QUYỂN
VI
Mục
Bốn : Viên thông về nhĩ căn
Diệu
lực vô tác thành tựu ba mươi hai ứng thân
Bốn
công đức vô uý
Mục
Năm : Chỉ Pháp Viên Tu. Phóng hào quang, hiện điềm lành
Phật
bảo Ngài Văn Thù chọn căn viên thông
Lựa
ra những căn không viên
Nhĩ
căn viên thông hơn hết
Phụ
Lục
QUYỂN
VI
MỤC
BỐN :
VIÊN
THÔNG VỀ NHĨ CĂN
Kinh
: Khi ấy, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Thưa Thế
Tôn, tôi nhớ hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời,
hiệu là Quán Thế Âm, từ Đức Phật ấy tôi phát Tâm Bồ
Đề. Đức Phật ấy dạy tôi, từ Nghe, Suy Nghĩ và Tu, thấu
vào Tam Ma Địa.
Thông
rằng : Chọn lựa chỗ Viên Thông thì căn Tai là bậc nhất.
Vào sâu một cửa, sáu Căn liền thanh tịnh. Chỉ có chỗ chứng
của Đức Quán Thế Âm rất là tròn đủ, nhiệm mầu. Âm
thanh mà chẳng nói là nghe mà nói là Quán(01), là dùng Trí
chiếu soi, chẳng dùng Thức Tai mà nghe vậy. Sáu Căn dùng lẫn
nhau, ở đây đủ làm chứng rồi. Theo sự Nghe, Nghĩ, Tu, thấu
vào Tam Ma Địa. Nghe ở Tai, Nghĩ ở Tâm, Tu trong Sự Làm, thì
sanh Thánh Huệ Vô Lậu, nên vào Chánh Định. Bèn văn sau nói
“Vào dòng mất cái Sở theo thứ lớp vậy”.
Tổ
Bách Trượng gọi cả chúng ra cày ruộng. Bỗng một nhà sư
nghe tiếng trống liền vác cày cười lớn mà bỏ về.
Tổ
Trượng nói : “Tài thay !”
Đây
là pháp môn Quán Âm Nhập Lý vậy.
Tổ
Trượng về viện, mới kêu nhà sư ấy, hỏi : “Hồi nãy
thấy cái đạo lý gì mà làm như thế ?”
Nhà
sư nói : “Hồi nãy bụng đói, nghe tiếng trống thì về kiếm
đồ ăn.”
Tổ
Trượng cười xòa.
Như
vậy thì cửa vào Đạo của vị tăng này nào có mượn đến
Nghĩ và Tu mà đắc đâu ?
Kinh
: “Ban đầu, ở trong cái Nghe, vào dòng mất đi tướng Sở
(chỗ Nghe). Chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng Động, Tịnh
rõ ràng chẳng sanh ra. Như vậy tiến thêm lần, cái Nghe và
chỗ Nghe đều hết. Chẳng dừng lại nơi sự hết cái Nghe
và chỗ Nghe thì cái Giác và chỗ Giác đều Không. Không và
Giác cùng tột tròn vẹn thì Năng Không và Sở Không đều
diệt. Sanh Diệt đã diệt, Tịch Diệt hiện tiền (trước
mặt). Tức thì vượt khỏi thế gian lẫn xuất thế gian, tròn
sáng khắp mười phương, được hai điều tột bậc : Một
là, trên hợp với Bản Giác Diệu Tâm của mười phương Chư
Phật, cùng với Chư Phật Như Lai đồng một sức Từ; hai
là, dưới hợp với tất cả mười phương chúng sanh trong
sáu đường, cùng với các chúng sanh đồng một Bi Ngưỡng.
Thông
rằng : Vào dòng mất Sở, cho đến cái Nghe và chỗ Nghe đều
hết, tức là mới mở khỏi Căn, trước hết được Nhân
Không vậy. Chẳng dừng lại nơi sự hết cái Nghe và chỗ
Nghe, cái Giác và chỗ Giác đều Không, tức là Tánh Không
tròn sáng, thành pháp Giải Thoát vậy. Không Giác cùng cực
vẹn toàn, Năng Không và Sở Không đều diệt mất, tức là
đã giải thoát khỏi pháp, cái Không cũng chẳng sanh vậy.
Sanh diệt đã diệt, đó là Tịch Diệt hiện tiền, tức là
vào Tam Ma Địa, đắc Vô Sanh Nhẫn.
Bài
kệ trong kinh Pháp Hoa :
“Chân
quán, Thanh Tịnh quán
Rộng
lớn Trí Huệ quán
Bi
quán cùng Từ quán
Thường
nguyện thường chiêm ngưỡng”.
Chân
Quán, đó là hai tướng Động Tịnh chẳng sanh ra. Thanh Tịnh
Quán là hết cái Năng Sở của Nghe, Giác, Không vậy. Rộng
lớn Trí Huệ Quán, đó là Không Giác cùng tột vẹn toàn,
cho đến Tịch Diệt hiện tiền vậy. Đồng một lực Từ,
đó là Từ quán. Đồng một Bi Ngưỡng, đó là Bi quán. Không
Giác cùng tột tròn vẹn, đó là cái Giác quán ra khỏi tư
duy vậy. Không và Sở không diệt mất thì thân tâm không thể
đến được. Sanh diệt đã diệt, trọn cả hai bên sanh diệt
đều lìa vậy. Tịch Diệt hiện tiền, đó là Thường Chân
Thật vậy.
Lấy
kinh chứng minh cho kinh, ý nghĩa mùi vị tự đầy đủ vậy.
Ngài
Tô Tử Do luận hai kinh Lăng Nghiêm và kinh Kim Cang, hợp với
Đức Quán Thế Âm, là lấy Nghe, Nghĩ, Tu làm Viên Thông Đệ
Nhất. Ngài nói : “Ban đầu ở trong cái Nghe vào dòng mất
Sở, cho đến chỗ Tịch Diệt hiện tiền. Nếu có thể như
thế, thì trong khoảng khảy móng tay trải khắp ba cái Không(02)
liền cùng Chư Phật không khác”. Ngài lại đọc chỗ kinh
Kim Cang nói về bốn quả vị : “Tu Đà Hoàn gọi là vào dòng,
nhưng không có chỗ vào, chẳng vào Sắc Thanh Hương Vị Xúc
Pháp, gọi là Tu Đà Hoàn”. Mới than rằng : “Chỗ chứng
của Tu Đà Hoàn tức là chỗ Đức Quán Thế Âm gọi là ban
đầu ở trong cái Nghe, vào dòng mất Sở đó ư ? Vào dòng
thì vong Sở, chỉ không vào sáu Trần, an nhiên thường trụ,
ấy là vào dòng vậy. Đến Tư Đà Hàm, gọi là một lần
đi lại, mà thật chẳng có gì đi lại. A Na Hàm, gọi là chẳng
trở lại, mà thật không có sự chẳng trở lại, bởi vì
đi thì nhập trần, lại thì về gốc. Tư Đà Hàm, tuy có thể
trở lại, nhưng chưa thể không đi. A Na Hàm chẳng những không
đi mà cũng không lại. Cho đến A La Hán thì cái ý đi-lại
đều hết, không có pháp nào để đắc. Thế nên, cái gọi
là bốn quả vị kỳ thật chỉ một pháp, nhưng trải qua ba
cái Không mà về sâu cạn khác nhau. Lời của kinh, gốc vốn
phù hợp, mà đời chẳng nêu rõ ra, nên nói cho tỏ hiểu”.
Ngài
Tử Do bởi thấy được thiện tri thức mà phát minh ý chỉ
của hai kinh, tuy hình như mới lạ, mà chủ yếu từ trong ngực
lưu xuất ra, cho đến chỗ gọi là “Trong khoảng khắc gảy
móng tay, trải khắp ba cái Không, cùng chư Phật không khác”.
Chẳng có đốn ngộ triệt để làm sao nói được lời này.
I.
DIỆU LỰC VÔ TÁC THÀNH TỰU BA MƯƠI HAI ỨNG THÂN
Kinh
: Thưa Thế Tôn, do tôi cúng dường Đức Quán Âm Như Lai, nhờ
Ngài truyền thụ cho tôi Như Huyễn Văn Huân, Văn Tu Tam Muội,
cùng Chư Phật Như Lai đồng sức Từ, khiến Thân tôi thành
tựu ba mươi hai Ứng Thân vào các cõi nước.
Thông
rằng : Như Huyễn là người huyễn gây làm mà vốn không làm.
Đó là để nói sự huân tu ứng với cơ, tức làm mà không
làm, quên tình tuyệt hiểu, chẳng thể nghĩ bàn.
Gọi
là Văn Huân, Văn Tu là huân tu, đều chẳng rời ngoài Tánh
Nghe vậy. Nhân ngoài tánh Nghe mà huân tu, tâm thuần nhất thì
bỏ cái Nghe, các sự ràng buộc lạc lầm hết ráo, Tam Muội
hiện bày trước mắt, đó là Kim Cang Càn Huệ Địa vậy.
