QUYỂN
IX
Các
cõi trời
A.
Sắc giới
B.
Vô sắc giới
C.
Bốn giống A Tu La
Khai
thị sự hư vọng của bảy loài để khuyên tu chân chánh
Phân
biệt các ấm ma
Phạm
vi của sắc ấm
Phạm
vi của thọ ấm
Phạm
vi của tưởng ấm
V.
CÁC CÕI TRỜI
A.
SẮC GIỚI
Kinh
: “Anan, tất cả những người tu tâm trong thế gian mà không
nhờ Thiền Na thì không có Trí Huệ. Người có thể giữ cái
thân không làm chuyện dâm dục, khi đi khi ngồi đều không
tưởng nhớ, ái nhiễm chẳng sanh thì không còn ở trong Dục
Giới. Người ấy liền được bản thân làm Phạm Lữ. Một
hạng như vậy gọi là Phạm Chúng Thiên.
“Thói
quen dâm dục đã trừ, tâm ly dục hiện ra, đối với các
Luật Nghi thì yêu thích tùy thuận. Người ấy liền có thể
thực hành Phạm đức. Một hạng như vậy gọi Phạm Phụ
Thiên.
“Thân
tâm diệu viên, uy nghi chẳng thiếu, Cấm Giới trong sạch,
lại thêm minh ngộ, người ấy liền có thể thống lãnh Phạm
Chúng, làm Đại Phạm Vương. Một hạng như vậy gọi là Đại
Phạm Thiên.
“Anan,
ba hạng trổi vượt này, tất cả khổ não không thể bức
bách được. Tuy chẳng phải chân chánh tu hành Tam Ma Địa
mà trong tâm thanh tịnh các lậu chẳng động, gọi là Sơ Thiền.
“Anan,
kế đó hàng Phạm Thiên thống nhiếp Phạm Chúng tròn đầy
Phạm Hạnh, lóng tâm chẳng động, trong lặng sanh ra ánh sáng.
Một hạng như vậy, gọi là Thiểu Quang Thiên.
“Ánh
sáng soi nhau, chiếu sáng vô tận, dọi mười phương cõi, khắp
hết thành lưu ly. Một hạng như vậy, gọi là Vô Lượng Quang
Thiên.
“Vẹn
giữ ánh sáng tròn đủ, thành tựu giáo thể, phát ra sự giáo
hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng. Một hạng như vậy,
gọi là Quang Âm Thiên.
“Anan,
ba hạng trổi vượt này, tất cả lo buồn không thể bức
bách được. Tuy không phải chân chánh tu hành Tam Ma Địa,
mà trong tâm thanh tịnh các lậu thô đã dẹp xuống, gọi là
Nhị Thiền.
“Anan,
hạng Người Trời như vậy, ánh sáng toàn vẹn thì thành âm
thanh, mở âm thanh bày lộ sự mầu diệu, phát nên hạnh tinh
thuần, tiếp thông với cái vui tịch diệt. Một hạng như
vậy, gọi là Thiển Tịnh Thiên.
“Trống
rỗng, thanh tịnh hiện tiền, rộng phát không bờ bến, thân
tâm khinh an, thành cái vui tịch diệt. Một hạng như vậy,
gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên.
“Thân
tâm, thế giới tất cả đều vẹn toàn sáng sạch, cái tánh
đức trong sạch đã thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện
tiền, quy về cái vui tịch diệt. Một hạng như vậy, gọi
là Biến Tịnh Thiên.
“Anan,
ba hạng trổi vượt này, đầy đủ chỗ tùy thuận bao la,
thân tâm an ổn, được cái vui vô lượng. Tuy chẳng phải
chân chánh được Tam Ma Địa mà trong tâm an ổn, đầy đủ
hoan hỉ, gọi là Tam Thiền.
“Anan,
kế đó, những hạng Người Trời thân tâm không còn bị bức
bách, cái nhân khổ đã hết, nhưng cái vui chẳng thường trụ,
lâu rồi cũng tiêu hoại. Bởi thế, đồng thời bỏ ngay hai
cái tâm khổ, vui. Những tướng thô nặng diệt mất, tánh
phúc thanh tịnh sanh ra. Một hạng như vậy, gọi là Phúc Sanh
Thiên.
“Tâm
xả bỏ viên dung, sự hiểu biết thù thắng càng trong sạch,
trong cái Phúc không gì che đậy đó, được sự tùy thuận
mầu nhiệm cùng tột vị lai. Một hạng như vậy, gọi là
Phúc Ái Thiên.
“Nếu
nơi tâm trước kia, nhàm chán cả khổ lẫn vui, lại nghiền
ngẫm cái tâm xả bỏ tiếp tục không ngừng, đến cùng tột
sự buông bỏ, thân tâm đều diệt, tâm ý dứt ngưng, trải
qua năm trăm kiếp. Người đó đã lấy cái sanh diệt làm nhân
thì chẳng có thể phát minh cái Tánh không sanh diệt. Nên nửa
kiếp đầu diệt, nửa kiếp sau lại sanh. Một hạng như vậy,
gọi là Vô Tưởng Thiên.
“Anan,
bốn hạng trổi vượt này, tất cả cảnh khổ vui của thế
gian chẳng thể làm lay động. Tuy chẳng phải địa bất động
chân thật của Vô Vi, mà cái tâm có chỗ đắc thì công dụng
thuần thục, gọi là Tứ Thiền.
Thông
rằng : Sáu cõi trời Dục Giới ở trước thì hình thức tuy
đã ra khỏi động, đã lìa khỏi hai nẻo người và Tiên,
nhưng dấu vết tâm thức vẫn còn, cái Dục Niệm chưa hoàn
toàn hết hẳn, nên chẳng thể nói là Phạm Hạnh được.
Nếu người tu Phạm Hạnh mà chỉ biết giữ Giới, tu đạo
Thập Thiện, chẳng biết Thiền Na thì không có Trí Huệ. Bởi
thế nơi các Cấm Giới, chỉ có Dâm là khó dứt trừ. Thêm
cái nỗ lực trừ Dâm, thì không còn ở Dục Giới, đó là
hàng Phạm Chúng. Tâm đã lìa Dục thì Giới là Chân Giới,
đối với các Luật Nghi vui thích tùy thuận, đó là Phạm
Phụ. Cấm Giới thanh tịnh lại thêm minh ngộ, nghĩa là ngộ
Dục tức là Tánh. Giới mà không chỗ Giới, đó là Đại
Phạm. Giới và Định tương ứng, được cả Định lẫn Giới,
đã lìa tám thứ khổ của cõi Dục, nên cái tướng thô của
khổ não không thể bức bách, gọi là Ly Sanh Hỉ Lạc Địa.
Tất cả đều thuộc Sơ Thiền.
Từ
đây trở lên, không có ngôn ngữ, chỉ dùng định tâm phát
ra ánh sáng. Ánh sáng có mạnh, yếu mà phân ra cao, thấp. Thiểu
Quang là ánh sáng còn yếu. Lần lượt phát ra nhiều ánh sáng
là Vô Lượng Quang, còn chưa thành âm thanh vậy. Đến khi thành
tựu cái giáo thể, khiến cho người thấy ánh sáng thì biết
tu đức hạnh trong sạch, tùy theo căn cơ mà được lợi ích,
ứng dụng không cùng thì ánh sáng tròn vẹn thành âm thanh
đó vậy. Khi cái Định này sanh thì cùng với sự hoan hỉ
phát ra, gọi là Hỉ Câu Thiền. Những lo buồn vi tế không
thể bức bách được, gọi là Định sanh Hỉ Lạc Địa. Đây
đều thuộc về Nhị Thiền.
Từ
đây trở lên, lìa cái động hoan hỉ trước kia mà sanh ra
cái vui thanh tịnh. Cái vui này chẳng phải là cảnh, mà xuất
sanh từ Bản Tánh thanh tịnh, tương tự với cái Tịch Diệt
là vui. Ban đầu nói là tiếp thông thì sự thanh tịnh còn
yếu, còn đã nói là thành tựu thì thân tâm khinh an, hợp
với bản tánh nhiệm mầu, nhưng chưa đến chỗ cùng khắp.
Duy chỉ thế giới, thân tâm, tất cả toàn vẹn trong sạch,
đây là cảnh giới thù thắng hiện tiền. Nương nơi cảnh
giới thù thắng chứ chưa phải thật là tịch diệt hiện
tiền. Chỉ tùy thuận theo bản tánh thanh tịnh, quy về cái
vui tịch diệt, công đức của cái Định này cùng phát ra
với cái vui khắp thân thể, gọi là Lạc Cu Thiền. Tuy lìa
cái động hoan hỉ ở trước mà hoan lạc đầy đủ, gọi
là Ly Hỉ Diệu Lạc Địa. Đây đều thuộc về Tam Thiền.
Cái
động hoan hỉ là nhân của khổ bức. Lìa Hỉ thì cái nhân
khổ đã hết, được vui vô lượng. Cái vui này do hữu vi
mà có, vui lâu thì cũng phải hoại diệt, hoại diệt thì thành
khổ. Bởi thế, Khổ Vui đều xả bỏ thì tướng thô nặng
diệt mất. Niệm xả bỏ thanh tịnh thì tánh phúc thanh tịnh
hiện ra. Cái phúc do tịnh đức mà ra nên tam tai không đến
được, gọi là Phúc Sanh. Khổ Vui đều mất, xả bỏ không
chỗ xả bỏ, chỉ vui thích tùy thuận tánh phúc không gì che
đậy, gọi là Phúc Ái. Đều gọi là Xả Cu Thiền. Từ đây
có hai đường rẽ : Nếu nơi ánh sáng vô lượng, thanh tịnh
vô lượng, phúc đức tròn sáng mà không sanh khởi dị chấp,
không có tâm sanh diệt thì hướng thẳng về Quảng Quả Thiên.
Đó là cái quả do phúc thanh tịnh rộng lớn mà cảm ứng
vậy. Nếu nơi cái tâm trước kia nhàm chán cả Khổ lẫn Vui,
chuyên nghiền ngẫm cái tâm xả bỏ, thì xả bỏ được cái
tâm thô mà vào tâm vi tế. Lại bỏ cái tâm vi tế mà vào
cái tâm rất vi tế. Từ cái tâm rất vi tế mà tiếp tục
không ngừng cho đến chỗ xả bỏ tất cả tâm tưởng, tâm
ý dứt ngưng. Tướng vọng tưởng này gọi là Vô Tưởng Định,
bèn theo con đường xa hút nghiêng lệch mà sanh cõi trời Vô
Tưởng. Người đó không rõ bản tánh của vọng tưởng là
Không, Vọng tức là Chơn, nên nhàm chán cái sanh diệt đây
mà cầu cái chẳng sanh diệt. Dẫu đến thân tâm đều diệt
cũng chẳng phải là tánh chẳng sanh diệt chân thực vậy.
Như cá ép trong nước đá thôi !
