QUYỂN
VIII
Khai
thị ba tiệm thứ tu tập
Mục
Hai : An Lập Các Thánh Vị-Càn tuệ địa
Thập
tín
Thập
trụ
Thập
hạnh
Thập
hồi hướng
Tứ
gia hạnh
Thập
địa
Đẳng
giác và diệu giác
Mục
Ba : Chỉ Dạy Tên Kinh
Hỏi
về sự sanh khởi và nhân quả của lục đạo
Khai
thị về phận trong, phận ngoài của chúng sanh
Chỉ
ra mười tập nhân và sáu giao báo
Không
tu theo chánh giác : thành các thứ tiên
Các
cõi trời
QUYỂN
VIII
III.
KHAI THỊ BA TIỆM THỨ TU TẬP
Kinh
: “Anan, như thế chúng sanh trong mỗi mỗi loài cũng đều
đầy đủ hết mười hai thứ Điên Đảo. Cũng như dụi mắt
thì hoa đốm cuồng loạn phát sanh, Chân Tâm tròn sáng trong
sạch nhiệm mầu mà Điên Đảo thì đầy đủ loạn tưởng
hư vọng như thế. Nay ông tu chứng Tam Ma Đề của Phật thì
đối với các loạn tưởng làm nguyên nhân cội gốc của
các Điên Đảo, phải lập ra ba tiệm thứ mới trừ diệt
được. Cũng như trong đồ đựng sạch sẽ trừ bỏ mật độc,
dùng nước nóng và chất tro, chất thơm rửa sạch đồ đựng,
rồi sau mới chứa nước cam lồ.
“Thế
nào là ba món tiệm thứ ? Một là, tu tập trừ các Trợ Nhân.
Hai là, chân tu, nạo sạch Chính Tính. Ba là, tăng tiến trái
lại Hiện Nghiệp.
Thông
rằng : Mười hai thứ Điên Đảo đều từ trong Chân Tâm minh
tịnh biến khởi. Bắt đầu trong một niệm Ái Thủ. Có Thương
thì có Ghét, có Thủ thì có Xả. Do đó, bốn thứ Thai, Nỗn,
Thấp, Hóa đều do Tình, Tưởng, nặng nhẹ tùy theo mỗi loài.
Các
loài Hữu Sắc, Vô Sắc, Hữu Tưởng, Vô Tưởng chỉ là hai
câu Hữu, Vô. Nhưng do cái Tưởng mà sanh hóa, thì Tưởng càng
ngày càng vi tế, sự sanh hóa càng lần lần thuần khiết.
Các loài hoặc chẳng phải Hữu Sắc, hoặc chẳng phải Vô
Sắc, hoặc chẳng phải Hữu Tưởng, hoặc chẳng phải Vô
Tưởng gồm ở trong ấy hai cái “Cũng Là”, hai cái “Chẳng
Phải”. Quả là do Tình mà biến hóa, Tình càng vướng mắc
thì càng biến hóa càng khổ. Tình, Tưởng, Thương, Ghét phô
bày lẫn lộn, không loài nào chẳng có, nên trong mỗi loài
mỗi mỗi đều đủ mười hai thứ điên đảo.
Tình,
Tưởng giống như mắt nhặm; Điên Đảo giống như hoa đốm
lăng xăng. Hoa đốm lăng xăng ở trong hư không mà chẳng ngăn
ngại được hư không. Điên Đảo ở trong Chân Tâm Diệu Viên
mà chẳng thể chướng ngại Tánh Diệu Viên. Dù đủ loạn
tưởng hư vọng thế kia, rốt ráo nơi Chân Tâm minh tịnh chẳng
hề ngăn ngại, rồi sau thấy được cái Diệu Viên vậy. Chân
Tâm Diệu Viên tức là Tam Ma Địa, rỗng suốt nhiệm mầu
bao la như hư không tạnh ráo. Mười hai thứ Điên Đảo chỉ
do sáu Vọng Tưởng hỗn loạn làm Bổn Nhân. Mắt nhặm nếu
trừ, hoa cuồng tự dứt.
Nhưng
trừ loạn tưởng phải lập ra ba món tiệm thứ. Vì sao ? Vì
như một cái bình sạch, vốn là đồ chứa đựng nước cam
lồ, một khi bị mật độc nhiễm dơ mà đổ ngay cam lồ vào
thì cam lồ trở thành thuốc độc. Ắt là phải súc rửa bằng
nước sôi cọng với tro, chất thơm cho trơn sạch, trải qua
tháng năm, thì độc khí dần dần tiêu, cam lồ mới có thể
cho vào. Ba món tiệm thứ này chính là nước sôi, tro, chất
thơm để rửa sạch loạn tưởng vậy.
Bốn
thứ khuyên dạy ở trước là Sát, Đạo, Dâm, Vọng đã đủ
Chánh Giới, đây lại trừ Trợ Nhân của Dâm, Nộ, Si, nạo
sạch cái Chánh Tính của Sát, Đạo, Dâm, Vọng, dần dần
xa lìa Vô Minh hiện hành. Do đấy tăng tiến, ngược dòng toàn
nhất, sáu cái Dụng chẳng hiện hành, trái nghịch Hiện Nghiệp
thì tâm không trôi dạt. Tình ái khô khan, loạn tưởng không
tự khởi lên thì Điên Đảo lấy đâu mà sanh ? Chỉ một
Chân Tâm rồi sau mới lập các Thánh vị. Bốn mươi bốn Tâm
để nhập chân Tam Ma Địa của Diệu Giác. Cũng như mật độc
đã tiêu, bèn chứa được cam lồ vậy.
Thiền
sư Đại Tùy Chân thượng đường nói : “Tánh này vốn xưa
nay thanh tịnh, sẵn đủ muôn đức. Chỉ bởi hai duyên nhiễm,
tịnh mà có sai khác. Cho nên các Thánh ngộ nó thì cứ một
bề dùng trong sạch mà thành đạo Giác. Người phàm mê nó
thì cứ một bề dùng dơ nhiễm mà chìm đắm luân hồi. Thể
nó không hai, nên kinh Bát Nhã nói “Không hai, không hai phần
vì không riêng không dứt vậy”.
Nếu
tin được lời nói của Ngài Đại Tùy, “Thể nó không hai”,
thì vốn là một bình chứa tinh sạch, chứa độc mật chẳng
có hao bớt mà đựng cam lồ cũng chẳng tăng thêm. Thẳng đến
Bồ Đề Vô Thượng, nhiễm tịnh đều không dính dáng, thì
sau có dẹp bỏ chỗ nói về ba món tiệm thứ cũng không phải
là không thể được vậy.
Kinh
: “Thế nào là Trợ Nhân ?
“Anan,
mười hai loài chúng sanh đó trong thế giới không thể tự
toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà sống, đó là Đoạn
Thực, Xúc Thực, Tư Thực, Thức Thực. Vậy nên Phật bảo
tất cả chúng sanh đều nương cái ăn mà sống còn.
“Anan,
tất cả chúng sanh ăn thức lành thì sống, ăn thức độc
thì chết. Vậy những chúng sanh cầu Tam Ma Đề phải dứt
bỏ năm thứ rau cay trong thế gian. Năm thứ rau cay này, ăn
chín phát lòng dâm, ăn sống thêm lòng giận. Trong thế gian,
những người ăn rau cay đó dầu có thể tuyên thuyết mười
hai bộ kinh, thì Tiên Thiên mười phương không thích hôi nhớp
đều lánh xa cả. Các loài quỷ đói v.v... nhân lúc người
ấy đang ăn bèn liếm môi mép. Thường ở với quỷ, nên phước
đức ngày càng tiêu mòn, lâu dài không được lợi ích. Người
ăn rau cay ấy, tu Tam Ma Địa, Bồ Tát, Thiên Tiên, Thiện Thần
mười phương không đến thủ hộ. Đại Lực Quỷ Vương thừa
cơ hội đó hiện làm thân Phật đến thuyết pháp cho, chê
phá Cấm Giới, khen Dâm, Nộ, Si. Khi chết tự làm quyến thuộc
Ma Vương, hưởng phước Ma hết, đọa vào ngục Vô Gián. Anan,
người tu Đạo Bồ Đề vĩnh viễn dứt bỏ năm thứ rau cay.
“Đó
là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.
Thông
rằng : Đoạn Thực cũng gọi là Đoàn Thực, nghĩa là lấy
tay viên tròn lại mà ăn. Nhưng có thứ không thể vê tròn
nên đổi thành đoạn. Đoạn là cắt ra từng khúc, như dao
cắt. Các thức ăn cơm, bún, rau... ăn theo lối cắt. Đó là
cách ăn của con người.
Xúc
Thực là ăn theo lối Căn, Cảnh, Thức tiếp xúc nhau mà thành.
Chỉ tiếp xúc cái khí vị mà thôi, đó là cách ăn của Quỷ
Thần.
Tư
Thực là cõi Thiền Thiên không có Đoạn Thực, chỉ có ăn
bằng tư tưởng, nên nói “Nghĩ đến ăn thì được ăn”.
Thức
Thực là cõi Vô Biên Xứ, không ăn bằng tư tưởng mà chỉ
có cái Thức biết ăn, Thức thủ (hiểu lấy) mùi vị Pháp
đầy đủ nên no.
Các
lối ăn Xúc, Tư, Thức Thực cũng đều có thể nuôi sống
như đoạn thực, nên nói “Đều nương theo cái ăn mà sống
còn”. Bộ Hiệp Luận nói : “Thức thực là A Lại Da Thức
nương theo ba cách ăn trước mà tồn tại. Làm sao để biết
? Năm Thức trước là Tướng Phần Tự Chứng của A Lại Da.