Nói là Kim Cang vì phá nát các pháp mộng huyễn. Kim Cang thường
trụ chẳng hoại, đó là cái Chân Thật thường hằng vậy.
Đâu phải lìa ngoài Như Huyễn mà riêng có cái gọi là Chân
Thật sao !
Có
nhà sư hỏi Tổ Tào Sơn : “Nơi tướng cái gì Chơn ?”
Tổ
Sơn nói : “Tức tướng tức Chơn”.
Hỏi
: “Làm sao hiển bày ?”
Tổ
Sơn dựng đứng cây phất tử.
Lại
hỏi : “Gốc Huyễn đâu Chơn ?”
Tổ
Sơn nói : “Gốc Huyễn nguyên Chơn”.
Hỏi
: “Ngay khi Huyễn làm sao hiển bày ?”
Tổ
Sơn nói : “Tức Huyễn tức Hiển !”
Hỏi
: “Như thế thì trước sau chẳng rời nơi Huyễn!”
Tổ
Sơn nói : “Tìm cái tướng Huyễn không thể được !”
Ông
Cung Phụng Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa : “Trong giáo pháp
nói ý Huyễn, thấy có chăng ?”
Tổ
Sa nói : “Đại Đức nói cái gì thế !”
Hỏi
: “Thế thì ý Huyễn là không có sao ?”
Tổ
Sa nói : “Đại Đức nói cái gì thế !”
Hỏi
: “Thế thì ý Huyễn là chẳng có chẳng không hay sao ?”
Tổ
Sa nói : “Đại Đức nói cái gì thế !”
Hỏi
: “Như tôi ba lần bày tỏ, trọn chẳng hiểu được chỗ
ý Huyễn, Hòa Thượng rõ hiểu như thế nào cái ý huyễn trong
giáo pháp ?”
Tổ
Sa nói : “Đại Đức có tin là tất cả pháp vốn chẳng thể
nghĩ bàn chăng ?”
Đáp
: “Lời chân thật của Phật đâu dám chẳng tin”.
Tổ
Sa nói : “Đại Đức nói tin, thì trong hai cái tin, đó là
cái tin nào ?”
Đáp
: “Như chỗ tôi biết, trong hai cái tin, đó gọi là tin theo
Duyên”.
Tổ
Sa nói : “Theo giáo pháp nào mà sanh ra được cái tin nhờ
Duyên ?”
Đáp
: “Kinh Hoa Nghiêm nói, Đại Bồ Tát trong Trí Huệ không chướng
không ngại, tin rằng tất cả cảnh giới thế gian là cảnh
giới Như Lai. Lại nói, Chư Phật Thế Tôn biết suốt tất
cả pháp thế gian cùng pháp Phật, tánh không sai biệt, quyết
định không hai. Lại nói, Phật Pháp và thế gian pháp, như
thấy được cái chân thật của chúng, tất cả đều không
sai biệt”.
Tổ
Sa nói : “Chỗ nêu ra trong kinh giáo về cái tin nhờ Duyên
của Đại Đức chưa rốt ráo lắm. Hãy nghe lão tăng tỏ rõ
cái ý Huyễn trong giáo pháp cho Đại Đức. Như người nào
thấy Huyễn vốn là Chơn, đó gọi là người thấy Phật.
Pháp pháp viên thông, không sanh, không diệt; Không Sanh Diệt
đó là Phật Thân.
“Thấy
được như thế là đồng Phật Từ Lực. Từ tức Như Huyễn,
ba mươi hai Ứng Thân, Ứng cũng Như Huyễn. Chốn chốn tịch
diệt hiện bày trước mắt, đó là Kim Cang Tam Muội”.
Kinh
: “Thưa Thế Tôn, nếu các Bồ Tát vào Tam Ma Địa, tiến
tu Vô Lậu, cái hiểu biết siêu việt hiện ra tròn vẹn, tôi
hiện ra Thân Phật, vì họ thuyết pháp, khiến cho Giải Thoát.
Thông
rằng : Đức Sơ Tổ Đạt Ma tức Hóa Thân của Quán Thế Âm
Đại Sĩ vậy.
Thời
ấy, trong nước có hai vị thầy, một tên là Phật Đại Tiên,
thứ hai tên là Phật Đại Thắng Đa, vốn cùng Tổ học Tiểu
Thừa thiền quán với Ngài Phật Đà Ba Đà. Thầy Phật Đại
Tiên gặp được Tôn Giả Bát Nhã Đa La, bỏ Tiểu Thừa theo
Đại Thừa. Cùng với Tổ truyền hoá, thời ấy gọi là hai
Pháp cam lồ. Còn thầy Phật Đại Thắng Đa lại phân học
trò làm sáu Tông : thứ nhất là Hữu Tướng, thứ hai là Vô
Tướng, thứ ba là Định Huệ, thứ tư Giới Hạnh, thứ năm
Vô Đắc, thức sáu Tịch Tịnh.
Tổ
bùi ngùi than : “Ông thầy của họ đã kẹt vào trong dấu
chân trâu, lại còn chi ly phân thành sáu tông rối rắm. Nếu
ta không trừ cho thì đời đời trói buộc trong tà kiến”.
Nói
rồi, hiện thần lực, đến chỗ tông Hữu Tướng, hỏi rằng
: “Tất cả các pháp, cái gì gọi là Thật Tướng?”
Trong
chúng kia có vị tôn trưởng là Tát Bà La đáp rằng : “Ở
trong các Pháp Tướng, các Tướng chẳng đổi lẫn nhau, đó
là Thật Tướng”.
Tổ
nói : “Tất cả các Tướng mà chẳng thay đổi ấy, nếu
gọi là Thật Tướng phải định thế nào ?”
Người
ấy nói : “Trong các Tướng, thật không có định, nếu định
các Tướng, sao gọi là thật ?”
Tổ
nói : “Các Tướng Bất Định thì gọi là Thật Tướng, nay
ông dùng cái Bất Định để được cái gì ?”
Người
ấy nói : “Nãy tôi nói Bất Định là chưa nói đến các
Tướng, nay nói các Tướng, thì nghĩa của chúng cũng như thế”.
Tổ
nói : “Ông nói Bất Định cho là Thật Tướng, vậy thì Định
mà Bất Định, tức chẳng phải là Thật Tướng”.
Người
kia nói : “Định mà đã Bất Định, thì chẳng phải là Thật
Tướng. Biết cái Ngã là chẳng có, thế nên bất định bất
biến”.
Tổ
nói : “Nay ông nói Bất Biến thì sao gọi là Thật Tướng
? Còn có biến có đổi, nghĩa ấy cũng vậy thôi”.
Người
ấy đáp : “Bất Biến thì còn, vì còn mà chẳng còn, nên
biến đổi Thật Tướng, để định nghĩa này”.
Tổ
nói : “Thật Tướng bất biến, có Biến là chẳng thật,
trong Hữu và Vô nào gọi là Thật Tướng”.
Thầy
Tát Bà La biết Thánh Sư hiểu thâm sâu, liền lấy tay chỉ
hư không nói : “Đó là cái Hữu Tướng của thế gian mà
cũng có thể trống không, hiện cái thân tôi đây, được
giống thế không ?”
Tổ
nói : “Như rõ Thật Tướng bèn thấy chẳng phải Tướng;
như rõ cái Chẳng Phải Tướng, thì cái Hình Sắc cũng vậy.
Hiện ở trong Sắc, chẳng mất cái Thể của Hình Sắc, ở
ngay trong cái chẳng phải Tướng mà chẳng ngại với cái Có.
Rõ được như thế, ấy gọi là Thật Tướng”.
Chúng
kia nghe xong, tâm ý sáng láng, kính lễ tin nhận.
Tổ
thoạt nhiên biến mất, đến chỗ tông Vô Tướng, hỏi rằng
: “Các ông nói không có Tướng, thì lấy gì làm chứng đó
?”
Trong
chúng kia có thầy Ba La Đề đáp rằng : “Tôi rõ không có
Tướng, vì tâm kia chẳng hiện bày”.
Tổ
nói : “Tâm ông chẳng hiện, lấy gì mà rõ ?”
Người
ấy nói : “Tôi rõ Vô Tướng, tâm không lấy bỏ, ngay khi
rõ biết, cũng không có gì đảm đương”.
Tổ
nói : “Nơi các thứ có thứ không, tâm không lấy bỏ, lại
không có đảm đương thì những sự rõ biết không có vậy”.
Người
ấy nói : “Vào Tam Muội của Phật còn không có chỗ đắc,
huống chi là không có Tướng, mà muốn biết đó ?”
Tổ
nói : “Tướng đã chẳng có biết, cái gì gọi là Có-Không;
còn không có chỗ đắc, lấy gì gọi là Tam Muội ?”
