta cứ tưởng
rằng nếu có nhiều tiền hơn, chúng ta sẽ sung sướng hơn.
Tuy nhiên, sau khi được tăng lương bổng hay có thêm nhiều
tiền nhờ làm việc hai ba công việc, thì có thể chúng ta
được mãn nguyện trong một thời gian ngắn với số tiền
đó, nhưng rồi từ từ sẽ quen dần với các cách tiêu xài
lớn hơn, và vẫn sẽ mong muốn có nhiều tiền hơn thế nữa.
Tiến
sĩ Daniel Kahneman của trường đại học Princeton, người chia
giải Nobel về việc ứng dụng định lý tâm lý học vào kinh
tế học, và những cộng sự viên khi bàn về mối liên hệ
giữa tiền tài và niềm hạnh phúc thì đưa đến kết luận
rằng:
1/
Tiền tài mang lại niềm hạnh phúc chỉ là ảo tưởng.
2/
Tăng lương chỉ ảnh hưởng tạm thời về sự vừa lòng về
cuộc sống.
3/
Sự tăng trưởng về tiêu chuẩn sống của các quốc gia nghèo
nếu đột nhiên phát triển thì không có liên hệ gì nhiều
về kinh nghiệm hạnh phúc của dân chúng ở những xứ đó.
4/
Các cuộc nghiên cứu về tâm lý học cho thấy rằng người
càng giàu chừng nào, họ càng có tâm tình tiêu cực mạnh
mẽ chừng đó. Các cuộc nghiên cứu đó không thấy sự liên
hệ giữa giàu sang và kinh nghiệm hạnh phúc.
Có
một câu hỏi là tại sao tăng lương chỉ ảnh hưởng đôi
chút đến sự hạnh phúc?
Các
nhà nghiên cứu cho thấy rằng:
1/
Lương bổng tương đối ảnh hưởng đến niềm hạnh phúc,
chứ không phải lương bổng thật thụ. Nếu giàu hơn bạn
bè thì chúng ta cảm thấy sung sướng hơn họ. Tuy nhiên, chẳng
bao lâu, chúng ta sẽ kết thân với những người giàu sang,
nên sự giàu sang tương đối đó sẽ không nhiều hơn trước.
3/
Con người mau chóng quen dần với những món đồ mới mà tiền
bạc của họ có thể mua được.
4/
Số tiền mà con người cần dùng sẽ tăng theo tiền lương
của họ.
5/
Khi kiếm thêm nhiều tiền thì chúng ta bỏ nhiều thời gian
để làm tiền, và có ít thời gian nghỉ ngơi hơn trước.
“Những người lương cao tương đối bỏ nhiều thời gian
cho các hoạt động không đem lại niềm hạnh phúc nhiều hơn,
mà trái lại đưa đến nhiều sự căng thẳng trong cuộc sống
hơn.
6/
Chú tâm vào ảo tưởng tiền tài khiến chúng ta được hạnh
phúc mang lại sự ảnh hưởng trái ngược, vì tiền tài có
thể khiến cuộc sống tệ hơn.
7/
Sự chú tâm vào ảo tưởng đó có thể dẫn đến việc dùng
giờ giấc không thích hợp, từ việc chấp nhận đi đường
xa hay bị kẹt xe (là một trong những giây phút tệ nhất trong
ngày) cho đến việc hy sinh thời gian giao tế bạn bè (là một
trong những giây phút tốt nhất trong ngày). Ảnh hưởng lâu
dài của sự tăng lương trở nên tương đối nhỏ nhặt vì
con người chuyển mục tiêu vào những việc không mấy mới
lạ trong cuộc sống hằng ngày. (1)
Nhà
kinh tế học của trường đại học Warwick ở Anh quốc, ông
Andrew Oswald nói rằng: “Con người thổi phồng việc thêm
vài ngàn đô la mua được hạnh phúc. Chất lượng của các
mối liên hệ ảnh hưởng nhiều hơn việc tăng lương… Nếu
muốn tìm hạnh phúc trong cuộc đời, hãy tìm vợ hoặc chồng
tương xứng, thay vì cố tìm cách tăng lương gấp đôi.”(2)
Thật
ra, tiền bạc có thể giúp chúng ta tìm lẽ hạnh phúc nếu
biết những gì có thể và không có thể và không có thể
mong mỏi từ nó.
9/
Trong bài báo “Sự bất hạnh của tiền bạc” viết rằng
nền khoa học mới của niềm hạnh phúc khởi đầu với sự
tỉnh giác đơn giản: “Chúng ta không bao giờ cảm thấy đủ.”