Ban
đầu, sanh lên cõi trời đó chưa hẳn là vô tưởng, trải
qua nửa kiếp mới thật được không có tưởng. Đến khi
quả báo sắp hết thì nửa kiếp sau có tưởng mà tâm tướng
hiện ra nên kinh nói “Nửa kiếp đầu diệt, nửa kiếp sau
sanh”. Trong khoảng bốn trăm chín mươi chín kiếp, một bề
là không có tưởng, do sức Định nắm giữ, tất cả Khổ
Vui không thể lay động. Đây đều là Tứ Thiền.
Ở
Sơ Thiền, Nhị Thiền, nói là “Chẳng phải chân chánh tu
hành Tam Ma Địa”.
Ở
Tam Thiền, thì nói là “Chẳng phải chân chánh được Tam
Ma Địa”.
Đến
Tứ Thiền, nói là “Chẳng phải Địa Vị Bất Động chân
thực của Vô Vi”.
Sơ
Thiền thì tu Giới. Nhị Thiền thì tu Định. Từ trong Phạm
Hạnh thanh tịnh mà tu, tuy không đến nỗi là tà định của
quỉ thần, nhưng chẳng phải là từ Tam Ma Địa chân thật
mà phát tâm. Đây là chỗ phân biệt giữa Hữu Vi và Vô Vi
vậy.
Tam
Thiền thì có chỗ đắc, đắc nên vui. Có đắc, có vui tức
là chẳng phải Tam Ma Địa chân thật. Đây là chỗ phân biệt
giữa có đắc và không đắc vậy.
Đến
Tứ Thiền thì cái tâm có chỗ đắc cơ hồ xả bỏ hết sạch,
có thể gọi là vô vi, nhưng đó là do dụng công thuần thục
mà ra chứ chẳng phải là Bất Động Địa chân thực. Nếu
là chân Bất Động Địa thì các thứ khổ không thể đến,
đến còn chẳng thể được thì cái gì lay động ư ? Nay lại
lấy chỗ mà các cảnh khổ vui của thế gian chẳng thể động
đến mà cho là Tam Ma Địa, thì Tam Ma Địa đó có thể tu
đến nơi vậy. Có thể tu đến nơi thì chẳng phải là Tam
Ma Địa vậy. Cho nên cái Tam Ma Địa chân thật thì chẳng
đủ Trí Huệ Bát Nhã bèn không thể nào biết được. Nay
hạng Tứ Thiền tu tâm, chẳng ở trong Thiền Na thì không có
Trí Huệ, nên ở Tam Ma Địa chân thực có chỗ chẳng biết
vậy.
Hòa
Thượng Chân Tịnh khai thị đại chúng rằng: “Ngày này đã
qua, mệnh đời cũng theo đó mà dứt giảm, như cá ít nước,
thế có vui gì ?”
Duy
bậc Nhị Thừa thì thiền định tịch diệt là vui, đó là
cái vui chân thật. Bồ Tát học Bát Nhã thì pháp hỉ, thiền
duyệt là vui, đó là thật vui. Ba đời Chư Phật thì Từ,
Bi, Hỉ, Xả, bốn Vô Lượng Tâm đó là thật vui.
Thạch
Sương Phổ Hội nói rằng : “Ngừng đi, thôi đi ! Lạnh lẽo
u sầu đi ! Đó là cái vui tịch diệt của Nhị Thừa”.
Vân
Môn nói rằng : “Nhất Thiết Trí suốt thông không chướng
ngại”.
Cầm
cây quạt đưa lên, nói : “Thích Ca Lão Trượng đến !”
Đó
là cái vui pháp hỉ thiền duyệt.
Đức
Sơn đánh, Lâm Tế hét, đó là cái vui từ bi, hỉ xả của
ba đời Chư Phật. Ngoại trừ ba thứ vui đó, chẳng có gì
là vui vậy. Thử nói xem một chúng Quy Tông đây, trong ba thứ
vui đó hay ngoài ba thứ vui đó ?
Chập
lâu, nói rằng : “Hôm nay trang chủ bày biện cơm canh, biếu
tiền, biếu của. Tham dự rồi, trong tăng đường khắp mời
uống trà đi”.
Hét
một tiếng.
Lại
như thiền sư Nga Hồ Đại Nghĩa được vua Hiến Tông mời
vào nội điện luận kinh nghĩa.
Có
vị pháp sư hỏi : “Dục Giới không Thiền, Thiền nơi Sắc
Giới, thì cõi này nương gì mà lập ?”
Ngài
nói : “Pháp sư chỉ biết Dục Giới không Thiền, chẳng biết
Thiền Giới không dục”.
Hỏi
: “Thế nào là Thiền ?”
Tổ
Nghĩa lấy tay điểm hư không.
Pháp
sư không chỗ đối đáp.
Nhà
Vua nói : “Pháp sư giảng kinh luận vô cùng, thế mà chỉ
một điểm ấy, lại chẳng biết là sao ?”
Cho
nên cái chân Tam Ma Địa thật chẳng dễ biết. Biết thì thoát
ngay khỏi ba cõi, kể gì đến bốn cõi thiền ư ?
Kinh
: “Anan, trong đó lại có năm Bất Hoàn Thiên. Đã diệt hết
tập khí chín phẩm Tư Hoặc ở cõi dưới, Khổ Vui đều mất,
bên dưới không còn chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng
đồng phận của tâm xả.
“Anan,
Khổ Vui cả hai đều diệt, tâm tranh đấu chẳng còn liên
lụy, một hạng như vậy, gọi là Vô Phiền Thiên.
“Thênh
thang độc hành, không còn chỗ so đo, một hạng như vậy,
gọi là Vô Nhiệt Thiên.
“Khéo
thấy mười phương thế giới, tròn vẹn lặng trong, không
còn tất cả dơ nhiễm nặng nề của trần cảnh, một hạng
như vậy, gọi là Thiện Kiến Thiên.
“Cái
thấy trong suốt hiện tiền, trui rèn không ngăn ngại, một
hạng như vậy, gọi là Thiện Hiện Thiên.
“Rốt
ráo các cơ vi, cùng tột tánh của sắc pháp, thể nhập cõi
không bờ bến, một hạng như vậy, gọi Sắc Cứu Cánh Thiên.
“Anan,
những bậc Bất Hoàn Thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên Vương
Tứ Thiền được sự kính nghe, nhưng không thể thấy biết.
Như hiện giờ có các Thánh, đạo tràng nơi rừng sâu, đồng
rộng thế gian đều là chỗ trụ trì của các vị A La Hán,
mà người thô thiển của thế gian chẳng thể thấy biết.
“Anan,
mười tám hạng Trời đó, độc hành không giao thiệp, nhưng
chưa hết cái lụy của Hình Sắc. Từ đây trở lại, gọi
là Sắc Giới.
Thông
rằng : Năm Bất Hoàn Thiên chẳng thọ sanh trở lại ở Dục
Giới, tức là bậc Tư Đà Hàm, gọi là Bất Lai nhưng thật
không phải Bất Lai vậy. Quả Thứ Ba có thể đoạn trừ tập
khí của chín phẩm, chủng tử và hiện hành đều diệt. Ở
Dục Giới không còn nghiệp thọ sanh nên bảo rằng “Dưới
không có chỗ ở”.
Năm
hạng trời này tức là bậc Tứ Thiền mà cái xả niệm thanh
tịnh, nhập vào chỗ vi tế mà lập ra cái tên vậy.
Ở
trước, đối với Khổ, Vui có bỏ, có chán thì tâm cùng cảnh
còn xung đột, không thể không có phiền não. Nóng nảy, sôi
nổi gọi là Phiền. Còn nay khổ vui đều diệt, không còn
có cái để xung đột, nên gọi là Vô Phiền Thiên.
Tâm
tuy chẳng so đo, nhưng vẫn còn chỗ cho sự so đo, vì chưa
nhổ hết gốc rễ vậy. Nay tâm cơ không còn đối đãi, nên
diệt được ảnh duyên, và sự nóng nảy sanh ra phiền não
cũng không còn, nên gọi là Vô Nhiệt Thiên.
Bậc
Vô Phiền và Vô Nhiệt này chỉ mới trừ được cái thô thiển
ở ngoài chứ chưa hiển bày được cái trong sạch nhiệm mầu.
Nay cái Thấy nhiệm mầu lặng trong tròn vẹn, ngoài chẳng
nương theo trần cảnh mà sanh, trong chẳng nương theo dơ nhiễm
thô phù mà có, bèn soi chiếu mười phương thế giới như
ngọc lưu ly trong trẻo, đó gọi là Thiện Kiến Thiên.
Cái
thấy trong suốt ở nơi mình có thể trui rèn thành Diệu Sắc
không ngăn ngại. Mười phương thế giới từ nơi ta phát hóa,
gọi là Thiện Hiện Thiên.
Cơ
là cái vi tế của động. Một cái vi tế đã Không thì tất
cả các tế vi Không, tất cả các tế vi Không nên một vi
tế Không. Ở đây tột cùng tánh của sắc pháp. Tánh Sắc
tức Không, tánh Không là Giác. Giác là Tánh của sắc pháp
vậy. “Không” sanh trong Đại Giác, như bọt nước trong biển
thì không những cùng tột tánh của sắc, mà sự rốt ráo
của tánh không có chỗ đến, thì sắc trong chỗ cứu cánh
mới sạch hết vậy.
Kinh
Lăng Già nói “Trụ ở cõi trời Sắc Cứu Cánh, lìa các chỗ
lỗi lầm, nơi ấy thành Chánh Giác”. Lời này có ý vị thay
! Nói là Chánh Giác là chẳng trụ nơi sắc, chẳng trụ nơi
không. Duy chỉ cõi trời Sắc Cứu Cánh, thì sắc trước đây
đã hết, không sau này chưa đến, nên ở đó có thể chứng
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác vậy.
Đức
Di Lặc nói : “Mười tám chỗ của Sắc Giới là ba cõi trời
của Sơ Thiền, là do ban đầu huân tu pháp Thiền Na của thượng
phẩm trong Nỗn Pháp. Ba cõi trời của Nhị Thiền là do huân
tu pháp Thiền Na Thứ Nhì của thượng phẩm trong Nỗn Pháp.
Ba cõi trời của Tam Thiền là do huân tu pháp Thiền Na Thứ
Ba của thượng phẩm trong Nỗn Pháp. Bốn cõi trời Tứ Thiền
là do huân tu pháp Thiền Na Thứ Tư của thượng phẩm trong
Nỗn Pháp. Lại có năm chỗ tịnh cư tâm bất cộng của chư
Thánh ở, do huân tu pháp Thiền Na Thứ Tư của thượng thượng
cực phẩm trong Nỗn Pháp”.
Cõi
trời Bất Hoàn này vì sao từ Tứ Thiền trở xuống không
thể thấy biết ? Vì, ở các cõi trời phía dưới chỉ tu
pháp Định hữu lậu của phàm phu, còn cõi trời này tu Thánh
nghiệp vô lậu. Thánh phàm cách biệt nên không thể thấy
được.
Ngài
Vân Cư Ứng kết am ở núi Tam Phong, suốt tuần không đến
trai đường.
Tổ
Động Sơn hỏi : “Gần đây sao không đến thọ trai ?”
Ngài
Ứng đáp : “Mỗi ngày tự có thiên thần dâng bữa ăn”.