Người
ấy nói : “Tôi nói chẳng chứng là chứng cái không có chỗ
chứng, chẳng phải Tam Muội, nên tôi nói Tam Muội”.
Tổ
nói : “Chẳng phải là Tam Muội ấy, sao gọi tên đó ? Ông
đã chẳng chứng, chẳng phải chứng, sao chứng ?”
Ba
La Đề nghe Tổ phân tách rõ rệt bèn ngộ Bản Tâm, lễ tạ
Tổ sư, sám hối lỗi trước.
Tổ
thọ ký rằng : “Ông sẽ đắc quả, chẳng bao lâu chứng
đó. Nước này có ngoại đạo, dẹp nó chẳng lâu gì”.
Nói
rồi, bỗng nhiên biến mất.
Tổ
đến chỗ tông Định Huệ, hỏi rằng : “Các ông học Định
Huệ đó là một hay là hai ?”
Trong
chúng kia có thầy Bà Lan Đà đáp rằng : “Cái Định Huệ
này của tôi chẳng phải một, chẳng phải hai”.
Tổ
nói : “Đã chẳng phải một hay hai, sao gọi là Định Huệ
?”
Người
ấy nói : “Trong Định chẳng phải Định, nơi Huệ chẳng
phải Huệ, một tức chẳng phải một, hai cũng chẳng phải
hai”.
Tổ
nói : “Đối một chẳng có một, đối hai chẳng có hai, đã
chẳng phải Định Huệ thì bày ra Định Huệ nào?”
Người
ấy nói : “Chẳng một, chẳng hai mà Định Huệ biết được;
còn chẳng phải Định chẳng phải Huệ cũng lại như vậy”.
Tổ
nói : “Huệ chẳng phải Định, làm sao mà biết? Chẳng một
chẳng hai, cái gì là Định, cái gì là Huệ ?”
Ba
Lan Đà nghe qua, tâm nghi liền tan mất.
Tổ
đến chỗ thứ tư là tông Giới Hạnh , hỏi rằng : “Cái
gì là Giới ? Thế nào là Hạnh ? Là một hay hai ?”
Trong
chúng ấy có một hiền giả đáp rằng : “Một hai hai một,
đều do đó sanh ra, y theo Giáo Pháp không có nhiễm trước,
đó gọi là Giới Hạnh”.
Tổ
nói : “Ông nói y theo Giáo, tức là có nhiễm ô, một với
hai đều phá hết, sao nói y theo Giáo, hai cái này trái nghịch,
chẳng đúng với Hạnh. Trong ngoài chẳng sáng tỏ, sao gọi
là Giới ?”
Người
ấy nói : “Tôi có trong ngoài, kia đã biết hết. Đã được
suốt hiểu, bèn đó là Giới Hạnh. Nếu nói trái nghịch,
đó đều là phải là trái, còn nói đến chỗ trong sạch,
thì tức Giới tức Hạnh”.
Tổ
nói : Đều là phải đều là trái, sao nói là trong sạch ?
Đã được suốt thông, sao nói đến trong ngoài ?”
Hiền
giả nghe đó, bèn tự thẹn chịu phục.
Tổ
đến chỗ tông Vô Đắc , hỏi rằng : “Mấy ông nói là Không
Đắc, Không Đắc thì đắc cái gì ? Đã không có chỗ Đắc,
lại cũng không đắc cái Không Đắc ư ?”
Trong
chúng kia có thầy Bửu Tịnh đáp rằng : “Tôi nói Không Đắc
chẳng phải là không đắc cái Đắc, nay nói đắc cái Đắc,
Không Đắc chính là Đắc”.
Tổ
nói : “Đắc đã chẳng Đắc, Đắc cũng chẳng phải Đắc,
đã nói là đắc cái Đắc, đắc cái Đắc là đắc cái gì
?”
Người
ấy nói : “Thấy Đắc chẳng phải Đắc, chẳng phải Đắc
tức là Đắc, nếu thấy là chẳng Đắc, gọi là Đắc cái
Đắc”.
Tổ
nói : “Đắc đã chẳng phải Đắc, đắc cái Đắc là Không
Đắc, được không có chỗ Đắc, hiện nào đắc cái Đắc
?”
Thầy
Bửu Tịnh nghe qua liền trừ lưới nghi.
Tổ
đến chỗ tông Tịch Tịnh , hỏi rằng : “Sao gọi là Tịch
Tịnh(03) ? Ở trong Pháp đây, cái gì là yên, cái gì là lặng
?”
Trong
chúng ấy có vị Tôn Giả đáp rằng : “Tâm này chẳng động,
đó gọi là lặng; nơi pháp không nhiễm gọi đó là yên”.
Tổ
nói : “Bổn Tâm chẳng lặng, mới cần mượn lặng yên. Xưa
nay vốn lặng, nào cần dùng đến lặng yên ?”
Người
ấy nói : “Các pháp vốn Không, vì là Không Không, nên trong
Không Không ấy, gọi là lặng yên”.
Tổ
nói : “Không Không đã là Không, các pháp cũng thế, lặng
yên Vô Tướng, nào còn lặng, nào còn yên ?”
Tôn
giả ấy nghe Tổ chỉ dạy, hoát nhiên khai ngộ, nên cả sáu
chúng đều nguyện quy y.
Do
đó giáo hóa khắp miền Nam Thiên Trúc, tiếng khắp năm phương
Ấn Độ. Cứ theo sáu phái kia, cũng biết lui bỏ để tu Vô
Lậu, nên Tổ hiện thần lực, khiến cho giải thoát.
Đây
là chỗ ứng hóa thứ nhất của Đức Quán Thế Âm vậy. Nguyện
xưa là như thế.
Kinh
: “Nếu các hàng Hữu Học, tu Pháp lặng yên được mầu
sáng, chỗ thắng diệu vẹn tròn hiển hiện, tôi ở trước
kẻ ấy, hiện thân Độc Giác, vì họ thuyết pháp, khiến
cho Giải Thoát. Nếu các hàng Hữu Học, đoạn mười hai Nhân
Duyên, duyên dứt thì Thắng Tánh nhiệm mầu trổi vượt hiện
ra tròn vẹn, tôi ở trước kẻ ấy, hiện thân Duyên Giác,
vì họ thuyết pháp, khiến được Giải Thoát.
Thông
rằng : Bậïc Bích Chi Phật có hai loại : Một là sanh đời
không Phật, xét thấu sự vật biến chuyển, tự giác Vô Sanh,
gọi là Độc Giác. Hai là sanh đời có Phật, vâng theo Giáo
Pháp của Phật, xét thấu Nhân Duyên mà ngộ Đạo, gọi là
Duyên Giác. Lặng yên mầu sáng không phải là Bản Giác Mầu
Sáng (Diệu Minh), mà nhân pháp tu Tịch Tịnh Lặng Yên mà đắc.
Đoạn dứt mười hai Nhân Duyên, từ cái Vô Minh diệt cho đến
Khổ Não diệt. Duyên đoạn thì Thắng Tánh hiện, do Diệt
nên được Chứng, đều được chỗ Thắng Diệu hiện ra toàn
vẹn. Đó là chỉ nhờ vào lý trí, riêng mình tỏ biết cái
nhiệm mầu, riêng mình tỏ biết cái nhân duyên, chưa thể
hồi tâm hướng về Đại Thừa, nên chưa thật Giải Thoát.
Thiền
sư Ngưu Đầu Dung ẩn nương hang đá, có sự lạ lùng là trăm
chim ngậm bông đến. Tứ Tổ xa thấy khí tượng, biết chỗ
ấy có người, mới tự thân tìm hỏi. Tổ hỏi nhà sư ở
chùa : “Chốn này có đạo nhơn chăng ?”
Đáp
: “Người xuất gia, ai chẳng phải là đạo nhân?”
Tổ
nói : “Vậy ai là đạo nhân ?”
Nhà
sư không có lời đáp.
Một
nhà sư khác nói : “Từ đây vào núi khoảng mười dặm, có
một ông thầy Dung lười biếng, thấy người chẳng đứng
dậy, chẳng chắp tay chào, không phải là đạo nhân ư ?”
Tổ
bèn vào núi, thấy thầy Dung ngồi thẳng tự nhiên. Tổ hỏi
rằng : “Ở đây làm gì ?”
Thầy
Dung nói : “Quán tâm”.
Tổ
nói : “Quán là người nào, tâm là vật gì ?”
Thầy
Dung không đáp được, liền đứng dậy làm lễ, nói : “Đại
Đức quý quán nơi nào ?”
Tổ
nói : “Bần đạo chẳng nhất định ở đâu hoặc Đông hoặc
Tây”.
Thầy
Dung nói : “Lại biết Đạo Tín thiền sư chăng ?”
Tổ
nói : “Hỏi kẻ khác ấy làm gì ?”
Thầy
Dung nói : “Bấy lâu hướng về thịnh đức, mong lễ ra mắt
một phen”.