Bà
Catherine Sanderson, giáo sư tâm lý học ở trường đại học
Amherst nói rằng: “Chúng ta thường nghĩ rằng nếu có thêm
chút ít tiền thì mình sẽ được hạnh phúc hơn. Tuy nhiên,
khi được rồi thì chúng ta lại không vui.” (3)
Thật
vậy, càng kiếm thêm nhiều tiền, chúng ta càng mong muốn nhiều
hơn nữa. Càng có nhiều tiền, nó càng mang ít sự vui vẻ
cho chúng ta. Đó là điều nghịch lý đã từng làm các nhà
kinh tế học điên đầu.
Giáo
sư tâm lý học trường đại học Harvard và tác giả của
quyển sách mới “Vấp Váp Trong Mối Hạnh Phúc”, ông Dan
Gilbert nói rằng: “Một khi đã đạt đến mức tiêu chuẩn
sống căn bản của con người thì có thêm nhiều tiền cũng
không mang lại nhiều sự hạnh phúc. (4)
Đương
nhiên là người giàu thì sung sướng hơn người nghèo, nhưng
sự tăng trưởng tột độ trong tiêu chuẩn sống trong suốt
hơn 50 năm qua ở Mỹ không làm người Mỹ sung sướng hơn.
Tại sao. Vì 3 lý do:
1/
Chúng ta đánh giá quá cao bao nhiêu sự sung sướng sẽ có được
nếu có thêm nhiều tiền. Con người là sinh vật có khả năng
thích ứng hoàn cảnh trong những thời kỳ chiến tranh, bịnh
dịch, băng giá, v.v… Tuy nhiên, đó cũng là lý do tại sao
chúng ta không bao giờ vừa lòng với những sự may mắn đến
với mình. Trong khi lương tăng giúp chúng ta được vui sướng
trong thời gian ngắn, chúng ta mau mắn điều chỉnh với số
tiền lương đó và tất cả những gì nó mua cho mình. Vâng,
chúng ta có thể mua những chiếc xe mới, màn ảnh mới, v.v…,
nhưng chẳng bao lâu chúng ta sẽ quen dần lối sống tiêu xài
đó, mà các nhà kinh tế học gọi là “Máy chạy hưởng thụ”
(5).
2/
Chúng ta thường trở lại những trung tâm buôn bán để tìm
những đồ vật mà ít mang lại sự vừa lòng, hoặc đến
chỗ buôn bán xe cộ để tìm thêm xe mới. Ông Dan Gilbert nói
rằng: “Khi bạn tưởng tượng mình sẽ hưởng thụ một
chiếc xe Porche mới bao nhiêu, thì sự tưởng tượng đó chỉ
xảy ra trong vòng ngày mà bạn mua nó. Khi chiếc xe mới mất
khả năng làm tim bạn rung động, thì bạn có khuynh hướng
đưa đến kết luận sai lầm là bắt đầu đặt câu hỏi
về sự chọn lựa thêm một chiếc xe mới, thay vì hỏi lại
ý định có thể mua sự vui sướng ở tại chỗ bán xe hay
không. Do đó, bạn đặt niềm hy vọng về chiếc xe BMW mới,
và chỉ sẽ bị thất vọng thêm.” (6)
3/
Càng có nhiều tiền, càng dẫn đến nhiều sự căng thẳng.
Lương cao từ ngành nghề cao có thể không mua được niềm
hạnh phúc, nhưng nó có thể mua cho chúng ta một căn nhà rộng
rãi ở ngoại ô. Vấn đề rắc rối ở chỗ điều đó cũng
có nghĩa là phải đi làm xa. Nhiều sự nghiên cứu này đến
nghiên cứu khác nhìn nhận về cảm nhận hằng ngày của bạn:
Ngay cả thích thú công việc, sự đi lại khó khăn mỗi ngày
như thế cũng khiến bạn mệt mõi. Bạn có thể thích ứng
với hầu hết mọi việc, nhưng lái xe theo kiểu ngừng và
đạp hoặc ngồi trên những chuyến xe buýt chật ních sẽ
làm cho bạn buồn bực, dù là ngày đầu hay ngày cuối của
công việc.
Các
nhà học giả chuyên nghiên cứu về niềm hạnh phúc của con
người đều nhận thấy rằng vị trí của bạn liên hệ đến
những người khác tạo ra sự khác biệt lớn lao đối với
cảm nhận hạnh phúc hơn là bạn làm ra bao nhiêu tiền trong
sự tuyệt đối.
Lại
nữa, nếu muốn biết cách dùng tiền như thế nào để được
vui sướng, thì đầu tiên phải hiểu những gì mang lại niềm
hạnh phúc. Trung Tâm Nghiên Cứu Ý Kiến Quốc Gia ở trường
đại học Chicago cho thấy rằng những ai có trên năm người
bạn thân thì tự miêu tả là họ rất hạnh phúc hơn 50% những
người sống trong khuôn viên xã hội nhỏ hơn. So với lực
tăng trưởng niềm hạnh phúc của sự liên hệ con người,
thật ra năng lực của tiền bạc rất yếu kém.