Thức Thứ Sáu và Thức Thứ Bảy là Kiến Phần Tự Chứng
của A Lại Da. Phạm vi của năm Thức trước nương vào Đoạn
Thực. Thức Thứ Sáu phân biệt nương vào Xúc Thực. Thức
Thứ Bảy nương vào Tư Thực. Cho nên Thức Thực nương vào
ba loại ăn trước mà tồn tại”.
Tất
cả chúng sanh ăn thức ăn lành thì sống, ăn thức ăn độc
thì chết, thì há năm loại rau cay nhớp mà không trợ Dâm,
sanh Giận ư ? Rốt cục Trời, Tiên xa lánh, thường ở với
Quỷ, cũng chẳng khác gì ăn thức ăn độc. Nhưng Dâm, Giận
ngày càng tăng, hẳn là chê phá Cấm Giới, đọa vào ngục
Vô Gián. Như vậy há có thể không cẩn thận ngay ở chỗ
vi tế ư ?
Hòa
Thượng Kim Ngưu mỗi lần đến giờ ăn, tự đem thùng cơm
đến trước tăng đường, múa cười ha hả mà rằng : “Bồ
Tát ơi, đến ăn cơm !”
Ngài
Tuyết Đậu nói : “Tuy nhiên như thế, Kim Ngưu chẳng phải
hảo tâm !”
Nhà
sư hỏi Tổ Trường Khánh : “Cổ nhân nói “Bồ Tát ơi,
đến ăn cơm”, ý chỉ như thế nào ?”
Tổ
Khánh nói : “Cũng giống nhân bữa ăn mà ca mừng”.
Ngài
Tuyết Đậu tụng rằng :
“Trong
bóng mây trắng cười ha hả
Hai
tay bưng đến trao người ta
Nếu
quả Kim Mao Sư Tử nhỏ
Ngoài
ba ngàn dặm thấy sai ngoa”.
Lại
có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu : “Kẻ học nhơn mới vào
tùng lâm, xin thầy chỉ bày cho”.
Tổ
Châu nói : “Vậy ăn cháo rồi chưa ?”
Vị
tăng : “Dạ, ăn rồi”.
Tổ
Châu nói : “Thì rửa chén bát đi !”
Vị
tăng tỉnh ngộ.
Tổ
Vân Môn nói : “Hãy nói là có chỉ bày hay không chỉ bày
? Nếu nói có thì Triệu Châu nói cái gì với ông ta vậy ?
Nếu nói không thì vì sao vị tăng kia lại ngộ ?”
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Cháo
xong thì dạy rửa bát đi
Rỗng
rang tâm địa tự dung thông
Như
nay, khách tham thiền no đủ
Thử
hỏi khoảng này có ngộ không ?”.
Hợp
lại chỗ đề xướng của các vị lão túc để rõ ràng mùi
mẽ, thì dầu trăm thứ món ngon của lạ cũng cần móc ói
ra, huống chi thứ thuốc độc năm loại rau cay há có thể
cho vào miệng ư ?
Kinh
: “Thế nào là Chính Tính ?
“Anan,
chúng sanh như thế vào Tam Ma Đề trước hết cốt phải nghiêm
trì Giới Luật thanh tịnh, vĩnh viễn đoạn trừ lòng Dâm,
chẳng dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ ăn trong sạch nấu chín,
không ăn đồ sống.
Anan,
người tu hành đó, nếu chẳng đoạn Dâm Dục và Sát Sanh
mà ra khỏi ba cõi, thì không thể có. Phải quan sát sự Dâm
Dục như rắn độc, như thấy giặc thù.
“Trước
hết, hãy giữ gìn Tứ Khí, Bát Khí của Giới Luật Thanh Văn,
nắm giữ thân chẳng động. Sau đó, hành trì Luật Nghi thanh
tịnh của hàng Bồ Tát, nắm giữ tâm chẳng khởi.
Giới
Cấm thành tựu thì trong thế gian đời đời không còn nghiệp
sanh sát nhau. Trộm cướp chẳng làm, thì không còn mắc nợ
nhau, và khỏi trả nợ đời trước trong thế gian.
Người
trong sạch đó tu Tam Ma Địa, ngay nơi thân xác thịt cha mẹ
sanh, không cần thiên nhãn tự nhiên xem thấy mười phương
thế giới, thấy Phật nghe Pháp, chính mình vâng lĩnh Thánh
Chỉ của Phật, đắc đại thần thông, dạo khắp mười phương
thế giới, túc mạng được thanh tịnh, được không khó khăn
nguy hiểm.
“Đó
gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.
Thông
rằng : Sát, Đạo, Dâm sao gọi là Chính Tính ?
Kinh
Viên Giác nói : “Hết thảy chúng sanh đều lấy Dâm Dục
mà “chính(01)” tánh mạng”. Vì Chánh Báo của chúng sanh
do cảm lấy Dâm Dục mà sanh ra, nên lấy Dâm Dục làm Chính
Tinh, tức là ở trước có nói Tánh Nghiệp, Giá Nghiệp. Lại
vì đối với Trợ Nhân mà nói, nên gọi là Chánh Tính. Nói
là Nạo Sạch, ví như nạo khoét cây làm thuyền, dần dần
làm cho trống không để mang chở. Nên Tánh Nghiệp, Giá Nghiệp
đều không mới hợp với nghĩa nạo vét.
Cái
Căn Dâm rất khó đoạn, phải xem như rắn độc, vì hại đến
Pháp Thân vậy. Phải thấy như giặc thù vì làm tổn thương
Huệ Mạng. Trước giữ Giới Thanh Văn khiến không có thân
phạm. Sau giữ Giới Bồ Tát khiến không có tư tưởng phạm.
Cấm Giới thành tựu thì Giới mà không có chỗ Giới. Dâm
dứt thì không còn Nghiệp tương sanh. Sát dứt thì không có
Nghiệp tương sát. Trộm cắp dứt thì không có Nghiệp trả
nợ. Ngay nơi thân tâm này sáu Căn thanh tịnh, không cần Thiên
Nhãn mà chứng Ngũ Thông. Nhãn Thông nên xem thấy mười phương.
Nhĩ Thông nên nghe Phật thuyết pháp. Thần Thông nên có thể
dạo khắp mười phương cõi. Túc Mạng Thông nên không có
khó khăn nguy hiểm. Tha Tâm Thông, tự tại ở trong ấy. Duy
chỉ có Lậu Tận Thông thì không dễ chứng. Chỗ này giống
kinh Pháp Hoa dạy rằng : “Thân hiện tại được sáu Căn
thanh tịnh tức là địa vị tương tự. Thế thì nghiêm giữ
Giới Luật thanh tịnh đâu có thể tự trễ nải ư ?”
Thiền
sư Dũng Tuyền Hưng thượng đường nói : “Tôi bốn mươi
chín năm ở trong ấy mà còn tự có khi lộn xộn (tẩu tác).
Này các ngươi chớ múa mỏ khua môi. Người kiến giải thì
nhiều, người hành giải cả vạn, trong đó không có một
người hiểu rõ lời lẽ biết suốt cái cần yếu. Nếu Thức
chẳng hết, dám nói hết chuyện luân hồi ư ? Vì sao như vậy
? Bởi vì Thức Lậu chưa hết. Ông mà hết sạch ngay giờ
mới được thành lập. Cũng gọi là Lập Trung Công, chuyển
công tựu thành cái kia. Cũng gọi là Tựu Trung Công, thân với
cái kia vậy. Bởi thế, tôi mới nói : Người thân chẳng được
độ, hắn chẳng độ người thân. Thí dụ như vậy còn chẳng
hiểu thì chỉ tiến lên hít lấy cái hơi mù mịt, chỉ nắm
giữ cái tánh loạn động nơi đầu lưỡi. Chẳng thấy Tổ
Động Sơn nói “Tương tục, ấy là đại nạn”. Các ông
cần biết có sự việc này, nếu không biết, có ngày rồi
khóc lóc !”
Mới
biết rằng Giới Hạnh dũng mãnh, cốt yếu là dứt sạch tức
thì, chuyển công thành vị, vào Tam Ma Địa. Chẳng thế thì
dùng huyễn để tu huyễn, uổng công siêng nhọc, ăn nhằm
gì đến Tự Tánh đâu !
Kinh
: “Thế nào là Hiện Nghiệp ?
“Anan,
người giữ gìn Cấm Giới thanh tịnh như vậy, Tâm không tham
dâm, đối với sáu Trần ở ngoài không hay giong ruổi theo.
Do không giong ruổi nên tự quay về Tánh gốc. Trần đã chẳng
duyên, Căn không chỗ hợp, ngược dòng toàn nhất, sáu Dụng
chẳng hành. Mười phương cõi nước sáng suốt thanh tịnh,
như ngọc lưu ly bên trong treo mặt trăng sáng. Thân Tâm rỗng
khoái, bình đẳng diệu viên, được đại an ổn. Mật Viên
Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện trong đó. Người
ấy liền được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Từ đó lần lượt tu
hành, tùy chỗ phát Hạnh mà an lập các Thánh vị.
“Đó
gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.
Thông
rằng : Hiện Nghiệp là Nghiệp tạo ra của Vô Minh hiện hành,
tức là các Nghiệp Sát, Đạo, Dâm ở trên.
