Được
phước, tiêu tội hơn cả
Trừ
ma hơn cả
Lưu
thông chung
PHẦN
THỨ BA :
PHẦN
LƯU THÔNG
I.
ĐƯỢC PHƯỚC, TIÊU TỘI HƠN CẢ
Kinh
: “Anan, ví như có người đem các thứ thất bảo đầy dẫy
hư không cùng khắp mười phương, dâng lên Chư Phật như số
vi trần, vâng thờ cúng dường, Tâm không lúc nào xao lãng.
Ý ông thế nào ? Người ấy do nhân duyên cúng dường Phật
như vậy được phước nhiều chăng ?”
Ông
Anan đáp rằng : “Hư không vô tận, trân bảo vô biên. Ngày
xưa có chúng sanh cúng Phật bảy đồng tiền, đến lúc bỏ
thân rồi còn được địa vị Chuyển Luân Vương, huống gì
hiện tiền hư không cùng tột, cõi Phật đầy khắp, đều
là trân bảo, thì dù suy nghĩ cùng kiếp còn chẳng thể thấy,
phước ấy làm sao có bờ bến”.
Phật
bảo Ông Anan : “Chư Phật Như Lai lời không hư vọng. Nếu
lại có người thân đủ các tội Tứ Trọng, thập Ba La Di,
giây lát phải trải qua địa ngục A Tỳ phương này phương
khác, cho đến cùng hết các địa ngục Vô Gián mười phương,
không đâu chẳng trải mà có thể trong một niệm đem pháp
môn này khai thị cho người chưa học đời mạt pháp, thì
tội chướng người ấy trong niệm đó liền được tiêu diệt,
biến cái nhân phải chịu khổ địa ngục thành An Lạc Quốc,
được phước siêu vượt trăm lần, ngàn lần, vạn lần,
ức lần hơn người thí cúng trước, như thế cho đến toán
số thí dụ không thể nói hết được.
Thông
rằng : Đầy dẫy thất bảo khắp cả hư không, thế gian làm
sao có chuyện ấy ư ? Lấy Phật Nhãn mà xem, quậy sông dài
làm thành tô lạc, biến đại địa thành vàng ròng cũng là
chuyện tầm thường vậy. Huống chi Tánh Diệu Chân Như, thanh
tịnh bổn nhiên toàn khắp pháp giới, đó là gia bảo. Chứng
Thanh Tịnh Pháp Thân thì đến kho báu (bảo sở), kho báu đó
há chẳng toàn khắp hư không ư ? Bởi thế, dùng bảy báu
: vàng, bạc, trân châu, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách của
thế gian để cúng Phật còn được phước vô lượng huống
là “Nguyện đem toàn thể thân tâm này phụng sự cõi nước
nhiều như bụi, thế mới gọi là báo Phật Ân”, thì có
thể khiến cho người người đều đến kho báu. Cái của
báu xuất thế này phân biệt với đồ báu của thế gian,
nên đồ báu thế gian nào so sánh được. Không chỉ được
phước, mà còn tiêu tội. Phước thì có phước báo, tội
thì có tội báo. Phước, tội cả hai không đo lường nhau
được. Nên tuy được phước cõi trời, cũng chẳng miễn
khỏi cái khổ địa ngục. Tội thì không gì nặng hơn tội
ngũ nghịch : giết cha, hại mẹ, làm thân Phật chảy máu,
phá sự hòa hợp của Tăng Già, đốt thiêu kinh tượng. Đây
chỉ nêu ra bốn, vì cha mẹ xem như một, còn Tam Bảo thì không
thể thay đổi. Ở trước, nói Tứ Khí là chỉ Sát, Đạo,
Dâm, Vọng, lại nói Bát Khí; ở đây nói mười tập nhân
và sáu giao báo ở trước. Tội nghiệp nặng thì địa ngục
Vô Gián mười phương, mỗi mỗi đều trải qua, khổ sở biết
bao.
Chỉ
một niệm hồi tâm, đem pháp bảo này chỉ bày cho người
chưa học, chuyển mê thành ngộ, chuyển phiền não thành Bồ
Đề thì tuy ở trong biển sanh tử mà tự có cái vui Niết
Bàn. Đây là tự gây tội thì tự sám hối, tự gây nghiệp
thì tự giải thoát, tuy Phật cũng không thể giúp cho sức
về chỗ đó. Không có tội, tức là được phước. Không
có khổ tức là hưởng an vui. Bởi thế, đem pháp bảo mà
chỉ bày cho người thì không những tự mình khỏi tội mà
còn khiến người người được phước. Không chỉ tự mình
được của báu mà còn khiến người người đều được
cái rất báu. Cái báu đầy ngập thế gian, nào có nơi chốn.
Há chỉ lấy cái phước do cúng Phật bảy thứ báu mà so sánh
được ư ?
Lời
Phật chân thật, khỏi tội được phước, có vô lượng công
đức như thế rõ ràng tán thán kinh này, thanh tịnh bản nhiên,
toàn khắp pháp giới, không cùng không tận, tôn quý không
gì so sánh nổi.