Tổ
Động Sơn nói : “Ta định cho ông là Người Ấy, vậy mà
còn cái kiến giải thế ư ? Chiều đến đây, nhé!”
Buổi
chiều Ngài Ứng đến.
Tổ
Sơn gọi lớn : “Ứng Xà Lê !”
Ngài
Ứng cất tiếng dạ.
Tổ
Sơn nói : “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đó là cái
gì ?”
Ngài
Ứng về am tịch nhiên an tọa.
Từ
đó, thiên thần tìm kiếm mãi chẳng ra. Trải qua ba ngày mới
thôi.
Lại
như Ngài Thần Tăng Pháp Bổn thường đến thiền viện Tương
Châu cùng với một vị tăng an cư kiết hạ.
Ngài
thường nói : “Bần đạo trụ trì chùa Trúc Lâm trong núi
Tây Sơn đất Tương Châu. Trước chùa có một trụ đá, ngày
nào có rảnh xin mời đến thăm”.
Nhà
sư nhân qua nơi đó, nhớ lại lời nói ấy, bèn tìm kiếm.
Đến một xóm dưới chân núi qua đêm, hỏi vị tăng trong
xóm rằng : “Đây cách chùa Trúc Lâm gần xa?”
Vị
tăng bèn chỉ mé một ngọn núi ở xa, nói : “Chỗ ấy đó.
Các cụ già tương truyền đó là chỗ ở của Thánh Hiền
ngày xưa, nay chỉ còn cái tên thôi vậy”.
Nhà
sư sanh nghi, sáng hôm sau đến trong rừng trúc, quả là có
một cục đá. Nhớ khi từ giã, Ngài Pháp Bổn có dặn “Chỉ
gõ cây trụ, liền thấy được người”.
Bèn
dùng cành cây gõ vào trụ vài tiếng. Bỗng mây gió bốn phía
nổi lên, trong vài thước chẳng thể nhìn thấy. Chốc lát
quang đãng lại thì thấy lâu đài cao ngất, mà mình đang ở
ngoài tam môn, còn lưỡng lự thì Ngài Pháp Bổn từ trong bước
ra. Trông thấy rất mừng, hỏi han chuyện cũ ở Nam Trung, rồi
dẫn nhà sư qua các cửa, lên trên điện bí mật ra mắt tôn
túc.
Vị
này hỏi lý do, thì Ngài Pháp Bổn nói : “Năm ngoái cùng qua
Hạ ở Tương Châu, hẹn thăm nhau ở chốn này”.
Vị
tôn túc nói : “Sau khi dùng bữa, nên mời ra về. Ở đây
không có tòa vị”.
Ăn
xong, Ngài Pháp Bổn tiễn đến tam môn từ giã.
Rồi
thì trời đất tối tăm, chẳng biết đâu mà đi, lại thấy
mình ở bên trụ đá.
Vậy
là đạo tràng của bậc Thánh đều là các bậc A La Hán trụ
trì, nên người đời không thể trộm thấy. Huống lại nghi
về các cõi trời Bất Hoàn ư ? Tuy chẳng thể thấy, nhưng
còn có sắc chất, nên đều gọi là Sắc Giới.
B.
VÔ SẮC GIỚI
Kinh
: “Lại nữa, Anan, từ chỗ cao tột của Sắc Giới này lại
có hai đường rẽ.
“Nếu
nơi tâm xả bỏ, phát minh được Trí Huệ, sánh sáng Trí Huệ
viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A La Hán, vào Bồ
Tát Thừa. Một hạng như vậy, gọi là Hồi Tâm Đại A La
Hán.
“Nếu
nơi tâm xả bỏ, thành tựu sự chán bỏ, biết thân là ngăn
ngại, trên cái ngăn ngại ấy vào cái Không. Một hạng như
vậy, gọi là Không Xứ.
“Các
ngăn ngại đã tiêu, nhưng cái Vô Ngại không diệt, trong đó
còn lưu lại thức A Lại Da nguyên vẹn và nửa phần vi tế
của thức Mạt Na. Một hạng như vậy, gọi là Thức Xứ.
“Sắc,
Không đã hết, cái Thức Tâm diệt xong, mười phương vắng
lặng, tuyệt không qua lại. Một hạng như vậy, gọi là Vô
Sở Hữu Xứ.
“Thức
tánh bất động, do nghiên cùng cái Diệt, trong nơi vô tận,
bày ra cái tánh dứt hết, như còn mà chẳng còn, như hết
mà chẳng hết. Một hạng như vậy, gọi là Phi Tưởng, Phi
Phi Tưởng Xứ.
“Những
hạng đó nghiên cùng cái Không, mà chẳng tột hết Lý Không.
Từ Bất Hoàn Thiên, thì cái Thánh Đạo đã đến giới hạn
tột cùng. Một hạng như vậy, gọi là Bất Hồi Tâm Độn
A La Hán.
“Nếu
từ cõi trời Vô Tưởng của các ngoại đạo, nghiên cùng
cái Không mà chẳng quay lại, mê lầm không nghe Chánh Pháp
thì sẽ vào luân hồi.
“Anan,
trên các cõi trời đó, mỗi người trời là những phàm phu
theo sự báo đáp của nghiệp quả. Quả hết thì rơi luân
hồi. Thiên Vương của các cõi ấy tức là Bồ Tát, dạo qua
Tam Ma Địa mà lần lượt tăng tiến trên đường hướng về
Phật Đạo.
“Anan,
các cõi trời Tứ Không đó, thân tâm diệt hết, cái tánh
Định hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả. Từ
đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới.
“Những
hạng đó chẳng rõ tánh Diệu Giác Minh Tâm, chứa nhóm vọng
tưởng mà phát sanh, vọng có ra ba cõi. Ở trong đó, hư vọng
theo bảy nẻo chìm đắm, mỗi một chúng sanh theo loại của
mình.
Thông
rằng : Bốn cõi trời Vô Sắc là chỗ ở của bậc định
tính Thanh Văn. Nếu hồi tâm, tức là hồi Trí hướng Bi, cứu
giúp chúng sanh, lợi lạc cho đời, chẳng trụ quả vị nhỏ
thấp, vào Bồ Tát Thừa, gọi là Đại A La Hán. Bậc căn cơ
ám độn, chẳng thể phát minh được Trí Huệ, lại do tâm
định ưa trên, chán dưới. Chán Sắc nương Không, vào Không
Vô Biên Xứ. Sự chướng ngại của thân đã tiêu, chẳng nương
nơi Sắc. Cái Không của không-ngại cũng diệt, lại Không
luôn cả cái Không-có-chỗ-Không.
Sáu
Thức của thân căn đều đã dứt tuyệt, chỉ còn lưu lại
toàn vẹn Thức Thứ Tám và nửa phần Thức Thứ Bảy. Thức
Thứ Bảy Mạt Na vốn không có vị trí cố định, ngoài thì
duyên theo sắc, không, ấy là nương theo sáu Thức, gọi là
Thô; trong thì duyên theo Thức Thứ Tám chỉ có chấp lấy bên
trong, không có duyên ra ngoài, gọi là Tế. Sự nhàm chán cái
Không, nương theo cái Thức này gọi là Thức Vô Biên Xứ.
Tiến tới nữa, toàn phần Thức Thứ Tám và nửa phần Thức
Thứ Bảy của thức tâm đều diệt, nhưng chẳng phải có
thể diệt thật sự. Đó là chỉ lấy cái chỗ trong lặng
không động lay của Thức Tâm, hoàn toàn không qua lại mà
cho là cái Vốn-Không-Chỗ-Có. Chân Tánh xưa nay không một
vật, nên chỗ Thức này diệt hết cũng có vẻ tương tự.
Nhưng đây là lấy cái sanh diệt làm Tâm Nhân Địa nên cái
tâm sanh diệt chưa diệt, ví như dòng nước chảy xiết, xem
qua giống như đứng yên, nên không thể nói đó là cái chỗ
Vô Sở Hữu của Chân Tánh vậy.
Cái
thức tâm đã diệt, thức tánh thì chẳng động, mà lại nghiên
cùng rồi cho là cái Bất Động cũng diệt. Phàm cái Bất Động
thì toàn khắp, vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh, vốn
tự chẳng sanh, vốn tự vô tận. Nay ở trong Tánh vô tận
gượng bày bố ra cái tánh tận thì cái gọi là tận này cũng
là nương nơi thức diệt mà thấy là tâm, mà cái Tánh kia
vốn nào có từng tận. Cho nên trong thức tánh chẳng động
mà cho là thường còn, tức là chẳng phải vô tưởng, nên
tâm tư ngưng bặt. Lại thấy hình như chẳng thường còn,
cho đó là tận, tức là chẳng phải Tưởng, nên sự trôi
chảy vi tế chẳng ngừng. Lại hình như chẳng tận, tức là
Phi Phi Tưởng. Cái Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng này một nửa
thì nương nơi cái chẳng sanh chẳng diệt, một nửa nương
vào sanh diệt, chính là lãnh vực của Thức Ấm, bị Thức
ngăn che, chỉ ở trong niệm tưởng mà suy gẫm, chẳng thật
là thấy Tánh. Sanh cõi trời này vào vạn kiếp Vô Tưởng,
hết kiếp đó thì lại có Tưởng. Hạng này nghiên cùng cái
Không, mà chẳng tột diệu lý Chân Không, chẳng ngộ cái Không
sanh ra trong Đại Giác vậy.
Tuy
từ Thánh Đạo của năm cõi trời Bất Hoàn mà nghiên cùng,
nhưng chẳng rõ Chân Tánh, cái ý chỉ tánh Giác chân Không,
tánh Không chân Giác, chẳng vào Bồ Tát Thừa nên rốt cuộc
gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán. Hạng căn cơ này tuy độn
nhưng còn có lúc hồi tâm. Đâu như hàng ngoại đạo theo cõi
trời Vô Tưởng mê với Lậu Hoặc hữu vi mà cho là Vô Lậu,
để khi quả báo hết liền rớt lại luân hồi.
Ngay
các cõi trời Tứ Không cũng chẳng khỏi luân hồi, thì Dục
Giới, Sắc Giới đều là sự thù đáp của nghiệp quả. Thù
đáp hết thì rớt lại luân hồi, còn nghi gì nữa ? Duy những
vị Thiên Vương là chư vị Bồ Tát đăng địa phân thân ứng
hóa, dạo chơi Tam Ma Địa, quyền biến thị hiện ra thứ bậc,
hồi hướng Phật Đạo, cũng là con đường tu hành tăng tiến
dần dần vậy. Các cõi Tứ Không này, thân tâm diệt hết,
tánh Định hiện tiền, tuy không có sắc pháp của nghiệp
quả, mà còn cái sắc pháp của Định quả. Từ đây đến
cuối cùng, hết luôn cái sắc pháp của Định quả. Nếu chẳng
tỏ ngộ tánh Diệu Giác Minh Tâm, vượt khỏi ba cõi, chẳng
đủ để bàn chỗ này. Chẳng tỏ ngộ tánh Diệu Giác thì
chẳng ra khỏi ba cõi, hư vọng chuyển theo bảy nẻo chúng
sanh, xoay vần chìm đắm, đều do chứa nhóm hư vọng mà ra.
