QUYỂN
III
Thu
sáu nhập
Thu
mười hai xứ
Thu
mười tám giới
Thu
bảy đại
Đốn
ngộ Pháp thân và phát nguyện
QUYỂN
III
F.
THU SÁU NHẬP
Kinh
: “Lại nữa, Anan, như sao là Lục Nhập vốn là Như Lai Tạng
Diệu Chân Như Tánh ?
Thông
rằng : Lục Nhập cũng gọi là Lục Xứ, là cái chỗ để
cho Cảnh do đó mà Nhập vào vậy. Ở đây chỉ lấy Căn làm
Nhập. Lục Căn sao lại là Diệu Chân Như Tánh ? Chẳng phải
là “Một Căn đã trở về nguồn thì sáu Căn đều thành
Giải Thoát” sao ? Bởi thế, sáu Căn tức đó là Phật Tánh
vậy.
Vua
Dị Kiến hỏi tôn giả Ba La Đề : “Cái gì là Phật ?”
Tổ
đáp : “Thấy Tánh là Phật”.
Vua
hỏi : “Thầy thấy Tánh chăng ?”
Tổ
đáp : “Tôi thấy Phật Tánh”.
Vua
hỏi : “Cái Tánh ở chỗ nào ?”
Tổ
nói : “Tánh ở trong tác dụng”.
Vua
hỏi : “Ấy là tác dụng nào mà tôi không thấy ?”
Tổ
nói : “Nay hiện là tác dụng mà vua tự chẳng thấy”.
Vua
hỏi : “Hiện nơi tôi có chăng ?”
Tổ
nói : “Vua mà tác dụng thì không có gì chẳng phải là đó;
vua mà chẳng dùng, Thể ấy khó thấy”.
Vua
hỏi : “Như khi đang dùng thì xuất hiện mấy chỗ ?”
Tổ
đáp : “Như khi xuất hiện thì hiện có tám chỗ”.
Vua
nói : “Xin vì tôi nói ra tám chỗ xuất hiện ấy”.
Tổ
Ba La Đề nói bài kệ :
“Ở
thai làm Thân
Ở
đời làm Người
Ở
mắt là Thấy
Ở
tai là Nghe
Ở
mũi Ngửi mùi
Ở
miệng Đàm Luận
Ở
tay Cầm Nắm
Ở
chân Đi Chạy
Hiện
khắp đồng đều pháp giới
Thâu
lại trong một vi trần
Tỏ
hiểu, biết đó là Phật Tánh
Không
hiểu, lại gọi là tinh hồn”.
Vua
nghe xong bài kệ, tâm liền khai ngộ.
Ông
Trình Minh Đạo đọc Trung Dung có câu thơ “Diều bay tận
trời. Cá nhảy trong vực”, nói rằng “Trên dưới đều
rõ ràng vậy”. Đây là Ông Tử Tư quả là vì người mà
gắng sức. Biết được thì đời sống quá đổi tự do. Chẳng
biết, thì chỉ là “Đùa giỡn với tinh hồn”. Những lời
nói ấy, người học vẫn thường nghe. Vì sao vua Dị Kiến
lại tỏ ngộ, nhỉ ?
Thiền
sư Phật Nhật Tài thượng đường : “Gió mưa tiêu điều
lấp kín Tai ông ! Lá rụng lại qua lấp kín Mắt ông ! Hương
mùi loạn xạ lấp kín Mũi ông ! Lạnh nóng, ngọt bùi lấp
kín Lưỡi ông ! Áo gấm ấm mát lấp kín Thân ông ! Vọng
tưởng điên đảo lấp kíp ý ông ! Này chư vị thiền đức,
cho dù các ông có lật lại được chăng nữa thì cũng là
đống xương đất bằng ! Tham!”
Chỗ
này chẳng tham thì không được !
Kinh
: “Anan, tức nơi tròng mắt kia, ngó sững sanh ra mỏi lòa.
Cả hai cái : con mắt và sự mỏi lòa đều là cái tướng
sinh mỏi lòa do nhìn chăm chăm của Bồ Đề.
“Nhân
nơi hai thứ vọng trần sáng và tối phát ra cái Thấy ở bên
trong, thu nạp các trần tướng mà gọi là cái Thấy. Cái Thấy
này rời ngoài hai Trần sáng và tối, rốt ráo không có tự
thể.
“Thật
vậy, Anan, phải biết rằng cái Thấy đó chẳng phải từ
nơi sáng, nơi tối mà đến, chẳng phải từ căn mắt mà ra,
chẳng phải từ hư không mà sanh. Vì sao thế ? Nếu từ cái
sáng mà đến, thì khi tối đã theo cái sáng mà diệt, lẽ
ra không thấy được cái tối ! Nếu từ cái tối mà đến
thì khi sáng phải theo cái tối mà diệt, lẽ ra không thấy
được cái sáng ! Nếu do căn mắt mà sanh, hẳn không có sáng,
có tối thì cái Thấy như vậy vốn không tự tánh. Nếu do
hư không mà ra thì ngó tới trước phải thấy các trần tượng,
quay về phải thấy con mắt ! Lại nữa, hư không mà tự thấy
nào có liên quan gì đến chỗ thâu nhập của ông.
“Thế
nên, phải biết Nhãn Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tính
Nhân Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên.
Thông
rằng : Ngó sững chặp lâu thì mắt mỏi mà phát lòa, nên
thấy hoa đốm loạn xạ, cái căn mắt phân biệt cũng là cái
tướng lòa ở trong Giác Tánh Bồ Đề, nên nói “Cả con mắt
và cái lòa đều là cái tướng mỏi sanh ra lòa của Bồ Đề”.
Mượn con mắt lòa tạo thành sắc ấm để ví dụ là Nhãn
Nhập hư vọng vậy. Nếu mắt chẳng mỏi, tướng lòa tự
là không, nguyên một Tinh Minh lấy đâu mà vọng ? Cái Thấy
này lìa ngoài hai trần sáng, tối rốt ráo không tự thể.
Rõ ràng hiển bày cái Chân Kiếân Vô Sanh, chẳng vì thấy
sáng, thấy tối mà có, chẳng vì lìa sáng, tối mà không.
Chân Kiến là Chân Thật, còn cái Thấy này là hư vọng, có
thể thấy rõ ràng vậy.
Đoạn
trước nói “Hoa đốm chẳng phải từ hư không sanh, chẳng
từ con mắt sanh ra” chỉ thẳng sắc ấm vốn không. Ở đoạn
này, nói “Tánh Thấy chẳng từ hư không sanh cũng chẳng do
con mắt sanh ra” để chỉ bày Nhãn Nhập là hư vọng. Vọng
vốn không tự tánh, Đương Thể tức Chân. Nên nói “Tức
là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh” vậy.
Tổ
Triệu Châu nói : “Cầm chắc Càn Khôn Nhãn, làu làu chẳng
lọt mảy lông. Mong ông hiểu thấu, ông lại làm gì nữa ?”
Ngài
Thiên Đồng nêu ra rằng : “Trở lại đầu mối được chưa
? Dù cho ông ở trong ấy hiểu được bảy lỗ, tám hang đi
nữa, ta cũng biết ông chẳng ra khỏi cái nôi mây kết tróùi
của Tổ Triệu Châu đâu !”
Lại
có nhà sư hỏi Tổ Cửu Phong Kiền : “Như thế nào là con
Mắt Càn Khôn ?”
Tổ
Phong nói : “Càn Khôn ở trong ấy !”
Nhà
sư hỏi : “Con Mắt Càn Khôn ở đâu ?”
Tổ
Phong nói : “Chánh đó là con Mắt Càn Khôn”.
Sư
hỏi : “Lại có chiếu sáng không ?”
Tổ
Phong nói : “Chẳng nhờ đến thế lực của ba loại ánh sáng”.
Sư
hỏi : “Đã chẳng nhờ sức của ba loại ánh sáng thì nhờ
vào đâu mà chiếu sáng, mà gọi là con Mắt Càn Khôn ?”
Tổ
Phong nói : “Nếu chẳng như thế thì trước sọ khô thấy
quỷ ma vô số !”
Hợp
hai tắc này lại mà xem xét, nếu mà có nương nhờ thì đó
chính là chỗ rỉ giọt(01), cho dù có hiểu được cũng là
trước mắt thấy quỉ. Chỉ nơi một câu “Con Mắt Càn Khôn
ở tại chỗ nào ?” mà trộm thấy suốt được thì mới
nắm chắc. Tướng mỏi sanh lòa từ chỗ nào mà khởi ra thế
?
Kinh
: “Anan, ví như có người lấy hai ngón tay bịt chặt lỗ
tai, do căn tai mỏi, trong đầu hóa ra có tiếng. Cả hai cái
: lỗ tai và cái mỏi mệt, đều là tướng lâu mà sanh ù mỏi
của Bồ Đề.
“Nhân
nơi hai thứ vọng trần động và tĩnh phát ra cái Nghe ở trong,
thu nạp cái trần tượng đó mà gọi là cái Nghe. Cái Nghe
đó rời hai trần động tĩnh rốt ráo không có tự thể.
“Thật
vậy, Anan, ông nên biết cái Nghe đó không phải từ nơi động,
nơi tĩnh mà đến, không phải từ lỗ tai mà ra, không phải
nơi hư không mà sanh. Tại sao thế ? Nếu cái Nghe ấy từ nơi
tĩnh mà đến thì khi động phải theo cái tĩnh mà diệt, lẽ
ra không nghe được cái động. Nếu từ nơi động mà đến
thì khi tĩnh sẽ theo cái động mà diệt, lẽ ra không nghe thấy
cái tĩnh. Nếu do lỗ tai mà sanh, hẳn là không có động, không
có tĩnh, thì cái Nghe như vậy vốn không có tự tánh. Nếu
do hư không mà ra, thì đã có tánh nghe, chắc không phải là
hư không nữa. Lại nữa, hư không mà tự nghe nào có liên
quan gì đến chỗ thâu nhập của ông ?
“Vậy,
nên biết rằng Nhĩ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh
Tự Nhiên, chẳng phải tánh Nhân Duyên.
Thông
rằng : Từ Nhãn Nhập đến Ý Nhập đều như hoa không, nên
nói “Đều là cái tướng mỏi mệt sanh ra của Bồ Đề”.
Căn Tai mỏi ù, thì trong đầu có ra tiếng. Giác Tánh Bồ Đề
phát sanh mỏi, ắt trong tai thành có cái Nghe. Cái Nghe này hư
vọng mà sanh ra, cũng như hoa không vậy. Cái Nghe này rời hai
vọng trần động và tĩnh thì rốt ráo không có tự thể.
Trần đến thì có, trần đi thì không. Cái Nghe ấy vốn không
gốc gác nên gọi là hư vọng. Cái Nghe hay phân biệt được
động, tĩnh nên chẳng từ cảnh mà sanh. Cái Nghe thật linh
mẫn, còn hư không thì trơ trơ, nên chẳng phải từ hư không
mà ra. Như cái Thể Nghe của Nhĩ Căn, mỗi mỗi đều có mặt,
sao lại nói là không tự tánh ? Vì lìa ngoài tiền trần ắt
là vô phân biệt. Nếu có phân biệt, đáng lẽ phải chỉ
ra được. Nay không thể chỉ ra, thì biết là không tự tánh.
Nghiệm xét cái Nghe ở nơi cảnh, ở nơi căn, ở nơi hư không
đều không có cái Thể nhất định để tìm ra được, tức
là cái Nghe hư huyễn này vốn chẳng phải tính Nhân Duyên,
chẳng phải tính Tự Nhiên, bèn là tức huyễn tức chơn vậy.
Nếu mà có Nhân Duyên hay Tự Nhiên khá được thì cái Nghe
ấy bèn là pháp sanh diệt, sao có thể gọi đó là Diệu Chân
Như Tánh ?
Có
vị tăng hỏi Ngài Huyền Sa : “Nhờ Hòa Thượng dạy “Cái
Tánh Nghe cùng khắp pháp giới”. Ngài Tuyết Phong đánh trống
ở trong ấy vì sao chẳng nghe ?”
Tổ
Sa nói : “Ai biết chẳng nghe ?”
Lại
có vị tăng hỏi Tổ Tào Sơn : “Gần bạn đạo nào để
được hằng nghe chỗ chưa nghe ?”
Tổ
Sơn nói : “Cùng chung nhau một cái trùm che khắp hết”.
Hỏi
: “Cái này cũng như là Hòa Thượng được nghe. Như sao là
hằng nghe ở chỗ chưa nghe ?”
Tổ
Sơn nói : “Chẳng đồng với gỗ đá”.
Hỏi
: “Cái nào là trước, cái nào là sau ?”
Tổ
Sơn nói : “Chẳng thấy nói “Hằng nghe ở chỗ chưa nghe”
sao ?”
Thế
mới biết, hằng nghe ở chỗ chưa nghe thì cái Nghe này cùng
khắp vậy.
Kinh
: “Anan, ví như có người bịt gấp hai lỗ mũi. Bịt lâu
thành ra mỏi mệt, thì ở trong mũi nghe có cảm giác lạnh.
Nhân những cảm xúc như vậy mà phân biệt được là thông,
là bít, là rỗng, là đặc cho đến các mùi thơm, thối. Cả
hai cái : Ngửi và cái mỏi mệt, đều là cái tướng bịt
lâu phát mỏi của Bồ Đề.
“Nhân
nơi hai thứ vọng trần thông và bít phát ra cái Ngửi ở trong,
thu nạp các trần tượng mà gọi là cái Ngửi. Cái Ngửi đó
rời ngoài hai trần thông và bít rốt ráo không có tự thể.
Thế nên, phải biết cái Ngửi ấy chẳng phải từ thông,
bít mà đến, chẳng phải nơi căn mà ra, chẳng từ hư không
mà phát sanh. Tại sao thế ? Nếu từ cái thông mà đến thì
khi bít, cái Ngửi đã mất rồi làm sao mà biết được cái
bít ? Nếu nhân cái bít mà có thì khi thông, không còn cái
Ngửi làm sao biết được các mùi thơm, thối ? Nếu từ lỗ
mũi sanh ra hẳn không có cái thông, cái bít thì cái Ngửi như
vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra thì cái Ngửi
đó phải xoay lại ngửi được lỗ mũi của ông ! Lại nữa,
hư không mà tự ngửi được nào có liên quan gì đến chỗ
thâu nhập của ông ?
“Vậy,
nên biết rằng Tỷ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải là
tánh Nhân Duyên, chẳng phải là tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Bịt mũi là bịt ngừng hơi thở, khí không ra vào.
Cái lạnh nhân nín thở mà có, không nín thì không có. Nhân
nín thở mà biết có thông, bít, rỗng, đặc. Nhân thông, bít
mà phân biệt các mùi thơm, thối. Cái Ngửi đó, rõ ràng nhân
hư vọng mà có vậy. Như chẳng có cái thông, bít, cái Ngửi
thấy đó hiện đang ở chỗ nào ? Ở tai thì gọi là cái Nghe
thấy, ở mũi thì gọi là cái Ngửi thấy. Công năng lớn nhỏ
có thể thấy được. Cái Nghe thì đâu cũng khắp, cái Ngửi
thì phát ra do tiếp xúc với tiền trần. Tuy nhiên, căn mũi
là hư vọng, vốn không có chỗ chỉ ra được, huống là cái
việc hướng thượng nằm ngay trên mũi mình, lại càng khó
sờ nắm !
Có
vị tăng hỏi thiền sư Hải Yến ở chùa Chửng Mê rằng :
“Như thế nào là chùa xưa một lư hương ?”
Tổ
nói : “Qua nhiều đời không có người ngửi”.
Hỏi
: “Người ngửi như thế nào ?”
Tổ
nói : “Sáu Căn đều chẳng đến”.
Ngài
Ba Lăng Giám(02) ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.
Tổ
Vân Môn nói : “Hòa Thượng Tuyết Phong nói “Mở cửa ra
thì Đạt Ma đến”, tôi hỏi ông làm sao đây ?”
Ngài
Giám nói : “Ở trên lỗ mũi Hòa Thượng !”
Tổ
Môn nói : “Địa Thần nổi dữ, cầm núi Tu Di đập một
cái, nhảy tót lên trời Phạm Thiên, bứt phá lỗ mũi của
Đế Thích. Ông vì sao mà hướng về trong nước Nhật Bản
ẩn mình ?”
Ngài
Giám nói : “Hòa Thượng không lừa dối người thì tốt”.
Tổ
Môn nói : “Ở trên lỗ mũi của lão tăng, lại làm sao ?”
Ngài
Giám không có lời đáp. Tổ Môn nói : “Hãy biết ông chỉ
là phường “Học nói”.
Nếu
tham suốt được lời nói của Tổ Vân Môn thì thật như nửa
đêm rờ trúng lỗ mũi, xưa nay chỉ ở trên mặt !
Kinh
: “Anan, ví như có người dùng lưỡi liếm mép, liếm mãi
sanh ra mỏi. Nếu người đó đang bệnh thì thấy có vị đắng,
còn người không bệnh thì có chút vị ngọt. Do cảm xúc ngọt,
đắng mà hiện ra có căn lưỡi, khi không động thì vẫn có
tánh nhạt. Cả cái Nếm cùng cái Mỏi đều là cái tướng
lâu mà sanh mỏi của Bồ Đề.
“Nhân
hai thứ vọng trần nhạt và ngọt đắng phát ra cái Nếm ở
bên trong, thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái Nếm
Biết. Cái Nếm Biết này ngoài hai vọng trần nhạt và ngọt
đắng kia, rốt ráo không có tự thể.
“Thật
vậy, Anan, phải biết rằng cái Nếm Biết được đắng, nhạt
như vậy không phải từ ngọt đắng mà đến, không phải
nhân tánh nhạt mà có, cũng không từ căn lưỡi mà ra, cũng
không từ hư không mà sanh. Vì sao thế ?
“Nếu
từ các vị ngọt, đắng mà đến thì khi nhạt, cái Nếm Biết
đã diệt mất làm sao biết được vị nhạt ? Nếu từ cái
nhạt mà ra, thì khi ngọt, cái Nếm Biết đã mất rồi làm
sao biết được vị ngọt đắng ? Nếu do cái Lưỡi sanh ra,
hẳn không có những vị ngọt, đắng và nhạt, thì cái Căn
Biết Mùi Vị đó rõ là vốn không tự tánh. Nếu do hư không
mà ra thì hư không tự nếm biết, chẳng phải lưỡi ông biết
được vị. Hơn nữa, hư không mà tự biết thì có liên quan
gì đến chỗ thâu nhập của ông đâu ?
“Vậy,
nên biết rằng, Thiệt Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải
là tánh Nhân Duyên, chẳng phải là tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Cái Căn biết Mùi đây, biết ngọt, biết đắng, biết
nhạt. Vị ngọt, đắng, nhạt không thường còn nên cái Căn
Nếm Biết cũng tùy theo mà thay đổi. Cái Biết Vị này không
phải từ ngọt, đắng, nhạt mà đến, không phải từ hư
không mà ra thì còn dễ biết, nhưng tại sao không từ lưỡi
mà sanh ? Cái lưỡi vốn không mùi vị, nên không có tự tánh
khá được. Chỉ do tiếp xúc với mùi vị mà nếm biết sanh
ra, mùi vị hết thì phải diệt, vốn đều là hư vọng. Bám
chấp mà cho là có thì không biết nó ở đâu ra ! Bám chấp
mà cho là không thì lại rõ ràng ra đó ! Cho nên mới nói là
Diệu. Ở đây mà chẳng biết mùi vị là cái gì thì không
có đủ sức để bàn luận vậy.
Ngài
Sam Sơn đang lựa rau quyết, Tổ Nam Tuyền nhặt lên một cọng,
nói : “Cái này dùng rất tốt”.
Ngài
Sơn nói : “Không những cái này mà món ngon trăm vị hắn
ta cũng chẳng thèm đoái tới”.
Tổ
Tuyền nói : “Tuy là như thế, mỗi cái phải nên nếm qua
mới được”.
Ngài
Huyền Giác nói rằng : “Đó là lời tương kiến hay không
phải là lời tương kiến ?”.
Ngài
Thiên Đồng nói : “Hỏi lấy Nam Tuyền Vương Lão Sư, ai ai
cũng chỉ ăn một cọng rau”.
Có
thể nói là biết mùi vị vậy.
Kinh
: “Anan, ví như có người dùng bàn tay lạnh rờ bàn tay nóng.