Có
nhà sư hỏi thiền sư Đại Lãnh : “Sao là tất cả chốn
thanh tịnh ?”
Tổ
Lãnh nói : “Bẻ cành cây quỳnh, tấc tấc là của báu. Cắt
cây chiên đàn, miếng miếng toàn là hương”.
Ngài
Đơn Hà tụng rằng
“Khắp
cùng trời đất thiệt xá lợi
Vạn
hữu toàn bày tịnh diệu thân
Ngọc
Nữ ngược trần không khéo vụng
Linh
miêu hoa trổ chẳng hay xuân”.
Nếu
vậy thì không còn các tướng địa ngục ư ? Cớ sao Ông Điều
Đạt(30) đang sống mà sa vào địa ngục ?
Điều
Đạt báng Phật, nên đang sống mà sa vào địa ngục.
Phật
khiến Anan hỏi rằng : “Ông ở trong địa ngục yên ổn chăng
?”
Ông
Điều Đạt đáp : “Tôi tuy ở trong địa ngục mà vui như
trời Tam Thiền”.
Phật
lại khiến Ông Anan hỏi : “Ông có cầu ra khỏi không ?”
Ông
Điều Đạt đáp : “Tôi chờ Thế Tôn đến thì ra khỏi !”
Ông
Anan nói : “Thế Tôn là Đại Sư ba cõi há có phận vào địa
ngục ư ?”
Ông
Điều Đạt nói : “Tôi há có phận ra khỏi địa ngục ư
?”
Tổ
Thúy Nham Chân nói : “Lời thân quen xuất từ miệng thân quen
!”
Ông
Điều Đạt là anh em chú bác với Đức Phật, là anh ruột
của Ông Anan, đã đắc thần thông, xô núi đè Phật, khi ấy
có thần Kim Cang hộ trì, nhưng cũng làm Phật bị thương,
ngón chân út bị thương chảy máu. Ông muốn hại Phật để
thu nhiếp hết đại chúng, mới đi nửa đường, thân đang
sống mà sa vào địa ngục. Nhưng Ông Điều Đạt từ khi làm
Lộc Vương đã cùng tu hành với Phật, nay tình bà con ruột
thịt thì lại có sự biến đổi này. Cũng là tâm mê quá
nặng, chưa dễ quay đầu, cần phải thiêu sạch nơi lửa nghiệp
địa ngục mới có thể phát ngộ.
Phật
thọ ký cho Ông Điều Đạt sau nhiều kiếp cũng sẽ thành
Phật. Ngay trong địa ngục mà không thấy có chuyện ra vào
thì làm sao biết biến địa ngục thành cõi an lạc ư ?”
II.
TRỪ MA HƠN CẢ
Kinh
: “Anan, nếu có chúng sanh tụng được kinh này, trì được
chú này như Ta nói rộng ra thì cùng kiếp chẳng hết. Y theo
lời dạy của Ta, như lời dạy mà hành đạo, thẳng vào Bồ
Đề, không còn ma nghiệp.
Thông
rằng : Một niệm chuyển hóa bèn tiêu tội nghiệp, phước
đức vô lượng. Nếu thường tụng được kinh này, thường
trì chú này phước đức cùng kiếp chẳng hết. Như y theo
giáo pháp mà hành đạo ắt thành Chánh Giác, không còn nghiệp
ma. Kinh này, chú này phát huy tánh Diệu Giác đến sáng rõ
hoàn bị, chỗ đề phòng Ấm Ma chu đáo, Ma không thể mê hoặc
mà đạo Giác thành tựu vậy.
Nếu
trì chú, tụng kinh mà không rõ ở trong Tự Tánh thì lại bị
Ma trói buộc.
Nhà
sư hỏi Tổ Bách Trượng : ““Y kinh giải nghĩa, tam thế
Phật oan. Lìa kinh một chữ, liền đồng Ma thuyết”. Thì
thế nào ?”
Tổ
Trượng nói : “Do giữ động niệm, tam thế Phật oan. Ngoài
đây riêng cầu liền đồng Ma thuyết”.
Sau
này, nhà sư hỏi Tổ Đồng An : ““Y kinh giải nghĩa, tam
thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, liền đồng Ma thuyết”.
Lý ấy thế nào ?”
Tổ
An nói : “Cô phong (đỉnh cô) ngút mắt, chẳng khoác ráng,
sương. Vầng nguyệt giữa trời, bạch vân tự khác”.
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Mây
tự cao bay, nước tự xuôi
Mênh
mông trời nước lắc thuyền không
Đêm
khuya chẳng hướng bờ lau đậu
Khỏi
hẳn trung gian với hai đầu”.
Chỗ
này nơi nghĩa kinh, chẳng tức, chẳng lìa, tự có chỗ xuất
đầu. Nếu ngộ chỗ này thì Ma không thể mê hoặc.
Thiền
sư Thọ Châu Đạo Thụ dưới lời của Ngài Thần Tú biết
được chỗ vi diệu, bèn cất am cỏ ở Thọ Châu Tam Phong.