Dục Giới là do vọng thấy Dục; Sắc Giới là do vọng thấy
Trong Sạch; Vô Sắc Giới là do hư vọng thấy Không. Hư Vọng
mà có ba cõi, mỗi cõi mê theo cái nẻo của mình. Chúng sanh
chọn giữ lấy các nẻo tương lai, đó là thân Trung Hữu (Trung
Ấm).
Kinh
Niết Bàn nói “Năm Ấm của Thân Trung Hữu thì nhục nhãn
chẳng thấy được, thiên nhãn thấy được. Hư vọng theo
mỗi loại mà chạy theo luân chuyển. Nói tóm lại là do thức
thần chưa chuyển hóa nên mới như vậy. Nếu có thể chuyển
Thức thành Trí thì tự chẳng có cái lụy này”.
Ngài
Địa Tạng hỏi Ngài Tu Sơn Chủ : “Xứ nào đến ?”
Ngài
Tu : “Phương Nam đến”.
Ngài
Tạng : “Gần đây Phật Pháp phương Nam thế nào ?”
Ngài
Tu : “Thương lượng mênh mông”.
Ngài
Tạng nói : “Nào như ta trong ấy trồng ruộng mênh mông no
đủ”.
Ngài
Tu : “Còn ba cõi thì sao ?”
Ngài
Tạng nói : “Ông gọi cái gì là ba cõi ?”
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Bày
ra lắm thứ giả gượng làm
Lưu
truyền tai miệng, ấy chi ly
Trồng
ruộng no đầy, nhà thường sự
Chẳng
phải “tham (thiền) no” mấy kẻ hay !
No
thiền rõ biết “không chỗ cầu”
Tử
Phòng nào quý chuyện phong hầu
Quên
ráo, về thôi, đồng chim cá
Rửa
cẳng sông xanh, khói nước thu”.
Ngài
Thúy Nham Chân khai thị đại chúng rằng : “Chẳng thấy “một
pháp” là lỗi lầm lớn ! Núi sông đất đai, nhật nguyệt,
tinh tú, sắc, không, sáng tối chẳng phải là “một pháp”
!”
Đưa
cây gậy lên, nói rằng : “Phàm phu thấy cây gậy, gọi đó
là cây gậy. Người Thanh Văn thấy cây gậy, nhận được
cái ngoan không mà bác không có cây gậy. Người Bồ Tát thấy
cây gậy, hầu như được thêm đồng bạn. Đói tới thì ăn,
mệt tới thì ngủ, lạnh tới thì hơ lửa, nóng gắt thì quạt
mát. Chẳng nghe nói “Nhất Thiết Trí Trí Thanh Tịnh” ư
? Nói được lời đó thì cười bể lỗ mũi Thần Thổ Địa
!”
Chỗ
này cùng một vị thanh tịnh với Trồng ruộng no đầy, là
dáng dấp vượt khỏi ba cõi vậy.
C.
BỐN GIỐNG A TU LA
Kinh
: “Lại nữa, Anan, trong ba cõi ấy, lại có bốn thứ A Tu
La :
“Nếu
từ loài Quỉ, do sức hộ pháp, nương thần thông nhập vào
Không. Hạng A Tu La này từ trứng mà sanh, thuộc về loài Quỉ.
“Nếu
từ cõi trời, đức kém phải sa đọa thì chỗ ở gần với
mặt trời, mặt trăng. Hạng A Tu La này từ Thai mà sanh, thuộc
về loài Người.
“Có
Tu La Vương nắm giữ thế giới, sức mạnh thấu triệt không
phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm Vương, Đế Thích
và Tứ Thiên Vương. Hạng A Tu La này do biến hóa mà có, thuộc
về loài trời.
“Anan,
lại có một số Tu La thấp kém, sanh trong lòng biển cả, lặn
trong đáy vực, ngày dạo chơi trên không, tối về ngủ dưới
nước. Hạng A Tu La này do thấp khí mà có, thuộc về loài
súc sanh.
Thông
rằng : Phước lực của Thần A Tu La bằng hàng trời mà không
có cái Hạnh của trời, nên gọi là Phi Thiên(01).
Kinh
Thập Địa nói : “A Tu La có năm loại : Một là hạng rất
nhu nhược, ở trong núi rừng của nhân gian. Trong hang sâu lớn
của núi phương Tây (Ấn) có cung điện của Phi Thiên. Hai
là, ở núi Diệu Cao phía Bắc, dưới biển lớn hai vạn một
ngàn do tuần có cung điện của La Hầu, tay có thể che mặt
trời, mặt trăng. Ba là, xuống thêm hai vạn một ngàn do tuần
có cung điện của Dũng Kiên, tánh nóng giận mà chẳng phải
do uống rượu. Bốn là, xuống thêm hai vạn một ngàn do tuần,
có cung điện của Hoa Man, loài này nữ thì rất đẹp mà nam
thì xấu. Năm là xuống thêm hai vạn một ngàn do tuần có
cung điện của Tỳ Ma Chất Đa La, gọi là Tịnh Tâm, có thể
làm cho sóng biển gầm vang, là quê nhà bên vợ của trời
Đế Thích”.
Kinh
Trường A Hàm nói : “Loài A Tu La trong một ngày một đêm
chịu khổ ba lần. Chuyện khổ tự đến mà vào trong cung”.
Bởi
thế, biết rằng loài này có một phần thiện báo gọi là
Người-Trời. Nếu luận về sự chịu khổ, thì quả là ở
dưới loài người, nên kinh Chánh Pháp Niệm liệt vào hai loài
Quỷ và Súc Sanh. Kinh Lăng Nghiêm này lấy Thai, Trứng, Thấp,
Hóa cùng với bốn loại Thiên, Nhơn, Quỉ, Súc mà nói rõ tình
trạng của hàng A Tu La, đại khái phù hợp với kinh Thập
Địa.
Thiền
sư Thanh Lâm Kiền thượng đường : “Môn hạ của Tổ Sư,
đường chim huyền nhiệm, công cùng thì chuyển, chẳng thâm
cứu thì khó rõ. Các ông ngay đây cần phải lìa Tâm, Ý, Thức
mà tham, ra khỏi nẻo Thánh, phàm mà học mới có thể bảo
nhậm. Nếu chẳng như thế, chẳng phải con cháu của ta”.
Có
nhà sư hỏi : “Dựa, vác lâu rồi mà chẳng gặp thì sao ?”
Đáp
: “Bảng mời của vua đời xưa !”
Hỏi
: “Xin thầy đáp lời”.
Đáp
: “Bàn tay Tu La ở mặt trời, mặt trăng”.
Lại
có nhà sư hỏi thiền sư Phật Hải : “Tức Tâm tức Phật
thì thế nào ?”
Đáp
: “Đầu chia hai sừng tóc”.
Hỏi
: “Chẳng phải Tâm chẳng phải Phật thì thế nào ?”
Đáp
: “Tai rớt vòng đeo tai”.
Hỏi
: “Chẳng là Tâm, chẳng là Phật, chẳng là vật, lại là
thế nào ?”
Đáp
: “Trên đỉnh trọc, Tu La hát múa”.
Lời
lẽ như thế, nếu chẳng ra khỏi nẻo Thánh phàm mà học,
lìa Tâm, Ý, Thức mà tham thì làm sao dò được bến bờ.
VI.
KHAI THỊ SỰ HƯ VỌNG
CỦA
BẢY LOÀI ĐỂ KHUYÊN TU CHÂN CHÁNH
Kinh
: “Anan, xét kỹ ra thì bảy loài Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc
Sanh, Người và Thần Tiên, Trời và A Tu La như thế đều là
các tướng hữu vi tối tăm chìm đắm, do vọng tưởng mà
thọ sanh, do vọng tưởng mà theo Nghiệp, trong Bản Tâm Diệu
Viên Minh Vô Tác thì đều như hoa đốm giữa hư không, vốn
không dính bám, chỉ thuần là hư vọng, tuyệt không gốc rễ,
mối manh.
“Anan,
những chúng sanh đó chẳng nhận biết Bản Tâm, chịu sự
luân hồi như kia trong vô lượng kiếp, chẳng được cái Thanh
Tịnh Chân Thật đều là do thuận theo Sát, Đạo, Dâm vậy.
Còn ngược lại ba thứ đó thì lại sanh ra không Sát, không
Đạo, không Dâm. Có Sát, Đạo, Dâm thì gọi là loài Quỉ;
không có gọi là loài Trời. Có, Không đắp đổi nhau, khởi
ra tánh luân hồi.
“Nếu
nhiệm mầu phát huy được pháp Tam Ma Đề ắt là thường
hằng tịch lặng nhiệm mầu, trong đó hai cái Có và Không
đều không, mà cái Không có cả hai cũng diệt. Cái không Sát,
không Đạo, không Dâm còn không có, lấy đâu mà lại thuận
theo việc Sát, Đạo, Dâm ?
“Anan,
chẳng đoạn ba nghiệp thì mỗi mỗi chúng sanh đều có phận
riêng. Nhân mỗi mỗi phận riêng đó mà có đồng phận chung
của các cái riêng, không phải là không có chỗ nhất định.
Ấy là do tự hư vọng phát sanh ra, cái hư vọng phát sanh ra
đó vốn không có nhân, không có nguồn gốc ở đâu cả.
“Ông
khuyên người tu hành muốn đắc Bồ Đề, cốt yếu phải
đoạn trừ ba cái Hoặc. Ba Hoặêc chẳng hết thì dầu có
được thần thông cũng đều là công dụng hữu vi của thế
gian. Tập khí mà chẳng diệt thì lạc vào đường ma, tuy muốn
trừ vọng, lại càng thêm hư dối, sai lầm. Như Lai nói là
rất đáng thương xót. Đó là tự mình tạo ra hư vọng, đâu
phải là lỗi nơi Bồ Đề.
“Nói
như thế gọi là lời chân chánh. Nếu nói khác thế, tức
là lời Ma Vương.
Thông
rằng : Ở trước, Ông Anan hỏi rằng : “Cái Diệu Tâm toàn
vẹn cùng khắp mà sao lại có các nẻo Địa Ngục, Ngạ Quỉ,
Súc Sanh, Tu La, Người, Trời... Vậy là có chỗ nhất định
hay là tự nhiên ? Mỗi mỗi phát ra nghiệp mà mỗi mỗi tự
chịu là xưa nay vốn tự có hay là do cái hư vọng của chúng
sanh tích tập mà sanh ra ?”
Bởi
thế, ở đây trả lời chung rằng : “Bảy nẻo tối tăm chìm
đắm đều là tướng hữu vi. Ở trong cái Bản Tâm vô tác
tròn sáng nhiệm mầu vốn không có gì, như hoa đốm trong hư
không, có gì là can thiệp ? Bổn lai chẳng phải tự có vậy.