Nếu bên lạnh nhiều hơn thì bên nóng lạnh theo. Nếu bên
nóng nhiều hơn thì bên lạnh thành nóng lên. Như vậy, do cảm
xúc nhận biết trong lúc hợp lại mà rõ sự nhận biết lúc
rời ra. Cái thế chênh lệch giữa nóng và lạnh này thành
là do mỏi mệt mà có ra cảm xúc. Cả hai thứ : Thân biết
cảm xúc và cái Mỏi đều là cái tướng sanh mỏi do chăm
chú của Bồ Đề.
“Nhân
nơi hai thứ vọng trần lìa và hợp phát ra cái Hay Biết ở
bên trong, thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái Biết
Cảm Xúc. Cái Biết như vậy lìa ngoài hai trần lìa và hợp,
trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.
“Thật
vậy, Anan, phải biết rằng cái Cảm Xúc đó không phải từ
cái lìa, cái hợp mà tới, không phải từ nghịch thuận mà
có, chẳng phải do nơi thân căn mà ra, cũng không phải do hư
không mà sanh ra. Vì sao thế ?
“Nếu
từ hợp mà đến, thì khi lìa, cái biết đã mất rồi, làm
sao biết được cái lìa. Đối với hai tướng nghịch thuận
thì cũng như thế. Nếu từ thân căn mà có ra, hẳn không có
những tướng lìa, hợp, nghịch, thuận thì cái Biết Cảm
Xúc của thân vốn không có tự tánh. Nếu từ hư không mà
sanh ra thì hư không tự biết lấy, nào có liên quan gì đến
chỗ thâu nhập của ông ?
“Thế
nên, phải biết Thân Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh
Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Cái Biết do hợp lại mà có thì khi lìa ra bèn không
có. Nhưng lìa ra rồi mới biết Cảm Xúc là Thuận hay Nghịch.
Cái Biết do đụng chạm với thân này, hơi khác với cái Biết
ở lưỡi. Tùy theo cái thế tương quan mà có hơn thua. Ví như
cái nóng chạm cái lạnh, mà nóng mạnh hơn, thì cái lạnh
nóng lên và ngược lại. Lạnh và nóng can thiệp nhau, hai tướng
thành ra, chẳng có cái cảm xúc mỏi nhọc thì chẳng có việc
nóng lạnh ấy. Cảm xúc dễ chịu thì nói là thuận, cảm
xúc nghịch với thân thì gọi là trái nghịch. Nếu không có
bốn tướng : lìa, hợp, thuận, nghịch, chỉ còn mỗi cái
thân thì cái Biết Cảm Xúc này ở tại nơi nào ? Cho nên mới
nói vốn là không tự tánh. Tức là cái Biết của thân này
không do trần mà sanh, không do căn thân mà có ra, hẳn chẳng
phải phân biệt mà biết. Không phải từ hư không mà sanh
ra, hẳn chẳng phải là Tự Nhiên. Chẳng phải Nhân Duyên,
chẳng phải Tự Nhiên, gọi đó là Diệu Chân Như Tánh. Cái
chuyện Thấy, Nghe, Hay, Biết ở trên là năm cái Thức bên
ngoài, do đối với Cảnh mà biết, chẳng phải là cái Biết
của ý thức phân biệt. Tất cả đều là chỗ bày biện của
Như Lai Tạng Tánh vậy.
Có
nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Lạnh, nóng đến làm sao mà
trốn tránh ?”
Tổ
Động Sơn nói : “Sao chẳng ở trong chỗ không nóng lạnh
?”
Hỏi
: “Như thế nào là chỗ không hề nóng lạnh ?”
Tổ
Sơn nói : “Lạnh thì lạnh chết Xà Lê, nóng thì nóng chết
Xà Lê !”
Lại
Tổ Tào Sơn hỏi một nhà sư : “Nóng như thế này, hướng
về chỗ nào trốn tránh ?”
Sư
đáp : “Trốn vào trong vạc nước sôi, lò lửa !”
Tổ
hỏi : “Trong vạc nước sôi, lò lửa làm sao trốn tránh ?”
Sư
đáp : “Các khổ không thể đến !”
Đây
là những lời trong nhà, như ra từ một miệng.
Ngài
Tuyết Đậu tụng rằng :
“Buông
tay lại đồng vách núi muôn tầm
Chánh,
Thiên nào cần đến việc an bài
Cổ
điện lưu ly trăng chiếu sáng
Nực
cười binh mạnh bắc thang lên không !”.
(Thùy
thủ hoàn đồng vạn nhận nhai
Chánh
Thiên hà tất tại an bài
Lưu
ly cổ điện chiếu minh nguyệt
Nhẫn
tuấn hàn lư không thượng giai).
Rõ
được ý này thì Thõng tay vào chợ cũng đồng là Núi cô
riêng đứng một mình(03). Về nguồn rõ Tánh và Sai Biệt Trí
đều chẳng khác nhau. Chẳng khế hợp sâu xa với Tông Tào
Động, chưa dễ nói được chỗ này.
Kinh
: “Ví như có người mỏi mệt thì ngủ. Ngủ chán thì thức
dậy. Xem trần cảnh thì nhớ, hết nhớ thì quên. Các thứ
Sanh, Trụ, Dị, Diệt điên đảo này hấp thu những kết tập
thói quen đưa vào bên trong, mỗi mỗi liên tục, gọi đó là
Ý Căn. Cả hai cái : Ý và Mỏi Mệt, đều là tướng phát
mỏi do chăm chú của Bồ Đề.
“Nhân
hai thứ vọng trần sanh và diệt kết tập cái Biết ở bên
trong, thu nhóm nội trần, dùng thấy, nghe chảy ngược vào
trong, chảy không chỗ đến, mà gọi là cái Ý Hay Biết. Cái
Ý Hay Biết này rời ngoài hai trần thức và ngủ, sanh và diệt
rốt ráo là không có tự thể.
“Thật
vậy, Anan, nên biết rằng cái Căn Hay Biết đó chẳng từ
thức hay ngủ mà đến, chẳng phải từ sanh diệt mà có, chẳng
phải nơi căn ý mà có ra, cũng chẳng phải hư không sanh. Tại
sao thế ?
“Nếu
từ nơi thức mà đến, thì khi ngủ đã theo cái thức diệt
mất, lấy gì để thành ra cái ngủ mê ? Nếu quả là lúc
sanh mới có, thì lúc diệt đã không còn, lấy ai mà thọ cái
diệt ? Nếu từ cái diệt mà có, thì khi có cái sanh : cái
diệt không có, có ai để biết cái sanh ? Nếu từ căn mà
ra thì hai tướng thức và ngủ theo thân mà có mở, có khép.
Nếu rời ngoài hai tướng thức, ngủ này thì cái Ý Hay Biết
đó cũng giống như hoa đốm trên không, rốt ráo là vô tự
tánh. Nếu từ hư không mà sanh ra, thì hư không tự biết lấy,
dính dáng gì đến chỗ thâu nhập của ông ?
“Vậy,
nên biết rằng : Ý Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh
Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Trong mộng hiện cảnh, bởi ngủ nên có ra, cái thân
thơ thới mà là hư giả. Đã tỉnh thức, chẳng rõ là giả,
rồi nhận mà tưởng nhớ đến, cho là chân thật, chuyện
ấy là điên đảo vậy. Các hình tướng hữu vi cũng thế.
Động tâm thì sanh ra cảnh, đã là hư vọng lại do cái thức
phân biệât nhớ giữ mà cho là thật có, thì đều là điên
đảo. Nhớ đến thì sanh ra, quên đi thì diệt mất, nên bốn
tướng sanh, trụ, dị, diệt rõ ràng, rời rạc trôi ra chẳng
ngừng, sát na sát na liên tục nối tiếp, đó là Ý Căn.
Khi
ý chẳng duyên ra, thức ngủ là một. Cầu lấy cái tướng
thức ngủ còn chẳng thể có, huống là có các tướng Sanh,
Trụ, Dị, Diệt sao ? Ngay khi cái ý cùng theo pháp tướng duyên
ra, thu nạp các tập khí vào trong đã thành ngay cái tướng
mỏi mệt. Thế nên cái Bồ Đề mà bất giác khởi động
để thành ra cái ý, thế là lọt vào chỗ mỏi nhọc của
thế trần.
Bộ
Tông Cảnh Lục(04) nói rằng : “Các giác quan níu giữ lấy
Cảnh bên ngoài, niệm niệm chảy vào cõi ý”.
Từ
ngoài đưa vào trong nên gọi là chảy ngược dòng. Cái ý đã
có chỗ duyên, tức “Thức xem trần cảnh thì nhớ”, gọi
làm cái sanh. Còn câu “Chảy không chỗ đến” là nói trong
khi ngủ mê, các căn không duyên với trần thì không có ngoại
trần chảy vào trong đất ý, ý cũng không có chỗ duyên gặp,
nên kinh nói “Khi ngủ thì hết nhớ mà quên”, đó là sự
diệt vậy.
Phân
ra như thế hình như là gượng ép, bởi vì trong ngủ cũng
có mộng, trong thức cũng có quên, nghĩa là thức hay ngủ đều
có hai tướng sanh và diệt, làm sao mà cho là khi thức chỉ
thuộc về sanh, còn ngủ chỉ thuộc về diệt ư ? Theo ngu ý
của tôi : cái Thấy, Nghe của tai, mắt thì thuận chiều ra
đến bên ngoài; còn cái Thấy, Nghe của ý căn thì ngược
chiều chảy vào trong. Khi ý căn hấp thu nội trần, mắt như
có thấy, tai như có nghe, ẩn hiện dường như không dấu vết,
chảy vào chỗ mà thấy, nghe không đến được, chỉ có ý
căn biết được mà thôi, chẳng phải là chỗ tai mắt đến
được vậy. Bởi thế, năm căn mỗi cái đều có vị trí
của nó, mà ý căn thì vô hình, chỉ nương gởi vào các tướng
thức, ngủ, sanh, diệt mà thôi. Lìa ngoài thức ngủ, sanh diệt
không lấy gì thấy cái ý được. Do đó, ở kinh không nói
“Nếu từ căn sanh thì hẳn không có thức, ngủ, sanh, diệt”,
mà lại nói “Nếu từ căn sanh thì hai tướng thức, ngủ
tùy theo cái ý mà có mở, khép”. Cái ý mà đã lìa ngoài
hai tướng này thì cái Ý Hay Biết này tuy có sanh, có diệt
cũng giống như không hoa, có chỗ nào để nương vào mà tỏ
bày cái ý ! Ý đã lìa hình tướng, hình tướng cũng rời
ý, rốt chẳng có tướng thức, ngủ, sanh, diệt làm sao có
tự tánh ư ? Nên mới nói do căn sanh ra là chẳng đúng vậy.
Mở Khép, hai chữ này hình dung hai tướng thức, ngủ rất
kỳ diệâu. Thức thì Hình mở ra, ngủ thì Hình khép lại.
Cái thức, ngủ, sanh, diệt này là cái chỗ ở của ý. Cho
nên kinh mới nói là “Lấy gì để làm ra cái ngủ mê ?”,
“Lấy ai mà thọ cái diệt ?”, thật chẳng phải là Trí
vậy. Thế là cái Ý Hay Biết này chẳng phải từ Nhân Duyên
sanh, chẳng phải từ Tự Nhiên mà sanh, tức đó là cái Bản
Thể của Vô Trụ, mà không gọi ấy là Diệu Chân Như Tánh
thì gọi là cái gì ?
Ban
đầu, Tổ Ngưỡng Sơn hỏi Tổ Quy Sơn : “Như sao là Trụ
Xứ Chân Thật của Phật ?”
Tổ
Quy Sơn nói : “Hãy suy nghĩ chỗ nhiệm mầu của cái Vốn
Không Suy Nghĩ, trở lại suy nghĩ chỗ Vô Cùng Linh Diệu, niệm
hết bèn đó là Nguồn, Tánh Tướng đều thường trụ, Sự
Lý không hai là Chân Phật Như Như”.
Ngài
Ngưỡng Sơn ngay dưới lời mà đốn ngộ.
Sau
này, có vị sư tên Tư Ích hỏi Tổ Ngưỡng Sơn : “Thiền
tông đốn ngộ, rốt ráo cái ý vào cửa là như thế nào ?”
Tổ
Ngưỡng nói : “Ý ấy rất khó. Nếu thật là môn hạ của
Tổ Tông, thượng căn thượng trí, một nghe ngàn ngộ, đắc
Đại Tổng Trì. Còn căn nhỏ, trí hèn nếu chẳng ở trong
thiền định thì đến vào trong ấy ắt phải hoang mang !”
Hỏi
: “Ngoài một đường ấy ra, lại còn có chỗ khác để vào
không ?”
Tổ
Ngưỡng đáp : “Có”.
Hỏi
: “Như sao là phải ?”
Tổ
nói : “Ông là người xứ nào ?”
Đáp
: “Người xứ U Châu”.
Hỏi
: “Ông còn nghĩ đến xứ ấy chăng ?”
Đáp
: “Thường vẫn nhớ nghĩ”.
Tổ
Ngưỡng nói : “Cái suy nghĩ ấy là tâm, cái chỗ suy nghĩ
là cảnh. Xứ ấy nào nhà cửa, vườn rừng, ngựa xe... đầy
dẫy. Ông hãy xoay sự suy nghĩ trở lại để suy nghĩ cái tâm
ấy, thật có bao nhiêu thứ đó chăng ?”
Đáp
: “Tôi đến trong ấy toàn chẳng thấy có gì !”
Tổ
Ngưỡng nói : “Tín vị thì phải, nhưng nhân vị thì chưa
phải”.
Hỏi
: “Ngoài cái ấy ra, riêng còn có ý hay không?”
Tổ
nói : “Riêng có, riêng không thì chẳng kham được vậy”.
Hỏi
: “Đến trong đó, làm gì là phải ?”
Tổ
Ngưỡng nói : “Cứ theo chỗ ông hiểu, chỉ được một cái
huyền, được an nhiên mặc áo, về sau tự xem”.
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Không
có ngoài, nên dung chứa
Không
có ngại, nên an hòa
Tường
vách chất ngất
Cửa
khóa trùng trùng
Rượu
thường vui mà dẹp khách
Cơm
tuy no mà chẳng cày
Độât
nhiên ra khỏi hư không, hề, cánh mầu cuốn gió
Đạp
lật lại biển cả, hề, sấm tiển rồng chơi”.
Bài
tụng này là Đầu sào trăm thước cần tiến bước. Không
thể chấp bám cảnh giới của ngộ, tự cho là đủ. Nếu
chỉ tuyệt không thấy có một lời, chỉ làm rỗng không ý
căn, thì đối với cái chỗ Chân Phật Như Như còn rất xa
lắm lắm.
G.
THU MƯỜI HAI XỨ
Kinh
: “Lại nữa, Anan, như sao là mười hai Xưù vốn là Như Lai
Tạng Diệu Chân Như Tánh ?
Thông
rằng : Mới đầu, ở trong năm Ấm thì dùng phép tỷ dụ để
phá tình chấp, vì ngũ Ấm vốn không, nếu không so sánh thì
khó hiển bày. Tiếp đến, ở trong sáu Nhập chỉ ra cái sự
việc giả để hiển bày cái vọng tướng của chúng. Sáu
Nhập vốn vọng, nên dùng vọng để dẫn đến vọng, có thể
suy ra mà thông hiểu. Đoạn này nói đến Mười Hai Xứ cho
đến đoạn sau là Bảy Đại thì lấy ngay cái cảnh thấy,
nghe trước mắt mà chỉ bày cái Như Lai Tạng Tánh của chúng.
Thật là mỗi cõi Phật độ, mỗi hạt trần rành rành không
hở sót vậy.
Đức
Tam Tổ Tăng Xán nói : “Chẳng ghét sáu trần. Liền đồng
Chánh Giác”, là đã thấy sâu xa chỗ này vậy.
Thiền
sư Kim Sơn Thiện Minh thượng đường nói với đại chúng
rằng : “Người xưa nói : Ở mắt là thấy, ở tai là nghe,
ở mũi là ngửi hương, ở lưỡi là bàn luận, ở thân là
cảm xúc, ở ý là bám níu. Tuy nhiên như thế là chỉ thấy
đầu dùi nhọn, chẳng thấy đầu đục vuông !
“Nếu
là Kim Sơn tôi ắt chẳng phải thế : Có mắt mà nhìn chẳng
thấy, có tai mà lắng chẳng nghe, có mũi mà chẳng biết mùi,
có lưỡi mà chẳng hề đàm luận, có thân mà chẳng biết
cảm xúc, có ý mà chẳng bám níu. Một niệm tương ưng, sáu
căn liền giải thoát. Dám hỏi các vị thiền đức : Thử
nói xem là đối với lời trước là đồng hay khác ? Nếu
có bậc cụ nhãn thì xin bước ra làm cho rõ thông tin tức.
Còn nếu không có, xin vì các ông mà giải nghĩa trùng trùng.
Buông mở ra thì riêng thông xe, ngựa. Nắm tóm lại thì mảy
lông cũng chẳng còn. Nếu là bậc thiền gia cự phách thì
kham hết mọi trái phải, phân chia”.
Một
đoạn chỉ bày này quả là cùng đoạn kinh trên trùng trùng
giải thích.
Kinh
: “Anan, ông hãy xem rừng cây Kỳ Đà và các suối ao đó.
Ý ông thế nào ? Như thế là sắc trần sanh ra cái Thấy hay
là cái Thấy sanh ra sắc tướng ?
“Anan,
nếu Nhãn Căn sanh ra sắc tướng, thì khi thấy hư không không
có sắc tướng lẽ ra cái tánh của sắc đã tiêu mất rồi.
Mà đã tiêu mất thì tỏ rõ hết thảy đều không. Sắc tướng
đã không thì lấy gì rõ được tướng hư không ? Đối với
hư không thì cũng như vậy.
“Lại
nếu sắc trần sanh ra cái Thấy, thì khi thấy hư không bèn
không có sắc, cái Thấy hẳn tiêu mất. Tiêu mất thì tất
cả đều không, lấy gì mà rõ được hư không và sắc tướng
?
“Thế
nên, phải biết cái Thấy cùng với sắc, không đều không
có xứ sở. Tức Sắc Trần và cái Thấy, cả hai Xứ đó đều
hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh
Tự Nhiên.
Thông
rằng : Ở đoạn trước dựa trên sáu Nhập để phá sáu căn
thì tuy dùng sáu trần để đối biện mà ý chánh vẫn ở
tại căn. Hiện đây là nói về Mười Hai Xứ, thì tuy là phá
cả căn lẫn trần, mà chánh là phá cái trần. Sau này, nói
về Mười Tám Giới, thì chỉ chuyên phá cái Thức. Đoạn
trước về sáu Nhập thì luôn luôn có câu “Đều là tướng
phát mỏi do chăm chú của Bồ Đề”, đó là từ trên Căn
mà nói. Đoạn này nói “Hãy xem rừng Kỳ Đà và các suối
ao” là từ trên Sắc mà khởi nói.
Nếu
nói là sắc sanh ra cái Thấy, thì chắc hư không chẳng sanh
ra cái Thấy. Vậy lấy cái gì giúp thấy sắc, lại rõ thấy
hư không ? Nếu nói là con mắt sanh ra sắc tướng, thì chắc
là nó không thể sanh ra tướng hư không, thì cái gì giúp hiển
bày sắc, lại hiển bày hư không ? Do đây mà nói : Con mắt
không thể sanh ra sắc, con mắt vốn tự tịch diệt, nào cùng
với sắc ư ? Sắc không thể sanh ra con mắt, sắc vốn tự
tịch diệt, đâu cùng với mắt ư ? Chỉ lấy hư không mà
hình dung ra sắc thì sắc trần tự phá. Cái Thấy cùng với
sắc, không đều không có xứ sở. Sắc là Không mà cái Thấy
cũng Không đó vậy. Sắc và cái Thấy đều Không, lấy gì
làm Nhân Duyên, lấy gì làm Tự Nhiên, thì chẳng gọi đó
là Tánh Chân Như sao ?
Xưa,
Tổ Ngưỡng Sơn chỉ con sư tử ở ngoài tuyết nói : “Có
vượt qua được cái sắc này không, nhỉ ?”
Tổ
Vân Môn nói : “Hiện giờ nên cùng nhau đẩy ngã cho xong”.