Tổ
nói : “Đạo Tín là bần đạo vậy”.
Thầy
Dung nói : “Nhân sao đến đây ?”
Tổ
nói : “Độc chỉ đến hỏi thăm nhau. Lại không có chỗ
nghỉ chăng ?”
Thầy
Dung chỉ phía sau, chỉ có một am nhỏ, bèn dẫn Tổ đến
đó, chung quanh am chỉ thấy loài hổ, báo. Tổ bèn đưa hai
tay làm vẻ sợ.
Thầy
Dung nói : “Dường còn cái ấy vậy”.
Tổ
nói : “Cái ấy là cái gì ?”
Thầy
Dung không nói được.
Chốc
lát, Tổ trở lại chỗ tảng đá thầy Dung ngồi thiền, viết
lên đó một chữ Phật. Thầy Dung xem thấy, giật mình.
Tổ
nói : “Dường còn cái ấy vậy”.
Thầy
Dung chưa hiểu, cúi đầu xin nói chỗ chơn yếu. Tổ trao cho
pháp môn Đốn Giáo, sẵn đủ muôn Hạnh Bồ Tát.
Thầy
Quật Đa Tam Tạng xứ Tây Vực khế ngộ nơi lời dạy của
Lục Tổ. Sau ngao du Ngũ Đài, thấy một nhà sư lập am tĩnh
tọa.
Thầy
Tạng hỏi : “Ngồi một mình làm gì ?”
Đáp
: “Quán Tịnh”.
Thầy
Tạng nói : “Quán, đó là người nào ? Tịnh đó là vật
gì ?”
Nhà
sư làm lễ, hỏi : “Lý ấy thế nào ?”
Thầy
Tạng nói : “Ông sao chẳng tự quán tự tịnh?”
Vị
sư ấy ngẩn ngơ.
Thầy
Tạng nói : “Ông ở phái nào ra ?”
Đáp
: “Tổ Tú Thiền sư”.
Thầy
Tạng nói : “Xứ Tây Vực của tôi, kẻ thấp nhất trong ngoại
đạo còn chẳng sa vào cái kiến giải này, là trơ trơ ngồi
không, đối với đạo ích gì ?”
Vị
sư lại hỏi : “Vị Tôn sư của thầy Tạng là ai ?”
Thầy
Tạng nói : “Thầy tôi là Lục Tổ. Sao ông chẳng sớm đến
Tào Khê cho rõ chơn yếu ?”
Vị
sư liền sang tham vấn Lục Tổ. Tổ dạy giống như thầy Tạng.
Nhà sư liền ngộ nhập.
Nếu
thầy Dung cùng nhà sư này chẳng gặp Tứ Tổ, Lục Tổ, thì
đã chứng Độc Giác, Duyên Giác rồi vậy. Mong gì có ngày
Giải Thoát ư ?
Kinh
: “Nếu các hàng Hữu Học, đắc Tứ Đế Không, tu Đạo
Đế, Nhập Diệt Đế, Thắng Tánh hiện ra tròn vẹn, tôi ở
trước người ấy hiện thân Thanh Văn, vì họ thuyết pháp,
khiến cho Giải Thoát.
Thông
rằng : Pháp Tứ Đế là Biết Khổ, Đoạn Tập, Chứng Diệt,
Tu Đạo. Cho đến vào Diệt Tận Định, ham mê cái vui Tịch
Diệt, không có ý độ sanh, gọi đó là Thanh Văn, y vào tiếng
dạy mà tu Đạo vậy.
Tổ
Quy Sơn đang ngồi, thầy Ngưỡng Sơn đi vào.
Tổ
Quy Sơn nói : “Huệ Tịch nói mau, chớ sa vào Ấm, Giới !”
Ngưỡng
Sơn nói : “Huệ Tịch đây chỗ tin hiểu cũng chẳng lập”.
Tổ
Quy nói : “Ông chỗ tin hiểu chẳng có lập. Chẳng tin, chẳng
lập”.
Ngưỡng
Sơn nói : “Chỉ đó là Huệ Tịch, còn tin gì nữa ?”
Tổ
Quy nói : “Nếu như thế là Định Tánh Thanh Văn”.
Ngưỡng
Sơn nói : “Huệ Tịch đây, Phật cũng chẳng lập”.
Tổ
Vân Cư Ứng sai thị giả đem cái khố cho một đạo giả ở
am.
Đạo
giả nói : “Tự có cái khố của mẹ sanh rồi, chẳng nhận”.
Tổ
Ứng lại sai thị giả hỏi : “Khi cha mẹ chưa sanh, thì mặc
cái gì ?”
Đạo
giả không lời đáp.
Về
sau, tịch; có xá lợi đem đến Tổ Ứng.
Tổ
Ứng nói : “Dù cho được tám hộc bốn đấu, chẳng bằng
khi ấy thốt được một lời chuyển ngữ”.
Vị
đạo giả này, quyết nhận cái khố mẹ đẻ, thật đó là
định tánh Thanh Văn. Ngưỡng Sơn lại có thể nói một lời
chuyển ngữ rằng, “Huệ Tịch đây, Phật cũng chẳng lập”,
thật là thấy mặt mày lúc chưa sanh.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, chẳng phạm dục
trần, muốn thân trong sạch, tôi ở trước người ấy, hiện
thân Phạm Vương vì họ thuyết pháp, khiến cho Giải Thoát.
Thông
rằng : Phạm Vương, Chúa trời cõi Sắc tên là Thi Khí, đây
gọi là Đảnh Kế, ở đỉnh cõi Sơ Thiền. Bậc Độc Giác,
Thanh Văn ở cõi trời Tứ Không. Ở dưới là Phạm Vương.
Dưới cõi Phạm Thiên là Lục Dục Thiên. Chẳng phạm dục
trần, chẳng những không muốn cái dục thanh sắc thô kệch
của nhơn gian, mà cái vui của trời Tha Hóa Tự Tại cũng chẳng
ưa, muốn tiến đến Tứ Thiền, do niệm xả nên trong sạch,
muốn được cái thân trong sạch không hỉ, không lạc vậy.
Tổ
Nam Dương Trung Quốc Sư hỏi thiền sư Tư Không Sơn Bổn Tịnh
rằng : “Ông từ đây về sau thấy lời lẽ kỳ đặc thì
như thế nào ?”
Tổ
Tịnh nói : “Không một niệm tâm ham”.
Quốc
Sư nói : “Đó là chuyện trong nhà ông”.
Lại
có nhà sư hỏi Trung Quốc Sư : “Như sao là Giải Thoát ?”
Quốc
sư nói : “Các pháp chẳng đến nhau, ngay đây là Giải Thoát”.
Nhà
sư nói : “Như thế là đoạn dứt đi vậy”.
Quốc
Sư nói : “Đã nói với ông là các pháp chẳng đến nhau,
đoạn cái gì ?”
Từ
chỗ tự hiện thân Phật thuyết pháp, đến đây là năm Pháp
Giải Thoát, đều chỉ rút về một đường hướng thượng.
Từ chỗ Đế Thích về sau, chỉ khiến cho thành tựu mà thôi.
Phật Pháp và thế gian pháp, nếu thấy được cái Chân Thật,
cả thảy nào có khác nhau.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn làm Chúa cõi Trời, thống lãnh
Chư Thiên, tôi ở trước người ấy, hiện thân Đế Thích,
vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Đế Thích có nhiều tên : Một là Thích Đề Hoàn Nhân,
hai là Kiều Thi Ca; ở đỉnh Tu Di, bốn phía, mỗi phía là
tám cõi trời, hợp lại là ba mươi hai cõi trời, đều thống
lãnh hết.
Tôn
giả Tu Bồ Đề một hôm đang thuyết pháp, vua Đế Thích rải
hoa xuống.
Tôn
giả hỏi : “Hoa này từ trời được ư ?” Từ đất được
ư ? Từ người được ư ?”
Đế
Thích rằng : “Chẳng phải vậy”.
Tôn
giả nói : “Từ đâu mà được ?”
Đế
Thích liền đưa tay lên.
Tôn
giả nói : “Như vậy, như vậy”.
Xưa,
Đức Thế Tôn dùng ngọc Ma Ni chỉ bày cho Vua Trời ở năm
phương. Mỗi vị nói là xanh, vàng, đỏ, trắng. Thế Tôn đưa
tay lên mà chỉ bày, thế mà đều không thấy. Thế Tôn nói
: “Ta lấy ngọc thật chỉ bày cho các ông, mà đều chẳng
biết”. Vua Trời ở năm phương do đó ngộ nhập.
Đế
Thích nay trước Tôn Giả đưa tay lên, cái dụng thật là thân
thiết. Vua Đế Thích cũng tỏ hiểu Thiền vậy.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn Thân Tự Tại, đi khắp mười
phương, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tự Tại Thiên,
vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Trời Tự Tại tức Trời Tha Hóa Tựï Tại. Mượn
chỗ gây làm của kẻ khác, lấy làm cái vui riêng mình, đó
là trên đỉnh Dục Giới. Hoặc nói có riêng chỗ ở của
Ma Vương, thì cũng gồm trong Trời Tự Tại.