Giữ
Cấm Giới thì đối với sáu Trần ở ngoài chẳng hay giong
ruổi theo, hay đoạn trừ phiền não khách trần, hay trừ được
Kiến Hoặc. Trần đã chẳng duyên theo thì Căn không chỗ gặp
hợp, hay phá Vô Minh vi tế, hay trừ được Tư Hoặc. Chưa
trừ hai cái Hoặc thì cũng còn tùy thuận theo Hiện Nghiệp,
chưa chịu nghịch lại. Giờ tự quay vào lặng trong, nghịch
lại với Hiện Nghiệp vậy. Vì giong ruổi nên sáu Dụng hiện
hành, thế là trái với Giác, hợp với Trần thành sáu Vọng
Tưởng loạn khởi ra Nghiệp hiện giờ. Bởi ngược dòng nên
sáu Dụng chẳng hiện hành, thế là trái với Trần, hợp với
Giác thành một Tánh trong lặng tròn sáng, Mật Viên Tịnh Diệu
của tất cả Như Lai đều hiện ra trong đó. Lý mật trí viên
tịnh hành nhiệm mầu phù hợp không dấu vết. Pháp Thân thanh
tịnh như ngọc lưu ly. Chân Trí trong suốt giống như trăng
sáng. Thân Tâm rỗng khoái, Căn, Cảnh đều dung thông, Diệu
Viên bình đẳng, được đại an ổn bèn được Vô Sanh Pháp
Nhẫn mà vào Tam Ma Địa. Từ đó tiệm tu, an lập Thánh Vị
cho đến bậc Đẳng Giác.
Cái
Giác này mới được vị Càn Tuệ Địa ban đầu trong Tâm
Kim Cang, bèn chứng Tam Ma Địa của Phật, cứu xét tận hết
bổn nhân, cùng tột vị Diệu Giác vậy. Đây là chỗ bước
vào, đoạn văn sau là chỗ tu, rốt ráo chỗ chứng, đều là
Tam Ma Địa của Phật, đó gọi là “Cửa vào một đường
Niết Bàn của mười phương Chư Phật”.
Chỗ
này cốt ở Đốn Chứng, cớ sao lại lập thêm các món tiệm
thứ để tăng tiến ? Bởi vì Lý cần Đốn Ngộ, Sự theo
đó lần hồi dứt trừ. Trước hết, trừ cái Trợ Nhân, kế
nạo sạch Chánh Tánh, rồi trái với Hiện Nghiệp. Tất cả
đều ở trên Sự mà tiêu dung dần dần. Cảnh càng vào Chân
thì công phu càng thêm tế mật. Tuy chủ Đốn Ngộ, chẳng
bỏ Tiệm Tu. Đây là gồm trọn cả ba căn Thượng, Trung và
Hạ nên là Pháp Môn Viên Đốn vậy.
Thiền
sư Kính Sơn Liễu Nhất thượng đường, nói: “Người học
Đạo chạm cảnh, gặp duyên mà không thể lập tức thấu
thoát (tỏ suốt) đều vì Nghiệp Thức sâu nặng, Vọng Tình
gắn chặt. Sáu cửa chưa dứt thì một chỗ chẳng thông. Cái
Tánh thuần túy trong sạch không một điểm vết thì phàm phu
khó đến. Cần ngay “Vào rừng không động lá, vào nước
không nổi sóng” mới có thể thuận dòng sanh tử, vào với
nhân gian. Chư vị ơi, có hiểu chăng ?”
Bèn
lấy cây gậy quơ vẽ mà nói : “Chỉ hướng trong ấy mà
tiến nhận”.
Giả
sử có tay nào ở đây tiến nhận được, giống như lưu ly
trong sạch ngậm trăng sáng ở trong, thì có gọi là người
xong việc không, nhỉ ?
Chẳng
thấy Tổ Nam Tuyền đang cùng Ngài Triệu Châu thưởng trăng.
Ngài
Châu nói : “Bao lâu thì được tương tự như cái kia ?”
Tổ
Tuyền nói : “Vương lão sư này hai mươi năm trước đã từng
như vậy đó”.
Ngài
Châu : “Nay thì sao ?”
Tổ
Nam Tuyền bèn quay về phương trượng.
Ngài
Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hai mươi năm trước để yên
đó. Hai mươi năm sau làm sao đây ? Có biết chỗ bước của
Vương lão sư chăng ? Trong nhà không linh sàng, vợ đâu mặc
đồ tang !”
Ôi,
“Thanh tịnh như lưu ly bên trong treo trăng sáng” tức là
chỗ đoạn sau nói “Càn Tuệ Địa” vậy. Mật Viên Tịnh
Diệu của tất cả Như Lai đều hiện ra trong đó thì chỗ
thấy chốn nào chẳng sáng tỏ, nhưng còn thiếu bước dẫm
đi. Thế nên, có biết chỗ dẫm đi của Tổ Nam Tuyền thì
hai mươi năm trước được tương tự cái kia cũng là chưa
xong.
MỤC
HAI :
AN
LẬP CÁC THÁNH VỊ
I.
CÀN TUỆ ĐỊA
Kinh
: “Anan, người thiện nam ấy, Dục Ái cạn khô, Căn Cảnh
chẳng phối hợp, cái Thân Tâm hiện tại không còn sanh tiếp
nữa. Nắm lấy Tâm rỗng sáng, thuần là Trí Huệ. Tánh Huệ
toàn sáng tỏ sáng mười phương thế giới. Mới có cái Huệ
khô khan, gọi là Càn Huệ Địa.
Thông
rằng : Dục Ái thấm nhuần thành nghiệp, Căn và Cảnh tạo
nghiệp nên sanh tử nối tiếp, mê muội chẳng quay về. Nay
lòng Dục khô cạn, Cảnh lui đi, nên cái Thân Tâm nhân thế
chẳng còn sanh tiếp. Ngược dòng toàn nhất ắt giữ lấy
cái Tâm rỗng sáng. Sáu Dụng chẳng hiện hành tức thuần
là Trí Huệ. Chẳng dùng gì nơi Dục Ái thì Huệ chẳng lìa
ngoài Tự Tánh, như ánh sáng viên ngọc không dùng soi chiếu
vật mà chỉ tự chiếu cái Thể của nó.
Đây
là cái sáng suốt cho đến chỗ không lập ra cái Sở, thì
cái sáng toàn vẹn vậy. Mười phương cõi nước rỗng sáng
thanh tịnh, ví như lưu ly ở trong treo trăng sáng, nên gọi
là “Tỏ sáng”. Đây là Dục Ái cạn khô nên phát Huệ,
mới gọi là Càn Huệ. Lại chỉ mới có cái Huệ khô khan,
chưa đến chỗ Diệu Viên, nên là Sơ Địa. Trong Thập Địa
của kinh Đại Phẩm thì Địa đầu tiên gọi là Càn Huệ.
Trong Viên Giáo của Ngài Thiên Thai, trước Thập Tín lập ra
Ngũ Phẩm Vị, gọi là nghĩa Thôi(02) cũng giống như Càn Huệ
Địa của kinh Đại Phẩm. Kinh này chưa đến đây mà chỗ
lập ra danh vị của Ngài Thiên Thai đã thầm hợp với Tâm
Phật. Chẳng phải là bậc tự thân đến được hội Linh
Sơn thì làm sao có được như thế !
Quan
Đại Phu Lục Tuyên thưa với Tổ Nam Tuyền : “Đệ tử cũng
hiểu sơ sơ Phật Pháp”.
Tổ
Tuyền bèn hỏi : “Trong mười hai thời, ông làm gì ?”
Đáp
: “Chẳng dính mảy lông”.
Tổ
Tuyền nói : “Còn là kẻ dưới thềm”.
Lại
nói : “Ông há chẳng nghe “Quân Vương có Đạo chẳng thu
bầy tôi có Trí” ư ?”
Về
sau, có nhà sư hỏi thiền sư Kim Phong Chí rằng : “Khi “Ngàn
núi không mây, ngàn dặm tuyệt ráng” thì sao ?”
Tổ
Chí nói : “Ngọn Phi Thiên Lãnh, phía nào mà chẳng mửa hết
ra !”
Quả
là cùng Tổ Nam Tuyền trước sau một vết bánh xe. Thế biết
Càn Tuệ Địa cũng là chỗ tạm nghỉ. Bằng như cùng tận
Diệu Giác thì cái ý rốt ráo phải tự riêng khác.
II.
THẬP TÍN
Kinh
: “Cái tập khí của ngũ dục mới khô cạn chưa tiếp thông
được với dòng nước pháp của Như Lai. Tức nhân tâm này,
ngay giữa lần vào Viên Diệu mở bày, theo Diệu Giác Viên
chân thật, càng phát ra chân diệu. Diệu Tín thường trụ,
tất cả vọng tưởng hết sạch chẳng còn. Trung Đạo thuần
Chân, gọi là Tín Tâm Trụ.
Thông
rằng : Ngay giữa lần vào, chẳng nghiêng về Không, chẳng
nghiêng về Giả, đó là Trung Đạo Diệu Quán vậy. Vừa mới
vào Quán, Tam Đế viên dung, như ba điểm của chữ Y () nên
gọi là Viên Diệu, đây là chỗ sức người có thể làm.
Nơi Quán đã thành, theo cái Chân phát ra Diệu, khế hợp với
lý Viên, nên gọi là Diệu Viên, đây là chỗ sức người
không thể đáp ứng nổi.
Trung
Đạo thì y nơi Chân, Diệu thì có cái chẳng phải do Chân.