Chỉ là do vọng tưởng mà thọ sanh, vọng tưởng mà theo nghiệp,
nên bảo là “Thói quen hư vọng sanh khởi” vậy. Mỗi mỗi
phát ra Nghiệp mà mỗi mỗi tự riêng chịu phần mình, thì
chẳng phải là không có chỗ nhất định. Tự hư vọng mà
phát sanh, cái mê lầm (Hoặc) làm nhân của hư vọng, mà hư
vọng là nhân của nghiệp thì chẳng phải là tự nhiên vậy.
Hư vọng sanh ra đó vốn không có nguyên nhân, không có nguồn
gốc ở đâu cả, vì vốn tự thường tịch vậy. Do ba cái
Sát, Đạo, Dâm làm căn bản. Thuận theo nghiệp Sát, Đạo,
Dâm đó là vọng thấy ra có, đã có thì phải chìm đọa bốn
nẻo ác mà thấp nhất là loài Quỉ. Chẳng thuận theo ba nghiệp
mà ngược lại thì vọng thấy ra Không, đã Không thì hẳn
sanh vào đường thiện, mà loài Trời là cao nhất. Thiện,
ác tuy khác đường nhưng Có, Không đắp đổi nhau nên luân
hồi ba cõi không có thôi nghỉ. Đó là do con người tạo ra,
chẳng phải lỗi nơi Bồ Đề”.
Nếu
nhiệm mầu phát huy được Tam Ma Đề, nhận biết Bản Tâm
mình, đắc cái thanh tịnh chân thật thì gọi là Diệu : chẳng
lìa ba cõi mà đốn siêu ba cõi ! Trong Chánh Định tịch thường
ấy không có hai thứ Có, Không để đắc ! Đã trừ cái hư
vọng của tục đế thì cái Không của Không Hai cũng mất.
Lại đoạn trừ cái Chân của Niết Bàn thì Căn Bản Vô Minh
tiêu tan ráo sạch, mê lầm từ đâu sanh khởi, hư vọng từ
đâu phát sanh ? Thiện còn chưa có được huống gì theo nơi
ác. Chỗ này cũng như mắt vốn không nhặm thì hoa đốm không
đâu mà tự có được.
Ba
Hoặc, các kinh thường chỉ Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc và
Vô Minh Hoặc. Kiến Tư Hoặc cũng gọi là Thông Hoặc vì chung
cho cả ba thừa cùng đoạn trừ. Trần Sa Hoặc còn gọi là
Biệt Hoặc, vì chỉ hàng Bồ Tát mới đoạn trừ nổi. Vô
Minh Hoặc là chủng tử của nghiệp thức, chỉ có hàng Bồ
Tát Đại Thừa mới đoạn trừ nổi.
Chẳng
trừ mắt nhặm thì tuy muốn trừ hoa đốm, đó là càng thêm
hư dối, sai lầm, dẫu cho có được thần thông cũng lạc
vào Ma đạo. Ma đạo nghĩa là không trừ Sát, Đạo, Dâm mà
tu tà định. Bởi thế, muốn đắc Vô Thượng Bồ Đề phải
trừ ba Hoặc, rửa sạch tập khí. Ba Hoặc đã không còn thì
có đâu ba cõi. Nếu chẳng biết lời nói này mà bảo rằng
Bồ Đề vốn Không, cần chi trừ Hoặc : đó là Ma nói vậy.
Có
một cư sĩ hỏi Tổ Tây Đường Trí Tạng : “Thưa có thiên
đường, địa ngục không ?”
Tổ
Tạng nói : “Có”.
Hỏi
: “Có Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo không ?”
Tổ
Tạng nói : “Có”.
Người
ấy lại hỏi nhiều điều nữa, Tổ đều đáp có.
Ông
nói : “Hòa Thượng nói thế chẳng có lầm ư ?”
Tổ
Tạng nói : “Ông từng gặp vị tôn túc nào rồi ?”
Cư
sĩ : “Tôi đã từng tham hỏi Ngài Kính Sơn Hòa Thượng”.
Tổ
Tạng nói : “Ngài Kính Sơn nói với ông thế nào ?”
Đáp
: “Ngài nói thảy cả đều không !”
Tổ
Tạng hỏi : “Ông có vợ không ?”
Đáp
: “Dạ, có”.
Tổ
Tạng nói : “Hòa Thượng Kính Sơn có vợ không ?”
Đáp
: “Dạ, không”.
Tổ
Tạng nói : “Hòa Thượng nói Không thì được!”
Đây
là nơi lời lẽ tầm thường mà chỉ ra tin tức đốn siêu
ba cõi, nhiệm mầu thay !
Lại
có nhà sư hỏi thiền sư Động Sơn Thuyên : “Hành giả thanh
tịnh chẳng lên thiên đường, Tỳ Kheo phá Giới chẳng vào
địa ngục, thì như thế nào ?”
Tổ
Thuyền nói :
“Độ
tận không lưu ảnh
Về
kia, vượt Niết Bàn”.
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Tướng
hảo nguy nguy đại trượng phu
Một
đời không Trí hạp như ngu
Xưa
nay Phật, Tổ còn khó ngóng
Địa
ngục thiên đường, há buộc ư ?”.
Đây
có thể chứng minh cho sự nhiệm mầu phát huy Tam Ma Đề vậy.
VII.
PHÂN BIỆT CÁC ẤM MA
A.
NGUYÊN DO KHỞI CÁC MA SỰ
Kinh
: Lúc bấy giờ, Đức Như Lai sắp chấm dứt thời thuyết
pháp, ở nơi Sư Tử tòa, vịn ghế thất bảo, xoay về Tử
Kim sơn, trở lại dựa nơi ghế, bảo khắp đại chúng cùng
Ông Anan rằng :
“Các
ông là hàng Duyên Giác Thanh Văn hữu học, ngày nay hồi tâm,
hướng về Vô Thượng Diệu Giác Đại Bồ Đề. Nay ta đã
nói pháp tu hành chân chánh, nhưng các ông còn chưa biết những
Ma Sự vi tế khi tu hành Xa Ma Tha, và Tỳ Bà Xá Na.
“Cảnh
Ma nếu hiện mà ông không thể nhận biết thì việc làm trong
sạch tâm không được đúng, lạc vào tà kiến. Hoặc bị
Ma Ngũ Ấm của ông, hoặc bị Thiên Ma, hoặc mắc Quỉ Thần,
hoặc gặp Ly Mỵ mà trong tâm không rõ thì nhận giặc làm
con. Lại nữa, ở trong đó được ít mà cho là đủ, như Tỳ
kheo Vô Căn được Đệ Tứ Thiền, vọng nói là chứng Thánh,
khi quả báo chư Thiên hết, tướng suy hiện ra, bài báng quả
vị A La Hán là còn phải thọ sanh, nên đọa vào địa ngục
A Tỳ. Các ông nên nghe kỹ, nay Ta vì các ông mà phân biệt
rành rẽ”.
Ông
Anan đứng dậy cùng các hàng hữu học trong hội, hoan hỉ
đảnh lễ, kính nghe lời dạy bảo từ bi.
Phật
bảo Ông Anan cùng cả đại chúng :
“Các
ông nên biết cái tâm thể tỏ biết vẹn toàn, Bản Giác Diệu
Minh của mười hai loại chúng sanh trong thế giới hữu lậu
cùng mười phương Chư Phật không hai, không khác. Do vọng
tưởng của các ông, mê Chân Lý thành ra lỗi lầm. Si, Ái
phát sanh, sanh mê cùng khắp nên có hư không. Biến hóa ra cái
mê không ngớt nên có thế giới sanh ra. Vậy thì mười phương
cõi nước nhiều như vi trần này chẳng phải là vô lậu,
đều do vọng tưởng mê lầm kiến lập.
“Phải
biết, hư không sanh trong tâm ông cũng như điểm mây trong bầu
trời, huống chi các thế giới ở trong hư không ấy ! Một
người trong các ông phát khởi sự về nguồn chân thật thì
mười phương hư không ấy thảy đều tiêu mất. Làm sao các
cõi nước trong hư không ấy lại không rung đổ ? Các ông
tu thiền, trau dồi pháp Tam Ma Địa thì cùng với mười phương
Bồ Tát và các vị Đại A La Hán vô lậu tâm tinh thông hợp
thầm nhiệm, đương xứ trong lặng như nhiên. Còn tất cả
Ma Vương, Quỉ Thần, loài Trời phàm phu thì thấy cung điện
mình không cớ gì đổ vỡ, đất đai rung động, các loài
thủy lục bay nhảy thảy đều kinh sợ.
“Hạng
phàm phu hôn muội không rõ, nên nghĩ lầm, còn hạng kia đều
được năm thứ thần thông, trừ Lậu Tận Thông, luyến tiếc
cảnh trần lao này đâu để ông phá hoại chỗ ở. Bởi thế,
Quỉ Thần, Thiên Ma, Vọng Lượng, Yêu Tinh trong khi ông tu Tam
Muội đều đến quấy phá.
“Nhưng
các Ma kia, tuy rất giận dữ mà họ ở trong trần lao, còn
các ông ở trong Diệu Giác, thì cũng như gió thổi ánh sáng,
như dao chặt nước, chẳng hề hấn gì. Ông như nước sôi,
họ như giá cứng, vừa gần hơi ấm thì chẳng bao lâu mà
tiêu tan. Chúng ỷ lại suông thần lực, nhưng chỉ là Khách.
Nếu chúng có thể phá rối được, là do người Chủ ngũ
ấm trong tâm ông. Chủ nhân mà mê lầm, Khách mới được
dịp quấy phá.
“Đương
xứ thiền định, giác ngộ không lầm thì các Ma sự kia không
làm gì ông nổi. Khi Ấm tiêu tan vào trong tánh sáng; sáng phá
được tối, tối đến gần sáng thì tự tiêu mất, mà chúng
tà ma kia đều tối tăm làm sao còn dám ở lại quấy phá sự
thiền định ? Nếu không tỏ ngộ sáng suốt, bị Ngũ Ấm
ngăn che, mê lầm thì chính Ông Anan là con của Ma và thành
người Ma. Như Cô Ma Đăng Già, sức còn yếu kém, chỉ dùng
chú thuật bắt ông phá Luật Nghi của Phật, trong tám muôn
hạnh chỉ phá một Giới, nhưng vì tâm ông thanh tịnh nên
chưa bị chìm đắm. Còn chúng Ma này thì phá hoại toàn thân
Bảo Giác của ông, giống như nhà quan Tể Tướng bỗng bị
tịch biên, long đong xiêu lạc, không thể thương cứu !
Thông
rằng : Ma tức là Ma La, nghĩa là Sát, cũng nghĩa là Đoạt,
vì hay giết Huệ Mạng, cướp đoạt thiện pháp của mình
vậy. Đại để có năm thứ Ma : Ngũ Ấm Ma, Phiền Não Ma,
Sanh Tử Ma, Thiên Ma và Quỉ Ma. Hợp lại thì chỉ có Ấm Ma
và Thiên Ma mà thôi.
Ấm
Ma tức là sanh tử, phiền não nương Ngũ Ấm mà khởi lên.