Giáo
sư tâm lý học của trường đại học California-Riverside, bà
Sonja Lyubomirsky, nói rằng những người đặc biệt hạnh phúc
làm việc khác biệt hơn người thường. Họ không lãng phí
thời gian để tâm đến những việc buồn phiền. Họ có chiều
hướng diễn dịch những sự kiện phức tạp theo các cách
tích cực. Và hầu hết họ nói rằng họ không bị buồn phiền
vì những sự thành công của người khác. Khi hỏi những người
ít hạnh phúc so sánh họ với những người khác thì bà nhận
thấy rằng họ cứ so sánh và so sánh. Bà nói thêm rằng những
người hạnh phúc, họ không biết chúng tôi đang nói những
gì. Họ không dám so sánh, nên cắt đứt vòng so sánh phiền
toái. (7)
Giáo
sư tâm lý học Robert Emmons của trường đại học California-Davis
và Michael McCullough của trường đại học Miami nhận thấy
qua nhiều sự nghiên cứu rằng những ai huân tập tánh tri
ơn, như viết nhật ký hằng tuần, thì cảm thấy hạnh phúc
hơn. mạnh khỏe hơn, có năng lực nhiều hơn, và lạc quan
hơn những người không làm.
Những
người đặt nặng giá trị đồng tiền thường ít hạnh phúc
hơn những người lo lắng nhiều về tình thương yêu và bạn
bè. Ông Richard Easerlin, nhà kinh tế học của trường đại
học University of Southern California quan sát khoảng 1.500 người
hơn ba thập niên để xem coi lý do gì mà họ sung sướng và
tươi cười. Các sự quan sát của ông ta được đăng trên
Tạp Chí Nghiên Cứu Proceeding For The National Academy of Science,
tiết lộ rằng dành thời gian với gia đình và có sức khỏe
là niềm hạnh phúc. Ngược lại, tiền bạc không nhất thiết
đưa đến sự hoan hỷ và vừa ý. Một lý do là: Những người
có nhiều tiền thường muốn nhiều hơn.
Một
lý do mà chúng ta cảm hứng về sự phát triển nhanh chóng
của tiền tài và quyền lực là một hiện tượng mà các
nhà khoa học gọi là “Máy chạy hưởng thụ”—cách tích
lũy vật chất mang lại cảm giác sung sướng ngắn ngủi như
thế nào mà khiến cho chúng ta muốn thêm nhiều nữa. Chúng
ta được tăng lương thêm, tiêu xài thêm, và chúng ta muốn
nhiều hơn nữa.
Bộ
Lao Động đưa ra báo cáo hàng năm về sự tiêu xài của người
tiêu dùng, tiết lộ rằng chỉ có 40% dân Mỹ sống dưới
tiền lương trước thuế má. Sự thật đau buồn là chúng
ta giàu có gấp hai lần hơn năm 1957, nhưng chỉ có phân nửa
dân chúng là hạnh phúc. Tiến sĩ David G. Myer, chuyên gia về
tâm lý hạnh phúc, viết trong bài Sự Phát Triển Kinh Tế Có
Làm Tăng Tinh Thần Con Người Chăng: “Chưa bao giờ có kinh
nghiệm lạ lùng về một nền văn hóa mà sự sung sướng về
thể xác phối hợp chung với tâm lý học khổ sở. Chưa bao
giờ chúng ta cảm thấy quá tự do, trong khi đang sống trong
những ngôi nhà tù túng tràn đầy vật chất. Chưa bao giờ
chúng ta biết nhiều cách để hưởng sự sung sướng về vật
chất, mà trong khi đó lại thường bị đau khổ vì những
mối liên hệ đổ vỡ.” (8)
Theo
sự khảo sát của giáo sư tâm lý học Ed Diener của trường
đại học University of Illinois thì ngay cả những người giàu
có nhất, như 100 người giàu nhất theo tờ báo Forbes, thì
họ chỉ hạnh phúc hơn những người bình thường đôi chút.
Vì
vậy, làm thế nào để được hạnh phúc? Theo thống kê của
Trung Tâm Nghiên Cứu Ý Kiến ở trường đại học University
of Chicago thì:
1/
Những ai có hơn 5 người bạn thân (không phải người thân
trong gia đình) thì khoảng 50% họ tự miêu tả rằng họ rất
là hạnh phúc hơn những người ít bạn thân.
2/
Có sức khỏe tốt.
3/
Hôn nhân hạnh phúc: Khoảng 40% cặp vợ chồng người Mỹ
tự xem là rất hạnh phúc, ngược với khoàng 26% những người
chưa lập gia đình.