Ngài
Tuyết Đậu nói : “Chỉ biết đẩy ngã, chẳng biết đỡ
dậy”.
Ngài
Phật Giác tụng rằng :
“Một
sắc không qua chỉ bày người
Trong
cõi bạc trắng luống than van
Vượt
ngoài “xô ngã” và “đỡ dậy”
Cũng
tựa gió Đông đón sáng Xuân”.
(Nhất
Sắc vô quá chỉ thị nhân
Bạch
ngân thế giới lý tần thân
Siêu
nhiên thôi đảo hoàn phù khởi
Tranh
tợ Đông phong hú nhật tân).
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng : “Một ngã một dậy, sư tử sân
tuyết. Khéo không phạm đến nhưng chứa lòng nhân. Mạnh mẽ
ở chỗ làm mà thấy nghĩa. Ánh sáng trong suốt soi mắt mà
tựa người mê. Rõ ràng đổi thân sa vào địa vị. Là kẻ
thầy tu, rõ không nương gởi, cùng tử cùng sanh, nào đây,
nào đó ? Tin ấm nứt cây mai, hề, Xuân đến lạnh cành. Gió
mưa lay rụng lá, hề, Thu lặng mưa đầy”.
Tổ
Vạn Tùng nói : “Đã kêu là Sắc ắt cùng với con mắt mà
đối nhau. Cái Sắc vượt qua màu trắng, chỉ là một Vô Sắc,
nên không có với mắt đối nghịch”.
Tổ
Vân Môn nói : “Sở dĩ nói “Hiện nên cùng đẩy ngã”,
vì nếu hướng về chỗ trắng, chỗ không trắng mà nhận
lấy thì thật đã rơi vào trong cõi Vô Sắc. Ngài Tuyết Đậu
sở dĩ riêng chỉ ra một con đường để sống lại, ấy là
hướng về chỗ xô ngã mà dạy đỡ dậy”.
Tổ
Phật Nhãn nói : “Nếu ở trong ấy mà giúp đỡ nâng cho đứng
dậy thì liền sanh có thứ lớp”.
Như
các vị tôn túc đối với một sắc tướng nhỏ nhặt mà
còn cần phá sạch hết ráo, huống gì là trước mắt thấy
có đủ thứ sao ?
Kinh
: “Anan, ông lại nghe trong vườn Kỳ Đà này, khi thức ăn
dọn rồi thì đánh trống, khi chúng nhóm lại thì đánh chuông.
Tiếng chuông, tiếng trống trước sau nối tiếp nhau. Ý ông
thế nào ? Như vậy là cái Tiếng đến bên cái Nghe hay cái
Nghe đến chỗ cái Tiếng ?
“Anan,
nếu như cái tiếng đó đến bên cái Nghe, thì cũng như ta
khất thực trong thành Thất La Phiệt, ở rừng Kỳ Đà không
có ta nữa. Cái tiếng đó đã riêng đến bên cái Nghe của
Ông Anan, thì lẽ ra Ông Mục Liên, Ông Ca Diếp không cùng nghe
được một lần. Huống gì trong này có một ngàn hai trăm
năm mươi vị Sa môn, một khi nghe tiếng chuông thì đồng đến
chỗ ăn cơm cả.
“Lại
như cái Nghe của ông đến chỗ cái tiếng, thì cũng như ta
đã về rừng Kỳ Đà rồi, trong thành Thất La Phiệt không
còn ta nữa. Vậy, khi ông nghe tiếng trống, cái Nghe của ông
đã đến nơi tiếng trống rồi, thì khi có lúc tiếng chuông
phát ra, đáng lý ông không thể cùng nghe, huống nữa, ông
còn nghe được cả tiếng voi, ngựa, bò, dê và nhiều tiếng
khác. Còn nếu chúng không đi đến với nhau thì lại là không
có nghe gì cả.
“Thế
nên, phải biết rằng cái Nghe và cái Tiếng đều không có
xứ sở. Tức cái Nghe và Thanh Trần, hai Xứ đều hư vọng,
vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Câu “Cũng như Ta khất thực trong thành Thất La Phiệt,
tại rừng Kỳ Đà không có Ta nữa” để thí dụ cho cái
Tiếng đến bên cái Nghe, thì các chỗ khác không còn có cái
tiếng, vậy sao một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa môn lại
còn cùng nghe? Câu “Cũng như ta đã về rừng Kỳ Đà rồi,
trong thành Thất La Phiệt không còn có ta nữa” để thí dụ
cho cái Nghe đến chỗ cái tiếng thì các chỗ khác phải không
còn cái Nghe, vậy thì tại sao lại nghe tiếng voi, ngựa, bò,
dê và nhiều tiếng khác nữa ? Câu “Nếu không đi đến với
nhau” tức là rơi vào ngoan không. Nghĩa Nghe không thành lập
được, thì cái Tiếng và cái Nghe đều không có dấu tích.
Uyển chuyển mà cùng khắp, gặp chỗ đều thông suốt, có
xứ sở nào đâu? Cho là Nhân Duyên, thì không có chỗ Duyên.
Cho là Tự Nhiên, thì cũng chẳng có chỗ nào mà Tự. Ngay ấy
là hư vọng, bèn là không có gì chẳng phải là Chân Thể,
nên gọi đó là Tánh Chân Như Nhiệm Mầu vậy.
Tổ
Huyền Sa nhân có người đang tham học, nghe thấy tiếng chim
én, bèn nói : “Bàn sâu Thật Tướng, khéo thuyết Pháp Yếu
!”
Liền
xuống tòa giảng.
Khi
ấy, có một vị sư hỏi thêm : “Thưa, tôi chẳng hiểu”.
Tổ
Sa nói : “Đi đi, ai tin được ông !”
Lại
có Tổ Báo Từ lên tòa giảng, nghe chim tu hú kêu, bèn hỏi
nhà sư : “Tiếng gì thế ?”
Sư
đáp : “Tiếng chim tu hú”.
Tổ
Từ nói : “Nếu muốn không chiêu vô gián nghiệp, chớ báng
Như Lai Chánh Pháp Luân”.
Rồi
xuống tòa.
Tất
cả âm thanh là Phật Thanh. Thế còn hiểu được.
Còn,
Tổ Huyền Sa nói : “Trong chuông không có tiếng trống, trong
trống không có tiếng chuông, chuông trống chẳng có xen lẫn
nhau, mỗi mỗi không sau trước”.
Hiểu
thế nào ? Đây là ý chỉ Vô Sanh Duyên Khởi. Ngộ đó thì
cái chỗ nói là Thật Tướng, là Pháp Yếu, có thể thấy
rồi.
Kinh
: “Anan, ông hãy ngửi mùi hương chiên đàn trong lư này. Hương
ấy, nếu đốt đến một thù thì cả thành Thất La Phiệt,
trong bốn mươi dặm đều đồng thời ngửi được mùi thơm.
Ý ông thế nào ? Mùi thơm ấy sanh ra do cây chiên đàn, do nơi
mũi ông, hay sanh từ hư không ?
“Anan,
nếu mùi thơm ấy sanh ra do mũi ông, đã nói là từ mũi sanh
ra, tất phải từ lỗ mũi mà ra, lỗ mũi không phải chiên
đàn, làm sao trong lỗ mũi lại có được mùi thơm chiên đàn
? Lại đã gọi rằng ông ngửi mùi thơm, thì mùi thơm phải
vào trong lỗ mũi; còn nói là trong lỗ mũi phát ra mùi thơm,
nói thế là không đúng nghĩa. Nếu sanh ra do nơi hư không,
thì tánh hư không là thường còn, mùi thơm lẽ ra cũng phải
thường có, cần gì phải đốt cây chiên đàn khô trong lư
rồi mới có ? Nếu mùi thơm sanh ra từ cây chiên đàn, thì
cái chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói, nếu mũi ngửi
được là do khói xông đến mũi. Tại sao khói đó xông lên
khoảng không chưa được bao xa mà trong vòng bốn mươi dặm
đều đã ngửi thấy ?
“Thế
nên, phải biết Hương Trần và cái Ngửi đều không xứ sở.
Tức cái Ngửi và Hương Thơm, cả hai Xứ ấy đều hư vọng,
vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Cái Ngửi này cùng với Hương Thơm, chẳng phải mũi,
chẳng phải hư không, chẳng phải gỗ chiên đàn, tức là
cái Hương Xứ không có thật vậy. Thế nào mà trong vòng bốn
mươi dặm đồng thời ngửi thấy, thì cái sức đặc biệt
của mùi thơm cũng là không thể nghĩ bàn.
Táo
Bách Luận : “Cây chiên đàn Ô Lạc Ca : Ô Lạc Ca là tên
con rắn. Chiên đàn là cây thơm. Rắn này rất độc, nó hay
sợ nóng độc, thường quấn quanh cây thơm này thì độc khí
hết. Ý nói rằng nếu có chúng sanh nghe nói cái Hương mà
Tâm Cảnh đều không, vốn không thể tướng, không xứ sở,
không một pháp khá được, tin mà ngộ nhập thì tất cả
phiền não, độc khí tự nhiên đều thanh tịnh”.
Thiền
sư Hương Nghiêm Trí Nhàn(05) có bài kệ :
“Có
một lời, toàn quy củ
Định
suy lường, theo bọn xấu
Đạp
lên mà chẳng lầm, bèn tỉnh ngay xứ sở
Một
đời tham học, sự không thành
Ân
cần ôm được gốc chiên đàn”.
Bài
kệ này từ đây mà ra vậy.
Tổ
Chí Công(06) nói : “Trọn ngày lấy hương chọn lửa. Không
hay thân tức Đạo Tràng”.
Ngài
Thiên Đồng nêu ra : “Kẻ giỡn tinh hồn nào có giới hạn
?”
Ngài
Huyền Sa nói : “Suốt ngày lấy hương chọn lửa. Chẳng hay
Chơn Thật Đạo Tràng”.
Ngài
Thiên Đồng nêu ra : “Thật kỳ quái : tám mươi ông vào trường
ốc, chẳng phải là trẻ nhỏ giỡn chơi ? Thử nói cái lợi
cái hại ở chỗ nào ? Có Trí hay chẳng có Trí, so ra trong
ba mươi dặm đều đồng một tác dụng Vô Sanh, mới là có
chút hào ly biện biệt ở đây”.
Người
có trí hãy biện biệt.
Kinh
: “Anan, ông thường hai thời ở trong chúng cầm bình bát
khất thực. Trong đó, hoặc gặp những món tô lạc đề hồ,
gọi là vị quý. Ý ông thế nào ? Vị ấy sanh ra ở trong hư
không, do nơi cái lưỡi hay do nơi đồ ăn ?
“Anan,
nếu cái Vị ấy sanh ra do nơi cái lưỡi của ông, thì ở
trong miệng ông chỉ có một cái lưỡi. Cái lưỡi lúc ấy
đã thành vị tô rồi, nếu gặp cục đường phèn, lẽ ra
cái Vị không thay đổi. Nếu chẳng thay đổi thì không gọi
được là biết Vị. Còn nếu thay đổi thì cái lưỡi không
có nhiều tự thể, thì làm sao một cái lưỡi lại biết được
nhiều Vị Thể thế ?
“Nếu
Vị ấy sanh ra do nơi đồ ăn, thì đồ ăn không có sự Biết,
làm sao tự nó biết Vị ? Lại như đồ ăn tự biết, thì
cũng giống như người khác ăn, nào có dính dáng gì đến
ông, mà nói là ông biết Vị ?
“Nếu
Vị ấy sanh ra từ hư không, thì ông hãy nếm hư không xem
là Vị gì. Nếu hư không đó mà có Vị mặên, làm mặn lưỡi
ông, chắc cũng làm mặn cái mặt ông và mọi người trong
cõi này : cũng giống như cá biển, đã thường thọ nhận
cái mặn thì không còn biết cái vị nhạt là gì nữa. Nhưng
nếu không biết nhạt thì lại cũng không biết mặn. Tức
là không có chỗ Biết, sao gọi là biết Vị ?
“Thế
nên, phải biết : các Vị và Lưỡi Biết Nếm đều không
xứ sở. Tức cái Biết Nếm và các Vị, cả hai Xứ đều
hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh
Tự Nhiên.
Thông
rằng : Đoạn này chứng minh cái tánh của Vị, chẳng sanh
ra do nơi hư không, chẳng sanh ra do nơi Lưỡi, thì còn dễ
biết. Nhưng sao lại nói chẳng do món ăn sanh ra ? Vì, món ăn
chẳng có Thức, nó chẳng tự nói : Vị của tôi ngon, Vị
tôi dở. Phân biệt ngon, dở là thuôïc về căn lưỡi. Mà
căn lưỡi thì không có định thể, theo Vị mà dời đổi.
Đủ biết rằng: Vị tự là vị, lưỡi tự là lưỡi. Cả
hai đều lặng nhiên. Biết lưỡi cùng vị đều vắng lặng,
thì thật tin là chúng chẳng phải là Nhân Duyên, chẳng phải
là Tự Nhiên mà chính là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.
Thiền
sư Thần Đảnh Nhân có lần cùng với chúng Tăng đến miền
Tương Miện. Có một vị sư khởi bàn về Thiền rất trôi
chảy. Trong quán Dã Phạn Sơn đã bày xong thức ăn, mà nhà
sư luận nói vẫn chưa xong.
Tổ
Đảnh nói : “Ba cõi duy chỉ một Tâm, muôn pháp duy chỉ là
Thức. Duy Thức, duy Tâm, mắt thanh, tai sắc là lời của ai
thế ?”
Nhà
sư nói : “Lời của Tổ Pháp Nhãn”.
Tổ
Đảnh hỏi : “Nghĩa ấy như thế nào ?”
Sư
đáp : “Duy Tâm nên Căn và Cảnh không đến nhau. Duy Thức
nên Thanh, Sắc khua đánh”.
Tổ
Đảnh nói : “Cái Lưỡi, cái Vị có phải là Căn và Cảnh
không ?”
Nhà
sư đáp : “Phải”.
Tổ
Đảnh lấy đũa gắp rau bỏ vào miệng, giỡn cợt nói rằng
: “Nào gọi là tương nhập sao ?”
Người
ngồi chung quanh đều kinh hãi. Nhà sư chẳng thể đáp lại.
Tổ
Đảnh nói : “Cái vui dọc đường rốt cuộc chưa đến nhà.
Kiến giải dầu vi diệu cũng chẳng gọi là thấy đạo. Tham,
cần thật tham. Ngộ, cần thật ngộ. Diêm Vương chẳng sợ
chuyện nói nhiều”.
Vị
sư làm lễ mà cáo từ.
Tổ
Huyền Sa có lần ăn trái vải, hỏi đại chúng : “Trái vải
này cho là màu hồng ư ? Cho là màu đỏ ư ? Các ông làm sao
đây ? Nếu nói là một màu lại là mông lung; nói là nhiều
màu thì chỉ thành cái đoạn-thường(07). Các ông làm sao đây
?”
Sư
Ngạn Thao nói : “Đó chỉ vì Hòa Thượng phân biệt”.
Tổ
Sa nói : “Ngu si mơ hồ như thế có giao thiệp gì đâu ?”
Sư
Xung Cơ nói : “Hết thảy xưa nay chỉ là một màu”.
Tổ
Sa nói : “Đều là mơ hồ hết, có khi nào mà hiểu được
?”
Bèn
quay qua hỏi sư Kiểu Nhiên : “Ông nói thế nào ?”
Sư
Kiểu Nhiên nói : “Không thể không biết đó là trái vải”.
Tổ
Sa nói : “Thật chỉ là trái vải”.
Lại
nói : “Các ông như lâu nay ở trong Giá Lý (Tâm Pháp) của
tôi, cùng nói gì mà chẳng biện nổi trắng đen, không biết
lành dữ. Tôi luôn nói với các ông là : Dụng xứ chẳng hoán(08)
cơ. Nhân sao chỉ lo đối đáp, có giao thiệp gì đâu !”
Người
xưa nơi một miếng ăn, một thức uống đều cốt phát minh
chuyện hướng thượng. Mỗi mỗi đều như thế, há phải
ở chỗ đối đáp lưu loát. Cần phải thực ngộ mới cùng
người sáng mắt tương kiến vậy.
Kinh
: “Anan, buổi sớm mai ông thường lấy tay xoa đầu, ý ông
thế nào ? Trong việc biết xoa đó, lấy cái gì làm cái Biết
Cảm Xúc ? Cái Biết ấy ở nơi tay hay ở nơi đầu ?
“Nếu
nó ở nơi tay, mà cái đầu không biết, làm sao thành ra Cảm
Xúc ? Nếu nói ở nơi đầu, mà cái tay lại vô dụng thì làm
sao gọi là Cảm Xúc ? Nếu đầu lẫn tay mỗi cái đều có
cái Biết, thì một mình Anan lại có hai cái thân hay sao ? Nếu
đầu và tay đều do một Cảm Xúc sanh ra thì tay và đầu phải
là một tự thể. Mà nếu chỉ có một tự thể thì Cảm Xúc
không thành được. Còn nếu là hai thể thì Cảm Xúc ở phía
nào ? Ở bên Năng thì không ở bên Sở, ở bên Sở thì không
có ở bên Năng. Chẳng có lẽ là hư không tạo thành Cảm
Xúc cho ông ?
“Thế
nên, phải biết : Cảm Xúc và Thân Căn đều không xứ sở.
Tức cái Thân biết Cảm Xúc và cái Cảm Xúc, cả hai đều
hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh
Tự Nhiên.
Thông
rằng : Ở đây, chỉ rõ tánh Xúc là hư vọng, ở năng thì
chẳng ở sở, ở sở thì chẳng ở năng. Năng sở đều chẳng
phải, thì Xúc tức là Tánh Chân Như.
Kinh
Hoa Nghiêm nói : “Như thế, tự tánh như huyễn, như mộng,
như bóng dáng rốt chẳng thành tựu. Trong Tánh Chân Như các
pháp tùy duyên. Tuy là tùy duyên, các pháp quy tánh. Khi tùy
duyên thì hình như có hiện ra. Như xem làm huyễn thuật : không
có mà có. Như nhìn cảnh mộng : không thấy mà thấy. Như
xem ảnh trong nước : chẳng phải sanh ra, chẳng phải nhập
vào. Như nhìn bóng trong gương: chẳng trong, chẳng ngoài. Vì
Vô Tánh mà tùy duyên, nên Lý chẳng thành tựu. Vì tùy duyên
mà vô tánh, nên Sự chẳng thành tựu. Lý Sự không thành tựu
thì tất cả các pháp đều không thành. Cũng như trong chiêm
bao mộng thấy đánh võ với người : cũng có cảm nhận xúc
chạm, nhưng rốt ráo ai là người đánh, ai cảm thấy bị
đánh ? Thế nên, tất cả các pháp đều như thế cả”.
Tổ
Bửu Phước thấy có vị tăng đi lại, lấy cây gậy đánh
vào cây cột lộ trụ, rồi đánh vào đầu ông tăng.
Vị
này buông tiếng kêu đau.
Tổ
Phước nói : “Cái ấy vì sao chẳng đau ?”
Vị
tăng không đáp được.
Tổ
Huyền Giác nói thay rằng : “Ham đi thì chống gậy”.
Lại
còn Tổ Bửu Giác có lần hỏi Ông Chuyển Vận Phán Quan là
Hạ Ỷ rằng : “Ông nói Hữu Tình với Vô Tình đều cùng
một thể phải không ?”
Khi
ấy, có con chó nằm dưới bàn hương án, bèn lấy cây thước
đập xuống bàn hương án rồi lại đập con chó, nói : “Con
chó Hữu Tình thì chạy đi, bàn hương án Vô Tình thì vẫn
còn đó. Như thế nào là một thể được ?”
Ông
Hạ Ỷ không thể đáp.
Tổ
Bửu Giác nói : “Vừa mới tư duy liền thành dư pháp !”
Cái
hiểu biết của chư vị Thánh đời trước trao truyền cho
nhau đều là ý chỉ này.
Kinh
: “Anan, ông thường trong Ý duyên với ba tánh thiện, ác và
vô ký sanh ra có các pháp trần. Những pháp trần đó tức
nơi tâm mà sanh ra, hay là rời ngoài tâm mà có riêng nơi chốn
?
“Anan,
nếu tức nơi tâm thì các pháp không phải là trần cảnh,
như thế thì chúng không phải là cái sở duyên của tâm, làm
sao thành một Xứ được ?