Thiên Ma là do tu tà định, ưa hại người tu chánh đạo. Lại
như Tỳ Kheo Vô Căn, được ít cho là đủ, chê báng Phật,
vọng nói A La Hán còn phải thọ sanh, đó là Tà Kiến Ma, thuộc
về Ấm Ma lẫn Thiên Ma vậy. Bởi hủy báng Chánh Pháp nên
đọa vào ngục A Tỳ.
Một
người phát khởi sự về nguồn chân thật thì mười phương
thế giới đều tiêu mất. Tất cả Ma Vương, các Trời phàm
phu thấy cung điện của mình đổ vỡ, thủy lục kinh sợ,
bèn đến quấy phá thiền định. Hạng Thiên Ma này làm hại
không nhiều, chúng ỷ thần lực, nhưng vẫn là Khách. Chủ
nhân ở ngay nơi mình, nên dùng cái Diệu Giác mà phá trần
lao thì như lấy nước sôi làm tiêu nước đá, lấy sáng phá
tối vậy. Chủ nhân mà mê, Khách liền tiện dịp, nó phá
hoại Luật Nghi của mình, hư hao cái Bảo Giác của mình, khác
nào quan Tể Tướng bị tịch biên, long đong xiêu lạc vậy.
Ấm Ma này làm hại sâu xa. Quấy phá được là hoàn toàn do
Chủ Nhân, nên tu thiền định cần phải tỏ ngộ sáng suốt,
chẳng để cho năm Ấm làm mê lầm thì đó là Đệ Nhất Nghĩa.
Ấm
là sự che lấp của Thức Tình, giống như mây nổi. Sáng suốt
là sự hiển lộ tỏ rõ, giống như bầu trời. Ấm tiêu tan,
vào tánh sáng, tức là hoàn lại tánh Bản Giác. Thế nên,
cái Bản Giác Diệu Minh cùng mười phương Chư Phật không
hai, không khác. Chỉ do vọng tưởng si ái, theo mê mà chuyển
biến thì có thế giới sanh. Có thế giới thì có sắc ấm.
mê luyến cái trần lao này liền có các ấm thọ, tưởng,
hành, thức.
Ta
muốn phá tung cái Ấm mà nhảy ra để hoàn lại cái Tâm Thể
Viên Giác cho đến khi các lậu hết sạch. Còn các hạng hữu
lậu kia luyến tiếc chẳng buông, ỷ có sức thần thông nên
đến phá rầy. Nếu hủy Giới, phá Luật, hòa đồng với
chúng thì tuy đắc thần thông, hẳn là con của Ma. Ở đây
mà thấu suốt được, đó gọi là Bảo Giác. Cái Giác này
là chủng tử để thành Phật. Y vào cái Bảo Giác này, vào
trong Chánh Định mà chứng Pháp Thân, tâm tinh thầm hợp với
mười phương Bồ Tát và Chư Đại A La Hán vô lậu. Thường
xứ tịch nhiên, lặng chiếu ngậm trùm hư không thì hư không
cũng còn không có thay, huống là lại nương hư không đó mà
kiến lập các cõi nước hữu lậu ư ?
Có
vị Tọa Chủ giảng kinh Hoa Nghiêm hỏi Tổ Trường Sa Sầm
: “Hư không quyết định có hay là quyết định không ?”
Tổ
Sa nói : “Nói có cũng được, nói không cũng được. Hư không
có thì chỉ có cái giả-có, hư không không có thì chỉ có
giả-không”.
Hỏi
: “Như Hòa Thượng nói, thì có trong kinh giáo nào không ?”
Tổ
Sa nói : “Đại Đức há chẳng nghe Thủ Lăng Nghiêm nói “Mười
phương hư không sanh trong tâm ông như điểm mây trong bầu
trời”, vậy há chẳng phải khi hư không sanh là chỉ sanh
cái giả danh thôi ư ? Kinh lại nói “Một người trong các
ông phát khởi sự về nguồn chân thật thì mười phương
hư không ấy thảy đều tiêu mất”. Thế chẳng phải khi
hư không diệt là chỉ diệt cái giả danh ư ? Bởi thế, lão
tăng nói : “Có là giả có, không là giả không”.
Ngài
Trường Sa thấu suốt cái Bản Giác Diệu Minh nên xem hư không
khởi diệt cũng là Như Huyễn, huống là các thứ khác !
Có
Thượng Tọa Bằng Ngạn bác học, nhớ nhiều đến tham hỏi
thiền sư Báo Ân Minh để đối luận về tông thừa.
Tổ
Minh nói : “Nói nhiều càng xa Đạo. Nay có chuyện tạm hỏi.
Vậy như xưa nay Chư Thánh cùng chư tiên đức lại có ai chẳng
ngộ không ?”
Đáp
rằng : “Như là Chư Thánh, tiên đức há có ai chẳng ngộ
ư ?”
Tổ
Minh nói : “Một người phát khởi sự về nguồn chân thật,
mười phương hư không thảy đều tiêu mất. Nay núi Thiên
Thai sờ sờ ra đó, làm sao mà tiêu mất đi?”
Thầy
Ngạn chẳng biết bày tỏ làm sao.
Một
khối đại nghi này mà không thể tiêu mất, làm sao dám nói
chuyện phá tan Năm Ấm ư ?
B.
PHẠM VI CỦA SẮC ẤM
Kinh
: “Anan, nên biết, ông ngồi đạo tràng, tiêu diệt các niệm,
niệm ấy mà hết thì tâm lìa niệm thuần túy sáng suốt thảy
cả, động tĩnh chẳng dời, nhớ quên như một. Đang khi an
trụ nơi đó mà vào Tam Ma Địa thì như người sáng mắt mà
ở chỗ rất tối. Cái tinh thuần của Tánh thì trong sạch
nhiệm mầu, nhưng tâm chưa phát sáng. Thế gọi là phạm vi
của Sắc Ấm. Nếu mắt sáng tỏ, mười phương mở suốt,
không còn tối tăm, gọi là Sắc Ấm hết. Người ấy có thể
siêu vượt khỏi Kiếp Trược. Xét lại nguyên do Kiếp Trược
thì gốc rễ là Vọng tưởng kiên cố.
“Anan,
ngay tại trong đó, nghiên cứu tinh tường Tánh Diệu Minh, bốn
Đại chẳng kết hợp thì trong khoảng chốc lát, tâm thức
có thể ra khỏi sự ngăn ngại, đây gọi là tinh minh tuôn
tràn ra tiền cảnh, đó chỉ do dụng công mà tạm được như
vậy, chẳng phải là Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng
ngộ thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ
việc Thánh, tức lọt vào tà.
“Anan,
lại dùng cái tâm này nghiên cứu tinh tường Tánh Diệu Minh,
trong thân thành rỗng suốt, người ấy bỗng nhiên ở trong
thân mình nhặt ra các thứ giun sán mà thân thể vẫn y nguyên,
không bị thương tổn, đây gọi là tinh minh tuôn tràn nơi
hình thể, đó chỉ do tu hành tinh tiến mà tạm được như
vậy, chẳng phải là Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng
ngộ thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ
việc Thánh tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy nghiên cứu tinh tường trong ngoài, khi ấy
hồn phách, ý chí, tinh thần, ngoài cái thân chấp thọ ra,
đều ăn nhập vào nhau, đắp đổi làm khách, làm chủ. Bỗng
nhiên ở trong hư không nghe tiếng thuyết pháp, hoặc nghe mười
phương đồng diễn bày mật nghĩa. Đây gọi là sự thành
tựu thiện chủng của tinh phách thay nhau lìa hợp, tạm được
như vậy, chẳng phải Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng
ngộ thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ
việc Thánh tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy lắng trong, hiện ra sáng suốt, ánh sáng bên
trong phát ra, mười phương biến thành sắc Diêm Phù Đàn,
hết thảy mọi loài hóa là Như Lai. Bấy giờ bỗng thấy Phật
Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài Thiên Quang, có ngàn Đức Phật
vây quanh. Trăm ức cõi nước cùng với hoa sen cùng một lúc
hiện ra. Đây gọi là sự tiêm nhiễm của tâm thức linh ngộ.
Do ánh sáng của tâm phát ra soi sáng các thế giới mà tạm
được như vậy, chẳng phải Thánh chứng. Nếu chẳng cho là
chứng ngộ thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho là chứng
ngộ việc Thánh, tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy nghiên cứu tinh tường Tính Diệu Minh, quan
sát chẳng ngừng, đè nén hàng phục, ngăn dứt thái quá, khi
ấy bỗng nhiên mười phương hư không thành sắc bảy báu
hay sắc trăm báu, đồng thời cùng khắp, không ngăn ngại
nhau : xanh, vàng, đỏ, trắng mỗi mỗi hiện ra rõ ràng. Đây
gọi là công sức đè nén quá phần, tạm được như vậy,
chẳng phải là Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng ngộ
thì cũng gọi cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ việc
Thánh, tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy nghiên cứu, lặng suốt sáng trong chẳng loạn,
bỗng nhiên giữa đêm, ở trong nhà tối thấy thảy thảy vật
không khác gì ban ngày, mà những vật trong nhà tối đó cũng
không diệt mất. Đây gọi là tâm tế nhiệm lặng đứng mà
thấy, nên thấy suốt chỗ tối tăm, tạm được như vậy,
chẳng phải là Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng ngộ
thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ việc
thánh, tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy vẹn nhập vào chỗ hư dung, bốn vóc bỗng
đồng như cây cỏ, lửa đốt, dao cắt hoàn toàn không cảm
giác, lửa ngọn không thể đốt cháy, dầu cho cắt thịt cũng
như chẻ cây. Đây là gọi là cùng như trần, do bài trừ bốn
Đại một mực, nhập vào sự thuần nhất, tạm được như
vậy, chẳng phải là Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng
ngộ thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ
việc Thánh, tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy thành tựu sự trong sạch, dụng công trong
sạch tâm tột bực, bỗng thấy mười phương đất đai, sông
núi đều thành cõi Phật, đầy đủ bảy báu chói sáng cùng
khắp. Lại thấy hằng sa Chư Phật Như Lai đầy khắp hư không,
lầu điện rực rỡ. Dưới thấy địa ngục, trên thấy thiên
cung, được không chướng ngại. Đây gọi là ưa thích đè
nén ngưng tưởng lâu ngày mà tưởng hóa thành, chẳng phải
là Thánh chứng. Nếu chẳng cho là chứng ngộ thì cũng gọi
là cảnh giới lành, còn cho là chứng ngộ việc Thánh, tức
lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy nghiên cứu sâu xa, bỗng nhiên ở giữa đêm
thấy rõ chợ búa, làng xóm bà con họ hàng ở phương xa, hoặc
nghe lời nói của họ. Đây gọi là bức bách cái tâm tột
bực nên nó bay ra, chẳng phải là Thánh chứng. Nếu chẳng
cho là chứng ngộ thì cũng gọi là cảnh giới lành, còn cho
là chứng ngộ việc Thánh, tức lọt vào tà.
“Lại
dùng cái tâm ấy, nghiên cứu tinh tế cùng tột, thấy được
thiện tri thức, thân thể biến hóa, trong giây lát không duyên
cớ gì mà biến đổi đủ thứ. Đây gọi là tà tâm bị loài
Ly Mị hoặc Thiên Ma vào trong thân thể, không duyên cớ gì
mà thuyết pháp, thông suốt diệu nghĩa, chẳng phải là Thánh
chứng. Nếu chẳng cho là chứng ngộ thì Ma sự tự tiêu mất,
còn cho là chứng ngộ việc Thánh, tức lọt vào tà.