Tôn
giả Ưu Ba Cúc Đa hành hóa nhiều nơi, người được độ
rất nhiều. Do đó, cung ma chấn động, Ba Tuần lo sợ, bèn
dùng hết ma lực để phá chánh pháp. Tôn giả bèn nhập định,
xem xét nguyên do. Ba Tuần được dịp, lén cầm chuỗi ngọc
tròng vào cổ Ngài. Tôn giả xuất định, bèn lấy ba thây
chết của người, chó và rắn, hóa làm tràng hoa, dỗ Ba Tuần
rằng : “Ông cho tôi chuỗi ngọc, thật rất đẹp quý. Tôi
có tràng hoa để dâng đáp nhau”.
Ba
Tuần rất mừng, đưa cổ ra nhận, bỗng biến thành ba thứ
thây chết, giòi bọ nhoi đục sình thối. Ba Tuần gớm ghét,
dùng hết thần lực mà chẳng dời chuyển, bèn bay lên cõi
trời Lục Dục, bảo các Chúa Trời, cùng xin Phạm Vương,
cầu được thoát khỏi.
Mỗi
vị đều nói : “Đệ tử của Phật thập lực đủ mọi
thần biến, chúng tôi là hạng phàm lậu làm sao trừ nổi
?”
Ba
Tuần nói : “Thế thì làm sao ?”
Phạm
Vương nói : “Ông nếu hồi tâm với Tôn Giả, liền có thể
trừ dứt”.
Bèn
nói bài kệ, khiến cho hồi hướng :
“Đã
do đất trợt té
Phải
do đất đứng dậy
Lìa
đất cầu đứng dậy
Làm
gì có lý ấy”.
Ba
Tuần nghe dạy rồi, liền xuống khỏi cung trời, lễ dưới
chân Tôn Giả, thiết tha sám hối.
Tôn
giả nói : “Từ nay trở đi, đối với Phật Pháp, ông không
còn làm rối hại nữa chăng ?”
Ba
Tuần nói : “Tôi thề hồi hướng Phật Đạo, vĩnh viễn
dứt lìa điều ác”.
Tôn
giả nói : “Nếu như thế, ông có thể tự miệng mình xướng
lên lời quy y Tam Bảo”.
Ma
Vương chắp tay, xướng ba lần. Tràng hoa dẹp hết. Bèn vui
vẻ nhảy nhót, làm lễ tôn giả mà nói bài kệ rằng :
“Kính
lạy Đấng Tam Muội
“Đệ
tử Thánh Mười Lực
“Tôi
nay nguyện hồi hướng
“Chẳng
còn sự yếu hèn”.
Xem
bài kệ Phạm Vương, thật là lý nhiệm mầu của hồi hướng.
Chẳng phải là Hóa Thân Bồ Tát đó sao ?
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn Thân Tự Tại, bay đi trên hư
không, tôi ở trước người ấy, hiện thân Đại Tự Tại
Thiên, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Trời Đại Tự Tại tức là Ma Hê Thủ La Thiên. Ba
mắt tám tay, cỡi trâu trắng, cầm phất trắng, ở đỉnh
cõi sắc, nên bay đi trên hư không.
Kinh
Niết Bàn nói : “Sao gọi là kho bí mật ? Giống như chữ
(), ba điểm, chụm dính lại thì chẳng thành chữ Y, tản ra
cũng chẳng thành; như Ma Hê Thủ La Thiên, trên mặt có ba mắt,
mới thành được chữ Y. Ba điểm riêng nhau, cũng chẳng thành
được. Ta cũng như thế, cái pháp giải thoát cũng chẳng phải
Niết Bàn. Thân của Như Lai cũng chẳng phải Niết Bàn. Ma
Ha Bát Nhã cũng chẳng phải Niết Bàn. Ba pháp, mỗi cái khác
nhau, cũng không phải Niết Bàn. Nay Ta an trụ ba pháp như thế,
vì chúng sanh mà gọi là nhập Niết Bàn, giống như chữ Y
của đời”.
Tổ
Nham Đầu thượng đường, nói : “Ta thường nghiên cứu kinh
Niết Bàn, trong bảy, tám năm thấy hai ba đoạn nghĩa, giống
như lời nói của nhà Thiền”.
Rồi
lại nói : “Thôi ! Thôi !”
Khi
ấy, có một nhà sư bước ra làm lễ, xin thầy nói ra.
Tổ
Đầu nói : “Giáo ý của ta như chữ Y () ba điểm. Thứ nhất,
hướng về phương Đông hạ một điểm, điểm khai mắt của
các Bồ Tát. Thứ hai, hướng về phương Tây hạ một điểm,
điểm mạng mạch của các Bồ Tát. Thứ ba, hướng phương
trên hạ một điểm, điểm đảnh của các Bồ Tát. Đây là
đoạn nghĩa thứ nhất. Lại nói, giáo ý của ta giống như
banh mở cửa trên mặt của Ma Hê Thủ La Thiên, dựng đứng
một con mắt lẻ. Đây là đoạn nghĩa thứ hai. Lại nói, giáo
ý của ta như trống tẩm độc(04), đánh một tiếng xa gần
nghe đến đầu chết ráo. Đây là đoạn nghĩa thứ ba”.
Khi
ấy, Thượng Tọa Tiểu Nghiêm hỏi : “Như sao là trống tẩm
độc ?”
Tổ
Đầu hai tay đặt trên gối, thẳng thân, nói : “Hàn Tín lâm
triều vậy”.
Thầy
Nghiêm không có lời lẽ.
Tổ
Phù Sơn Viễn thượng đường : “Chư Phật ra đời dựng
nên giáo pháp chẳng lìa Trí Nhãn Ba Thân, cũng như ba con mắt
của trời Ma Hê Thủ La. Vì sao ? Một con thì giọt nước rỉ
chẳng thông, tăng tục khó biện. Một con thì đại địa vẹn
mở, mười phương suốt khắp. Một con thì cao thấp trong một
cái nhìn, muôn loại xem bằng. Tuy nhiên như thế, bổn phận
nhà sư ở chỗ đường lối ngăn trở nhau phải có Chánh Nhãn
thông thiên mới được. Bởi thế mới nói ba đời Chư Phật
chẳng biết có(05). Loài hồ ly cái, trâu trắng đực lại
biết có. Hãy nói hồ ly cái, trâu trắng đực biết có là
có cái gì ? Am hiểu ư ?”
Đêm
Thu mưa giăng ngàn nhà vắng
Ngày
lụn tựa đài một tiếng tiêu.
Ba
mắt trên mặt của Ma Hê Thủ La Thiên như ba điểm nếu chữ
Y. Tông môn mượn đó xướng lên lẽ huyền. Chớ nói là không
lời, Âm Thanh ấy như sấm !
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh Quỷ Thần, cứu hộ
cõi nước, tôi ở trước người ấy, hiện thân Thiên Đại
Tướng Quân, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Thiên Đại Tướng Quân thống lĩnh Quỷ Thần, làm
Thượng Tướng của Đế Thích.
Ngài
Thiên Thai Trí Giả ban đầu trụ ở Ngọc Tuyền.
Quan
Công Đại Tướng Quân ứng mộng, nói : “Tôi cùng con là
Quan Bình cai trị núi này lâu rồi vậy”.
Ngài
Trí Giả thuyết cho giới ba Quy Y.
Quan
Công thề nguyện làm Hộ Pháp. Đến nay vẫn cứu hộ cõi
nước, vẫn rất linh hiển.
Thầy
Truyền Sơn Phổ đến Tổ Hoàng Long thỉnh ý chỉ, hỏi rằng
: “Ông Anan hỏi Tổ Ca Diếp :
“Ngoài
áo cà sa, Thế Tôn phó truyền pháp gì ?”
“Tổ
Ca Diếp gọi lớn : “Anan !”
“Anan
ứng tiếng : “Dạ”.
“Tổ
Ca Diếp nói : “Ngã rồi cây cột phướn trước cửa !”
“Ý
chỉ thế nào ?”
Tổ
Nam Công(06) nói : “Ông ra khỏi đất Thục từng đến Ngọc
Tuyền chăng ?”
Đáp
: “Đã từng đến”.
Lại
hỏi : “Từng ở lại chăng ?”
Đáp
: “Một đêm rồi đi”.
Tổ
Nam Công nói : “Đạo tràng của Trí Giả, Quan Tướng Quân
dâng cúng, cùng kết duyên nhau lúc nào mà ngại”.
Thầy
Phổ lặng im. Giây lâu hỏi lý trước. Tổ Nam Công cúi đầu.