“Nếu
rời ngoài cái tâm có riêng nơi chốn, thì bản tánh của pháp
trần là có biết hay không có biết ? Nếu có biết thì gọi
là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần
cảnh, thì cũng như là cái tâm của người khác. Còn nếu
nó tức là ông và cũng tức là tâm, thì làm sao mà cái tâm
ông lại trở thành hai ở nơi ông ?
“Nếu
không có biết thì cái pháp trần đó đã không phải là sắc,
thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không,
thì nó hiện ở chỗ nào ? Hiện nay, ở nơi Sắc Không, không
thể chỉ ra nó được, chẳng lẽ trong nhân gian lại có cái
ngoài hư không ? Không có cảnh sở duyên thì ý căn do đâu
mà lập thành một Xứ được ?
“Thế
nên, phải biết : Pháp trần cùng ý căn đều không xứ sở.
Tức ý căn và pháp trần cả hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng
phải tánh Nhân Duyên, cũng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Ba sự thiện, ác, vô ký ngay khi đối đãi với căn
thì các sự ấy đều thật, nên gọi là Thật Cảnh. Còn khi
không đối đãi với cảnh, chỉ có một mình ý thức duyên
mà thôi, bèn là bóng dáng của Thật Cảnh, nên gọi là Nội
Trần. Nội trần không ra ngoài ba tánh thiện, ác, vô ký duyên
ra Sắc Không, hết thảy pháp, nên cũng gọi là Pháp Trần.
Từ vô thủy đến nay, trong và ngoài huân tập lẫn nhau, nên
nói là “Sanh thành”.
Nếu
nói “Pháp tức nơi tâm”, thì tâm là năng duyên, pháp là
sở duyên làm sao mà tức được. Điều này dễ biện rõ.
Nếu nói “Pháp lìa ngoài tâm”, thì cái pháp này thật ở
đâu ? Cho pháp là có biết, thì đồng với tâm, mà đã đồng
với tâm bèn chẳng phải là trần cảnh vậy. Chẳng phải
trần mà lại khác với ông, mà vẫn phải gọi là tâm, tức
là cũng như tâm của người khác. Chẳng phải trần mà không
khác với ông, thì sao tâm ông lại thành hai ở nơi ông, mà
gọi đó là pháp trần vậy sao ? Do đó, lấy sự Có Biết
mà làm nơi chốn thì không thể được. Còn cho là Không Biết
thì pháp trần ấy lấy cái gì mà bày tỏ ra được ?
Pháp
trần đã chẳng phải là các tướng Sắc Không, lại chẳng
phải rời ngoài Sắc Không mà có riêng chỗ chứa lập. Ngoài
sắc có hư không, hư không thì chẳng có gì ở ngoài. Nếu
pháp trần có cái Xứ để cho tâm duyên được thì chắc là
hư không đã có cái ở ngoài nó. Nhưng hư không làm gì có
cái ở ngoài nó, thì tâm duyên vào đâu ?
Sở
dĩ tâm mà duyên với pháp, nghĩa là Sắc Không thì vô tri,
do tri mà hiển bày. Tri thì có phân biệt, bèn gọi đó là
pháp. Nay pháp đã vô tri, lại không nơi chốn, thì tâm tuy
là có biết, mà biết cái gì ? Do đó, lấy vô tri làm nơi
chốn cho pháp trần thì cũng không được. Chẳng phải có
biết, chẳng phải không có biết, thì Xứ do đâu mà lập
được ? Tức nơi tâm chẳng có pháp, lìa ngoài tâm cũng chẳng
có pháp, nên pháp trần không có tự tánh vậy. Thế thì chẳng
phải hư vọng sao ? Pháp không xứ sở thì ý căn là không.
Nên gọi đó là Diệu Chân Như Tánh vậy.
Thiền
sư Thanh Châu Pháp Bổn thượng đường, nói : “Khởi lên
âm thanh mà muốn bặt tiếng vang, đâu biết âm thanh là gốc
của tiếng vang. Giỡn bóng mà muốn trốn hình, đâu biết
hình là gốc của bóng. Lấy pháp hỏi pháp, chẳng hay pháp
vốn chẳng phải pháp. Lấy tâm truyền tâm, nào hay tâm vốn
vô tâm. Tâm vốn vô tâm, biết tâm như huyễn. Ngộ pháp chẳng
phải pháp, biết pháp toàn như mộng. Tâm, pháp không thực,
chớ giả dối truy cầu. Mộng huyễn, Không hoa nhọc gì nắm
bắt ! Đến vào trong ấy thì ba đời Chư Phật, một Đại
Tạng Giáo, lời lẽ Tổ Sư, Tôn Túc trong thiên hạ đều lộ
bày là đám dây leo, chùm gởi, trọn chẳng còn bám chấp.
Tại sao thế ? “Thái bình vốn chỗ tướng quân mong. Không
để tướng quân thấy thái bình””.
Bài
kệ trong kinh Tạp Hoa nói :
“Nhãn,
Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân
Tâm,
Ý các Tình Căn
Bởi
đó thường lưu chuyển
Mà
thật không người chuyển
Pháp
Tánh vốn không sanh
Thị
hiệân mà có sanh
Trong
ấy không Năng hiện
Cũng
không vật Sở hiện
Nhãn,
Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân
Tâm,
Ý các Tình Căn
Cả
thảy : Không, Vô Tánh
Vọng
tâm phân biệt : Có
Như
thế mà quan sát
Tất
cả đều Vô Tánh”.
Đại
ý đoạn này thật cùng với kinh mà hiển phát.
H.
THU MƯỜI TÁM GIỚI
Kinh
: “Lại nữa, Anan, như sao là Mười Tám Giới vốn là Như
Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh?
Thông
rằng : Đối với Trần thì gọi là Căn, Căn ở trong vậy.
Đối với Căn thì gọi là Trần, Trần ở ngoài vậy. Ở khoảng
giữa, mỗi mỗi phân biệt là cái Thức. Ba cái Căn, Trần,
Thức nương nhau mà thành lập, như cây lau gác lên nhau, nên
có tên là Mười Tám Giới. Ba cái ấy, có thì cùng có, không
thì cùng không, vốn không tự tánh. Đã không tự tánh, bèn
vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh vậy.
Thiền
sư Thùy Lộc Bổn Tiên thượng đường, nói : “Chỗ các Pháp
sanh ra là chỗ hiện bày của tâm”. Lời nói ấy thật là
cửa nẻo để vào. Thử hỏi các ông : mắt thấy hết thảy
sắc; tai nghe hết thảy thanh; mũi ngửi hết thảy mùi; lưỡi
nếm hết thảy vị; thân chạm hết thảy các thứ mềm, trơn;
ý phân biệt hết thảy các pháp. Vậy thì cái vật đối với
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chỉ duy là tâm các ông hay chẳng
phải là tâm các ông ? Nếu nói là duy chỉ tâm các ông, sao
chẳng cùng thân các ông làm thành một khối cho rồi ? Vì
sao các vật đối đãi ấy lại ở ngoài các Căn của các
ông ? Các ông nếu nói vật đối với mắt, tai, mũi, lưỡi...
chẳng phải là tâm các ông thì tại sao có câu “Chỗ các
pháp sanh ra là chỗ hiện bày của tâm” lưu truyền tại thế
gian, ai cũng nêu bày ? Các ông nghe lời yếu lý ấy, có hiểu
không ? Nếu không hiểu, hãy dụng tâm thương lượng để
được dạy cho mà hiểu, ở trong ấy chớ có lười biếng
học hỏi. Vô sự, hãy lui”.
Có
vị tăng hỏi Tổ Vân Cư : “Khi sáu cửa chẳng rõ thì như
thế nào ?”
Tổ
Cư nói : “Chẳng giao thiệp với duyên”.
Vị
tăng hỏi : “Thế nào là chuyện hướng thượng?”.
Tổ
Cư nói : “Người cẩn thận thì không giữ gìn”.
Ngài
Đầu Tử tụng rằng :
“Xuân
đến, người đá nhìn núi xa
Oanh
kêu, hoa gỗ sóng xanh nhàn
Nên
biết, ngoài mây, tùng, núi đẹp
Nghìn
xưa đón gió mặc năm hàn”.
Hai
câu đầu tụng về Chẳng giao thiệp với duyên. Hai câu sau
tụng về Chuyện hướng thượng. Cần rõ được sự hướng
thượng mới tin Mười Tám Giới vốn là Tánh Chân Như vậy.
Kinh
: “Anan, như chỗ ông bày tỏ : Nhãn căn và sắc trần làm
duyên, sanh ra Nhãn Thức. Cái Thức này là nhân nhãn căn sanh
ra, lấy nhãn căn làm Giới; hay nhân sắc trần sanh ra, lấy
sắc trần làm Giới ?
“Anan,
nếu nhân nhãn căn sanh ra, mà không có Sắc, có Không, thì
không thể phân biệt, dầu cho có cái Thức của ông cũng chẳng
làm gì. Cái Thấy của ông mà không có xanh, vàng, trắng, đỏ
thì không thể biểu hiện ra được, vậy do đâu mà lập ra
Giới ?
“Nếu
nhân sắc trần sanh ra, thì khi ở hư không, chẳng có sắc,
lẽ ra cái Thức của ông phải diệt mất, làm sao mà biết
đó là hư không ? Nếu khi sắc trần biến đổi, ông cũng
biết sắc tướng biến đổi, mà cái Thức của ông chẳng
biến đổi, thế thì do đâu mà lập sắc trần làm Giới ?
Nếu theo sắc mà biến đổi thì cái Giới không thành. Nếu
không biến đổi, tức là thường hằng, cái Thức đã từ
sắc sanh ra, lẽ ra không biết hư không ở chỗ nào.
“Nếu
do cả hai thứ nhãn căn và sắc trần chung nhau sanh ra, thì
hợp lại ắt ở giữa phải có chỗ lìa; còn như lìa, ắt
hai cái có thể hợp lại. Như thế, thể tánh xen lộn, làm
sao thành được Giới ?
“Thế
nên, phải biết : Nhãn căn, sắc trần làm duyên sanh ra Nhãn
Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là cả ba thứ Nhãn
Giới, Sắc Giới và Nhãn Thức Giới vốn chẳng phải tánh
Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Cái Mười Tám Giới này, chỉ phá sáu Thức. Nói cái
Thức này chẳng phải từ mắt sanh ra mà lấy mắt làm Giới,
vì Thức thì phân biệt, nhưng nếu không có Sắc, Không thì
phân biệt dùng vào đâu?
Cái
Thức này chẳng phải từ sắc sanh ra mà lấy sắc làm Giới,
vì sắc thì có biến diệt, Thức thì không đổi thay, nếu
chỉ từ sắc mà ra thì làm sao biện không ?
Thức
ấy cũng không nhân nhãn và sắc hợp lại mà làm ra Giới.
Vì một bên có Biết (nhãn căn) hợp với một bên không Biết
(sắc trần) ắt chống nhau, làm sao mà tương nhập ? Nên nói
“Ở giữa phải có chỗ lìa”.
Bảo
rằng lìa ngoài nhãn và sắc mà sanh ư ? Lìa căn tức là hợp
với cảnh, lìa cảnh tức phải hợp với căn, vậy Thức thuộc
bên nào ? Thế nên mới nói “Xen lộn”.
Ba
chỗ đồng chẳng phải, thì Giới ở đâu mà có ?
Tổ
Pháp Nhãn chỉ cây tre, hỏi vị tăng : “Thấy không ?”
Vị
tăng đáp : “Dạ, thấy”.
Tổ
Nhãn nói : “Tre đến trong mắt hay mắt đến bên tre ?”
Vị
tăng nói : “Đều chẳng phải như thế”.
Sau
này, Tổ Pháp Đăng riêng nói : “Khi ấy, chỉ nên bửa mắt
ra mà ngó thầy”.
Tổ
Quy Tông Nhu riêng nói rằng : “Hòa Thượng chỉ là chẳng
tin hai chuyển ngữ của tôi lại có hơi thở của thiền tăng”.
Lại
có vị tăng hỏi Tổ Thiên Đồng Khải : “Như thế nào là
con mắt ứng dụng không thiếu hụt ?”
Tổ
Đồng nói : “Vẹn giống như mù một thứ !”
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Mù,
ngọng, điếc, câm xa Thiên Chân
Mắt
tợ lông mày : Đạo mới gần
Đông
Quân đêm trước ngầm ban lệnh
Chốn
hoàng oanh hót liễu xanh xuân”.
Ở
chỗ này mà tin được thấu đáo thì mặc tình ứng dụng
không thiếu hụt.
Kinh
: “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Nhĩ căn và thanh trần
làm duyên, sanh ra Nhĩ Thức. Thức ấy nhân nhĩ căn sanh ra,
lấy nhĩ căn làm Giới, hay nhân thanh trần mà sanh ra, lấy
thanh trần làm Giới ?
“Anan,
nếu nhân nhĩ căn sanh ra mà không có mặt hai tướng động,
tĩnh thì cái biết của căn chẳng thành. Mà đã không biết
gì thì cái Biết còn không thành huống là cái Thức phân biệt
còn có hình dạng gì ?
“Nếu
nhân lỗ tai nghe, mà không có động, tĩnh cái Nghe cũng không
thành, làm sao lấy hình tướng lỗ tai trộn lẫn sắc trần,
mà gọi được là Nhĩ Thức Giới. Cái Nhĩ Thức Giới ấy
do đâu mà thành lập ?
“Nếu
nhân thanh trần mà sanh ra, thì cái Nhĩ Thức nhân thanh trần
mà có, bèn chẳng liên quan gì đến cái Nghe, mà đã không
nghe, thì cũng không biết các tướng thanh trần ở đâu. Nhĩ
Thức mà do thanh trần sanh ra, dầu cho rằng thanh trần do cái
Nghe mà có tướng, thì cái Nghe lẽ ra phải nghe được Nhĩ
Thức. Nếu không nghe được Nhĩ Thức thì thanh trần chẳng
phải là Giới của Nhĩ Thức. Còn nếu nghe được, thì Nhĩ
Thức cũng đồng với thanh trần. Nhĩ Thức đã bị nghe, thì
cái gì biết sự nghe được cái Nhĩ Thức đó ? Còn nếu không
ai biết thì rốt cuộc giống như cỏ cây.
“Chẳng
lẽ thanh trần và cái Nghe trộn lẫn thành ra cái Giới ở
giữa ? Giới không có ở giữa thì các tướng nội căn, ngoại
trần do đâu mà thành ?
“Thế
nên, phải biết : Nhĩ căn, thanh trần làm duyên sanh ra Nhĩ
Thức Giới, cả ba chỗ ấy đều không. Tức là ba thứ Nhĩ
Giới, Thanh Giới và Nhĩ Thức Giới vốn chẳng phải là tánh
Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Tiểu thừa cho rằng “Nhân Duyên sanh ra pháp”, lấy
đó làm thật có, chẳng hiểu được “Tức Không” nên Phật
căn cứ vào chỗ Nghe, Thấy thường ngày ấy mà phá bỏ.
Nếu
nhân nhĩ căn mà sanh ra, thì nhĩ căn có Thắng Nghĩa Căn và
Phù Trần Căn. Thắng Nghĩa Căn biết phân biệt, nhưng nếu
không có thanh trần tiếp xúc thì cái Biết còn không có, huống
là có hình tượng gì ? Phù trần căn thì dù có xen tạp với
sắc trần, mà nếu không có hai tướng động, tĩnh thì cái
Nghe còn không có, huống là có Thức Giới ! Cho nên, nếu nói
“Nhĩ Thức nhân Nhĩ Căn sanh ra”, là sai lầm.
Nếu
nhân thanh trần mà sanh ra, thế thì thanh trần đã tự có Nhĩ
Thức, cần gì đến tai nghe ? Đã không có người nghe, thì
ai phân biệt được các thanh trần ? Nếu nói nương nhau mà
sanh, cho là thanh trần nhân cái Nghe mà có tướng, thì cũng
phải cho rằng cái Nghe nhân thanh trần mà nghe được Nhĩ Thức.
Nhĩ Thức đã bị nghe, thì cũng chỉ là thanh trần, thì còn
cái gì làm năng tri để biết rằng đã nghe Nhĩ Thức ? Nếu
cùng cái Biết, thì thành ra có hai cái Thức ! Còn nếu không
có cái Biết, thì đồng với cỏ cây. Nên nói “Thức sanh
ra nơi Thanh Trần” là sai lầm vậy.
Nếu
nói rằng “Thanh Trần và cái Nghe hòa hợp mà sanh ra Nhĩ Thức”,
thì một bên là có Biết, một bên là không có Biết, giữa
khoảng Biết và Không Biết đó, làm sao mà trộn lẫn để
thành ra cái Giới ? Cái Giới ở giữa đã không có, thì Thức
không chỗ nương, thế thì nội căn, ngoại trần do đâu mà
thành lập ? Nên nói “Thanh Trần và cái Nghe hòa hợp mà sanh”
là sai lầm vậy.
Ba
chỗ đều không, thì Nhĩ Thức chẳng sanh, nên biết cái Nhĩ
Thức vô sanh ấy tức là Tánh Chân Như vậy.
Có
lần, Đức Thế Tôn đang ngồi dưới cây Ni Câu Luật, có
người đi buôn hỏi : “Ngài có thấy xe đi qua không ?”
Ngài
nói : “Chẳng thấy”.
Lại
hỏi : “Lại có nghe chăng ?”
Đáp
: “Chẳng nghe”.
Hai
người đi buôn hỏi : “Không thiền định sao ?”
Đáp
: “Không thiền định”.
Hỏi
: “Không phải ngủ sao ?”
Đáp
: “Không ngủ”.
Người
đi buôn tán thán : “Lành thay ! Lành thay ! Thế Tôn thường
biết mà chẳng thấy !” Bèn cúng dường lên hai cây vải
trắng.
Có
vị sư hỏi thiền sư Hà Trạch Thần Hội : “Khi cái thấy,
nghe chiếu thanh, sắc thì đồng thời hay có trước sau ?”
Tổ
Hội nói : “Đồng thời hay trước sau hãy để đó. Rốt
ráo, ông lấy cái gì làm thanh, sắc ?”
Vị
sư nói : “Như chỗ chỉ bày của thầy, thì không có thanh,
sắc nào khá được”.
Rồi
quỳ lạy mà đi ngay hôm đó. Sau sư ở ẩn tại núi Mông.
Có
vị Tam Tạng xứ Thiên Trúc tên là Thanh Minh đến xứ Mân.
Vua xứ Mân mời Ngài Huyền Sa đến để nghiệm luận.
Tổ
Sa lấy chiếc đũa sắt gắp lửa gõ vào cái lư đồng, rồi
hỏi : “Đó là tiếng gì ?”
Vị
Tam Tạng đáp : “Tiếng đồng-sắt”.
Tổ
Sa nói : “Đại Vương chớ để người ngoại quốc lừa dối
!”
Vị
Tam Tạng không đáp được.
Ngài
Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hợp với Lý thì đó là Thần
: gã nghèo được viên ngọc trong tay áo. Bị Tình gói kín
thì đó là Vật : người lực sĩ mất viên ngọc trên trán
! Vị Tam Tạng chỉ biết nhìn tới trước. Ngài Huyền Sa lại
chẳng thể ngó lui. Hiểu được chăng ? Đặt bày điều tội
cho người thì tội càng lớn”.
Cái
tắc công án này, các vị tôn túc nói rất nhiều.
Vị
Tam Tạng nói “Tiếng đồng-sắt” thì rõ ràng đuổi theo
thanh trần rồi vậy.
Tổ
Pháp Nhãn riêng nói : “Thỉnh Đại Sư làm Đại Vương”.
Tổ
Pháp Đăng riêng nói : “Hãy nghe Hòa Thượng hỏi !”
Tổ
Tuyết Đậu nói : “Chớ lừa dối người ngoại quốc thì
tốt”.
Ở
chỗ vị Tam Tạng không trả lời được, Ngài Pháp Nhãn thay
thế mà nói rằng : “Đại Sư đã hưởng thọ lâu rồi sự
cúng dường của Đại Vương”.
Tổ
Pháp Đăng nói thay : “Ấy là Hòa Thượng lừa dối Đại
Vương !” Câu nói này rất có ý vị, đó là chỗ Ngài Thiên
Đồng nói “Đặt bày điều tội cho người thì tội lại
càng lớn” đó vậy.
Cứ
theo ý Tổ Huyền Sa thì gọi cái gì là tiếng đồng-sắt ?