“Anan,
mười thứ cảnh giới hiện ra trong thiền định như vậy
đều thuộc về Sắc Ấm, do dụng tâm giao xen lẫn nhau nên
hiện ra cái việc đó. Chúng sanh mê dại, chẳng biết tự
xét, gặp nhân duyên ấy, mê chẳng tự biết, cho là lên bậc
Thánh, thành Đại Vọng Ngữ, đọa địa ngục Vô Gián.
“Sau
khi Như Lai diệt độ rồi, các ông nên tuyên bày nghĩa này
trong đời Mạt Pháp, chớ để Thiên Ma được dịp quấy phá,
giữ gìn che chở cho người tu hành thành đạo Vô Thượng.
Thông
rằng : Thiền Na tức là sự tiêu diệt các niệm của pháp
môn Chỉ Quán. Chỉ là dùng sự trong lặng xoay lại cái hư
vọng, dứt mất sự sanh khởi. Quán là các niệm đã hết
nhưng còn cái tâm lìa niệm, hết thảy sáng suốt. Chỉ Quán
vốn không hai, ắt là động tĩnh chẳng dời đổi, nhớ quên
đều là một. Không hôn trầm, không tán loạn là Chánh Niệm.
Theo đây mà vào, mới đắc Tam Ma Đề chân thực. Còn nếu
Tĩnh thì có mà Động thì không, Nhớ thì còn mà Quên thì
mất, ấy là thuộc cái cảnh ngộ ngừng Tưởng, chẳng phải
là Chánh Định.
Ban
đầu, vào Chỉ Quán, cái Sắc Ấm chưa phá, như người sáng
mắt mà ở trong chỗ rất tối tăm, chưa thể phát ra ánh sáng,
bị Sắc hạn cuộc, đó gọi là phạm vi của Sắc Ấm.
Sắc
Ấm đã phá, như mắt sáng suốt, mười phương mở suốt,
sức nhìn soi khắp, chẳng bị cảnh trước mắt ngăn ngại.
Như thế là có thể siêu vượt Kiếp Trược. Kiếp Trược
là do Sắc Pháp đan nhau với cái Thấy mà thành. Nay cái Thấy
chẳng bị Sắc Pháp làm cho mê lầm, nên có thể siêu vượt.
Sắc Ấm này do đâu mà có ra ? Ấy là do Vọng tưởng kiên
cố làm gốc. Vốn do nơi ba cái vọng tưởng của cha, của
mẹ, của mình giao kết nhau mà thành ra cái Sắc Thân bốn
Đại cứng chắc này. Tướng cứng là Địa, lỏng là Thủy,
hơi nóng là Hỏa, lay động là Phong. Do bốn cái ràng buộc
này mà thành sáu Căn. Sáu Căn làm chìm tánh tròn sáng, che
đậy Chân Tánh nên gọi là Ấm.
Nay
vào Thiền Na, nghiên cứu tinh tường tính diệu minh, lìa nơi
tiền trần, thân cảnh đều không, bốn Đại chẳng đan kết
nhau, tâm thức tinh thuần và sắc pháp lìa nhau. Ban đầu thì
tinh minh tuôn vào, thân ra khỏi ngăn ngại, đó là ở ngoài
quên đi trần cảnh. Rồi thì trong thân rỗng suốt, nhặt ra
giun sán, đó là bên trong quên mất thân vậy. Kế là tinh phách
thay nhau lìa hợp, trong thân, ngoài thân đắp đổi làm chủ,
khách; ở trong hư không nghe thuyết pháp yếu, ấy là gần
quên luôn cái hình thể vậy. Kế đó ánh sáng bên trong phát
ra, thấy cảnh giới Phật, ấy là tiêm nhiễm sự linh ngộ
mà tạm được như vậy, chứ không thể thường xuyên. Còn
niệm Phật Tam Muội, thấy cảnh Tịnh Độ, ấy là tâm cảnh
tương ưng gọi là Chánh Tướng, không thể kể vào đây. Kế
là đè nén quá độ mà thấy nhiều sắc báu. Đè nén cực
độ thì ánh sáng sanh ra, đó cũng là chỗ thành tựu của
pháp Quán Thập Tưởng. Kế là làm tế nhiệm lặng trong cái
thấy nên thấy đồ vật trong chỗ tối. Chỗ thấy ở trước
là cảnh huyễn, chỗ thấy ở đây là cảnh thực. Nếu chẳng
phải dưỡng tâm tế nhiệm thì không thể được. Kế là
bốn vóc hư dung, đồng như cây cỏ, dao chém, lửa đốt không
có cảm giác, nếu chẳng phải thuần giác quên Thân thì không
thể được. Kế là quán chiếu cùng tột, thành tựu sự thanh
tịnh, bỗng thấy mười phương cõi Phật, Thiên Đường, Địa
Ngục đều không trở ngại, gần như đắc Thiên Nhãn Thông
vậy. Kế là đè nén cùng tột, không chỉ thấy được vật
trong chỗ tối mà làng mạc, chợ búa ở xa cũng thấy, không
những nghe tiếng thuyết pháp trong hư không mà nghe cả những
lời nói của bà con ở xa, gần như đắc Thiên Nhĩ Thông vậy.
Đến chỗ nghiên cứu tinh tế cùng tột thì trong ngoài xen
nhau, đắp đổi làm chủ, khách. Tinh thần hồn phách bỗng
quên chỗ về. Do đó, Ma được dịp vào trong thân thể khiến
cho hình thể biến hóa, đủ thứ đổi thay, vô cớ thuyết
pháp, thông suốt diệu nghĩa. Đó há chẳng phải do phá Sắc
Ấm, chẳng phải bị Sắc Pháp ràng buộc ư, mà chẳng biết
là bị Ma bám, dựa.
Mười
việc này đều do nghiên cứu cùng tột Tánh Diệu Minh, dùng
tâm Thiền Na mà giao chiến với vọng tưởng kiên cố. Sắc
chưa có thể tức là Không, Không chưa có thể tức là Sắc,
thay nhau thắng bại, chưa thể dung đồng. Đó là chỗ ma Sắc
Ấm thừa cơ hội mà vào vậy. Chúng sanh mê lầm, chẳng biết
tự xét sự thấy biết hàng ngày cùng với Phật nào có giống,
công hạnh hàng ngày cùng với Phật nào có như nhau ? Ngẫu
nhiên thấy các cảnh ấy bèn cho là Thánh chứng. Chẳng phải
Thánh mà cho là Thánh, chẳng phải chứng mà cho là chứng,
trong thì mê nơi Ấm Ma, ngoài thì cảm với Thiên Ma, thành
ra Đại Vọng Ngữ, đọa địa ngục Vô Gián, thật đáng thương
xót. Bởi thế, Đức Thế Tôn tuyên dạy cho đời Mạt Pháp
để bảo hộ chúng sanh thành tựu đạo Vô Thượng. Nếu công
sức tu hành đã đến mức, có thể phá Sắc Ấm, thì dầu
các việc trên có hiện ra cũng chẳng cho là chứng ngộ việc
Thánh. Trong Thiền cũng có nhiều sự việc như vậy.
Như
thiền sư Nga Hồ Trí Phu, một hôm chẳng đến trai đường,
vị thị giả đến mời Ngài.
Tổ
Phu nói : “Hôm nay tôi ăn du-tư ở trang trại no rồi !”
Thị
giả nói : “Hòa Thượng chẳng hề đi đâu cả !”
Tổ
Phu nói : “Ông chỉ việc đi hỏi trang chủ”.
Thị
giả vừa ra cửa, bỗng gặp trang chủ đến tạ ơn đã tới
trang trại dùng bữa du-tư”.
Đây
há chẳng phải là thân có thể ra khỏi sự ngăn ngại đó
ư !
Thiền
sư Đoan Nham, một hôm có bà lão đến viếng chào.
Ngài
nói : “Bà về gấp đi để cứu mấy ngàn sanh mạng !”
Bà
lão về, thấy cô con dâu đang mang ốc bắt ở ruộng về,
bèn thả đi.
Lại
nữa, thiền sư Tổ Chiếu trong Định thấy chuyện xảy ra
trong vòng mấy mươi dặm mà người khác chưa từng biết.
Sau này các tăng trong trang trại nghe được, đồn đại ra
ngoài. Ngài e làm mê hoặc đại chúng nên nhập diệt.
Đó
đều là việc có thể làm, nhưng chẳng cho đó là chứng ngộ
việc Thánh vậy.
C.
PHẠM VI CỦA THỌ ẤM
Kinh
: “Anan, thiện nam tử ấy tu Tam Ma Đề, trong Xa Ma Tha khi Sắc
Ấm hết, thấy Tâm chư Phật như trong gương sáng hiển hiện
hình tượng. Hình như có được nhưng chưa thể dùng, như
người bị Mộc đè : tay chân y nguyên, thấy nghe không lầm,
nhưng tâm gặp khách tà mà không cử động được. Đó gọi
là phạm vi của Thọ Ấm.
“Nếu
Mộc hết đè thì cái tâm lìa thân, trở lại xem mặt mũi,
đi ở tự do, không còn ngăn ngại, gọi là Thọ Ấm hết.
Người ấy có thể siêu vượt Kiến Trược, xét lại nguyên
do thì gốc rễ là vọng tưởng hư minh.
“Anan,
thiện nam tử ấy, ngay ở trong đó, được biết sáng tỏ,
cái tâm phát minh, bên trong đè nén quá độ, bỗng ở nơi
đó phát lòng Bi vô cùng, như vậy cho đến xem thấy muỗi
mòng như con đỏ, tâm sanh thương xót, bất giác chảy nước
mắt. Đây gọi là công dụng đè nén quá mức. Biết thì không
có lỗi, chẳng phải là Thánh chứng. Hiểu biết chẳng mê,
lâu tự tiêu mất. Nếu cho là hiểu biết việc Thánh thì có
ma Bi vào trong lòng dạ, thấy người thì thương xót, khóc
thương vô hạn; sai mất Chánh Định, sẽ bị chìm đắm.
“Anan,
lại các thiện nam tử ấy, ở trong Định, thấy Sắc Ấm
tiêu rồi, Thọ Ấm tỏ rõ, thắng tướng hiện tiền nên cảm
kích quá độ, bỗng ở trong đó sanh lòng dũng mãnh vô hạn.
Cái tâm mạnh bén, chí bằng Chư Phật, nói rằng một niệm
có thể vượt khỏi ba tăng kỳ. Đây gọi là công dụng lấn
lướt quá mức. Biết thì không lỗi, chẳng phải là Thánh
chứng. Nếu cho là hiểu biết việc Thánh thì có ma Cuồng
vào trong lòng dạ, thấy người thì khoe, ngã mạn không ai
bằng, đến nỗi tâm người ấy trên không thấy Phật, dưới
chẳng thấy người; sai mất Chánh Định, sẽ bị chìm đắm.