Thầy
Phổ bước ra rất hãi hùng, nói : “Nghĩa hổ Tây Xuyên không
làm tiêu một cái khạc nhổ của lão này”.
Còn
Tổ Thúy Nham Chân thượng đường : “Tiên Đức nói, “Việc
này như đốt mai rùa. Đốt bèn thành điềm bày ra tốt xấu,
không đốt thành không biết”. Đốt cùng chẳng đốt, liền
là hoa mắt. Thượng Lam(07) thì chẳng thế, không cố chấp,
không nhất định. Hư không cỡi ngựa, đất hạn đi thuyền.
Núi Nam khởi mây, núi Bắc mưa xuống !”
Bèn
cầm cây gậy lên, nói rằng : “Cây gậy hóa làm Thiên Đại
Tướng Quân đi khắp bốn thiên hạ. Có giữ tiết hay chẳng
giữ tiết, có giới hạnh hay chẳng giới hạnh, nhất thời
tâu cùng trời Đế Thích”.
Bèn
hét, nói :
“Trượng
phu tự có chí xông trời
Chẳng
hướng đường đi Như Lai đi”.
(Trượng
phu tự hữu xung thiên chí
Mạc
hướng Như Lai hành xứ hành).
Liền
đánh vào bàn một cái.
Hai
vị tôn túc đây, đều đem Đại Tướng Quân mà thuyết pháp.
Tức là vì Đại Tướng Quân mà thuyết pháp vậy.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh thế giới, bảo hộ
chúng sanh, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tứ Thiên
Vương, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Tứ Thiên Vương ở giữa núi Tu Di. Mặt trời mặt
trăng đi qua vòng trước cung. Đó là thần của Đế Thích
bảo hộ cho bốn cõi thiên hạ(08).
Quan
Lục Đại Phu hỏi Tổ Nam Tuyền : “Thiên Vương ở địa
vị nào ?”
Tổ
Tuyền nói : “Nếu là Thiên Vương, thì chẳng phải địa
vị”.
Ông
Lục nói : “Đệ tử nghe nói Thiên Vương ở Sơ Địa”.
Tổ
Tuyền nói : “Đáng dùng thân Thiên Vương để được độ,
liền hiện thân Thiên Vương, vì đó thuyết pháp”.
Thử
nói xem Nam Tuyền nói Giáo hay nói Tông?
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn sanh nơi Thiên Cung, sai khiến Quỷ
Thần, tôi ở trước người ấy, hiện thân Thái Tử của
Tứ Thiên Vương, vì họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Theo phẩm Phổ Môn, có thần Chấp Kim Cang không có
Quốc Thái Tử. Nhưng sai khiến Quỷ Thần là Thần Chấp Kim
Cang tức là một loại Quốc Thái Tử vậy.
Thái
Tử Na Tra, con Tỳ Sa Môn Thiên Vương, mỗi nửa đêm theo hầu
Tuyên Luật Sư, hoặc đỡ chân cho khỏi té, hoặc đàm luận
thắng cảnh Ngũ Đài Sơn. Đó là chỗ Nhị Thừa không biết
nổi. Đây là ghi chép lại rõ ràng trong truyện Luật Sư.
Có
nhà sư hỏi Thiều Quốc Sư : “Thái Tử Na Tra lóc thịt trả
lại cho mẹ, chẻ xương trả lại cho cha. Sau đó hiện lại
bổn thân, vận dụng đại thần lực, ở trên tòa sen, vì
cha mẹ thuyết pháp; chưa rõ như thế nào là thân Thái Tử
?”
Đáp
rằng : “Mọi người đều thấy Thượng Tọa hỏi”.
Nhà
sư ấy hỏi : “Như thế tức cõi Đại Thiên đồng một Chân
Tánh vậy”.
Quốc
Sư nói : “Phảng phất tựa khúc đàn mới nghe, lại bị gió
thổi thành điệu khác”.
Ngẫm
nghĩ chỗ này thì thân Thái Tử, thân Bồ Tát mọi thứ chọn
xét đều chẳng có ra được.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn làm Vua cõi người, tôi ở trước
người ấy, hiện thân Vua, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành
tựu.
Thông
rằng : Từ Vua Kim Luân, cho đến Vua Túc Tán đều là Vua của
loài người vậy. Kinh Pháp Hoa chỉ nói đến Tiểu Vương,
đều là chỉ Vua trong loài người.
Vua
Văn Tông nhà Đường rất thích con sò. Quan Sử miền duyên
hải lúc trước thường chuyển dâng, người phải nhọc mệt.
Một hôm, trong ngự cổ có con chẻ chẳng mở ra. Vua lấy làm
lạ, liền đốt hương cầu khẩn; bèn mở ra, thì thấy hình
dung của vị Bồ Tát, tướng thanh tịnh đầy đủ. Vua bèn
lấy hộp bằng cây hương đàn đỏ mà đựng, gấm tốt bao
trên, hiến cho chùa Hưng Thiện, để cho chúng tăng chiêm ngưỡng,
lễ bái. Vua hỏi quần thần đây là điềm lành gì ? Bèn tâu
ở núi Thái Nhất chỉ có thiền sư Chính, rõ sâu Phật pháp,
xin chiếu mời hỏi. Vua liền xuống chiếu mời sư đến để
hỏi việc ấy.
Tổ
Chính nói : “Đáng dùng thân này để được độ, liền hiện
thân này, vì đó thuyết pháp”.
Vua
nói : “Thân Bồ Tát đã hiện mà chưa nghe thuyết pháp”.
Tổ
Chính nói : “Bệ hạ thấy đấy là thường ư ? Là phi thường
ư ?”
Vua
nói : “Sự lạ ít thấy, Trẫm rất tin vậy”.
Bệ
Hạ đã nghe thuyết pháp rồi vậy”.
Lòng
vua vui vẻ, ra chiếu cho chùa chiền trong thiên hạ, mỗi nơi
đều lập tượng Quan Âm, để đền đáp việc tốt lành đặc
biệt ấy.
Con
sò đó dùng cái không nói mà nói, Tổ Chính dùng lời nói
mà nói; đều là Hóa Thân đó vậy.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đình danh tiếng,
thế gian kính nhường, tôi ở trước người ấy, hiện thân
Trưởng Giả, vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Bậc Trưởng Giả có đủ mười đức là dòng dõi
sang quí, địa vị cao, giàu lớn, oai thế mạnh mẽ, trí sâu
xa, tuổi thọ, hạnh trong sạch, đầy đủ lễ nghi, trên khen,
dưới phục, giống như bậc nguyên lão của quốc gia.
Ông
Lý trưởng giả tên là Thông Huyền, người Đông Bắc Thái
Nguyên, hoặc gọi là bậc Tôn Thất nhà Đường. Năm Thứ
Bảy Khai Nguyên, ở ẩn nơi Thổ Khám núi Phương Sơn, làm
bộ Hoa Nghiêm Hiệp Luận gồm bốn mươi pho. Cọp quỳ đội
kinh, rồng thần hóa suối. Ngày có Thiên Nữ hầu phụng, đêm
thì ánh sáng của trăng thay đuốc. Ngày thị tịch, chim thú
buồn kêu, khí sáng tột trời. Tuổi thọ chín mươi sáu.
Ông
Trương Vô Tận cho là Đức Văn Thù, Phổ Hiền hiện huyễn
thân, đâu biết chẳng phải Đức Quan Âm hiện huyễn thân
vậy ư ?
Kinh
: “Nếu các chúng sanh thích đàm luận những danh ngôn, giữ
mình trong sạch, tôi ở trước người ấy, hiện thân Cư Sĩ,
vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Nghe rộng hiểu nhiều, chẳng cần quan tước, của
cải giàu có, giữ chí liêm khiết, gọi là Cư Sĩ.
Ông
Bàng Uẩn, hiệu Đạo Huyền, người xứ Hành Dương sớm ngộ
sự mỏi nhọc của đời, chí tìm cầu chân lý.
Ban
đầu, ra mắt Tổ Thạch Đầu, hỏi rằng : “Chẳng cùng muôn
pháp làm bạn lứa, ấy là người nào ?”
Tổ
Đầu lấy tay bịt miệng.
Hoát
nhiên tỉnh ngộ.
Ngày
nọ, Tổ Đầu hỏi : “Từ khi gặp lão tăng đến nay, việc
hàng ngày của ông thế nào ?”
Cư
sĩ đáp : “Nếu hỏi việc dùng hàng ngày, tức không có chỗ
mở miệng”.
Bèn
trình kệ :
“Việc
hàng ngày không khác
Riêng
ta tự an bằng
Mỗi
mỗi không nắm, bỏ
Chốn
chốn chẳng chống ngăn
Lộn
xộn ai bày nhỉ ?
Non
Khưu bặt bụi trần
Gánh
nuớc cùng vác củi
Đó
: diệu dụng, thần thông”.
Tổ
Đầu bằng lòng, hỏi : “Ông dùng áo đen hay trắng ?”