Còn theo ý vị Tam Tạng thì gọi cái gì chẳng phải là tiếng
đồng-sắt ? Hai lời này rất dễ lừa người. Phải mỗi
mỗi đều nhìn thấu mới chẳng bị người lừa.
Kinh
: “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Tỷ căn và hương trần
làm duyên, sanh ra Tỷ Thức. Thức ấy nhân tỷ căn sanh ra,
lấy tỷ căn làm Giới, hay nhân hương trần sanh ra, lấy hương
trần làm Giới ?
“Anan,
nếu nhân tỷ căn sanh ra, thì trong tâm ông, lấy cái gì làm
tỷ căn ? Lấy cái hình tướng mũi thịt như hai móng tay, hay
lấy sự ngửi biết lay động làm tỷ căn ?
“Nếu
lấy cái hình tướng mũi thịt, thì chất thịt là thân và
cái biết của thân là cái cảm xúc. Đã gọi là thân thì
không phải là lỗ mũi, gọi là cảm xúc thì thuộc về trần.
Vậy còn không có gì để gọi là tỷ căn, làm sao mà Giới
được thành lập ?
“Nếu
lấy cái Ngửi Biết làm tỷ căn, thì trong tâm ông lấy cái
gì làm cái biết ? Nếu lấy lỗ mũi thịt, thì cái biết của
chất thịt là xúc trần, chứ không phải là tỷ căn. Nếu
lấy hư không làm cái Biết, thì hư không ắt tự biết, còn
xác thịt lẽ ra chẳng biết. Như thế, lẽ ra hư không phải
là ông! Thân ông mà chẳng biết, thì Ông Anan hiện giờ chẳng
còn ở đâu nữa.
“Nếu
lấy cái hương làm cái biết, thì cái biết thuộc về hương
trần, nào dính dáng gì đến ông?
“Nếu
mùi thơm, mùi thối sanh ra do tỷ căn của ông, thì hai mùi
thơm, thối kia không sanh ra do cây y lan và cây chiên đàn, hai
vật đó không đến, thì ông tự ngửi lỗ mũi là thơm hay
thối ! Thối thì chẳng phải thơm; thơm thì không phải thối.
Nếu cả hai mùi thơm, thối đồng ngửi được cả, thì một
người ông phải có hai tỷ căn, đứng trước Ta hỏi đạo
lại có hai Anan, thế thì ai mới là cái thể của ông ? Nếu
tỷ căn là một, thì thơm, thối không hai. Thối đã thành
thơm, thơm đã thành thối, hai tánh đó đã không có, thì Giới
do đâu mà thành lập ?
“Lại
nếu nhân hương trần mà sanh, thì Tỷ Thức đã nhân hương
trần mà có, cũng như như nhân con mắt mà có Thấy, thì không
thể thấy con mắt : Tỷ Thức nhân hương mà có, lẽ ra không
biết được hương trần. Nếu biết được hương trần thì
không phải do hương trần sanh ra, còn nếu không biết được
hương trần thì không phải là Tỷ Thức. Hương trần mà không
biết là có, thì cái Giới của hương không thành. Tỷ Thức
mà không biết hương trần, thì cái Giới của nó không phải
do hương trần mà lập. Đã không có cái Thức ở khoảng giữa
thì nội căn, ngoại trần cũng không thành, thì các thứ Ngửi
Biết kia rốt ráo là hư vọng.
“Thế
nên, phải biết tỷ căn và hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ
Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là ba thứ Tỷ Giới,
Hương Giới và Tỷ Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân
Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Cái Mũi là Căn. Hương là Cảnh. Ở giữa hai cái ấy
là Thức. Phàm nói Giới là chuyên để chỉ Thức. Cái Thức
này không ở nơi Căn mà sanh, không ở nơi Hương mà sanh, đại
ý tương tợ, nhưng văn nghĩa có hơi phức tạp.
Mượn
cảnh để phá căn, thì Thức chẳng phải do hư không sanh,
mà là ở giữa. Ngay nơi cảnh mà phá căn, thì Thức chẳng
do hòa hợp mà sanh ra, cũng là dễ thấy. Ban đầu phá phù
trần căn, cái mũi thịt chẳng phải là cái Biết. Rồi phá
thắng nghĩa căn, lại không phải hư không là cái Biết. Nếu
cái Biết ở hương, thì can dự gì đến lỗ mũi ? Mà đã
sanh ở lỗ mũi thì cần gì đến vật ? Nếu đồng ngửi được
cả thơm thối, thì phải có hai mũi, vậy thì cái căn đâu
có đủ để căn cứ. Đã chỉ một cái mũi, sao lại có hai
mũi, vậy cái cảnh cũng không đủ làm bằng cớ. Do đó, nói
“Tỷ Thức do nơi Căn sanh”, là sai vậy.
Nếu
nói “Tỷ Thức do hương trần sanh ra”, thì đáng lẽ không
biết được hương, cũng như cái thấy do con mắt mà có ra
thì không thể trở lại thấy con mắt. Nếu nói là Biết,
thì hương trần tự có Thức, nào cần phải nói là sanh ra
? Nếu nói là không Biết, thì không thể gọi là Thức, thì
Giới do đâu mà lập ? Do đó, nói rằng “Thức do Hương Trần
sanh”, là sai lầm vậy.
Hương
trần đã không thể tự biết mùi của nó, thì căn với trần
lìa nhau, chứ không thể hợp được. Mà Thức nếu từ hương
trần sanh ra, thì chẳng thể biết hương trần. Còn biết được
hương trần, thì hẳn là chẳng phải từ hương sanh ra. Đó
là căn, cảnh lìa nhau, vốn chẳng nương nhau vậy. Nên nói
rằng “Tỷ Thức do Căn và Cảnh hợp nhau mà sanh”, là sai
lầm vậy.
Cái
Giới của hương không thành, thì không thể ở giữa. Đã
không có cái giữa, lấy đâu có trong, có ngoài ! Rõ là Tỷ
Thức hư vọng, vốn không xứ sở, bèn hiểu tánh Ngửi Biết
là Không, chẳng có tánh Nhân Duyên hay Tự Nhiên nào khá được.
Phẩm
Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm : Trưởng giả Chúc Hương Ưu
Bát La Hoa khéo phân biệt mà biết tất cả mùi hương, cũng
biết điều hòa tất cả Hương Pháp, cho đến nơi chốn bay
ra của Hương Vương. Lại khéo biết trị các bệnh của hương,
đoạn trừ các hương xấu, mà sanh ra Hoan Hỷ Hương, tăng
Trí Huệ Hương, diệt Phiền Não Hương. Khiến ở Vô Vi mà
sanh Ưa Luyến Hương, ở nơi Hữu Vi mà sanh Chán Lìa Hương,
xả bỏ các Kiêu Dật Hương, phát tâm Niệm Phật Hương, chứng
Giải Thoát Pháp Môn Hương, Thánh Sở Thọ Dụng Hương, Nhất
Thiết Bồ Tát Sai Biệt Hương, Nhất Thiết Bồ Tát Địa Vị
Hương.
Ngài
dạy : “Ta chỉ biết môn Điều Hòa Hương Pháp này, cũng
như các Bồ Tát lìa xa hết thảy các ác tập khí, chẳng nhiễm
thế dục, cầu cắt lìa lưới phiền não của bọn ma, vượt
khỏi các nẻo luân hồi. Lấy Trí Huệ Hương mà tự trang
nghiêm, nơi mọi thế gian đều không nhiễm trước, thành tựu
đầy đủ Giới “Không Chỗ Bám”, làm trong sạch Trí “Không
Bám”, Hành cái “Không Bám Cảnh”, nơi hết thảy chốn
đều không chỗ bám níu, tâm đều bình đẳng, không bám,
không nương”.
Xưa,
có một tôn giả đi qua hồ sen. Vị Thần sen trách rằng :
“Không được trộm hương thơm của tôi”.
Vị
tôn giả bèn hỏi : “Người đời qua lại, ai chẳng ngửi
mùi thơm, đâu chỉ một mình ta ngửi trộm sao ?”
Vị
Thần nói : “Người đời tán loạn tâm, nên chẳng gọi là
trộm. Tôn giả đây tâm trong sạch, nên có chút bám dính thì
chẳng được !”
Tỷ
Thức chưa dễ hàng phục vậy ! Thế nên, hộ trì cái Tâm
Vô Trước mà ngao du cõi đời, đó là “Khéo phân biệt mà
biết tất cả mùi hương”, thì không gì mà chẳng có thể.
Kinh
: “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Thiệt căn và vị trần
làm duyên, sanh ra Thiệt Thức. Thức ấy nhân thiệt căn sanh
ra, lấy thiệt căn làm Giới, hay nhân vị trần sanh ra, lấy
vị trần làm Giới ?
“Anan,
nếu nhân thiệt căn sanh ra, thì trong thế gian mía ngọt; mơ
chua; hoàng liên đắng; muối mặn; tế tân, gừng, quế hết
thảy đều không có Vị. Ông tự nếm cái lưỡi, là ngọt
hay đắng ? Nếu cái lưỡi là đắng, thì lấy cái gì để
nếm cái lưỡi ? Lưỡi chẳng thể tự nếm, thì lấy gì mà
có hay biết ? Nếu lưỡi không đắng, vị tự chẳng sanh ra,
làm sao lập thành Giới ?
“Nếu
nhân vị trần mà sanh ra, thì Thiệt Thức đã là vị rồi,
đồng như thiệt căn, không thể tự nếm, làm sao mà biết
là vị hay chẳng phải vị ? Lại tất cả các vị chẳng phải
do một vật sanh ra. Các vị đã do nhiều vật sanh ra, thì cái
Thiệt Thức nếu do vị trần sanh, cũng phải có nhiều tự
thể. Nếu Thiệt Thức là một thể và thể đó do vị sanh
ra, thì các vị mặn, nhạt, chua, cay, các tướng khác nhau này
phải chỉ là một vị, không thể phân biệt. Không có phân
biệt, thì không có Thức, làm sao còn gọi là Thiệt Thức
Giới ? Chẳng lẽ hư không sanh ra cái Thức Phân Biệt của
ông ?
“Thế
thì cái Thức ở giữa do thiệt căn và vị trần hòa hợp
mà sanh, vốn không tự tánh, làm sao mà cái Giới có được
?
“Vậy
nên phải biết : Thiệt căn, vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt
Thức, cả ba Xứ đều Không. Tức là Thiệt Giới, Vị Giới
và Thiệt Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên, chẳng
phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Ban đầu, bác bỏ “Nhân thiệt căn sanh”, là phá
cái lý Tự Sanh. Thứ hai là bác bỏ “Nhân vị trần sanh”,
là phá cái lý Cái khác sanh. Thứ ba là bác bỏ “Hư không
sanh”, là phá cái lý Không nguyên nhân mà sanh. Thứ Tư bác
bỏ “Lưỡi và vị hòa hợp mà sanh”, là phá cái lý Chung
nhau sanh. Tức ở trong đó, vốn không tự tánh, thiệt căn
chẳng thể tự nếm mùi, mùi vị cũng chẳng tự nếm biết,
thì Thức do đâu mà sanh ? Chính là hiển bày ý chỉ Vô Sanh.
Biết Thiệt Thức vốn Vô Sanh, thiệt căn vốn tự trong sạch,
tức là Diệu Chân Như Tánh vậy.
Xưa,
có vị thiền sư ăn uống hỗn tạp, không chọn lựa, nhiều
đệ tử bắt chước theo. Một bữa nọ, bày một bữa cúng
ở chỗ thiêu xác người chết, rồi lấy thịt thiêu còn sót,
gồm chung vào rồi ăn. Đệ tử đều ói mửa, chạy mất.
Sư
bèn nói : “Ta nhiều đời thanh tịnh, nên mới không chọn
lựa. Các ông có thể cùng với ta ăn món này, mới nên duy
trì việc ăn uống”.
Từ
đó, cả chúng sợ hãi mà lo vâng giữ Giới Luật.
Tổ
Tào Sơn cũng ưa rượu.
Có
vị tăng hỏi : “Áo linh không khoác thì như thế nào ?”
Đáp
: “Tào Sơn này trọn hiếu(09) !”
Hỏi
: “Trọn hiếu rồi thì như thế nào ?”
Tổ
đáp : “Tào Sơn khoái rượu từ Tôn Đảnh”.
Có
đệ tử tên là Thuế Thanh, bạch hỏi : “Đệ tử cô bần,
xin thầy cứu giúp”.
Tổ
Sơn gọi lớn : “Thuế Xà Lê !”
Sư
Thuế ứng tiếng : “Dạ !”
Tổ
Sơn nói : “Rượu Thanh Nguyên(10) trắng trong, uống rồi ba
chén sao còn bảo chưa thấm môi !”
Tổ
Huyền Giác nói : “Ở chỗ nào mà cho là có uống !”
Ba
tắc này là : Tánh của Vị vốn Không, Thiệt Thức cũng vốn
Không. Liễu đạt mới gọi rằng “Biết mùi vị”.
Kinh
: “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Thân căn và xúc trần
làm duyên sanh ra Thân Thức. Thân Thức này do thân căn sanh
ra, lấy thân căn làm Giới, hay nhân xúc trần sanh ra, lấy
xúc trần làm Giới ?
“Anan,
nếu nhân thân căn sanh ra, mà không có hai cảm xúc hợp và
lìa, thì thân căn còn biết gì? Nếu nhân xúc trần sanh ra,
mà không có thân căn của ông, thì có ai chẳng có thân mà
lại biết chuyện hợp, lìa được ?
“Anan,
vật thì không biết cảm xúc, thân căn có biết mới có cảm
xúc. Tức nơi cảm xúc, biết có thân. Tức nơi thân căn, mà
biết cảm xúc. Nhưng nơi Xúc, thì không phải là thân, nơi
thân thì không phải là Xúc. Hai tướng thân và xúc, vốn không
xứ sở. Nếu Xúc hợp với thân, thì làm thể tánh của thân.
Lìa thân thì chẳng có thể tánh nào, bèn như tướng hư không.
Nội căn, ngoại trần đã không thành, cái Thức ở giữa làm
sao mà lập ? Giữa chẳng lập được, trong ngoài đều là
Tánh Không, thì cái Thân Thức của ông do đâu mà lập thành
Giới ?
“Thế
nên, phải biết : Thân căn và xúc trần làm duyên, sanh ra Thân
Thức, cả ba chỗ đều Không. Tức là cả ba thứ Thân Giới,
Xúc Giới và Thân Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên,
chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Câu “Vật thì không biết cảm xúc”, nghĩa là vật
có thể chạm biết. Vật thì thật, cái Biết thì hư. Cái
thật với cái hư chẳng có tiếp xúc với nhau. Cho nên, vật
thì chỉ tiếp xúc với vật, không thể tiếp xúc với cái
Biết. Một chữ Biết này bày rõ ràng ra cái Pháp Thân trong
sạch, chẳng phải là chỗ mà sự chạm xúc có thể tới được.
Cái
Thân biết có cảm xúc là do sắc thân phân biệt mà Biết,
lấy hai chỗ hợp, lìa làm duyên. Cảm xúc không lìa thân căn,
thân căn cũng không lìa cảm xúc. Nhưng nói cảm xúc thì chẳng
phải là thân căn, nói thân căn thì chẳng phải là cảm xúc,
hai cái ấy thật là không thể xác định. Do đó, nếu hợp
lại thì chỉ có một thân thể, mà cái Cảm Xúc ở tại đâu
? Nếu lìa nhau, thì Xúc không còn, đồng như hư không vậy.
Cả hai đều không có ở đâu, trong ngoài đều không thành
tựu. Thân và Xúc đều không nơi chốn, thì Thân Thức do đâu
mà thành lập ? Đã không có cái Thức ở giữa, thì căn và
cảnh rốt ráo là không. Thế nên biết cái Thân Thức Giới
chỉ là hư vọng.
Thiền
sư Nam Nhạc Huệ Tư đã đắc túc mạng thông, bỗng nhiên
lại bị nghiệp chướng khởi lên, tay chân rũ liệt, không
thể đi đứng. Ngài tự nghĩ rằng : “Bệnh từ nghiệp sanh,
nghiệp từ tâm khởi. Nguồn tâm vốn chẳng khởi, ngoại cảnh
đâu có hình trạng gì? Bệnh, nghiệp và thân đều như bóng
mây !” Quán như thế, tướng điên đảo diệt, nhẹ nhàng
yên ổn như xưa. Như Ngài mới có thể nói là rõ thấu Thân
Thức là hư vọng vậy.
Thiền
sư Hưng Dương Phẩu nằm bệnh.
Ngài
Đại Dương đến thăm, hỏi : “Thân này như bọt huyễn,
mà có ở trong bọt huyễn mới thành biện xét. Nếu không
có cái bọt huyễn này, thì chuyện đại sự chẳng do đâu
mà nghiệm xét. Nếu muốn xét chuyện đại sự, thì Thức
lại giữ lấy cái bọt huyễn này, làm sao đây ?”
Tổ
Phẩu nói : “Vẫn còn là chuyện bên này”.
Đại
Dương hỏi : “Thế chuyện bên kia thì làm sao?”
Tổ
Phẩu nói : “Quanh đất vừng hồng đẹp, đáy biển chẳng
trồng bông”(11).
Đại
Dương cười nói : “Ông còn tỉnh táo không ?;
Tổ
Phẩu quát : “Sắp nói ta quên mất à !”
Rồi
liền tịch.
Như
Tổ Hưng Dương Phẩu có thể nói là thấu rõ cái Pháp Thân
Hướng Thượng Sự vậy.
Có
vị sư hỏi Ngài Đại Long : “Sắc thân thì hư hoại, như
thế nào là cái Pháp Thân kiên cố ?”
Tổ
Long nói : “Hoa núi nở dường gấm. Nước khe trong như lam”.
Ngài
Tuyết Đậu tụng rằng :
“Hỏi,
từng chẳng biết
Đáp,
lại chẳng hiểu
Trăng
lạnh gió cao, đỉnh xưa thông lạnh
Cười
vui thay
Giữa
đường gặp được người đắc đạo
Chẳng
lấy nói, im đối đãi cùng
Tay
cầm roi bạch ngọc đánh vụn ngọc Ly Châu
Đánh
chẳng nát, thêm dấu vết !
Nước
có hiến chương, thêm ba ngàn điều tội !”.
Theo
bài tụng này thì cái Kiên Cố Pháp Thân còn phải đập cho
nát, huống là cái Sắc Thân đó ư ?
Kinh
: “Lại như chỗ ông bày tỏ : Ý căn và pháp trần làm duyên,
sanh ra Ý Thức. Thức đó là nhân ý căn sanh ra, lấy ý căn
làm Giới, hay nhân pháp trần sanh ra, lấy pháp trần làm Giới?
“Anan,
nếu nhân ý căn sanh ra, thì trong ý ông chắc phải có chỗ
suy nghĩ mà phát rõ ra cái ý của ông; nếu không có các pháp
trần thì ý không có chỗ sanh ra. Lìa các duyên trần, ý căn
còn không có hình tướng, thì cái Thức đem dùng vào chỗ
nào ?
“Lại
cái Thức Tâm của ông cùng các sự nghĩ suy, các sự rõ biết
là đồng nhau hay khác nhau. Nếu đồng với ý căn, tức là
ý căn rồi, làm sao lại do ý căn sanh ra ? Nếu khác mà không
đồng với ý căn, thì lẽ ra không có biết gì. Nếu không
có chỗ Biết, thì làm sao lại do ý căn sanh ra ? Còn nếu có
chỗ Biết, làm sao biết được ý căn ? Khi hai tánh đồng
nhau và khác nhau đều không thành, Giới do đâu mà lập ?
“Nếu
Ý Thức do pháp trần sanh ra, thì các pháp trong thế gian không
ngoài năm Trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị,
xúc đối với năm căn đều có hình tướng rõ ràng, chẳng
phải chỗ thu nhiếp của ý căn. Nếu Ý Thức của ông quyết
định nương nơi pháp trần mà sanh ra, thì ông hãy xem xét
kỹ, mỗi pháp có hình trạng gì ? Nếu lìa ngoài sắc không,
động tĩnh, thông bít, lìa hợp, sanh diệt, vượt ngoài các
tướng này, rốt ráo là không chỗ đắc. Sanh thì các pháp
Sắc Không đều sanh ra, diệt thì các pháp Sắc Không đều
diệt. Các nguyên nhân đã không, thì cái thức có là do chúng
sanh ra, nào có hình tướng gì đâu ? Tướng trạng không thể
có, Giới do đâu mà sanh ?