“Anan,
lại các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm tiêu
rồi, Thọ Ấm tỏ rõ. Tới trước thì chưa có chỗ chứng
mới, lui lại thì mất chỗ cũ, trí lực suy kém, vào địa
vị Trung Hủy, hoàn toàn không thấy gì. Trong tâm bỗng nhiên
sanh ra rất khô khát. Trong cả mọi thời thầm nhớ không thôi,
cho như vậy là tướng chuyên cần tinh tấn. Đây gọi là tu
tâm không Trí Huệ, tự sanh lầm lạc. Biết thì không lỗi,
chẳng phải là Thánh chứng. Nếu cho là hiểu biết việc Thánh
thì có ma Nhớ vào trong lòng dạ, ngày đêm nắm cái tâm treo
vào một chỗ; sai mất Chánh Định, sẽ bị chìm đắm.
“Lại
các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm tiêu rồi,
Thọ Ấm tỏ rõ, cái sức Huệ quá Định, sai lầm nơi chỗ
mạnh mẽ, sắc bén, ôm giữ các thắng tánh trong tâm, tự
ngờ mình là Phật Lô Xá Na, được ít cho là đủ. Đây gọi
là dụng tâm quên mất suy xét, đắm vào Tri Kiến. Biết thì
không lỗi, chẳng phải là Thánh chứng. Nếu cho là hiểu biết
việc Thánh thì có ma Dễ Biết Đủ Nên Hèn Kém vào trong lòng
dạ; thấy người thì tự nói “Ta đắc Đệ Nhất Nghĩa Đế
Vô Thượng”; sai mất Chánh Định, sẽ bị chìm đắm.
“Lại
các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm tiêu rồi,
Thọ Ấm tỏ rõ, chỗ chứng mới thì chưa được mà tâm cũ
thì đã mất, xem cả hai bên, tự cho là khó hiểu, trong tâm
bỗng sanh lo lắng không cùng, như ngồi giường sắt, như uống
thuốc độc. Tâm không muốn sống, thường cầu người khác
sát hại mạng mình để sớm giải thoát. Đây gọi là tu hành
sai mất phương tiện. Biết thì không lỗi, chẳng phải Thánh
chứng. Nếu cho là hiểu biết việc Thánh thì có một phần
thứ ma Thường Lo Buồn vào trong lòng dạ, tay cầm đao, kiếm
tự cắt thịt mình, thích được bỏ mạng, hoặc thường
lo buồn, chạy vào rừng núi, không muốn thấy người; sai
mất chánh niệm, sẽ bị chìm đắm.
“Lại
nữa, các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm
tiêu rồi, Thọ Ấm tỏ rõ, ở trong thanh tịnh, tâm an ổn
rồi, bỗng nhiên tự sanh ra mừng vui vô hạn. Trong tâm mừng
rỡ không thể tự dừng. Đây gọi là sự khinh an mà không
có Huệ tự ngăn lại. Biết thì không lỗi, chẳng phải là
Thánh chứng. Nếu cho là hiểu biết việc Thánh thì có một
phần thứ ma Thích Vui Mừng vào trong lòng dạ, thấy người
thì cười, ở bên đường cái tự ca, tự múa, tự bảo rằng
đã đắc vô ngại giải thoát; sai mất Chánh Định, sẽ bị
chìm đắm.
“Lại
nữa, các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm
tiêu, Thọ Ấm tỏ rõ, tự bảo đã đủ, bỗng nhiên vô cớ
sanh đại ngã mạn, như vậy cho đến lòng mạn, quá mạn,
và mạn quá mạn, hoặc lòng tăng thượng mạn, hoặc ty liệt
mạn đồng thời phát ra. Trong tâm còn khinh cả mười phương
Như Lai, huống gì các địa vị dưới như Thanh Văn, Duyên
Giác. Đây gọi là thắng giải quá mức, không có Huệ để
tự cứu. Biết thì không lỗi, chẳng phải Thánh chứng. Nếu
cho là hiểu biết việc Thánh thì có một phần ma Đại Ngã
Mạn vào trong lòng dạ, chẳng lạy tháp, miếu, phá hủy kinh
tượng, bảo với người đàn việt rằng “Đó là vàng, đồng,
hoặc gỗ, đất. Kinh là lá cây, hay là giấy lụa. Xác thịt
chân thường không tự cung kính, lại sùng bái gỗ, đất,
thật là điên đảo”. Những kẻ quá tin theo đó mà đập
nát, chôn bỏ trong đất; do gây nghi ngờ lầm lạc cho chúng
sanh, đọa vào ngục Vô Gián; sai mất Chánh Định, sẽ bị
chìm đắm.
“Lại
nữa, những thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm
tiêu rồi, Thọ Ấm tỏ rõ, trong chỗ tinh minh, viên ngộ tinh
lý, được đại tùy thuận, tâm ấy bỗng sanh vô lượng khinh
an, tự nói đã thành Thánh, đắc đại tự tại. Đây gọi
là nhân cái Huệ mà được các sự nhẹ trong. Biết thì không
lỗi, chẳng phải Thánh chứng. Nếu cho là hiểu biết việc
Thánh thì có một phần loại ma Thích Sự Trong Nhẹ vào trong
lòng dạ, tự cho là đủ, chẳng thèm cầu tiến. Hạng này
phần nhiều làm như Tỳ Kheo Vô Văn, gây nghi lầm cho chúng
sanh, đọa vào ngục A Tỳ; sai mất Chánh Định, sẽ bị chìm
đắm.
“Lại
nữa, các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm
tiêu rồi, Thọ Ấm tỏ rõ, trong chỗ minh ngộ, được tánh
hư minh, trong ấy bỗng xoay hướng về sự vĩnh viễn đoạn
diệt, bác bỏ không có nhân quả, một mực nhắm vào Không.
Tâm Không hiện tiền đến nỗi tâm sanh chấp chặt là đoạn
diệt mãi mãi. Biết thì không lỗi, chẳng phải Thánh chứng.
Nếu cho là hiểu biết việc Thánh thì có ma Không vào trong
lòng dạ, bèn bài báng sự giữ Giới cho là Tiểu Thừa, còn
Bồ Tát ngộ Không có gì mà giữ hay phạm ! Người này thường
ở chỗ thí chủ tín tâm, ăn thịt uống rượu, làm nhiều
điều dâm uế. Nhờ có sức Ma mà nhiếp phục người ta, khiến
chẳng sanh nghi báng. Quỉ vào tâm lâu ngày : ăn uống cứt
đái cũng không khác gì rượu thịt, cứ cho là mọi thứ đều
Không. Phá Luật Nghi của Phật, làm người khác lầm lạc
mắc tội; sai mất Chánh Định, sẽ bị chìm đắm.
“Lại
nữa, các thiện nam tử ấy ở trong Định, thấy Sắc Ấm
tiêu rồi, Thọ Ấm tỏ rõ, tham nếm cái hư vinh, ăn sâu vào
tim cốt, trong tâm bỗng có lòng yêu vô hạn sanh ra. Yêu thương
quá phát cuồng, bèn làm chuyện tham dục. Đây gọi là cảnh
Định an thuận vào tâm, không có Huệ tự giữ, lầm vào Ngũ
Dục. Biết thì không lỗi, chẳng phải Thánh chứng. Nếu cho
là hiểu biết việc Thánh thì có ma Dục vào trong lòng dạ,
một bề nói Dục tức đạo Bồ Đề, dạy hàng cư sĩ bình
đẳng mà hành Dục, những người hành Dâm gọi là đệ tử
giữ Pháp. Do sức Thần Quỉ nhiếp phục người phàm phu trong
đời Mạt Pháp nhiều đến cả một trăm, hai trăm, năm trăm,
sáu trăm, nhiều đến ngàn vạn. Khi tâm ma sanh chán, lìa khỏi
thân thể, oai đức đã không còn thì sa vào lưới pháp luật.
Gây nghi lầm cho chúng sanh, vào ngục Vô Gián; sai mất Chánh
Định, sẽ bị chìm đắm.
“Anan,
mười thứ cảnh hiện của Thiền Na như vậy đều thuộc
về Thọ Ấm, do dụng tâm giao xen lẫn nhau mà hiện các việc
đó. Chúng sanh mê dại, chẳng biết tự xét, gặp nhân duyên
ấy, mê chẳng tự biết cho là lên bậc Thánh, thành Đại
Vọng Ngữ, đọa ngục Vô Gián. Sau khi Ta diệt độ, các ông
hãy đem lời nói này của Như Lai truyền dạy cho đời Mạt
Pháp, khiến khắp chúng sanh đều tỏ ngộ nghĩa đó, không
để cho Thiên Ma được dịp quấy phá, giữ gìn che chở cho
người tu hành thành đạo Vô Thượng.
Thông
rằng : Sắc Ấm chưa tiêu thì tâm bám vào sắc mà thấy các
cảnh khác lạ, vậy là ma chưa nhập vào tâm vậy. Đây là
Sắc Ấm diệt mà Thọ Ấm còn. Thọ Ấm là chỉ năm Thức
Trước, hư vọng thường thọ nhận, thường thu lãnh, như
trong gương sáng hiện ra cảnh tượng. Cái thể hư minh, vốn
đó là Tâm Phật, mà vì sao cho là vọng tưởng ? Chỉ vì sanh
ra một việc chấp trước muốn chứng đắc mà cho là thật,
bèn bị Thọ Ấm ngăn che, nên chẳng được Chánh Định. Cho
nên Thọ Ấm chưa phá thì chẳng lìa nổi năm căn, ví như
Tâm gặp khách tà, bị Mộc đè thì tuy có cái hư minh mà chẳng
làm gì được. Thọ Ấm đã phá trừ thì sự sáng suốt chẳng
còn nương theo Căn, như đã hết Mộc đè thì tâm đi hay ở
đều tự do, mà có thể trở lại xem cái mặt mình, hư minh
đắc dụng, tức là siêu vượt Kiến Trược. Cái Kiến Đại
nhận lãnh các cảnh, đan nhau mà thành Trược, nay thì hư minh
rỗng sáng không còn ngăn ngại, ấy là trước hết đã nhổ
bật cái thấy. Gốc rễ của cái thấy đã nhổ bật thì còn
có gì làm cho cái Thấy bị nhận lãnh để mà thành cái Trược
?
Sắc
Ấm chưa tiêu thì tâm chưa phát sáng. Sắc Ấm đã hết thì
được sáng suốt lớn, đó là vọng tưởng hư minh. Người
chánh ngộ thì xem sự hư minh này cũng chỉ là cảnh. Duy chỉ
có hạng nghiên cứu tinh tường tánh Diệu Minh mà bên trong
đè nén quá độ, tức là quên mình cùng tột, thấy vật đều
là mình nên xem muỗi mòng như con đỏ mà Tâm Bi sanh ra.
Hư
minh hiện tiền, cảm kích quá độ, nên cho rằng có thể sánh
bằng Chư Phật mà tâm dũng mãnh sanh ra.
Định
mạnh mà Huệ yếu thì trong khoảng cái mới (Thọ Ấm) và
cái cũ (S