Cư
sĩ nói : “Nguyện theo chỗ thích”.
Bèn
chẳng cạo, nhuộm.
Sau
đến tham vấn Đức Mã Tổ, hỏi rằng : “Chẳng cùng muôn
pháp làm bạn lứa, ấy là người nào ?”
Ngài
Mã Tổ nói : “Đợi ông hớp một ngụm hết nước Tây Giang,
ta sẽ vì ông nói !”
Cư
sĩ ngay lời nói nhận liền huyền chỉ. Bèn ở lại tham học
hai năm.
Có
bài kệ rằng :
“Có
trai chẳng cưới
Có
gái chẳng gả
Cả
nhà sum vầy lại
Cùng
nói lời Vô Sanh”.
Từ
đó cơ phong nhanh lẹ, các nơi đều hướng về.
Cư
sĩ xứ Đông Độ, phải lấy họ Bàng làm đầu. Vợ chồng,
trai gái đều lên Vô Thượng Giác. Đó là hậu thân của Duy
Ma, Kim Túc rộng nói Pháp Môn Bất Nhị. Cũng chẳng là xưa
cũ vậy.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh muốn trị cõi nước, chia rõ bang ấp,
tôi ở trước người ấy, hiện thân Tể Quan, vì họ thuyết
pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Như Lai dùng bốn việc để dẫn dắt chúng sanh, cùng
họ đồng sự. Lời dễ hiểu, cơ dễ hợp. Nhưng Tể Quan
ấy, đều ỷ tài nghệ, đều chấp nghị luận, chẳng phải
đồng bực thì khó thể nói cùng. Nên hiện thân Tể Quan ở
đời để cùng loại vậy.
Ông
Hiến Công Biện Triệu Thanh ngoài bốn mươi tuổi dẹp bỏ
thanh sắc, chí tâm vào Tông Giáo. Gặp Tổ Phật Huệ ở Nam
Thiền. Ngày ngày ông đều lân la đến, Tổ Huệ chẳng thốt
một lời. Sau giữ Thanh Châu, ngoài việc chánh quyền, phần
nhiều tĩnh tọa. Bỗng sét nổ lớn kinh hồn, liền khế ngộ.
Làm bài kệ rằng :
“Công
sở lặng ngồi yên trên ghế
Nguồn
tâm chẳng động như nước trong
Một
tiếng sét ầm, khai cửa đảnh
Kêu
lên xưa trước tự nhà mình”.
Tổ
Huệ nghe được, cười rằng : “Ông Triệu ưa nói văn vẻ
vang rân, nhỉ”.
Có
Ông Phú Trịnh Công Bậät ban đầu đối với tông môn chưa
có chỗ hướng vào, ông gắng khuyên, viết thơ rằng : “Trộm
nghĩ, như Ngài, cực kỳ giàu sang như thế, dư dật đạo đức
như thế, đầy đủ phước thọ an vui như thế, cao quý nhàn
hạ hư ẩn như thế, chỉ có chỗ chưa lưu ý sâu xa, là một
chuyện đại sự nhân duyên của Như Lai mà thôi. Nếu hay thành
thật chuyên cầu chỗ chứng ngộ, ắt có ngày xin làm môn
hạ chúc mừng”.
Trịnh
Công nhờ ông thức tỉnh khuyến khích, ngày đêm chẳng bỏ,
tinh tấn trong đạo. Nghe thiền sư Ngung, chủ Đầu Tử, bèn
đến gạn hỏi chỗ nghi. Gặp Tổ Ngung đang lên tòa, thấy
Ngài nhìn lại như voi chúa quay đầu, hơi tỉnh ngộ, bèn giữ
lễ đệ tử. Tổ bảo thị giả cho vào thất.
Tổ
Ngung liền nói : “Tướng Công đã vào, Phú Bật còn ở ngoài
!”
Ông
nghe qua, mồ hôi toát ướt lưng, bèn đại ngộ.
Viết
bài kệ gởi Viên Chiếu:
Vừa
gặp Ngung Công, ngộ nhập thâm
Được
truyền lén lút lão sư tâm
Đông
Nam chớ nói non sông cách
Ngày
đối linh quang với diệu âm”.
Đây
là dùng thân Tể Quan, vì Tể Quan thuyết pháp mà được chứng
vậy. Thật đủ làm khuôn mẫu cho đời.
Kinh
: “Nếu các chúng sanh thích những số thuật, nhiếp giữ
thân tâm, tôi ở trước người ấy, hiện thân Bà La Môn,
vì họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Bà La Môn đây gọi là Tịnh Hạnh, rất tôn sùng ngoại
đạo, như thờ Lửa, Nước, tức là hạng số thuật, nhiếp
tâm, vệ sanh để tự an vậy. Số thuật hòa hợp với xem
tướng, phương pháp thiên văn xem sự thịnh suy.
Tổ
Cưu Ma La Thập dòng dõi Bà La Môn, nên xem bói họa, phước
nhiều điều đúng kỳ lạ, số thuật của Ngài kể ra không
hết.
Ông
Thị Lang Lý Hạo lúc nhỏ xem Thủ Lăng Nghiêm, như về đất
cũ; sau đến Minh Quả Đầu Thành nhập thất.
Tổ
Ứng Am vỗ vào ngực, nói : “Ông Thị Lang chết rồi đi đâu,
nhỉ ?”
Ông
hãi hùng toát mồ hôi.
Tổ
Am quát đuổi ra.
Công
rút lui tham cứu. Chưa bao lâu thì đến chỗ áo diệu, làm
bài kệ gởi cho Ông Nghiêm Khương Triều, bạn đồng tham,
rằng :
“Cửa
có quán Tôn Tẩn
Nhà
có vợ Cam Chí
Đêm
ngủ rồi sáng dậy
Ai
ngộ với ai mê”.
Tổ
Am khen tốt.
Có
thầy Dục Yên Chi cũng học đã lâu với Tổ Ứng Am, có hơi
tự phụ.
Ông
tặng bài kệ rằng :
“Chẳng
cần son phấn tự phong lưu
Đường
thiền mấy nỗi đến đây thôi
Qua
suốt xưa nay chuồng cũi nhốt
Đến
đi trong ấy chịu ăn đòn”.
Xem
sự giao du của Ông Lý, đó là lấy hạnh Bà La Môn mà được
chứng. Thường thường đều có, đâu chỉ một mình Cam Chí
có Tịnh Hạnh thôi đâu.
Kinh
: “Nếu có người trai muốn học xuất gia, giữ các Giới
Luật, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tỳ Khưu, vì họ
thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Đại Sư Tăng Già, người xứ Tây Vực, từng nằm
nghỉ ở nhà Bà Hạ Bạt, thân bỗng lớn cao hơn giường chõng
phải đến ba thước, làm người người đều kinh hãi. Kế
đó hóa ra hình Quan Âm mười một mặt. Trong nhà càng thêm
tin trọng, bèn sửa nhà thành chùa.
Vua
Trung Tông sai sứ thỉnh vào đạo tràng, tôn làm Quốc Sư.
Thường ở riêng một thất, trên đỉnh đầu có một cái
lỗ, vẫn dùng nùi chỉ tơ nhét lại. Đêm thì mở ra, hương
thơm từ trong lỗ ấy bay ra, đến sáng, hương thơm trở lại
trong đảnh, rồi lại lấy nùi tơ nhét bít lại. Khi thị tịch,
vua đưa đến xứ Lâm Hoài, xây tháp cúng dường.
Vua
Trung Tông hỏi thầy Vạn Hồi rằng : “Đại Sư Tăng Già
là người nào thế ?”
Thầy
Hồi đáp : “Đó là hóa thân của Đức Quan Âm vậy. Phẩm
Phổ Môn kinh Pháp Hoa nói :
“Đáng
dùng thân Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni để được độ, liền hiện
thân, mà nói pháp cho”. Chỗ này là như vậy đó”.
Khi
sư đến Trường An, thầy Vạn Hồi lạy ra mắt rất tôn kính.
Sư
vỗ vai thầy, nói : “Ông nhỏ sao ở lại lâu, đi được
rồi đó”.
Sư
tịch chưa trọn tháng, thầy Hồi cũng tịch luôn.
Thầy
Tiệm Nguyên làm thị giả nơi Tổ Đạo Ngô. Một hôm theo
Tổ đến nhà đàn việt phúng điếu.
Thầy
Nguyên vỗ trên quan tài, nói : “Sống ư, chết ư ?”
Tổ
Ngô nói : “Sống cũng không nói, chết cũng không nói !”
Thầy
Nguyên nói : “Vì sao mà không nói ?”
Tổ
Ngô nói : “Không nói ! Không nói !”
Về
đến giữa đường, thầy Nguyên nói : “Hôm nay Hòa Thượng
phải nói ra cho tôi. Nếu không nói, thì đánh Hòa Thượng”.
Tổ
Ngô nói : “Đánh thì cứ đánh, nói thì không nói”.