Từ Chân phát ra Diệu thì Diệu đó là Chân Diệu. Diệu mà
chẳng phải do Chân nên chẳng thể Thường. Trung Đạo thuần
Chân nên Diệu ấy thường trụ. Cái Diệu đã thường trụ
thì hết thảy vọng tưởng không còn đất để chân vậy.
Cái gọi là Diệu ấy chỉ riêng người ấy rõ biết ý thú
của Diệu này, không thể dùng lời nói chỉ bày cho người
được. Đức tin này rất chân thật nên gọi là Tín Tâm Trụ.
Tổ
Quy Sơn nói với Ngài Ngưỡng Sơn : “Ông nên riêng tự hồi
quang phản chiếu, người khác không biết chỗ tri giải của
ông. Ông thử đem cái kiến giải chân thật trình lão tăng
xem !”
Ngài
Ngưỡng Sơn nói : “Như dạy con tự xem thì vào trong ấy không
có viên vị, cũng không có một vật, một giải nào để trình
Hòa Thượng”.
Tổ
Quy nói : “Chỗ không có viên vị là chỗ kiến giải của
ông thì chưa rời tâm, cảnh”.
Ngài
Ngưỡng Sơn nói : “Đã không viên vị, chỗ nào có pháp ?
Lấy không vật làm cảnh”
Tổ
Quy nói : “Vừa rồi, chính ông có kiến giải ấy, phải không
?”
Ngài
Ngưỡng đáp : “Dạ, phải”.
Tổ
Quy nói : “Nếu như thế thì đầy đủ tâm, cảnh lẫn pháp,
chưa thoát khỏi tâm Ngã-Sở. Nguyên vì có kiến giải trình
tôi. Cho ông rõ được Tín Vị, còn Nhân Vị thì chưa !”
Về
sau, Ngài Ngưỡng Sơn hỏi Ngài Song Phụng : “Sư đệ, gần
đây chỗ thấy thế nào ?”
Đáp
rằng : “Theo chỗ thấy của tôi, thật không có một pháp
để lưu tình”.
Ngài
Ngưỡng nói : “Kiến giải của ông còn ở trong Cảnh”.
Đáp
rằng : “Tôi chỉ như vậy. Sư huynh thì sao ?”
Ngài
Ngưỡng nói : “Ông há chẳng biết “Không có một pháp để
lưu tình” ư ?”
Tổ
Quy Sơn nghe được, nói : “Một câu của Huệ Tịch e giết
hết người trong thiên hạ”.
Xét
nghiệm như vậy, chẻ bửa như vậy mới biết “Theo Tánh
Chân Thật, Diệu Viên càng phát ra Chân Diệu”. Cái chỗ Chân
Tín cách nhau xa hẳn với con đường tri giải vậy.
Kinh
: “Chân Tín sáng rõ, hết thảy viên thông. Ba thứ Ấm, Xứ,
Giới không thể ngăn ngại. Như vậy cho đến trong vô số
kiếp quá khứ, vị lai tất cả tập khí bỏ thân, thọ thân
đều hiện ra trước mắt, người thiện nam này đều có thể
nhớ tưởng không quên mất, gọi là Niệm Tâm Trụ.
Thông
rằng : Niệm Tâm Trụ ở trong Thập Tín này là Túc Mạng Thông.
Trước có nói “Cấm Giới thành tựu, sáu Căn thanh tịnh
không cần Thiên Nhãn, xem thấy mười phương túc mạng thanh
tịnh, được không khó khăn nguy hiểm, cũng lần lần ra khỏi
ngăn ngại” Ở đây, cả quá khứ, vị lai trong vô số kiếp
đều có thể tưởng nhớ, ắt viên thông sáng rõ. Đây là
trong Chân Tín phát khởi, Tánh Không đâu chẳng toàn khắp,
nên suốt thông không đâu chẳng thấu đến. Đây là đã chứng
Chân nên địa vị “Tương Tự” chẳng thể sánh được.
Không chứng Chân thì Ấm, Xứ, Giới làm ngăn ngại, nên không
thể thông suốt. Nay nắm giữ cái tâm rỗng sáng; căn, cảnh
chẳng dính nhau, lâu ngày thì Chân Diệu một mình bày lộ,
siêu vượt lên căn, cảnh. Do đó, tất cả tập khí do Tư
Hoặc kết thành như quá khứ bỏ thân, vị lai thọ thân đều
rõ ràng trước mắt, mà không quên mất.
Cái
Niệm Tâm vốn thuộc sanh diệt, nay lấy Chân Tín mà nắm giữ
nó thì niệm cũng an trụ, tức niệm tức Chân, lấy Chân,
Vọng dung nhau thành một. Túc Mạng Thông từ bậc A La Hán
cho đến cõi Phi Phi Tưởng, các ngoại đạo thì biết trước
sau đến tám vạn kiếp. Nhưng vô số kiếp tức là A Tăng
Kỳ kiếp thì ngoài Phật không ai chứng được. Xứ này, người
biết quá khứ thì cũng đã có, còn người biết vị lai thì
không nhiều.
Thiền
sư Huệ Trung ở núi Ngưu Đầu nghe thiền sư Uy ra đời bèn
đến thăm.
Thiền
sư Uy vừa thấy, nói rằng : “Sơn chủ đến vậy”.
Ngài
Huệ Trung cảm ngộ, ở lại hầu hạ.
Sau
này, Huệ Trung xin đi các nơi tham học.
Một
hôm, thiền sư Uy thấy cây Lăng Tiêu nơi Viện Cụ Giới gặp
mùa Hạ nên héo úa. Có người muốn chặt đi, Ngài bảo :
“Đừng chặt, khi Huệ Trung về, nó sẽ sống lại !”
Sau,
Ngài Huệ Trung trở về, quả như lời nói, bèn giao Sơn Môn
cho Huệ Trung.
Lại
như Ngài Linh Thọ, suốt hai mươi năm không có Thủ Tòa. Ngài
thường nói : “Thủ Tòa của ta đã sanh rồi ! Thủ Tòa của
ta đang chăn trâu ! Thủ Tòa của ta đang hành cước !”
Một
hôm, bảo đánh chuông, ra ngoài tam môn tiếp đón vị Thủ
Tòa. Đại chúng ra đón thì quả là Ngài Vân Môn đến, bèn
mời thẳng vào liêu Thủ Tòa.
Mở
gói hành lý xong, trình thơ cho Tổ Linh Thọ, viết rằng : “Đây
là vị Thủ Tòa trong chùa, con mắt của trời, người”.
Ngài
bèn mời Tổ Vân Môn khai đường.
Hai
vị tôn túc trên, có thể nói là đắc Niệm Tâm Trụ.
Kinh
: “Diệu Viên thuần Chân, Chân Tinh phát hóa ra, các tập khí
vô thủy thông thành một Tinh Minh. Chỉ nhân Tinh Minh ấy tiến
đến chỗ Chân Tịnh, gọi là Tinh Tiến Tâm.
Thông
rằng : Từ Chân Tín lần vào nên có thể tưởng nhớ. Từ
Thuần Chân lần vào nên được cái Tinh Minh. Chân hay chuyển
hóa cái Vọng thì Chân Tinh phát hóa là không thể nghĩ bàn,
nên tập khí từ vô thủy hóa thành Tinh Minh. Ở trước nói
“Tập khí hiện tiền”, đến đây hóa thành Tri Giác Vô
Thượng vậy. Tịnh mà đối với nhiễm thì chưa là Chân Tịnh.
Chẳng dơ, chẳng sạch mới là Chân Tịnh. Nhân dùng cái Tinh
Minh này tiến đến Chân Tịnh, ấy là muốn dẹp bằng dấu
vết của cái “Thông thành một Tinh Minh” mà đều chuyển
hóa hết vậy. Sự chuyển hóa này chẳng thể làm được thì
sự Tiến cũng chẳng Tinh vậy.
Nhà
sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Thế nào là Tinh Tiến?”
Tổ
Bá nói : “Thân tâm chẳng khởi, đó là Tinh Tiến mạnh mẽ
đệ nhất. Vừa khởi Tâm hướng ngoài tìm cầu thì gọi là
“Vua Ca Lợi ưa đi săn bắn”. Tâm chẳng đi rong ở ngoài
tức là “Tiên nhơn nhẫn nhục”. Thân tâm đều không, đó
là Phật đạo”.
Kinh
Pháp Cú nói : “Nếu khởi tâm Tinh Tiến, đó là vọng chứ
chẳng phải Tinh Tiến. Nếu Tâm thường chẳng vọng, đó là
Chân Tinh Tiến”.
Ngài
Thiên Thai Trí Giả tụng kinh Pháp Hoa ở núi Nam Nhạc đến
chỗ phẩm Dược Vương : “Đó là Chân Tinh Tiến, đó gọi
là Chân Pháp cúng dường Như Lai”, ngay đó ngộ nhập Pháp
Hoa Tam Muội, được gọi là Toàn Đà La Ni, thấy Pháp Hội
Linh Sơn rõ ràng chưa tan.
Đây
có thể nói là tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh
vậy. Hẳn là tiến đến chỗ thân tâm đều Không, mới gọi
là Chân Tịnh. Lìa ngoài Chân Tịnh mà riêng cầu chuyện tinh
tiến đó là vọng vậy.
Kinh
: “Tâm Tinh hiện tiền, thuần dùng Trí Huệ, gọi là Huệ
Tâm Trụ.