Thường có con dã nhân, mặc đồ trắng đơn giản, nói năng
kỳ dị, ngoài chuyện cười nói còn hóa ra hình Phật, cho
đến các hình Bồ Tát, La Hán, Trời, Tiên... hoặc phóng hào
quang, hoặc phát lộ âm thanh tiếng dội. Hàng học trò thấy
vậy đều không thể đo lường được. Như vậy trải qua
mười năm, sau lặng mất, không còn hình ảnh.
Sư
nói với đại chúng : “Dã nhân làm lắm màu mè mê hoặc
người tu. Chỉ phải lão tăng không thấy, không nghe. Màu mè
của y thì có chỗ cùng mà cái không thấy, không nghe của
ta thì vô tận”.
Nếu
hiểu cái ý chỉ “Chẳng thấy, chẳng nghe vô tận” này
thì thẳng vào Bồ Đề không hề thiếu hụt, Ấm Ma tiêu ráo,
Thiên Ma nào để phải lo !
III.
LƯU THÔNG CHUNG
Kinh
: Phật nói kinh này xong, hàng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La cùng
các vị Bồ Tát, Nhị Thừa, Thánh Tiên, Đồng Tử ở phương
khác và các Đại Lực Quỉ Thần mới phát tâm thảy đều
hoan hỷ, làm lễ mà lui.
Thông
rằng : : Phật nói kinh này là pháp môn Tối Thượng Viên Đốn.
Phật dùng một âm diễn pháp, tùy mỗi loại đều riêng hiểu,
nên tùy chỗ chứng lượng đều được cái vui của pháp,
hớn hở mà đi. Vì sao thế ? Tánh là cái vốn có, ai ai đều
sẵn đủ.
Cho
nên, Tổ Triệu Châu khai thị đại chúng rằng: “Xem kinh cũng
ở trong sanh tử, chẳng xem kinh cũng ở trong sanh tử. Vậy
các ông làm sao ra cho khỏi ?”
Một
nhà sư bèn hỏi : “Vậy như trọn chẳng lưu lại thì sao
?”
Tổ
Châu nói : “Thật vậy thì được, còn chẳng thật vậy làm
sao ra khỏi sanh tử”.
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Xem
kinh cũng ở trong sanh tử
Ngồi
trong rá cơm không biết ăn
Không
xem kinh cũng trong sanh tử
Ngập
đời áo ấm không ai mặc
Bỗng
nhiên chim khách kêu một tiếng
Quay
thân nhảy nhót khắp nhà vui
Thôi
suy nghĩ !
Như
nay vất ra trước mọi người
Đại
Bi ngàn tay không giở nổi !”.
Vị
Tọa Chủ Tây Xuyên đến Ngài Hoa Nghiêm hỏi rằng : “Tổ
Ý, Giáo Ý là đồng hay khác ?”
Ngài
Hoa Nghiêm nói : “Như hai bánh của xe, như hai cánh của chim”.
Tòa
Chủ nói : “Ngỡ rằng Thiền Môn riêng có chỗ kỳ đặc,
té ra chẳng ra ngoài giáo ý !”
Sau
này, nghe Tổ Giáp Sơn giáo hóa thịnh hành, lại bảo đệ
tử sang hỏi câu trên.
Tổ
Sơn nói : “Chạm cát không đủ bàn chạm ngọc, đền ơn
trái với ý đạo nhân !”
Đệ
tử về kể lại với Tòa Chủ, vị này khen ngợi, hướng
về phía Tổ Sơn làm lễ mà nói : “Ngỡ rằng Thiền Môn
và giáo ý chẳng khác, té ra có chuyện kỳ đặc”.
Há
chẳng nghe có nhà sư hỏi Tổ Mục Châu : “Tổ Ý, Giáo Ý
là đồng hay khác ?”
Tổ
Châu nói : “Núi xanh tự núi xanh, mây trắng tự mây trắng”.
Ngài
Thiên Đồng nêu rằng : “Nếu hướng về trong ấy biết được
Mục Châu thì Thích Ca ra đời, Đạt Ma Tây sang đều là tay
không biết thủ phận ! Lại biết được chăng ? Tay dài, ống
áo ngắn; chân gầy, giày cỏ dư (rộng) !”
Có
nhà sư hỏi Tổ Lạc Phố : “Tổ Ý, Giáo Ý là đồng hay
khác ?”
Tổ
Phố nói :
“Trời,
trăng cùng xoay sáng
Ai
nói có riêng đường”.
Nhà
sư hỏi : “Như vậy thì sáng tối khác đường, phải quấy
một lối ?”
Tổ
Phố nói : “Chỉ tự chẳng quên dê, nào phải là đường
rẽ !”
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Trăng
rọi bóng tùng, cây cao thấp
Nhật
chiếu lòng ao, trời dưới trên
Rực
rỡ đương không, chẳng chánh Ngọ
Đêm
thu vành vạnh, biết chi tròn”.
Hiểu
chỗ này thì chỗ mặt trời, mặt trăng chẳng đến, riêng
có một Càn Khôn ! Đâu phải hạng bo bo Tông Giáo làm kế
sanh nhai có thể nghĩ lường sao !
30
Tức Đề Bà Đạt Đa.