“Thế
nên, phải biết : Ý căn, pháp trần làm duyên, sanh ra Ý Thức,
ba chỗ này đều không. Tức là ba thứ Ý Giới, Pháp Giới
và Ý Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải
tánh Tự Nhiên.
Thông
rằng : Cái Ý Thức Giới này là Tánh Hiểu Biết, Phân Biệt
của Thức Thứ Sáu. Đã lấy sự Biết do Phân Biệt làm tánh,
thì lìa ngoài pháp hẳn không có duyên, ý bèn chẳng sanh. Lìa
Duyên thì vô hình, vậy Ý Thức dùng vào đâu ? Thế thì cái
Thức duyên theo pháp này, rõ ràng không sanh ra nơi ý căn. Nếu
nói ý căn hay phân biệt mà sanh ra Ý Thức, vậy thì Thức
Thứ Bảy làm chỗ nương cho sự nhiễm, tịnh và Thức Thứ
Tám là Thức Tâm làm chỗ nương dựa căn bản của mọi Thức,
đối cùng Thức Thứ Sáu có tánh hiểu biết do phân biệt
là đồng hay là khác ?
Kinh
Lăng Già nói : Tâm (Thức Thứ Tám) hay tích nhóm Nghiệp Ý
(Thức Thứ Bảy), hay mở rộng sự tích nhóm, hiểu biết do
phân biệt gọi là Thức, đối đãi với hiện cảnh thì có
năm Thức.
Luận
Duy Thức nói : Tập Khởi gọi là Tâm, suy lường gọi là Ý,
hiểu biết cảnh gọi là Thức. Chỉ là một pháp mà khác
tên.
Đã
duy chỉ một pháp, đều có thể gọi là Tâm, đều có thể
gọi là Ý, đều có thể gọi đó là Thức.
Nhưng
sự tinh vi ấy có thể biện biệt, có nhiều thứ ấy mà đặt
tên vậy.
Ở
trong Thức Thứ Tám, Ý và Thức đều không còn, nên chỉ có
thể gọi là Tâm.
Ở
Thức Thứ Bảy, chẳng phải Tâm, chẳng phải Thức, chỉ có
thể gọi là Ý.
Ở
Thức Thứ Sáu, thì Tâm và Ý đều đối đãi với Cảnh, nên
gọi là Thức Phân Biệt sự vật.
Kỳ
thật chỉ là một. Như biển khởi sóng : không khác cũng không
không khác. Thức Thứ Sáu đuổi theo Trần sanh ra Gió Cảnh
Giới, liền khởi động các sóng Suy Lường của Thức Thứ
Bảy, mà thật chẳng rời cái biển lặng chứa của Thức
Thứ Tám. Ba Thức này chẳng phải đồng, chẳng phải khác,
cứ hãy tạm để đó.
Bây
giờ, nói về chuyện Ý sanh ra Thức. Nếu nói Thức đồng
với Ý thì Thức là Ý, làm sao gọi Ý là cái Năng Sanh và
Thức là cái Được Sanh ? Nói là đồng thì không được vậy.
Nếu nói Thức khác với Ý, hoàn toàn chẳng đồng thì một
cái thuộc hữu tình, một cái thuộc vô tình, lẽ ra không
có chỗ Biết, vậy bảo khác nhau thì không thể được. Nếu
không có chỗ Biết, thì chắc chẳng phải do Ý sanh. Ý phân
biệt được cái chỗ Sở Sanh thì phải có cái Thức ở trong
ấy. Nếu có chỗ để biết, thì khi Ý sanh mà không có pháp
nào để duyên, thì chỉ có cái Ý làm sao mà tự biết cái
Ý ? Nếu cho là Biết cái Ý, thì cái Ý trở lại thành cảnh,
không còn là căn được. Nếu không biết cái Ý, lại giống
như không có Thức, thì sao nói là Ý sanh Thức?
Rời
ngoài pháp mà tìm cái Thức, rất khó hình dung : nếu nói là
đồng, thì không còn có thể gọi là Sanh ra; nếu gọi là
khác thì không thể gọi được là Thức. Thế là hai tánh
đồng nhau, khác nhau đều không thành tựu. Thức không có
chỗ định, Giới làm sao lập thành ? Do đó mà nói Thức do
căn sanh là hư vọng vậy.
Nếu
nói Thức duyên với pháp trần mà hiện, nhân pháp mà có sanh
ra, thế thì phải có pháp khá hình dung ra được rồi mới
có thể làm Nhân. Nay các pháp của thế gian chẳng thể ngoài
năm trần, đối đãi năm căn, và làm cái sở nhân của năm
Thức. Ý có thể lìa ngoài năm Trần này mà riêng có tướng
trạng của các pháp để làm sở nhân không ? Cái nội cảnh
mà Ý tự duyên, tuy không nhờ năm căn bên ngoài nhưng rốt
cuộc không thể ra khỏi bóng dáng của Sắc Không, sanh diệt...
các pháp. Dầu có duyên các pháp xuất thế gian là Phi Sắc,
Phi Không, Bất Sanh Bất Diệt nhưng cái phi sắc phi không cũng
do Sắc Không mà hiển, cái bất sanh bất diệt cũng do sanh
diệt mà bày. Rốt là chẳng có thể rời ngoài Sắc Không,
sanh diệt mà có riêng được cái pháp trần để làm nhân
sanh Thức. Ở nơi năm Trần mà tìm pháp thì Trần là nhân
của ngũ căn, chẳng phải là nhân của Ý. Mà rời năm Trần
để cầu pháp, thì không có pháp nào để được. Đã không
thể đắc, thì không có Nhân vậy. Nhân mà không có, lấy
gì sanh ra ? Nếu không có Nhân mà nói là có Thức sanh ra, thì
Thức này chẳng thể nào phân biệt các pháp. Còn nếu phân
biệt được các pháp thì tạo ra được tướng trạng gì
? Tướng trạng không có, Thức thật chẳng sanh. Nên nói là
nhân pháp mà Thức sanh là sai lầm vậy. Đã chẳng phải Ý
sanh, lại chẳng phải Pháp sanh, thì Ý Thức ở tại chốn
nào ? Không có nơi chốn, tức là chốn Chân Thật vậy.
Xưa,
Thượng Tọa Quốc Thanh Tịnh hỏi Tổ Trường Sa : “Như trong
kinh dạy : không thể lấy cái tâm có chỗ biết mà đo lường
nổi cái Tri Kiến Vô Thượng của Như Lai, thế thì làm sao
?”
Tổ
Sa nói : “Ông hãy nói xem : cứu xét cho cùng cái tâm có chỗ
biết này, lại có đo lường nào được nổi chăng ? Theo đó
mà tin nhập”.
Sau
này, có vị tăng hỏi : “Đệ tử mỗi đêm ngồi thiền,
tâm niệm tán loạn, chưa biết cách nào nhiếp phục. Xin thầy
chỉ bảo”.
Ngài
Quốc Thanh Tịnh trả lời : “Nếu ban đêm ngồi tịnh mà
niệm niệm lăng xăng, thì lấy cái tâm lăng xăng đó cứu
xét cái chỗ lăng xăng. Thấy là nó không có xứ sở, thì
cái tâm niệm lăng xăng đó đâu còn ! Cứ xét ngược lại
cái tâm, thì cái tâm cứu xét đó đâu có tại chỗ nào. Trí
chiếu soi vốn không, cái cảnh để duyên cũng tĩnh lặng vậy.
Chiếu mà chẳng chiếu, tuyệt không có cảnh để chiếu soi
vậy. Cảnh, Trí đều tịch diệt, tâm lượng an nhiên. Ngoài
chẳng tìm cầu lấy sự tán loạn, trong chẳng trụ nơi định
tĩnh. Hai đường dứt bặt, một Tánh suốt nhiên. Đây là
yếu đạo về nguồn vậy”.
Tổ
Dược Sơn đang ngồi, có vị tăng hỏi : “Ở cái chỗ bằng
phẳng, suy nghĩ cái gì ?”
Tổ
Sơn nói : “Suy nghĩ cái thật chẳng có suy nghĩ”.
Hỏi
: “Cái chẳng suy nghĩ đó, làm thế nào suy nghĩ ?”
Tổ
Dược Sơn nói : “Tuyệt chẳng suy nghĩ !”
Có
vị tăng hỏi thiền sư Thục Châu Tây : “Thế nào là chỗ
Phi Tư Lượng ?”
Ngài
đáp : “Ai thấy một chấm trong đêm tối giữa hư không ?”
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Một
điểm linh minh, sáu chẳng thâu
Rõ
thay, nào phải sững mắt vào
Tin
tức trong kia, người khó rõ
Chỉ
có hư không một điểm mù”.
(Nhất
điểm linh minh lục bất thâu
Chiêu
nhiên hà dụng cánh ngưng mâu
Cái
trung tiên tức nhân nan ủy
Độc
hữu hư không ám điểm đầu).
Cho
nên, rõ được chỗ Tâm Thức chẳng thể đến được, bèn
thấu suốt nguồn cội của Thức vậy.
I.
THU BẢY ĐẠI
Kinh
: Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, Như Lai thường nói
về Nhân Duyên Hòa Hợp rằng : Tất cả các thứ biến hóa
trong thế gian đều do bởi bốn Đại hòa hợp mà phát hiện
ra. Thế sao Như Lai đều bài bác cả hai nghĩa Nhân Duyên và
Tự Nhiên ? Nay tôi không biết nghĩa ấy thế nào, xin Phật
rủ lòng thương xót khai thị cho chúng sanh nghĩa rốt ráo của
Trung Đạo, không còn các pháp hý luận”.
Lúc
bấy giờ, Thế Tôn bảo Ông Anan rằng : “Trước ông đã
chán lìa các pháp Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên Giác mà phát
tâm quyết cầu Bồ Đề Vô Thượng, nên ta nay vì ông mà khai
thị cái Đệ Nhất Nghĩa Đế, sao ông lại còn đem những
thứ vọng tưởng Nhân Duyên, hý luận của thế gian mà tự
trói buộc ? Ông tuy là nghe nhiều mà như người nói tên vị
thuốc, đến khi thuốc thật ở trước mắt lại chẳng hề
phân biệt được. Như Lai bảo thế thật là đáng thương
xót ! Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt khai thị.
Cũng để cho những người tu Đại Thừa mai sau thông đạt
cái Thật Tướng”.
Ông
Anan lặng yên, kính vâng Thánh Chỉ của Phật.
Thông
rằng : Ông Anan mong Thế Tôn khai thị Trung Đạo. Nếu cho thật
tại là Nhân Duyên Hòa Hợp của thế gian, thì mắc vào Có
(Hữu). Nếu bài bác cả hai thứ Nhân Duyên và Tự Nhiên thì
lại chìm đắm vào Không. Cái chẳng phải Có, chẳng phải
Không mới là Trung Đạo. Ông không biết cái Bồ Đề Vô Thượng
là cái Trung Đạo không chỗ bám nắm, mới là Đệ Nhất Nghĩa
Đế vậy. Cái Đệ Nhất Nghĩa Đế này siêu khỏi mọi Ấm,
Nhập, Xứ, Giới chẳng phải phải tánh Nhân Duyên, chẳng
phải tánh Tự Nhiên. Thấy các Tướng chẳng phải Tướng,
tức đó là Đại Thừa Thật Tướng.
Ông
Anan muốn rời bỏ Tiểàu Thừa mà cầu cái Bồ Đề Vô Thượng.
Nay chỉ cho đó là Tánh Diệu Chân Như, thì hoang mang ngơ ngác,
chẳng hiểu ra sao, như người nói ra tên thuốc, mà cái chơn
dược ở ngay trước mắt lại chẳng có hay. Thật đáng thương
xót ! Than ôi, thuốc nào có dễ biết !
Bồ
Tát Văn Thù một ngày nọ bảo đồng tử Thiện Tài đi hái
thuốc.
Ngài
nói : “Cái gì là thuốc hãy hái mang về”.
Thiện
Tài xem khắp đại địa không có gì chẳng phải là thuốc,
trở về bạch rằng : “Không có cái gì mà chẳng phải là
thuốc”.
Ngài
Văn Thù nói : “Cái gì là thuốc hái mang về đây”.
Thiện
Tài bèn ngay trên mặt đất ngắt lên một cọng cỏ, đưa
cho Ngài Văn Thù. Ngài Văn Thù cầm lấy, đưa lên cho đại
chúng xem, rồi nói : “Thuốc này cũng hay giết người, cũng
hay cứu người”.
Tổ
Vân Môn nói : “Thuốc và bệnh hiện hữu vì nhau, khắp cõi
đất là thuốc, cái gì là tự kỷ ?”
Ngài
Tuyết Đậu tụng rằng :
“Khắp
cõi đất là thuốc
Xưa
nay sao quá lầm
Đóng
cửa chẳng làm xe (để dùng)
Đường
thông tự trống rộng
Lầm,
lầm !
Lỗ
mũi xa trời cũng xuyên suốt !”.
Theo
ý bài tụng ngày thì chân dược hiện tiền ấy cũng cần
mửa ra hết, huống là cái chuyện chẳng thể phân biệt của
Anan !
Kinh
: “Anan, như chỗ ông nói : Tứ Đại hòa hợp phát hiện ra
các thứ biến hóa trong thế gian. Anan, nếu các Đại ấy tánh
chẳng phải hòa hợp thì không thể trộn lẫn với các Đại
khác, cũng như hư không không thể hòa hợp được với các
sắc. Nếu tánh của các Đại là Hòa Hợp, thì cũng đồng
như các thứ biến hoá, trước sau hóa thành lẫn nhau, sanh
diệt nối nhau, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt
diệt như vòng lửa quay tròn, chưa hề ngừng nghỉ. Anan, như
nước thành băng, băng trở lại thành nước.
Thông
rằng : Nếu nói tứ Đại chẳng phải hòa hợp, thì chẳng
phải nghĩa Chân Như tùy duyên, đồng như ngoan không mà thôi.
Nếu nói tứ Đại nhất định phải hòa hợp, thì chẳng phải
là nghĩa Chân Như bất biến, giống như biến hóa mà thôi.
Như nước thành băng, băng trở lại thành nước, tứ Đại
vốn là Như Lai Tạng Tánh, chẳng phải ngoài nước mà có
băng. Nước hòa với cái gì mà thành băng ? Băng hòa với
cái gì mà thành nước ?
Vốn
chỉ là một vật, không có cái gì khác hòa lẫn vào. Tìm
cầu tướng hòa hợp rõ là chẳng thể có, do đó, thật chẳng
phải hòa hợp mà cũng chẳng phải không hòa hợp. Chỉ vì
mê thì Chân Như là bốn Đại: như nuớc thấy thành băng.
Ngộ, thì tứ Đại là Chân Như : như băng vốn là nước.
Nước vốn là một mà thôi vậy.
Có
vị tăng hỏi Tổ Lâm Tế : “Thế nào là bốn cảnh vô tướng
?”
Tổ
Lâm Tế nói : “Ông khởi một niệm tâm Nghi, bèn bị Đất
ngăn ngại. Ông khởi một niệm tâm Ái, bèn bị Nước nhận
chìm. Ông khởi một niệm tâm Sân, liền bị Lửa cháy thiêu.
Ông có một niệm tâm Hỷ, liền bị Gió thổi bay. Nếu hay
rõ ràng được như thế, Cảnh nào trói buộc nổi ? Chốn
chốn đều dùng được Cảnh : Đông mọc Tây lặn, Nam mọc
Tây chìm, giữa nổi bên chìm, bên nổi giữa chìm. Đi trên
nước như trên đất, vào đất như nước. Do sao mà vậy ?
Vì thấu suốt bốn Đại như mộng như huyễn vậy. Này các
đạo lưu ! Nay đây cái nghe pháp là ông, chẳng phải là tứ
Đại của ông, mà hay dùng tứ Đại của ông. Thấy được
như thế, thì bèn đi hay ở đều tự do”.
Xem
như lời Tổ Lâm Tế thì đi đâu cũng là nước, làm gì có
băng đâu ?
Tổ
Dược Sơn nhân có thí chủ cúng dường bộ thường phục.
Đưa ra trước chúng, nói rằng : “Pháp Thân có đủ bốn
Đại hay không ? Nói được, thì cho một áo lá”.
Ngài
Đạo Ngô nói : “Tánh đất chẳng phải là Không. Không chẳng
phải là tánh đất. Đó là Đại Địa. Ba Đại kia cũng thế”.
Tổ
Sơn nói : “Cho ông một cái áo lá”.
Chỗ
thấy của Ngài Đạo Ngô sao lại trái ngược với kinh này
? Thử tham xem !
Kinh
: “Ông hãy xét cái tánh của Địa Đại : thô lớn thì làm
đất liền, nhỏ nhặt thì làm vi trần, cho đến lân hư trần,
do chia chẻ cái sắc cực vi nhỏ nhất làm bảy phần mà thành.
Nếu chẻ lân hư trần nữa, thì thật là tánh hư không.
“Anan,
nếu cái lân hư trần đó chẻ ra thì thành hư không, vậy
thì biết hư không sanh ra sắc tướng. Nay ông hỏi rằng :
Do hòa hợp mà sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, thì
ông hãy xét một cái lân hư trần dùng bao nhiêu hư không hòa
hợp lại mà có ? Không lẽ lân hư trần hợp lại thành lân
hư trần ? Mà lân hư trần đã chẻ ra được thành hư không,
thì dùng bao nhiêu sắc tướng để hợp thành hư không ? Nếu
sắc hợp lại thì hợp sắc không thể thành hư không. Nếu
hư không hợp lại, thì hợp hư không làm sao ra thành sắc
? Sắc có thể chẻ ra được, chứ hư không làm sao mà hợp
lại được?
“Ông
vốn chẳng biết, trong Như Lai Tạng : Tánh Sắc là Chân Không,
Tánh Không là Chân Sắc, bản nhiên thanh tịnh, tròn khắp pháp
giới, tùy tâm chúng sanh ứng ra chỗ hay biết, theo nghiệp
mà hiện bày. Thế gian không biết, lầm cho là Nhân Duyên hay
Tự Nhiên. Đó đều là thức tâm phân biệt, đo lường : chỉ
có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.
Thông
rằng : Bài tụng Pháp Giới rằng :
“Có
ai muốn biết lý Chân Không
Chân
Như trong tánh hiện khắp ngoài
Tình
với vô tình chung một thể
Chốn
chốn đều đồng Pháp Giới Chơn !”.
Đây
là yếu chỉ của bảy Đại.
Chân
Không là cái Thể Nhất Như vậy. Bảy Đại là cái Dụng duyên
theo nghiệp vậy. Thể, Dụng không hai, nương nhau mà hiển,
chẳng lìa Diệu Tánh, nên mỗi mỗi đều là Tánh. Duy chỉ
một Tánh. Không là Tánh Không, Sắc là Tánh Sắc, bèn Tức
Không, Tức Sắc, đó là Diệu Hữu, đó là Diệu Chân Như
Tánh vậy. Không sa vào Hữu, Vô nên nói là thanh tịnh, mà
chưa từng chẳng Hữu, Vô nên gọi là Bản Nhiên. Là trong
sạch, tức nhân duyên chẳng thể ô nhiễm. Là Bản Nhiên,
tức chẳng phải hòa hợp mà thành. Cái gì mà từ nhân duyên
hay hòa hợp sanh, đó chỉ là hình tướng, có nơi chốn làm
sao mà đầy khắp pháp giới ? Duy chỉ chẳng từ nhân duyên
hay hòa hợp mà sanh thì không hình tướng, không xứ sở nên
toàn khắp pháp giới. Toàn khắp pháp giới là Tánh, thì có
gì chẳng phải là Thất Đại ? Toàn khắp pháp giới là Thất
Đại thì có gì chẳng phải là Tánh ?
Tâm
Như Lai chỉ một vị Thanh Tịnh, chỉ một vị Bản Nhiên,
chỉ một vị Toàn Khắp nên không thể biết, không thể lường.
Tâm của chúng sanh thì ở nơi cái Thanh Tịnh ấy lại có thời
gian mà ô nhiễm. Ở trong cái Bản Nhiên ấy lại có thời
gian mà chẳng như nhiên. Ở trong cái Toàn Khắp ấy, lại có
thời gian mà hạn hẹp. Tùy cái tâm năng tri, xứng vừa với
cái lượng sở tri. Biết cho lắm thì tích tụ thành nghiệp,
nghiệp tích tụ thành quả, có thiện, có ác mà biến tạo
ra cái Y Báo, Chánh Báo mười cõi. Tâm của chúng sanh tán loạn
không bờ nên nghiệp của chúng sanh cũng đầy dẫy không bờ.