Thông
rằng : Càn Huệ Địa ở trước sao không gọi là Huệ Tâm
Trụ ? Trước nói : “Nắm giữ Tâm rỗng sáng”, là còn có
nắm giữ vậy. Đây nói : “Tâm Tinh hiện tiền”, tức là
cái nắm giữ đã chuyển hóa rồi vậy. Trước nói : “Thuần
là Trí Huệ”, tức còn mang lấy cái “Là”. Đây nói : “Thuần
dùng Trí Huệ”, tức đâu đâu cũng là cái dùng của Trí
Huệ, đều mất cái Là vậy.
Chỗ
này nếu chẳng phải Tinh Minh rõ suốt, linh quang hiển hiện
thì chưa dễ nói ra được. Ban đầu thì nói có cái Trí Huệ
ấy. Đến chỗ thuần là Trí Huệ thì có mà an trụ rồi,
lại tiến thêm một bước.
Trong
thiền môn thuần dùng Trí Huệ, duy chỉ có một tay Lâm Tế
thật khó gặp một người thứ hai. Ngài thường nói : “Sơn
tăng chốn này đoán định ba thứ Căn Khí : như hàng căn khí
trung hạ đến, ta bèn đoạt Cảnh nó mà chẳng trừ Pháp nó.
Nếu là hàng căn khí trung thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp
đều đoạt. Như có người căn khí thượng thượng đến,
ta bèn Cảnh, Pháp, Người đều đoạt. Như có người kiến
giải xuất cách đến thì sơn tăng chốn đây bèn toàn thể
tác dụng, chẳng cần Căn Khí. Các Đại Đức, đến trong
ấy mà chỗ nỗ lực của học nhơn chẳng thông rõ phong đại,
lửa đá, chớp xẹt tức qua liền vậy. Người học mà con
mắt định nếu động, liền mất giao thiệp.
Tâm
nghĩ tức sai, động niệm tức trái ! Có người nào rõ biết,
chẳng lìa trước mắt. Các Đại Đức, các ông mang bát phẩn,
vác con chạy nhà người, cầu Phật, cầu Pháp tức nay cùng
cái gì chạy tìm thế ? Các ông chẳng biết nó chăng ? Sống
sờ sờ ra đó, chỉ cái chẳng bám níu. Ôm lấy chẳng tụ,
vứt đi chẳng tan. Tìm cầu liền mất xa, không cầu là trước
mắt”.
Linh
âm phó chúc bên tai, như chẳng có tin uổng nhọc trăm năm
lần lữa. Như tin được “Sống sờ sờ ra đó” thì với
Huệ Tâm Trụ đâu có xa !
Kinh
: “Nắm giữ Trí sáng, lặng trong cùng khắp, lặng lẽ nhiệm
mầu thường lắng đọng, gọi là Định Tâm Trụ.
Thông
rằng : Đã thuần dùng Trí Huệ thì Huệ Tâm thường trụ,
sao lại còn dùng sự nắm giữ ? Nói nắm giữ ý là quên cơ
bỏ trí. Trí Huệ thường dùng, dùng tức ứng vật, bèn ở
trong thể lặng trong chẳng được Tổng Trì. Nay gom lại ánh
sáng rực rỡ, giữ mà chẳng dùng. Như Tổ Lâm Tế nói : “Kiếm
xuy mao dùng xong cần mài ngay !”, tức là trong Tánh Diệu Trạm
được Tổng Trì vậy.
Tổng
Trì tánh chẳng động thì thường lắng đọng. Phàm, tánh
lặng trong, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp giới, vốn
không động lay, lặng mà chẳng phải lặng, chẳng đồng với
tĩnh-chết, nước đọng, nên gọi là Tịch Diệu.
Cái
Định Tâm Trụ này là “Khi Định thì Huệ ở tại Định”,
hoàn toàn chẳng liên can gì với cái thuyết “Trước Định
sau Huệ, trước Huệ sau Định” do sức người tu trì.
Ngài
Trí Hoàng ban đầu ra mắt Ngũ Tổ, sau đó ở trong am ngồi
thiền suốt hai mươi năm.
Ngài
Huyền Sách, đệ tử của Lục Tổ, đến thăm, hỏi rằng
: “Ông ở đây làm gì vậy ?”
Đáp
: “Nhập định”.
Ngài
Sách nói : “Ông nói nhập định, là có tâm nhập hay không
có tâm nhập ? Nếu không tâm nhập thì tất cả vô tình cỏ
cây, ngói đá cũng là đắc định. Nếu có tâm nhập thì tất
cả hữu tình các loài hàm thức cũng đều đắc định”.
Ngài
Hoàng nói : “Chính khi tôi nhập định chẳng thấy có tâm
“Có-Không”.
Huyền
Sách nói : “Chẳng thấy có cái tâm Có-Không, đó là thường
định, nào có xuất nhập ! Nếu có xuất, có nhập ắt chẳng
phải là Đại Định”.
Trí
Hoàng không đáp được.
Giây
lâu hỏi rằng : “Thầy ông là ai ?”
Ngài
Sách đáp : “Thầy tôi là Lục Tổ”.
Trí
Hoàng hỏi : “Ngài Lục Tổ lấy gì làm thiền định ?”
Huyền
Sách đáp : “Thầy tôi nói rằng : “Cái Diệu Trạm Viên
Tịch, thể dụng như như. Năm Ấm vốn Không, sáu Trần chẳng
có. Chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định chẳng loạn. Tánh
thiền không trụ, lìa trụ thiền tịch. Tánh thiền vô sanh,
lìa sanh thiền tưởng. Tâm như hư không, cũng không có cái
lượng hư không””.
Ngài
Trí Hoàng nghe nói vậy, bèn đến ra mắt Lục Tổ, kể lại
hết sự việc.
Lục
Tổ nói : “Quả đúng như vậy. Ông chỉ Tâm như hư không,
chẳng giữ không kiến, ứng dụng không ngại, động tĩnh
vô tâm, tình phàm Thánh mất, Năng Sở đều tiêu. Tánh Tướng
như như, không lúc nào mà chẳng là Định”.
Trí
Hoàng ngay đó đại ngộ, cái tâm sở đắc trong hai mươi năm
trọn chẳng có ảnh hưởng gì. Đêm ấy ở Hà Bắc(03), quan
dân nghe trên không có tiếng nói “Hoàng Thiền Sư ngày nay
đắc Đạo !”
Ngài
trở về Hà Bắc khai hóa cho bốn chúng.
Lại
có vị tăng hỏi thiền sư Hiển Đoan : “Lắng đọng lặng
trong thì như thế nào ?”
Tổ
Đoan nói : “Chẳng phải là chỗ an thân lập mạng của thầy
Xà Lê”.
Hỏi
: “Như sao là chỗ an thân lập mạng của học nhân này ?”
Đáp
: “Mây có thế ra núi, nuớc không tiếng vào khe”.
Ngay
đây hiểu được thì hằng vắng lặng mà chẳng lìa hằng
tỏ soi. Đủ biết Định Huệ là pháp môn không hai vậy.
Kinh
: “Ánh sáng của Định phát ra vào sâu tánh sáng, chỉ có
tiến chớ không lui, gọi là Bất Thối Tâm.
Thông
rằng : Do Huệ vào Định, Định ấy chân chánh. Do Định phát
sáng, cái sáng đó thâm sâu. Cái sáng không do định lực sanh
thì nông cạn, không có gốc nên chẳng thể vào sâu. Nay Định
Huệ giúp nhau nên tánh sáng càng thấu suốt, có chỗ nhỏ
nhiệm nào mà chẳng soi, có chỗ mật nhiệm nào mà chẳng
tột, cho nên có thể tìm đường hướng thượng. Tiến tới
không thôi, chỉ có tiến không có lui, đủ để thấy ánh
sáng ấy là sâu xa vậy. Nếu có chút chẳng sáng thì phải
có ý thối lui. Địa vị chẳng thối này do Vô Minh từ vô
thủy bị đào thải gần hết, không thể bị chao động lầm
lạc, cho nên chẳng thể lui sụt vậy.
Ngài
Càn Phong thượng đường rằng : “Pháp Thân có ba loại bệnh,
hai loại ánh sáng. Mỗi mỗi cần phải thấy suốt mới hiểu
việc về nhà ngồi yên. Cần biết lại còn có hướng thượng
nhất khiếu nữa”.
Ngài
Vân Môn bước ra hỏi : “Người trong am cớ sao không biết
chuyện ngoài am ?”
Tổ
Phong ha hả cười lớn.
Vân
Môn thưa : “Đó cũng là chỗ nghi của kẻ học nhơn này.”
Tổ
Phong nói : “Ông là cái tâm hạnh nào đó ?”
Vân
Môn nói : “Cũng xin Hòa Thượng giải quyết cho”.
Tổ
Phong nói : “Ngay đây cần cái gì thêm nữa mới hiểu chỗ
ngồi yên ?”
Ngài
Vân Môn cất tiếng : “Dạ, dạ”.
Ngài
Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ngồi kẹt, bệnh hết thuốc chữa.
Dùng kẹt, ánh sáng chẳng thấu thoát. Dầu cho tung hoành ngang
dọc, toàn chuyển nhất-cơ cũng là chưa biết còn một cái
Hướng thượng nhất khiếu. Còn được cái địa vị ngồi
yên đấy chăng ? Rốt cùng, sương trăng tối, mặc nhiên rớt
đầu khe”.
Vân
Môn thật là người trong cửa, còn chẳng biết việc ngoài
cửa bởi vì đắc “Địa vị ngồi yên”. Nếu chưa đến
chỗ phần hạn của Vân Môn thì phải hướng về câu nói
của Tổ Càn Phong nhai nhấm một phen mới rõ đường mạch
chân thật của Bất Thối Tâm.