4/
Giữ mối liên hệ khắng khít với những tổ chức cộng đồng
hay tôn giáo.
Do
đó, chúng ta thấy rằng những ai hạnh phúc dường như tập
trung vào sự thành công cá nhân chứ không so sánh lương bổng,
thời giờ với gia đình, với những người khác. Họ không
đánh giá người khác hay giữ tâm tình tiêu cực. Nếu họ
nghĩ đến những đặc điểm hay của bạn bè, thì đó là
cách học tự cố gắng phát triển.
Ngược
lại, theo thống kê về 800 cựu sinh viên cho thấy rằng những
ai quan trọng hóa lương cao, thành công trong công việc, và
danh vọng hơn những người thích có nhiều bạn thân thương
thì họ gần như không được hạnh phúc gấp hai lần.
Bà
giáo sư Sonja Lyubomirsky nói với ký giả nhật báo Chicago Tribune:
“Sự trắc nghiệm lớn nhất về niềm hạnh phúc trong văn
học là tình thân mật. Chắc chắn không phải là tiền bạc.”
Các
tác giả của quyển sách “Làm sao được hạnh phúc, kẻ
ngu ngốc”, nói trong bài học về cuộc đời thứ 40 rằng:
“Không phải kẻ có nhiều đồ chơi mới thắng. Người có
nhiều thời gian chơi nhất và thích thú nhất với đồ chơi
thì mới thắng.”
Ngoài
ra, hạnh phúc là những gì mình muốn và sắp xếp những gì
mình đã có. Tiền bạc không phải là chìa khóa cho niềm hạnh
phúc. Ngược lại, gia đình, vợ chồng, quyến thuộc, bè bạn,
mối liên hệ xã giao là những điều quan trọng tạo nên niềm
hạnh phúc, và chúng độc lập với sự giàu sang.
Tóm
lại, đối với nhiều người, cuộc đời là một chuỗi dài
tìm kiếm về những gì họ muốn chứ không phải đi tìm niềm
vui hạnh phúc. Do đó, ngay sau khi đạt đến mục đích, tức
thì họ lập ra mục đích mới và cao hơn để đạt đến.
Tự nhiên, những sự hy vọng về niềm hạnh phúc liền thay
đổi cấp độ. Vì vậy, điều kiện cần thiết để họ
được hạnh phúc là sự thành tựu của những mục tiêu cao
và khó hơn. Điển hình, dân chúng trong những quốc gia tiên
tiến như Anh, Mỹ, Thụy Điển, v.v… tương đối giàu có
hơn dân chúng của những xứ nghèo như Mễ Tây Cơ, Việt Nam.
Tuy nhiên cấp độ vừa lòng và hạnh phúc đều bằng nhau
cho dầu lương bổng của dân chúng trong các quốc gia giàu
có nhiều gấp 10 lần các quốc gia nghèo. Ngoài ra, những sự
nghiên cứu khác cho thấy rằng lương bổng tăng gấp 4 lần
ở các nước kém phát triển trong những thập niên vừa qua
không đi kèm theo tiến trình phát triển dựa vào sự hài lòng
và niềm hạnh phúc của dân chúng ở những xứ đó.
Kết
luận, những dữ kiện nghiên cứu của các nhà khoa học,
tâm lý học, v.v… về việc tìm hạnh phúc theo giá trị đồng
tiền cho thấy đó chỉ là ảo tưởng. Và chúng ta thấy rằng
những điều đó rất hợp với lời Phật dạy về tham năm
món dục lạc (chứ không phải chỉ riêng tiền bạc) trong
kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân rằng “Nhiều
mong muốn thì khổ. Ít muốn biết đủ thì thân và tâm thường
an lạc (đa dục vi khổ. Thiểu dục tri túc, thân tâm thường
lạc)”. Thật vậy, lời đức Phật dạy, nhắc nhủ chúng
ta chuyển hóa tâm tham dục, vô minh vọng động luôn luôn đúng
đắn, thích hợp với mọi thời, vượt ngoài dòng thời gian
và không gian. Theo dòng lịch sử, trong suốt bốn mươi lăm
năm hoằng pháp lợi sanh, đức Phật luôn luôn nhắm vào mục
đích chuyển hóa phiền não vô minh vọng động của chúng
sanh, để khiến cho họ được an lạc hạnh phúc. Thế nên,
Ngài để lại biết bao nhiêu bài pháp dài ngắn, cạn sâu,
như lý 12 nhân duyên chẳng hạn, để giúp chúng ta được
an lạc giải thoát, nếu chúng ta cố gắng ứng dụng những
bài pháp nhũ đó trong cuộc sống hằng ngày, nhất là trong
năm Đinh Hợi nay.
Người
gửi bài: Tâm Minh
07-11-2007
07:23:34