Tâm ấy nếu không có cái Tánh Toàn Khắp pháp giới làm Thể
thì làm sao tùy nghiệp mà phát hiện, để càng phát ra thì
càng vô cùng ư ?
Nghiệp
lực của chúng sanh mỗi mỗi chẳng đồng. Nhưng đồng ở
trong cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên, một mảy lông cũng chẳng hề
thêm bớt, nên nói rằng xuẩn động hàm linh đều có Phật
Tánh. Thế gian mê lầm chẳng ngộ Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp
Duy Thức. Thế nên, ở nơi những sự việc phát hiện ra theo
nghiệp, thấy ra là có nhân duyên sanh, mà làm cho là tánh nhân
duyên; còn thấy ra là không có nhân duyên sanh thì lầm cho
là tánh Tự Nhiên. Chẳng rõ cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên thì
sự Có Không đều lìa, cả Nhân Duyên hay Tự Nhiên đều không
có ở nơi nào để bám níu.
Nói
là Nhân Duyên sanh ư ? Thế thì lân hư duyên với cái gì để
sanh ra hư không, hư không duyên với gì mà sanh ra lân hư ?
Chỉ có hư không duyên với hư không, chỉ có sắc mới duyên
với sắc. Dù cho lân hư chẻ ra thành hư không, thì phải bao
nhiêu hư không để hiện thành lân hư. Lân hư chẳng phải
do hư không mà có, thì hư không cũng chẳng phải nhân lân
hư chẻ thành. Sắc, Không đã chẳng thể sanh lẫn nhau, thì
sự sanh ra của Đại Địa là vô tự tánh.
Thế
nên, nói Nhân Duyên hòa hợp sanh là sai lầm vậy.
Nói
là Tự Nhiên sanh ư ? Hư không nào có vô cớ mà có hư không,
sắc nào có vô cớ mà có sắc. Chẳng có nhân chẻ lân hư,
thì nào có thấy được hư không ? Chẳng nhân gom tụ lân
hư, làm sao thành Đại Địa ? Thế thì sự sanh ra của Đại
Địa nào phải không có nguyên nhân mà tự nhiên bỗng có
đâu ?
Do
đó, nói Tự Nhiên sanh là sai lầm.
Cả
hai thuyết đều là do Thức Tâm phân biệt suy lường, không
phải Nhân Duyên mà gượng nói Nhân Duyên; không phải Tự
Nhiên mà gượng cho là Tự Nhiên, chỉ là lời nói, toàn là
hý luận không có căn cứ. Nào có biết rằng Như Lai Tạng
Tánh chẳng có khởi lên đối với cái thấy, chẳng bám vào
cái tướng. Không khởi nơi cái thấy, cho nên suy tính không
thể tới nổi. Không bám nơi cái tướng nên lời nói không
thể thấu đến. Đó là cái chỗ mà tâm hành xứ diệt(12),
ngôn ngữ hết đường”, ấy mới là Thật Tướng, mới là
Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy.
Thiền
sư Tần Bạt Đà hỏi pháp sư Sanh : “Thầy giảng kinh luận
gì ?”
Thầy
Sanh đáp : “Kinh Đại Bát Nhã”.
Sư
Đà nói : “Làm thế nào nói nghĩa Sắc Không ?”
Thầy
Sanh đáp : “Các vi trần tụ lại là Sắc, các vi trần vô
tự tánh là Không”.
Sư
Đà nói : “Vi trần chưa tụ, gọi là gì ?”
Thầy
Sanh không giãi bày được.
Thiền
sư Đà lại hỏi : “Còn giảng kinh nào khác nữa ?”
Thầy
Sanh đáp : “Kinh Đại Niết Bàn”.
Sư
Đà nói : “Nói nghĩa Niết Bàn như thế nào ?”
Thầy
Sanh đáp : “Niết mà chẳng sanh, Bàn mà chẳng diệt, nên
gọi đó là Niết Bàn”.
Sư
Đà nói : “Cái ấy là Niết Bàn của Như Lai, cái gì là Niết
Bàn của pháp sư ?”
Thầy
Sanh đáp : “Nghĩa của Niết Bàn há có hai sao ? Tôi chỉ như
thế này, chưa hiểu thiền sư nói Niết Bàn như thế nào ?”
Sư
Đà đưa cây hốt như ý lên, rồi nói : “Thấy chăng ?”
Đáp
: “Thấy”.
Sư
Đà nói : “Thấy cái gì ?”
Đáp
: “Thấy cái hốt như ý trong tay thiền sư”.
Sư
Đà ném cái hốt như ý xuống đất, rồi hỏi : “Thấy không
?”
Đáp
: “Thấy”.
Sư
Đà nói : “Thấy cái gì ?”
Đáp
: “Thấy cái hốt trong tay thiền sư rớt xuống đất”.
Thiền
sư chê rằng : “Xem qua chỗ thấy hiểu của ông, chưa ra khỏi
đám thường tình, sao gọi được là làm ồn náo vũ trụ(13)”.
Rồi
phất tay áo bỏ đi.
Các
đệ tử của pháp sư nghi ngờ chưa dứt, bèn chạy theo níu
thiền sư Đà lại, hỏi : “Thầy tôi nói Sắc Không, Niết
Bàn chẳng khế hợp, chưa rõ thiền sư nói nghĩa Sắc Không
như thế nào ?”
Thiền
sư Đà nói : “Ta chẳng nói thầy các con thuyết không được
đúng, nhưng thầy các con chỉ nói Sắc Không trên quả vị,
mà chẳng biết nói cái Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân”.
Đệ
tử thưa : “Như thế nào là Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân
?”
Thiền
sư Đà nói : “Một vi trần Không nên chúng vi trần Không,
chúng vi trần Không nên một vi trần Không. Trong chúng vi trần
Không, không có một vi trần”.
Đây
không phải là lời thiền sư Đà đặt ra, vì kinh nói : Một
căn thanh tịnh nên các căn thanh tịnh. Các căn thanh tịnh nên
một căn thanh tịnh. Trong một căn thanh tịnh không có các
căn. Trong các căn thanh tịnh không có một căn.
Lấy
chỗ này phát minh thì chẳng phải khó hiểu. Bèn cùng với
“Tánh Sắc Chân Không, Tánh Không Chân Sắc” chỉ ngay đường
vào.
Kinh
: “Anan, tánh Lửa vô ngã, nhờ ở các duyên mà hiệân. Ông
hãy xem các nhà chưa nấu ăn ở trong thành, khi muốn nấu bếp
thì tay cầm kính dương toại đưa ra ngoài mặt trời mà cầu
lửa.
“Anan,
phàm gọi là Hòa Hợp thì như Ta, ông và một ngàn hai trăm
năm mươi vị Tỳ kheo nay hợp thành một chúng. Chúng tuy là
một, nhưng gạn xét về căn bản, thì mỗi người đều có
tánh, đều có chỗ sanh, tên hiệu, họ hàng của mình. Như
Ông Xá Lợi Phất thuộc dòng Bà La Môn, Ông Ưu Lâu Tần Loa
thì thuôïc dòng Ca Diếp Ba, cho đến Ông Anan thì thuộc dòng
Cù Đàm.
“Anan,
nếu tánh Lửa nhân Hòa Hợp mà có ra, thì khi người kia cầm
kính lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ trong kính
mà ra, do từ bùi nhùi mà có hay là từ mặt trời mà đến
?
“Anan,
nếu từ mặt trời mà đến, lửa ấy đã đốt được bùi
nhùi trong tay ông, thì những rừng cây mà ánh sáng mặt trời
đi qua phải bị đốt cháy cả. Nếu từ trong kính mà ra, thì
lửa ấy đã có thể từ nơi kính ra mà đốt cháy bùi nhùi,
làm sao kính lại không bị chảy. Cho đến cả tay cầm kính
cũng không thấy nóng, thì làm sao kính chảy ra được. Nếu
do bùi nhùi sanh ra, thì cần gì ánh sáng mặt trời và kính
tiếp xúc với nhau, rồi lửa mới sinh. Ông hãy xét cho kỹ
: kính thì do tay cầm, ánh sáng mặt trời thì từ trên xuống,
còn bùi nhùi thì từ đất sanh, vậy lửa từ phương nào đến
đây ? Mặt trời và kính xa nhau, chẳng có hòa, chẳng có hợp
không lẽ lửa kia không do đâu mà tự có ?
“Ông
còn không biết rằng : Trong Như Lai Tạng, tánh Hỏa là Chân
Không, tánh Không là Chơn Hỏa, thanh tịnh bản nhiên, toàn
khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ
hay biết.
“Anan,
ông phải biết : Người đời cầm kính ở một chỗ thì một
chỗ lửa sanh, khắp pháp giới cầm kính thì khắp pháp giới
có lửa. Lửa khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo
Nghiệp phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân
Duyên và tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt,
đo lường của thức tâm : chỉ có lời nói, danh tự, toàn
không có thật nghĩa.
Thông
rằng : Ngài Long Thắng nói : “Nếu các pháp là thật có,
thì chẳng cần dùng tâm thức mới biết là có tướng. Nếu
dùng tâm thức mới biết là có, ấy là chẳng phải có. Như
tướng cứng của Đất, phải dùng thân căn, thân thức mới
biết là có. Còn nếu không có thân căn, thân thức thì không
thấy có tướng cứng”.
Hỏi
rằng : “Thân căn, thân thức thì có khi cảm biết, có khi
không cảm biết, còn đất thì vẫn luôn luôn có tướng cứng
chứ ?”
Đáp
rằng : “Hoặc trước đã tự nhiễm biết cái tướng cứng,
hoặc nghe người nói mới biết là có tướng cứng. Nếu trước
chẳng nhiễm biết, chẳng nghe nói thì làm gì có cái tướng
cứng ? Lại nữa, nếu đất luôn luôn thật là tướng cứng,
thì không thể bỏ tướng cứng ấy. Nhưng như tô lạc, mật
ong, nhựa cây khi nấu thì phải bỏ cái tướng cứng mà biến
thành thể lỏng. Vàng, bạc, đồng, sắt hết thảy đều như
thế. Còn nước đang ở thể lỏng, lạnh thì chuyển thành
tướng cứng là băng. Như vậy, tất cả mọi thứ mọi loại
đều có thể biến đổi tướng trạng”.
Ngài
lại nói : “Nếu lửa thật có tánh nóng, thì sao có người
vào lửa chẳng cháy. Trong thân cũng có lửa nóng, sao chẳng
thiêu thân ? Lửa ở trong mây mà nước không diệt được.
Bởi thế, lửa không có tánh nóng nhất định. Vì thần thông
lực, lửa không thể cháy thân. Vì nghiệp nhân duyên, ngũ
tạng không nóng. Vì lực điện trong mây, nước không diệt
được. Nếu tánh nóng và lửa khác nhau, thì lửa chắc chẳng
nóng. Nếu tánh nóng và lửa là một, thì sao còn gọi là nóng
? Tánh lửa như thế, các Đại khác cũng vậy”.
Như
thế, tánh chung và tánh riêng đều Không, nên gọi là Tánh
Không. Lấy theo Lý ấy mà suy ra tánh của Đất, Nước, Lửa
thì cũng như theo dòng mà thấu được nguồn : tất cả đều
Không.
Chỗ
chỉ bày của Đức Thế Tôn là : Từ cái Tánh mà phát ra Tướng,
gọi là theo Nghiệp mà phát hiện, ứng với cái lượng của
Sở Tri. Còn chỗ luận của Ngài Long Thắng là : Từ nơi Tướng
mà thấu cùng đến cái Tánh, đặc biệt hiển bày cái Sắc
Tâm chẳng hai vậy.
Cái
kính Dương Toại cũng gọi là Ngũ Phương Chư. Sách Luận Hành
chép : “Tháng Năm, ngày Bính Ngọ, giờ Ngọ làm đá Ngũ Phương
tròn như cái gương, ở giữa trũng. Soi vật thì ảnh ngược,
hướng về mặt trời thì có lửa”.
Thế
gian chỉ biết bùi nhùi, kính với mặt trời : ba cái nhân
duyên hòa hợp lại thì lửa sanh. Chẳng biết rằng kính, bùi
nhùi cùng với mặt trời đều ở xa nhau, chẳng phải Hòa
hợp nên chẳng phải là Nhân Duyên. Nếu nói bỗng nhiên tự
có ra, thì đáng lẽ chẳng cần kính hướng vào mặt trời,
thế nên cũng chẳng phải Tự Nhiên. Nếu nói cả ba cái, mỗi
cái đều có tánh lửa, thì lẽ ra bùi nhùi phải tự cháy,
kính phải tự chảy và chỗ ánh sáng mặt trời đi đến,
như rừng cây phải bị cháy thiêu ! Cả ba cái đều không
có tánh lửa, đủ biết là Hỏa Tánh vốn Không. Nhưng vì
cái sức nghiệp của ba cái mà lửa tùy theo nghiệp hiện ra.
Thế mới biết, lửa có khắp thế gian là Tánh Không, nào
có nơi chốn. Nên cọ xát cây thì có lửa, đập đá là có
lửa. Tất cả đều theo nghiệp mà phát hiện, chẳng riêng
ở một cái kính Dương Toại, đều từ trong cái Tánh Thanh
Tịnh phát khởi ra. Ngay Tánh tức là lửa, nào mượn Nhân
Duyên ? Ngay lửa là Tánh, sao nói là Tự Nhiên ? Thế nên, Hỏa
Đại vốn chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên. Tánh
lửa ấy bèn chính là Thật Tướng vậy.
Tổ
Tuyết Phong nhóm lửa xong, bèn chỉ ngay ngọn lửa mà khai thị
cho đại chúng : “Ba đời Chư Phật đang ở trong ngọn lửa
chuyển Đại Pháp Luân”.
Tổ
Vân Môn nói rằng : “Ngọn lửa là ba đời Chư Phật thuyết
pháp. Ba đời Chư Phật lập tức nghe”.
Tổ
Huyền Sa nói : “Gần đây lệnh vua khá nghiêm ngặt !”
Tổ
Tuyết Phong nói : “Là làm sao ?”
Tổ
Sa nói : “Chẳng để cho trà trộn cướp đồ ngoài chợ !”
Tổ
Tuyết Phong bèn le lưỡi.
Ngày
nọ, Tổ Tào Sơn vào tăng đường hơ lửa.
Có
vị sư nói : “Hôm nay lạnh thật”.
Tổ
Sơn nói : “Nên biết có cái chẳng lạnh !”
Vị
sư hỏi : “Ai là kẻ chẳng lạnh ?”
Tổ
Sơn gắp lửa mà chỉ đó.
Nhà
sư nói : “Chớ nói là không có người”.
Tổ
Sơn ném bỏ lửa xuống.
Nhà
sư nói : “Con ở trong chỗ ấy chẳng hiểu được”.
Tổ
Sơn nói : “Mặt trời soi đầm lạnh, sáng ngời lại sáng
ngời”.
Cổ
nhân gặp cảnh thì phát minh Một đường hướng thượng.
Đó là Tánh lửa Chân Không, Tánh Không thật lửa, nơi ấy
là chỗ thấu thoát chân thật.
Kinh
: “Anan, tánh Nước chẳng định : khi chảy, khi ngừng không
có chừng. Như trong thành Thất La Phiệt, các ông Tiên Ca Tỳ
La, Chước Ca La và các nhà đại huyễn thuật Bát Đầu Ma,
Ha Tát Đa... muốn cầu tinh Thái Âm để hòa với các thuốc
huyễn thuật, thì các ông ấy trong lúc mặt trăng tròn sáng,
tay cầm hạt châu Phương Chư, hứng nước trong ánh mặt trăng.
Vậy, nước ấy từ trong hạt châu mà ra hay ở trong hư không
tự có hay từ mặt trăng đến ?
“Anan,
nếu từ mặt trăng đến, thì ở phương xa còn có thể làm
hạt châu có ra nước, thì ánh sáng qua những rừng cây lẽ
ra đều phải có chảy nước. Có chảy nước thì cần gì
phải đợi hạt châu Phương Chư ? Còn nếu không chảy nước
thì biết là nước chẳng phải từ mặt trăng xuống. Nếu
từ hạt châu mà ra, thì trong hạt châu thường phải chảy
nước, sao lại phải đợi nửa đêm có mặt trăng sáng ? Nếu
do hư không mà sanh, thì hư không vô bờ bến, thì nước cũng
không có giới hạn, vậy thì cõi người đến cõi trời đều
phải chìm ngập, làm sao còn các loài ? Ông hãy xét kỹ : mặt
trăng từ trời chiếu xuống, hạt châu do tay cầm, còn cái
mâm hứng nước thì do người xếp đặt, vậy nước kia từ
phương nào mà chảy đến đây ?
Mặt
trăng và hạt châu thì cách xa nhau, không phải hòa, không phải
hợp, chẳng lẽ nước kia không từ đâu mà tự có ?
“Ông
còn không biết rằng trong Như Lai Tạng, Tánh Thủy là Chân
Không, Tánh Không là Chân Thủy, thanh tịnh bản nhiên, toàn
khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ
hay biết.
“Một
chốn cầm châu thì một chốn có nước chảy ra. Khắp pháp
giới cầm hạt châu thì khắp pháp giới nước sanh ra. Nước
có khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo nghiệp mà
phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên
hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt, đo lường
của thức tâm, chỉ là lời nói, danh tự toàn không có thật
nghĩa.
Thông
rằng : Châu Phương Chư còn gọi là Âm Toại, hình giống con
sò. Chà cho nóng, để dưới ánh trăng sẽ sinh ra nước. Phương
là đá, Chư là ngọc. Luyện nấu đá mà thành, làm vào tháng
Một (Mười Một), ngày Nhâm Tý, giờ Tý.
Nước
sinh ra ở hạt Phương Chư vốn chẳng phải do Hòa Hợp, chẳng
phải là Tự Nhiên thì cũng giống như kính Dương Toại. Nhưng
chỗ nói “Nếu do hư không mà sanh, thì hư không vô biên,
nước cũng không giới hạn... làm sao còn các loài ?” Chẳng
phải là mâu thuẫn với chỗ Tánh Không Chân Thủy sao ? Bởi
vì, lấy Tướng mà luận thì có hình, nên nước đầy hư
không mà làm đắm chìm cả. Nhưng lấy Tánh mà luận thì vô
hình, nên hư không vô tận thì nước hiện ra cũng vô tận.
Câu “Tánh Thủy Chân Không” này là chỉ về tánh của tứ
Đại thanh tịnh mà nói. Tánh vốn là Không, Không Không tương
dung, Không Không bất nhị làm gì thấy có lấn đoạt lẫn
nhau ?
Đoạn
sau, chỗ nghi của Ông Phú Lâu Na là ở nơi Tánh mà nghi có
sự lấn đoạt, chứ chẳng phải nghi ở nơi Tướng. Tướng
thì chẳng tương dung, Thế Tôn đã nói trước rồi còn nghi
gì nữa !
Tổ
Dược Sơn hỏi vị sư : “Từ đâu tới ?”
Đáp
: “Ở Hồ Nam lại”.
Tổ
Sơn hỏi : “Nước hồ Động Đình đầy chưa ?”
Đáp
: “Dạ, chưa”.
Tổ
Sơn nói : “Mưa đã lâu, sao chưa đầy ?”
Vị
sư không đáp được.
Tổ
Đạo Ngô nói thay rằng : “Đầy rồi mà !”
Tổ
Vân Nham nói : “Chỗ sâu xa !”
Tổ
Động Sơn nói : “Trong kiếp nào mà từng có tăng, giảm ?”
Tổ
Vân Môn nói : “Chỉ ở trong ấy !”
Tổ
Tuyết Phong nói : “Ngồi bên rá cơm mà đói chết vô số
người. Ngồi bên biển nước, khát chết vô số người !”
Tổ
Huyền Sa rằng : “Ngồi trong rá cơm, đói chết vô số người.
Ngập đầu trong biển nước, khát chết vô số người !”
Tổ
Vân Môn : “Suốt thân là cơm, suốt thân là nước”.