Kinh
: “Tâm an nhiên tiến tới, giữ gìn chẳng mất, giao tiếp
với khí phần của mười phương Như Lai, gọi là Hộ Pháp
Tâm.
Thông
rằng : Định Huệ dung nhau vào bất sanh diệt. Tâm mà không
cái tâm, tiến mà không chỗ tiến. Một niệm tương ưng, không
có tạo tác nên nói là an nhiên. Chưa đến chỗ an thì còn
mượn sự nỗ lực gìn giữ. Đã đến chỗ an thì gìn giữ
chẳng mất vậy.
Nói
rằng chẳng mất là chẳng mất vật gì ? Giữ gìn là giữ
gìn việc gì ? Đây là mạng mạch của Chư Phật, xuyên suốt
mười phương. Nay ta đã được Tổng Trì, ắt mạng mạch
của Chư Phật là ở ta, tinh thần có thể thông nhau, khí phần
tự nhiên giao tiếp. Khí phần của ta giao tiếp với Phật,
đó là ta hộ trì Chánh Pháp của Như Lai. Khí phần của Phật
giao tiếp với ta, đó là Phật hộ trì Chánh Pháp của ta.
Đến chỗ này thì Tư Hoặc về ba cõi hết sạch, ấy là Chánh
vị của sáu Căn thanh tịnh vậy. So với Đại Phẩm là tương
đương với Phật Địa, nên nói là “Chỗ hộ niệm của
Chư Phật”.
Xưa,
Đức Lục Tổ giặt áo trên tảng đá bỗng có một nhà sư
đến lễ bái, bạch rằng : “Tên là Phương Biện, người
xứ Tây Thục, mới rồi ở Nam Ấn mộng thấy Tổ Sư Đạt
Ma phú chúc rằng “Phương Biện hãy qua ngay Trung Thổ, ta truyền
Chánh Pháp Nhãn Tạng từ Đại Ca Diếp và y Tăng-Già-Lê nay
đã đến đời Thứ Sáu ở Thiều Châu Tào Khê, ông đến
đó mà chiêm lễ”. Phương Biện này từ xa đến mong được
thấy y bát của Tổ Sư truyền lại”.
Lục
Tổ bèn đưa cho xem.
Đây
là một chứng nghiệm về khí phần giao tiếp.
Ngài
Phong Huyệt ban đầu đến Tổ Hoàng Long.
Tổ
Long hỏi : “Sừng đá xuyên đường mây, ý nghĩa ấy thế
nào ?”
Ngài
Huyệt đáp : “Ráng hồng lồng tượng ngọc. Ngăn che chiếu
đầu sông”.
Tổ
Long nói : “Theo nhau đến vậy”.
Ngài
Huyệt nói : “Hòa Thượng nói nho nhỏ !”
Ngài
Đầu Tử tụng rằng :
“Chỗ
tối châu ngời vô giá treo
Đêm
khuya định nắm mộc nhân(04) xeo
Ai
ngờ lại bị trâu bùn thấy
Nuốt
trọn ráng hồng sóng biếc theo”.
Nhà
nghề gặp nhau thì chưa từng chẳng lấy sự hộ trì trân
trọng mà khuyên gắng. Chỗ này cũng có thể thấy tâm hộ
pháp của chư vị vậy.
Kinh
: “Giữ gìn tâm giác sáng có thể dùng diệu lực xoay Từ
Quang của Phật lại nơi mình và hướng về Phật mà an trụ,
như hai tấm gương ánh sáng đối nhau, trong ấy các bóng nhiệm
mầu trùng trùng tương nhập, gọi là Hồi Hướng Tâm.
Thông
rằng : Xoay Từ Quang của Phật lại là xoay Quả mà hướng
về Nhân vậy. Hướng về Phật mà an trụ là xoay Nhân mà
hướng về Quả vậy. Quả, Nhân một niệm khế hợp thì ánh
sáng giao nhau, nhập vào nhau, chỗ nhiệm mầu này khó dùng
lời lẽ tỏ bày. Chỉ có cái diệu lực chứ chẳng liên quan
đến công phu. Ánh sáng nhân tâm Từ mà hiển, chẳng cần
phương tiện. Chỗ trụ đồng với Phật, nên không còn thứ
bậc. Bổn Giác và Thủy Giác hai cái Giác dung hòa lẫn nhau,
ví như ánh sáng đối nhau trong hai tấm gương. Có cái diệu
lực này mới có diệu ảnh này. Giữ gìn tâm Giác sáng, không
trở lại cái biết hư vọng thì cái Minh này là Diệu Minh
vậy. Diệu Minh minh diệu, một tức tất cả, tất cả tức
một, diệu ảnh trùng trùng dung nhập vào nhau. Nói là diệu
ảnh thì chẳng phải ảnh của tiền trần hay pháp trần. Ở
đây, ảnh trộn lẫn trong ánh sáng, ánh sáng cũng hòa lẫn
nơi ảnh, tương tự Một Trí Đại Viên Cảnh vậy.
Xoay
Trí Phật làm trí mình, xoay trí mình về trí Phật, tâm tâm
chế nhau, gần như đồng với Phật há chỉ có khí phần giao
tiếp thôi ư !
Tổ
Quy Sơn một hôm bảo các học trò trình ra chỗ hiểu biết.
Tổ
nói : “Ngoài Thanh-Sắc, cùng ta thấy nhau”.
Ngài
Ngưỡng Sơn qua ba lần trình lời đều nói : “Như hai mặt
kính soi nhau, trong đó không có hình tượng”.
Tổ
Sơn nói : “Lời này chân chánh nhưng ta phải mà ông chẳng
phải, vì đã sớm lập hình tượng rồi”.
Ngưỡng
Sơn lại hỏi Tổ : “Con tinh thần tối tăm, đối đáp vụng
về. Chưa rõ Hòa Thượng khi ở với Sư Ông Bách Trượng trình
lời ra sao ?”
Tổ
Quy Sơn nói : “Khi ở với Tiên Sư Bách Trượng, ta trình lời
như vầy : “Như trăm nghìn gương sáng soi hình tượng, bóng
sáng chiếu nhau, trần trần, sát sát, mỗi mỗi chẳng mượn
nhau””.
Ngài
Ngưỡng Sơn liền lễ tạ.
Hai
vị tôn túc khéo nói Lăng Nghiêm. Một đằng như hai tấm gương
ánh sáng đối nhau. Một đằng như diệu ảnh trùng trùng tương
nhập. Hợp lại mà nói, ý nghĩa mới đầy đủ.
Tổ
Tuyết Phong thượng đường : “Cần rõ việc này, như gương
xưa trên đài, (người) Hồ đến Hồ hiện, Hán đến Hán
hiện”.
Ngài
Huyền Sa ra khỏi chúng, nói : “Bổng gặp gương sáng đến
thì thế nào ?”
Tổ
Phong nói : “Hồ, Hán đều ẩn”.
Ngài
Huyền Sa nói : “Gót chân lão Hòa Thượng còn chưa chấm đất
!”
Biết
được vì sao Ngài Huyền Sa không chịu lời Tổ Tuyết Phong
thì biết ngay chỗ Ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ Tổ Quy Sơn vậy.
Kinh
: “Tâm quang thầm xoay lại, được chỗ thường lắng đọng
Vô Thượng Diệu Tịnh của Chư Phật, an trụ vô vi, được
không bỏ mất gọi là Giới Tâm Trụ.
Thông
rằng : Tâm quang thầm xoay lại, hướng về Phật mà an trụ
được thường lắng đọng tịch diệu của Chư Phật, đối
cảnh mà chẳng động. Được chỗ Vô Thượng Diệu Tịnh
của Phật thì giao thiệp với trần mà chẳng nhiễm. Đây
là Tự Tánh Thiên Chân Phật, vô vi chân thật vậy. An trụ
trong đó thì không tạo không làm, không chứng không đắc.
Phàm có được ắt có mất, không được thì không mất. Có
mất thì cần dùng Giới. Không mất thì đâu cần dùng Giới.
Tự Tánh vô vi, tức đó là Giới. Giới mà không có chỗ Giới,
đó là Chân Giới. Giới này tại tâm quang, chỗ âm thầm xoay
lại mà gọi là mật vì không thể lấy ý thức đo lường,
há có thể nói đồng với Giới Luật tầm thường sao ? Tức
Giới tức Định, tức Giới tức Huệ, chỉ một thể mà khác
danh thôi.
Xưa,
Ngài Thạch Đầu ban đầu đến Tổ Thanh Nguyên tham lễ.
Tổ
Nguyên nói : “Ông chốn nào đến ?”
Đáp
: “Tào Khê”.
Tổ
Nguyên nói : “Đem được cái gì đến vậy ?”
Đáp
: “Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất”.
Tổ
Nguyên nói : “Nếu như thế, đến Tào Khê làm gì ?”
Đáp
: “Nếu không đến Tào Khê, sao biết là chẳng mất”.
Ngài
Thạch Đầu lại nói : “Đại Sư ở Tào Khê có biết Hòa
Thượng không ?”
Tổ
Nguyên nói : “Nay ông có biết tôi chăng ?”
Đáp
: “Biết thì lại làm sao biết được ?”
Tổ
Nguyên nói : “Loài có sừng tuy nhiều mà một con kỳ lân
là đủ rồi vậy”.