Thầy
Nguyên bèn đánh.
Tổ
Ngô về chùa nói : “Ông nên rời chốn này, sợ rằng thầy
Tri Sự biết được thì không tiện”.
Thầy
Nguyên bèn lạy từ giã, ẩn nơi chùa trong làng.
Trải
qua ba năm, bỗng nghe đồng tử tụng kinh Quan Âm đến chỗ,
“Đáng dùng thân Tỳ Khưu để được độ, tức hiện thân
Tỳ Khưu”, hốt nhiên đại ngộ. Liền đốt hương, ở xa
mà lạy : “Mới biết lời Tiên Sư để lại chẳng hư lầm.
Chính tôi tự chẳng hiểu, lại hờn oán Tiên Sư”. Bèn đến
Tổ Thạch Sương, bày cúng trai sám hối.
Thế
là một câu “Tỳ Khưu...” này đủ rồi giải thoát. Trí
lực Quan Âm nhiệm mầu, thế nên chẳng thể nghĩ bàn vậy.
Kinh
: “Nếu có người gái muốn học xuất gia, giữ các Cấm
Giới, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tỳ Khưu Ni, vì
họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Giới Luật Tỳ Khưu có hai trăm năm mươi điều. Cấm
Giới của Tỳ Khưu Ni phàm là năm trăm điều. Rõ ràng là
hơn Tỳ Khưu, vì tánh nữ kém phần cao sáng, nên dùng Cấm
Luật làm Giới vậy.
Ni
Lưu Thiết Ma đến Tổ Quy Sơn.
Tổ
nói : “Trâu nái già, ngươi đến ư ?”
Ni
Ma nói : “Ngày mai ở Đài Sơn có hội trai lớn, Hòa Thượng
có đi chăng ?”
Tổ
Quy Sơn duỗi chân nằm.
Ni
Ma liền lui ra.
Có
nhà sư hỏi Tổ Phong Huyệt : “Tổ Quy Sơn nói “Trâu nái
già, ngươi đến ư ?” Ý chỉ như thế nào ?”
Tổ
Huyệt nói : “Chốn sâu rồng vàng múa mây trắng”.
Nhà
sư hỏi : “Còn như Lưu Thiết Ma nói “Ngày mai ở Đài Sơn
có hội trai lớn, Hòa Thượng có đi chăng ?” Ý chỉ như
thế nào ?”
Tổ
Huyệt nói : “Trong tâm xanh sóng, ngọc thỏ kinh”.
Nhà
sư hỏi : “Quy Sơn bèn bày ra thế nằm, ý chỉ như thế nào
?”
Tổ
Huyệt nói :
“Lè
phè già nghỉ ngày vô sự
Rảnh
ngủ cao nằm đối núi xanh”.
Tổ
Tuyết Đậu tụng rằng :
“Từng
ngồi ngựa sắt nhập bao thành
Lệnh
xuống nghe rằng sáu nước trong(09)
Đường
về, như nắm roi vàng hỏi
Đêm
sâu hành ngự với ai cùng”.
Tổ
Thiên Đồng tụng rằng :
“Trăm
chiến công thành lão thái bình
Hơn
thua ai chịu nhọc đo tranh
Ngựa
vàng roi ngọc nhàn suốt buổi
Gió
trong trăng sáng một đời sang”.
Về
các Tỳ Khưu Ni, cơ duyên ngữ cú rất nhiều, đều bày chuyện
hướng thượng, nào thuật hết được, nên lục ra để làm
khuôn mẫu.
Kinh
: “Nếu có người trai thích giữ năm Giới, tôi ở trước
người ấy, hiện thân Cư Sĩ Nam, vì họ thuyết pháp, khiến
cho thành tựu.
Thông
rằng : Năm Giới tức là giới Sát, Đạo, Dâm, Vọng Ngữ
và Uống Rượu. Cư sĩ nam tức là cận sự nam, giữ sự trong
sạch, hay giúp việc cho Tỳ Khưu vậy.
Vị
đạo nhân Thứ Mười Ba ở Tiên Châu Sơn Ngô thường hỏi
đạo các vị thiền đức, đến quy y Ngài Khai Thiện. Rồi
kết am ở bên trái, dâng cấp hầu hạ. Đêm mồng Tám tháng
Ba, đời Thiện Hưng, bỗng nhiên tỏ ngộ, làm bài kệ trình
Ngài Thiện rằng :
“Xưa
nay không nứt, vá
“Chạm
đến rỡ ràng ngay
“Đã
là ngàn vàng báu
“Nào
phải động dụng gì”.
Ngài
Thiện đáp lại bài kệ :
“Đất
nứt nẻ rồi vui khoái thay
Tử
sanh, phàm thánh sạch liền ngay
Dưới
núi Tiên Châu cười ha hả
Chẳng
phụ cùng nhau tâm xưa rày !”
Cư
sĩ nam này cũng là Giải Thoát.
Kinh
: “Nếu có người gái tự giữ năm Giới, tôi ở trước
người ấy, hiện thân Cư Sĩ Nữ, vì họ thuyết pháp, khiến
cho thành tựu.
Thông
rằng : Cư sĩ nữ gọi là cận sự nữ, giữ sự trong sạch,
thường giúp việc cho Tỳ Khưu Ni vậy.
Cô
Du Đạo Bà, người xứ Kim Lăng, làm nghề chiên bánh dầy
ở chợ, theo chúng tham hỏi Tổ Lang Gia Khởi. Tổ Khởi lấy
chỗ Vô Vị Chơn Nhơn của Tổ Lâm Tế nói mà bày chỉ. Một
hôm, nghe người ăn xin ca bài Liên Hoa Lạc rằng “Chẳng nhờ
Liễu Nghị truyền thơ tín, duyên đâu đến được Động
Đình Hồ”, bỗng đại ngộ, bưng mâm bánh dầy ném xuống
đất.
Chồng
cô là Bàng Nghệ nói rằng : “Bà điên ư ?”
Cô
Bà vỗ tay, nói : “Chẳng phải cảnh giới của ông”.
Bèn
đi ra mắt Tổ Khởi.
Tổ
xa trông, biết chỗ sở đắc, hỏi : “Cái gì là Vô Vị Chơn
Nhơn ?”
Cô
Bà nói :
“Có
một Vô Vị Chơn Nhơn
Sáu
tay ba đầu nỗ lực sân
Một
nẻo Hoa Sơn phân hai lối
Muôn
năm nước chảy chẳng hay xuân”.
Từ
đó, danh tiếng nổi lên. Cô thường tụng bài Bất An Nhân
Duyên(10) của Mã Tổ.
Cô
nói : “Mặt trời mặt trăng, hư không chớp nháng. Tuy là
dứt yên đầu lưỡi nạp tăng trong thiên hạ, nhưng rõ ràng
chỉ nói được một nửa”.
Không
ngờ cô cư sĩ mà thuyết pháp như vậy, há không có trăm ngàn
ức Hóa Thân ư ?
Kinh
: “Nếu có người nữ lập thân Nội Chính, để sửa sang
nước nhà, tôi ở trước người ấy, hiện thân Nữ Chúa
hay thân Quốc Phu Nhân, đại gia mệnh phụ, vì họ thuyết
pháp, khiến cho thành tựu.
Thông
rằng : Lập thân trong Nội Chính để sửa sang nước nhà,
dùng món ngon quý làm việc cúng tế, các việc này chẳng có
gì không là Phật sự.
Tổ
Chí Công nói : “Kinh đô, huyện đô mênh mông lại là Bồ
Đề Đại Đạo”. Lại nói, “Đại Đạo chỉ là trước
mắt, vậy mà trước mắt khó thấy. Muốn biết chân thể
của Đại Đạo, nào lìa sắc thanh ngôn ngữ”.
Đạo
gần đến như vậy đó. Há cho người nữ là chẳng sẵn đủ
ư ?
Phu
nhân Ông Mân Súy là Thôi Thị Phụng Đạo. Bà tự xưng là
Luyện Sư. Sai sứ đưa y phục đến Tổ Trường Khánh, nói
rằng : “Luyện Sư sai đến, xin hồi tin”.
Tổ
Khánh nói : “Bảo Luyện Sư lãnh nhận hồi tin”.
Giây
lát, sứ đến trước mặt Tổ dạ lớn, rồi liền trở về.
Hôm
sau, Tổ Khánh vào phủ.
Luyện
Sư bung mở cả hai tay.
Ông
Súy hỏi Tổ Khánh rằng : “Luyện Sư vừa trình tin, đại
sư vừa ý chăng ?”
Tổ
Khánh nói : “Gần gần chút ít”.
Luyện
Sư hỏi : “Chưa rõ đại sư ý chỉ thế nào ?”
Tổ
Khánh im lặng giây lâu.
Luyện
Sư nói : “Chẳng thể nghĩ bàn, Phật pháp đại sư thật
sâu xa”.