Về
sau, Tổ Dược Sơn một hôm đang ngồi trên tảng đá, Ngài
Thạch Đầu hỏi : “Ở trong ấy làm gì thế?”
Ngài
Sơn nói : “Một vật cũng chẳng làm”.
Ngài
Đầu nói : “Như thế là ngồi chơi (nhàn tọa) vậy”.
Ngài
Sơn nói : “Nếu ngồi chơi tức là làm”.
Ngài
Đầu : “Ông nói chẳng làm là chẳng làm cái gì ?”
Ngài
Sơn nói : “Ngàn Thánh cũng chẳng biết”.
Ngài
Thạch Đầu nhân đó dùng kệ ca ngợi rằng :
“Xưa
nay cùng ở chẳng hay danh
Nhậm
vận cùng nhau chỉ thế hành
Từ
cổ Thánh Hiền còn chẳng rõ
Phàm
phu há biết, nhọc lăng xăng”.
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Huyền
vi cùng tận vốn an nhiên
Nếu
cho y rộng tám vạn thiên
Trăng
in sông lặng, nào tăm cá
Đâu
mệt ông câu thả lưới nôm”.
Xem
chỗ nói “Chẳng làm” của Ngài Dược Sơn, chỗ nói “Chẳng
mất” của Ngài Thạch Đầu thì rốt ráo chẳng thể đo lường
hiểu biết, ấy khá mật nhiệm vậy. Có thể qua cửa ải
này bèn được chỗ thường lắng đọng vô thượng diệu
tịnh của Phật, có thể gọi là Giới Tâm Trụ.
Kinh
: “Trụ giới tự tại có thể dạo khắp mười phương, đến
đâu tùy nguyện, gọi là Nguyện Tâm Trụ.
Thông
rằng : Trụ Giới tự tại thì quên luôn cái gì là Giới.
Thường lắng đọng nơi Chân Tịnh, thích gì mà chẳng được,
nên có thể đi dạo khắp mười phương, đến đâu tùy nguyện.
Trong Viên Giáo của Thiên Thai Tông, nếu chưa đoạn Vô Minh
thì sanh sang cõi Đồng cư, gọi là Nguyện Sanh, quả là phù
hợp với đoạn kinh này. Thiên Thai Tông lại nói hàng Thập
Tín ra khỏi Giả Quán mà làm lợi ích cho chúng sanh. Đoạn
này nói “Dạo khắp mười phương” thì cũng hợp với nghĩa
ấy.
Thiền
sư Thủ Sơn Niệm vào giờ Ngọ, ngày mồng Bốn, tháng Chạp
năm Thứ Ba niên hiệu Thuần Hóa, thượng đường nói bài
kệ :
“Năm
nay sáu mươi bảy
Già
bệnh tùy duyên qua tháng ngày
Năm
nay ghi nhớ việc năm sau
Năm
sau nhớ rõ sáng hôm nay”.
Đến
ngày tháng của năm sau không sai chạy, thượng đường từ
biệt đại chúng, rồi nói bài kệ :
“Thế
giới bạch ngân vàng sắc thân
Tình
với vô tình cùng Nhất Chân
Sáng,
tối hết rồi đều chẳng chiếu
Mặt
trời sau Ngọ trọn bày thân”.
Rồi
an tọa mà tịch.
Đệ
tử của Ngài Phần Dương Chiểu có tình cố cựu với Dỗn
Lý Hầu ở phủ Long Đức. Hầu sai người đến chùa Thừa
Thiên mời Ngài. Sứ giả ba phen mời không được, bị phạt
nên muốn được Ngài cùng đi.
Ngài
cười rằng : “Cái nghiệp của lão tăng là chẳng ra khỏi
chùa ba mươi năm nay rồi. Nếu đi thì phải có trước sau,
cần gì cùng một lúc !”
Rồi
bảo thiết trai, chuẩn bị hành lý và bảo đại chúng : “Lão
tăng đi đây, người nào theo được ?”
Một
vị tăng bước ra thưa : “Con theo được”.
Ngài
bảo : “Mỗi ngày ông đi mấy dặm ?”
Vị
tăng đáp : “Năm mươi dặm”.
Ngài
nói : “Ông theo ta chẳng được !”
Lại
có một vị tăng bước ra, nói : “Con theo được”.
Ngài
bảo : “Mỗi ngày ông đi mấy dặm ?”
Vị
tăng đáp : “Bảy mươi dặm”.
Ngài
nói : “Ông cũng theo ta chẳng được”.
Vị
thị giả bước ra nói : “Con theo được, Hòa Thượng đến
đâu con đến đó”.
Ngài
bảo : “Ông theo được đó”.
Nói
xong Ngài bảo với sứ giả rằng : “Tôi đi trước nghe”.
Rồi vui vẻ ngồi tịch. Vị thị giả liền đứng mà tịch.
Đây
chẳng phải là “Đến đâu tùy nguyện” ư ? Chẳng phải
đã chứng Thập Tín thì chưa dễ đến chỗ này. Tin là chân
thật không hư vọng, vì tương ưng với Thật Tế Lý Địa
vậy. Nên có câu : “Chỉ một sự thật này, dư hai ắt chẳng
Chân”. Ban đầu ắt Dục Ái cạn khô, giữ tâm rỗng sáng
rồi sau mới có thể vào Chân Tánh Diệu Viên. Chân Tánh phát
hóa, tập khí nhỏ nhiệm đều dung thông. Lại nhờ Định
Huệ mà giữ gìn, lấy sự Hộ Trì mà tiến tới; xoay Từ
Quang của Phật, được Tịnh Giới của Phật. Từ đó, sanh
vào nhà Như Lai, mà chỗ đi tùy nguyện vậy. Thập Tín chẳng
phải là Thập Trụ nhưng tại sao đều gọi là Trụ ? Bồ
Tát Vô Trước lập ra mười tám địa vị, phán định địa
vị trước sau của kinh Kim Cương, do đó bậc Sơ Trụ cũng
được gọi là Trụ, vì y vào Trí Vô Trụ, vĩnh viễn chẳng
bị thối chuyển, nên được cái tên Trụ.
III.
THẬP TRỤ
Kinh
: “Anan, người thiện nam đó dùng phương tiện chân thật
phát được mười cái tâm ấy. Tâm tinh phát huy mười cái
Dụng xen lẫn vào nhau, viên thành một tâm, gọi là Phát Tâm
Trụ.
Thông
rằng : Từ Chân Diệu Viên trùng phát Chân Diệu, đây gọi
là phương tiện chân thật. Dùng phương tiện chân thật mà
phát được mười thứ Tín Tâm này. Tin ấy là Chân. Chân
ấy là Tin, không dung chứa niệm nào khác xen tạp vào, thì
cái Tâm ấy tinh thuần vậy. Sự tinh minh của tâm tự phát
ánh sáng. Hoặc Định hoặc Huệ, hoặc Giới hoặc Nguyện,
mười cái Dụng xen lẫn vào nhau : ngay trong Định mà Huệ,
Giới đều sẵn đủ, ngay nơi Giới mà Định, Huệ đều tròn
đầy. Tóm lại, là phát minh cái Bổn Lai, hướng nơi Phật
mà an trụ, nên gọi là “Viên thành một tâm”. Mười cái
Dụng chưa tròn thì tâm lượng chưa đầy, hẳn phải mười
cái Dụng viên thành mới có thể gọi là Phát Tâm Trụ.
Ngài
Thiên Thai Trí Giả lấy mười Tâm Anh Lạc (chuỗi ngọc) đối
với mười quán pháp Đại Thừa, ước định Sơ Trụ của
Viên Giáo, tỏ đủ mười Đức thì ý nghĩa cũng phù hợp
nhau.
Xưa,
Đức Lục Tổ canh ba vào thất, Đức Ngũ Tổ lấy áo cà sa
che quanh không để người thấy, nói cho kinh Kim Cang, đến
câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”(05), Lục Tổ ngay
nơi lời nói đại ngộ, rõ tất cả muôn pháp chẳng lìa Tự
Tánh, bèn bạch cùng Ngũ Tổ:
“Nào
ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh
Nào
ngờ Tự Tánh vốn chẳng sanh diệt
Nào
ngờ Tự Tánh vốn tự sẵn đủ
Nào
ngờ Tự Tánh vốn không động lay
Nào
ngờ Tự Tánh sanh ra muôn pháp”.
Đức
Ngũ Tổ biết đã ngộ Bổn Tánh, nói rằng : “Chẳng rõ Bổn
Tâm, học pháp vô ích. Như rõ Bổn Tâm mình, thấy Bổn Tánh
mình thì gọi là trượng phu, thầy của Trời, Người, là
Phật”.
Cho
nên viên thành một tâm, như chỗ ngộ của Đức Lục Tổ
mới có thể nói là Phát Tâm Trụ.
Kinh
: “Trong tâm phát sáng, như ngọc lưu ly trong sạch, ở trong
hiện chói sắc vàng ròng. Dùng cái diệu tâm trước kia bước
đi thành địa vị, gọi là Trị Địa Trụ.
Thông
rằng : Chỗ thấy rõ ràng mới có thể bước đi. Chỗ thấy
không rõ ràng dầu có cất bước đi nữa cũng chẳng phải
là un đúc Tự Tánh, chỉ là chạy theo việc ngoài, ví như
cất nhà trên đất người khác, đối với ta có dính dáng
gì ?
Cái
“Trong tâm phát sáng” đây tức là Vô Sư Trí, Tự Nhiên
Trí, từ trong Pháp Giới Tánh mà hiện bày, như ngọc lưu ly
trong sạch, ở trong hiện chói sắc vàng ròng. Thấy rất chân
thật, ngộ rất thấu suốt, chỗ thấy cùng pháp không hai
nhưng chỗ hành chưa tới. Từ đây gìn giữ, từ đây bước
đi. Dùng mười thứ tâm mầu nhiệm trước kia, mỗi mỗi tự
thân hành đạo, thân tâm như nhất, bước bước vững vàng
như đất. Hễ cất nhà thì trước sửa sang nền đất. Đây
là chỗ bắt đầu khởi bước, nên gọi là Trị Địa Trụ.
Thiền
sư Vân Cư Ứng thượng đường : “Người xưa nói “Muốn
kham giữ việc này cần hướng về đảnh núi chót vót mà
đứng, đáy bể thăm thẳm mà đi mới có đôi chút hơi hám”.
Bằng các ông chưa rõ đại sự hãy nên dẫm bước trên đường
huyền”.
Có
nhà sư hỏi : “Thế nào là chỗ bước đi của người hướng
thượng ?”
Tổ
Cư nói : “Thiên hạ thái bình”.
Lại
có nhà sư hỏi thiền sư Quảng Pháp Viện Nguyên : “Từ xưa
các Thánh hướng chỗ nào mà đi ?”
Tổ
Nguyên nói : “Đầu đường chữ thập ()”.
Hỏi
: “Thế tức là hư khuyết vậy”.
Đáp
: “Biết ông chưa đến đất đai ấy”.
Hỏi
: “Đến rồi thì sao ?”
Tổ
nguyên nói : “Nhà thường cơm nước”.
Cho
nên lấy cái chỗ mà các vị tôn túc gọi là dẫm bước thì
rõ Trị Địa Trụ. Cái dẫm bước này thật nhiệm mầu vậy.
Kinh
: “Tâm địa biết khắp, đều được tỏ rõ, dạo đi mười
phương, được không ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ.
Thông
rằng : Tâm, do đâu mà biết là Địa ? Địa, do đâu mà biết
là Tâm ? Tâm ấy là Diệu Tâm. Hạnh ấy là Diệu Hạnh. Trí
ấy là Diệu Trí vậy. Lý, Hạnh, Trí ba Đức viên dung mới
có thể nói là Tâm Địa biết khắp, sáng tỏ chẳng mờ,
rõ ràng thường biết. Tâm tức là Hạnh, Hạnh tức là Tâm,
dạo đi mười phương, có gì ngăn ngại. Đã không ngăn ngại
nào cần dùng đến tu hành, mà ở đây gọi là Tu Hành Trụ
? Một là dẫm bước trên Thật Tế, không giữ bám chấp,
nên lấy sự dạo đi làm Tu. Một là nắm chặt cái tâm sáng
tỏ bèn là ngăn ngại, nên lấy sự không ngăn ngại làm Tu.
Thật ra, là Hành mà không chỗ Hành, Tu mà không chỗ Tu vậy.
Thiền
sư Thạch Sương chỉ dạy đại chúng rằng : “Hàng sơ cơ
chưa rõ đại sự trước cần biết nắm cái đầu thì cái
đuôi tự đến”.
Ngài
Sơ Sơn bước ra, hỏi : “Thế nào là đầu ?”
Tổ
Sương nói : “Cần biết ngay đang có”.
Ngài
Sơ hỏi : “Thế nào là đuôi ?”
Tổ
Sương nói : “Hết sạch hiện giờ”.
Hỏi
: “Có đầu không đuôi thì sao ?”
Đáp
: “Mửa được vàng ròng còn làm gì nữa ?”
Hỏi
: “Có đuôi không đầu thì sao ?”
Đáp
: “Vẫn còn nương dựa”.
Hỏi
: “Được ngay đầu đuôi tương xứng thì thế nào ?”
Đáp
: “Y chẳng làm cái hiểu biết, cũng chưa cho là y có đó
!”
Về
sau có nhà sư hỏi thiền sư Cửu Phong Kiền : “Thế nào là
đầu ?”
Tổ
Phong đáp : “Mở mắt chẳng hiểu biết”.
Hỏi
: “Thế nào là đuôi ?”
Đáp
: “Chẳng ngồi sàng muôn năm”.
Hỏi
: “Có đầu không đuôi thì thế nào ?”
Đáp
: “Rốt là chẳng quý”.
Hỏi
: “Có đuôi không đầu thì thế nào ?”
Đáp
: “Tuy no mà không có sức”.
Hỏi
: “Được ngay đầu đuôi tương xứng thì thế nào ?”
Đáp
: “Con cháu đắc lực, trong nhà chẳng biết”.
Ngài
Cửu Phong hiểu được ý Tổ Thạch Sương như từ cùng một
ấn in ra.
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Quy
thì tròn, củ(06) thì vuông
Dùng
thì làm, bỏ thì cất
Vụng
chậm loài chim nương ổ, quanh quẩn thứ dê
đụng
rào
Ăn
cơm nhà người, nằm giường của mình
Mây
kéo đổ mưa, móc kết thành sương
Chỉ
ngọc qua lỗ kim vừa hợp, tơ dài chẳng dứt ruột
thoi ra
Gái-đá
máy ngừng, hề, màu đêm sắp Ngọ
Người
gỗ chuyển đường, hề, bóng nguyệt dời khuya”.
Bài
tụng này đầu đuôi tương xứng. Phải Tu như thế, Hành như
thế mới có thể tương ưng cùng pháp môn Viên Đốn.
Kinh
: “Hạnh đồng với Phật, lãnh nhận khí phần của Phật,
như thân trung ấm tự tìm cha mẹ. Cái âm tín thầm thông vào
dòng giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ.
Thông
rằng : Hạnh đồng với Phật là từng phần Chân Trí bình
đẳng với Cứu Cánh Trí. Nhận khí phần của Phật là từng
phần Chân Lý bình đẳng với Cứu Cánh Lý. Đoạn trước
nói : “Khí Phần giao tiếp” thì còn là hai, Đến đây, vào
dòng giống Như Lai thì cơ hồ hợp làm một vậy.
Thân
Trung Ấm là cái Ấm này đã hết mà cái Ấm kia chưa sanh,
ở khoảng giữa hai cái Ấm này, lơ lững giữa hư không bốn
mươi chín ngày tự tìm cha mẹ. Nghiệp Duyên tương tự thì
đến thai sanh. Chỗ này là âm tín thầm thông, chẳng phải
do suy tính tìm cầu. Quyền trí như cha, thực trí như mẹ,
nhậm vận tương hợp, chẳng mượn công sức, cái quả đức
âm thầm bằng nhau. Đâu thể biết sự tự nhiên nhi nhiên,
do đó như âm như thầm mới có thể vào dòng giống Như Lai.
Nói
là Sanh Quý cũng giống như Vương Tử còn trong thai mà ngôi
vị đã khác thường dân, nên nói rằng Quý. Quý ở chỗ đốn
chứng Vô Thượng Đệ Nhất Pháp Môn vậy.
Tổ
Động Sơn có họa đồ Ngũ Vị Vương Tử. Một là Đản Sanh.
Hai là Triều Sanh. Ba là Mạt Sanh. Bốn là Hóa Sanh. Năm là
Nội Sanh. Tất cả đều dùng để phát minh cơ duyên hướng
thượng.
Tổ
Thạch Sương tụng về “Ngũ Vị Vương Tử Đồ” như sau
:
Một
là Đản Sanh :
Sang
cả tự nhiên vốn chẳng công
Đức
hợp Càn Khôn nuôi thịnh dòng
Đầu
đuôi một giống không sai khác
Cung
phân sáu trạch (nhà) cũng đồng tông
Trên
hòa dưới kính, âm dương thuận
Cộng
khí (phần) liền cành, khí lượng đồng
Muốn
rõ Đản Sanh Vương-Tử-Phụ
Vút
ra lồng bạc hạc thong dong.
Hai
là Triều Sanh
Khổ
học tình đời luận khó bì
Ra
rồi phàm sự đã vô vi
Thơ
thành năm chữ, ba đông tuyết
Bút
phẩy tơ hào, bốn biển mây
Công
chứa muôn pho nên thời thánh
Một
lòng trung hiếu giúp minh quân
Mặn
chua chẳng phải sanh hay (biết) được
Nào
nhọc bảng vàng hiển đại công.
Ba
là Mạt Sanh
Nương
lâu hang hốc dụng công phu
Giường
cỏ cửa cây giữ chí cô (đơn)
Nghe,
thấy mười năm tâm tự chứa
Một
thân đông hạ, áo y không
Trong
lặng mỉm cười ba thu ý
Thanh
khổ cao danh thượng triết đồ
Nên
nghiệp cao khoa đền chí cũ
So
ra quan tướng chẳng ai bằng
Bốn
là Hóa Sanh
Nương
phần đế mệnh để truyền trì
Muôn
dặm sơn hà hiển chánh uy
Mặt
trời đỏ bóng ngừng cõi dưới
Mây
dồn gió mát lúc oi nồng
Thấp
cao há bỏ tôn ti lệnh
Năm
khố xa gần biết phục sinh
Tay
cầm diệu ấn biên cương lặng
Ngôi
trời nào lộ chút cơ vi
Năm
là Nội Sanh
Thẳm
chốn cửu trùng há lại tuyên
Khoác
xấu xa để hiển diệu truyền
Chỉ
thờ một đấng trời đất quý
Theo
kia các đạo tự phân quyền
Tử
La màn khép, vua tôi cách
<