Tổ
Thiên Đồng nêu ra : “Ta thì chẳng vậy, ngồi trong rá cơm,
cái no làm chết vô số người. Ngập đầu trong biển nước,
cái nê làm chết vô số người !”
Trước
là cái họa vì chẳng nuốt vào. Sau là cái họa vì chẳng
mửa ra. Chỉ như Ngài Vân Môn nói : Suốt thân là cơm, suốt
thân là nước. Ở trong ấy thì không còn chỗ nuốt vào, mửa
ra. Cổ nhân cử xướng cái tánh biển thật như sóng nước
trùng trùng vô tận, đến Tổ Vân Môn : “Suốt thân là nước”,
lời nói mới trọn thành. Cùng với “Tánh nước Chân Không,
Tánh Không thật nước, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp
giới”, thật là khế hợp. Do đó mà biết rằng lấy Ý Thức
mà đo lường Tánh Không, Tánh Thủy thì biết kêu gào mấy
cho vừa.
Kinh
: “Anan, tánh Gió không có tự thể, khi động khi tĩnh bất
thường. Ông thường sửa áo, vào trong đại chúng, gấu áo
Tăng Già Lê động đến người gần bên thì có chút gió phất
qua mặt người kia. Gió đó là do gấu áo cà sa mà ra, từ
hư không mà phát khởi hay do mặt người kia mà sanh ?
“Anan,
nếu gió ấy phát ra do gấu áo cà sa, thì ông đã mặc cả
gió, cái áo phải bay tung rời khỏi thân ông. Nay ta thuyết
pháp, rủ áo ở trong hội này, ông hãy xem cái áo của Ta,
gió ở nơi đâu ? Không lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió?
“Nếu
gió đó do hư không sanh ra, thì khi áo ông không động sao gió
chẳng bay phất. Tánh của hư không thì thường còn, gió phải
thường sanh ra. Còn khi không có gió, hư không phải diệt mất!
Gió diệt có thể thấy được, hư không diệt thì có nghĩa
gì ? Bởi vì có sanh diệt, thì đâu có gọi là hư không ?
Còn đã gọi là hư không, thì gió ở đâu mà ra được ?
“Nếu
gió ấy sanh ra do cái mặt người bị phất, thì đã do mặt
người ấy sanh ra, lẽ ra phải phất vào ông, sao tự ông sửa
áo mà lại phất ngược vào người kia ?
“Ông
hãy xét kỹ : sửa áo là do nơi ông, mặt thuộc về người
kia, hư không lặng yên chẳng hề lay động, thì gió từ phương
nào phát động đến đây ? Tánh của gió và của hư không
cách biệt, chẳng có hòa, chẳng có hợp, không lẽ gió kia
không do đâu mà tự có ?
“Ông
thật không rõ rằng : Trong Như Lai Tạng, Tánh Gió là Chân
Không, Tánh Không là Thật Gió, thanh tịnh bản nhiên, toàn
khắp pháp giới tùy theo chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay
biết.
“Anan,
như một mình ông hơi động cái áo thì có chút gió bay ra.
Khắp pháp giới đều phất, thì khắp các quốc độ đều
có gió. Phong Đại có ở cùng khắp thế gian mà không có nơi
chốn, chỉ theo Nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết,
lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều
là những phân biệt, đo lường của thức tâm, chỉ có lời
nói, danh tự toàn không có thật nghĩa.
Thông
rằng : “Ông tự sửa áo mà áo không bay mất. Cái mặt thuộc
người kia mà gió chẳng phất ngược lại. Hư không lặng
yên, chẳng theo gió mà có sanh có diệt”. Ba cái ấy chẳng
can dự gì tánh lưu động của gió, thì cái gì mà cho là hòa
hợp ? Chẳng lẽ gió không đâu mà có ra, sao gọi là Tự Nhiên
? Bởi vì Gió tức là Tánh, Tánh tức là Gió vậy. Chỉ theo
nghiệp mà phát hiện ra, như áo động thì có gió sinh. Tánh
cùng khắp pháp giới, thì gió cũng cùng khắp pháp giới, nên
cùng gọi là Đại (lớn).
Nho
gia nói Khôn là Đất, Khảm là Nước, Ly là Lửa. Tốn là
Gió. Tất cả không ra ngoài Âm Dương. Âm Dương từ đâu sanh
ra ? Từ trong Động Tĩnh của Thái Cực sanh ra vậy. Mỗi vật
đều đầy đủ một Thái Cực. Vạn vật đều suốt một
thể Thái Cực. Chưa từng chẳng phải tức Lý là Sự, tức
Sự là Lý. Nhưng mà ngộ Tâm là Thái Cực thì ít có thay !
Đã ngộ Tâm là Thái Cực, dưới trời đâu có cái vật ở
ngoài Tâm ư ?
Tổ
Ma Cốc đang quạt, có nhà sư hỏi : “Tánh của gió thường
trụ, không nơi nào chẳng khắp, Hòa Thượng còn động quạt
làm gì ?”
Tổ
Cốc nói : “Ông chỉ biết “Tánh gió thường trụ”, mà
không biết chuyện không đâu chẳng khắp”.
Nhà
sư nói : “Sao là không đâu chẳng khắp ?”
Tổ
Cốc lại phẩy quạt.
Nhà
sư làm lễ.
Tổ
Cốc nói : “Cái ông sư không có chỗ dùng, dẫu có ngàn ông
thì có ích gì !”
Lại
Tổ Nam Tuyền hỏi nhà sư : “Đêm qua gió mạnh, nhỉ ?”
Nhà
sư đáp : “Đêm qua gió mạnh”.
Tổ
Tuyền nói : “Thổi gãy một cành tùng trước cửa !”
Sư
nói : “Thổi gãy một cành tùng trước cửa”.
Tổ
Nam Tuyền lại hỏi một nhà sư khác : “Đêm qua gió mạnh,
nhỉ ?”
Nhà
sư nói : “Là ngọn gió nào ?”
Tổ
Tuyền nói : “Thổi gãy một cành tùng trước cửa !”
Nhà
sư nói : “Là cây tùng nào ?”
Tổ
Tuyền nói : “Một được, một mất”.
Căn
cứ vào chỗ đáp của hai vị tăng thì đều có hơi thở thiền
tăng. Sao Ngài Nam Tuyền lại nói một được, một mất ? Nếu
định ngay ra được, mới cho là tự mình thấy Nam Tuyền.
Kinh
: “Anan, hư không không có hình, nhân sắc mà hiển ra. Như
trong thành Thất La Phiệt là chỗ xa sông, những người dòng
Sát Lỵ, dòng Bà La Môn, dòng Tỳ Xá, dòng Thủ Đà hay dòng
Phả La Đọa, dòng Chiên Đà La... Khi dựng nhà mới thì đào
giếng để lấy nước. Đào lên một thước đất, thì trong
đó có một thước hư không, như vậy cho đến đào lên được
một trượng, thì trong đó lại được một trượng hư không.
Hư không sâu hay cạn tùy theo đào lên nhiều hay ít. Hư không
đó, do đất mà ra, nhân đào mà có hay không nhân gì mà tự
sanh ?
“Anan,
hư không đó không do gì mà tự sanh, thì trước khi chưa đào
đất, sao chỗ ấy lại không trống rỗng, mà chỉ thấy là
đất, chẳng có gì thông suốt. Nếu nhân đất mà ra, thì
khi đất được moi ra phải thấy có hư không vào. Nếu đất
ra trước mà không thấy hư không vào, làm sao nói là hư không
nhân đất mà ra ? Còn nếu không ra, không vào thì hư không
với đất vốn không khác nguyên nhân. Không khác tức là đồng,
thì khi đất ra, hư không sao chẳng có ra ? Nếu nhân đào mà
ra, thì đào phải có ra hư không chớ chẳng phải ra đất.
Nếu chẳng nhân đào mà có ra, khi tự đào thì ra đất, sao
lại thấy hư không ?
“Ông
hãy xét xem, xét kỹ, xem kỹ : sự đào do từ tay người chuyển
vận theo phương hướng, đất thì từ nơi mặt đất mà dời
đi, như thế hư không nhân đâu mà có ra ? Sự đào và hư
không: một cái thật, một cái hư, không tác dụng gì với
nhau, chẳng phải hòa, chẳng phải hợp, chẳng lẽ hư không
không do đâu mà tự có ra ?
“Nếu
hư không đó bản tánh tròn đầy toàn khắp, vốn chẳng hề
lay động thì phải biết rằng hiện giờ ngay trước mặt
đây : Hư Không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là năm
Đại, bản tánh vốn chân thật, viên dung, đều là Như Lai
Tạng, vốn không sanh diệt.
“Anan,
tâm ông mê muội, chẳng ngộ bốn Đại vốn là Như Lai Tạng.
Phải nhìn ngay hư không là ra, là vào hay chẳng phải ra, vào.
Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng : Tánh Giác là
Chân Không, Tánh Không là Chân Giác, thanh tịnh bản nhiên,
toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng
hay biết.
“Anan,
như một cái giếng trống không thì hư không có trong một
cái giếng, mười phương hư không thì cũng như vậy. Không
Đại tròn đầy khắp mười phương, thật không nơi chốn,
theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho đó
là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những
phân biệt, đo lường của tâm thức, chỉ có lời nói, danh
từ toàn không có thật nghĩa.
Thông
rằng : Hư không chẳng có hình, sao có ra, vào ? Chỉ bởi sắc
hiện bày mà biết có hư không : có sắc thì chẳng phải là
hư không, không có sắc tức là hư không. Sắc có đến, đi;
hư không chẳng hề khởi, diệt. Khi tứ Đại diệt, hư không
chẳng phải lúc ấy mới có. Bốn Đại có đến-đi, hư không
vốn chẳng hề ra-vào. Tánh hư không tròn khắp cũng dễ hiểu,
bốn Đại Chân Không cũng giống như vậy. Khi chưa tùy theo
nghiệp thì thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, vốn
chưa hề không có. Khi đã theo nghiệp phát hiện rồi, tùy
cảm tùy ứng mà đầy khắp thế gian thì cũng không phải
lúc ấy mới có. Tướng có sanh diệt, Tánh không sanh diệt.
Có sanh diệt, thì chẳng có Toàn Khắp. Còn cái Toàn Khắp
thì tự nó không có sanh diệt, gọi đó là Như Lai Tạng, không
từ đâu đến, không đi về đâu, há lại có sanh tử ở trong
ấy ư ?
Nói
về cái ngoan không(14) thì tuy không có ra vào, nhưng cũng là
sanh diệt. Như sau này có nói “Hư Không sanh trong cái Đại
Giác như một cái bọt sinh ra trong biển cả... Mười phương
hư không cũng đều tiêu mất, chỉ duy cái Chân Không là Chân
Giác vốn không sanh diệt”.
Ở
bốn Đại trước thì nói Chân Sắc, Chân Hỏa, Chân Thủy,
Chân Phong đều dùng chữ Chân. Sau thì nói “Bốn Đại thanh
tịnh” là đều nói trong Tánh. Không giữ lấy Tướng, bèn
là “Tánh Chân Thật, viên dung đều là Như Lai Tạng, vốn
không sanh diệt”. Thật rành rành tự tánh Chân Thật mà nói.
Nếu các tướng hữu tình, làm sao mà viên dung vô ngại ? Nói
là Dung, thì “tức Sắc tức Không, tức Không tức Sắc”,
chẳng hề thấy có dấu vết của ngũ Đại, duy chỉ thuần
nhất một cái Không. Nói là Viên, thì “Không chẳng ngại
Sắc, Sắc chẳng ngại Không”, ngũ Đại đắp đổi lẫn
nhau, hiển xuất vô cùng mà chẳng rời Nhất Chân vậy.
Trước
thì lấy tứ Đại mà dung hội Chân Không. Đây thì lấy Chân
Không tan về Chân Giác. Rõ ràng cái gọi là Chân Không tức
là Chân Giác, cái ngoan không làm sao so sánh được.
Thiền
sư Hoàng Long Tổ Tâm thượng đường rằng : “Tâm đồng
Hư Không giới, bình đẳng với Tánh Không. Chứng đắc Tánh
Không bèn không có pháp nào phải, trái. Cứ như thế mà ngơi
nghỉ. Dừng chèo, thả neo về bến đậu thuyền. Cứ theo như
môn đệ của lão tăng thì trời đất cách riêng không dính.
Nói thử môn đệ của lão tăng có chỗ nào kỳ đặc :
“Vác
ngang ngọn lược chẳng đoái người
Thẳng
vào ngàn muôn đỉnh núi đi”.
Lại
có Ông Hồ Đinh Giao tham lễ Tổ Bửu Thọ.
Tổ
hỏi : “Chẳng phải là Hồ Đinh Giao(15) ư ?”
Ông
Hồ trả lời : “Không dám”.
Tổ
Tho nói : “Có đóng được hư không chăng ?”
Ông
Hồ nói : “Xin Hòa Thượng đả phá cho !”
Tổ
Thọ bèn đánh.
Ông
Hồ chẳng kham được ý chỉ ấy.
Tổ
Thọ nói : “Về sau sẽ có ông thầy lắm lời vì ông mà
chỉ cho chỗ này”.
Sau,
Ông Hồ đến tham Ngài Triệu Châu.
Tổ
hỏi : “Chẳng phải là Hồ Đinh Giao ư ?”
Ông
Hồ nói : “Không dám”.
Tổ
Châu hỏi : “Có đóng được hư không chăng ?”
Ông
Hồ đáp : “Xin Hòa Thượng đả phá cho !”
Tổ
Châu nói : “Hãy đóng vào một đường giáp nối ấy !”
Ông
Hồ bèn kể chuyện bị gậy của Tổ Bửu Thọ.
Rồi
hỏi : “Không rõ lỗi ở chỗ nào ?”
Tổ
Châu nói : “Chỉ một đường giáp nối ấy còn chẳng biết
làm sao, lại còn bảo người đả phá hư không !”
Nhân
đó, Tổ nói thay : “Hãy đóng vào một đường giáp nối
ấy !”
Tổ
Châu lại nói : “Ta nói như thế thì đối cùng với Ông Bửu
Thọ kia thật là ngàn dặm muôn dặm”.
Ông
Hồ bèn có chỗ thức tỉnh.
Hợp
hai tắc mà xét, thì chứng đắc hư không cũng chẳng đúng,
mà đả phá hư không cũng chẳng đúng. Vậy, thế nào mà thoát
thân ? Tham đi !
Kinh
: “Anan, cái biết của Kiến Đại nhân Sắc Không mà có,
ngoài ra là chẳng biết. Như hiện nay ông ở trong rừng Kỳ
Đà, sớm mai thì sáng, chiều thì thấy tối. Đến lúc nửa
đêm có trăng thì sáng, không trăng thì tối. Những tướng
sáng, tối ấy do cái Thấy phân tích ra. Cái Thấy ấy với
cái tướng sáng, tối và cả hư không là đồng một thể
hay chẳng đồng một thể ? Hay vừa đồng vừa chẳng đồng,
vừa khác vừa chẳng khác?
“Anan,
nếu cái Thấy đó cùng với sáng, tối và hư không vốn là
một thể, thì sáng và tối tiêu diệt lẫn nhau. Khi tối thì
không sáng, khi sáng thì không tối. Nếu cái Thấy cùng một
thể với cái tối, thì khi sáng cái Thấy phải tiêu mất.
Nếu cùng một thể với cái sáng, thì đến khi tối cái Thấy
phải diệt. Làm sao còn thấy được sáng, thấy được tối.
Còn như sáng và tối khác nhau, cái Thấy thì không sanh diệt,
thì làm sao đồng một thể được ?
“Nếu
cái Thấy đó không đồng một thể với cái sáng và cái tối
thì lìa ngoài cái sáng, cái tối và hư không ông hãy phân
tích cái Thấy có hình tướng gì ? Lìa ngoài cái sáng, tối
và hư không, cái Thấy đó cũng đồng là lông rùa, sừng thỏ.
Nếu cả ba cái sáng, tối và hư không hoàn toàn khác nhau,
thì đo đâu mà lập thành cái Thấy ?
“Sáng
và tối trái ngược lẫn nhau làm sao đồng được ! Lìa ngoài
ba cái sáng, tối và hư không, cái Thấy vốn chẳng có gì,
thì làm sao khác được ? Cái phần của hư không hay cái phần
của cái Thấy vốn không bờ mé, sao lại chẳng đồng ! Thấy
cái tối, thấy cái sáng, tánh không dời đổi làm sao lại
chẳng khác !
“Ông
hãy xét kỹ, suy xét tinh vi, xem cho kỹ, thấy cho cùng : Sáng
do mặt trời, tối từ đêm đen, thông thuộc về hư không,
bít thuộc về đại địa, thì cái Thấy như thế nhân đâu
mà có ? Cái Thấy thì có biết, hư không thì vô tri, không
phải hòa không phải hợp, chẳng lẽ cái Thấy không do đâu
mà có ?
“Như
sự Thấy, Nghe, Hay, Biết tánh nó đầy đủ toàn khắp, vốn
chẳng động lay. Nên phải biết : Kiến Đại cùng với hư
không vô biên, bất động cùng vốn bốn Đại Địa, Thủy,
Hỏa, Phong có lay động đều gọi là sáu Đại, bản Tánh
Chân Thật Viên Dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh
diệt.
“Anan,
tánh ông trôi chìm, không ngộ cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của
ông vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem cái Thấy, Nghe,
Hay, Biết này là sanh là diệt, là đồng là khác, là chẳng
sanh diệt, là chẳng đồng, khác ?
“Ông
nào có biết, trong Như Lai Tạng cái Thấy là Tánh Minh Giác,
Tánh Minh Giác hiển lộ ra thành cái Thấy, thanh tịnh bản
nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng
với lượng hay biết.
“Như
một cái Căn Thấy thấy khắp Pháp Giới, thì cái Biết Nghe,
Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Cảm Xúc, Biết các pháp đều
là cái Diệu Đức sáng rỡ toàn khắp pháp giới, tròn đầy
cả mười phương hư không, nào có riêng nơi chốn. Chỉ tùy
nghiệp hiện bày, thế gian lại không biết lầm cho là tánh
Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều chỉ là sự
phân biệt, đo lường của thức tâm : chỉ có danh tự, lời
nói, toàn không có thật nghĩa.
Thông
rằng : Năm Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không ở trước
thì đủ cả sáu trần : Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp,
gọi là Tướng Phần. Nay là sáu căn Thấy, Nghe, Hay và Biết
cũng đều do bốn Đại trong sạch hợp thành. Phàm nhân có
Sắc Không trước mắt, đối cảnh tức biết, chưa nhập vào
sự phân biệt của năm Thức trước, đó gọi là Kiến Phần.
Do đó, lấy Kiến Đại mà gồm chung.
Như
một cái Căn Thấy thấy khắp pháp giới, thì cái Biết Nghe,
Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Xúc, Biết Pháp cũng toàn khắp
pháp giới, Diệu Đức rỡ ràng vậy. Sao đều gọi là Diệu
? Có Hình bèn là Thấy, có Tiếng là Nghe, chẳng gấp mà lẹ,
chẳng đi mà đến, không do nghĩ toan, chẳng bởi xếp đặt
nên gọi là Diệu.
Cái
Kiến Đại này không có tự thể, chỉ nhân cảnh mà có. Cảnh
trước mặt nếu không có, cái Thấy cũng chẳng sanh. Há có
một thể hay nhiều thể để cùng cảnh mà lìa mà hợp, để
có thể luận là đồng, là khác theo tứ cú ư ? Sự lập luận
của tứ cú(16) đều là hý luận vậy.
Thế
nên, sáng, tối, thông, bít thay nhau ở trước mắt cũng như
Địa, Thủy, Hỏa, Phong thay nhau giữa hư không. Cảnh có sanh
diệt, cái Thấy không sanh diệt. Cảnh có động lay, cái Thấy
không hề lay động. Nó toàn khắp pháp giới, cùng hư không
chẳng hai. Nhưng cái Thấy thì có hay biết, ngoan không thì
vô tri chẳng thể hòa hợp. Cái Giác tức là Không, gọi là
Chân Không. Cái ngoan không thì sanh diệt, Chân Không nào có
sanh diệt. Cái ngoan không sanh diệt ở trong Tánh Chân Giác
cũng như bốn Đại sanh diệt trong hư không. Hư không cùng
bốn Đại không thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà luận.
Thế thì Kiến Đại đối với Sắc Không sao có thể lấy
sự sanh diệt, đồng khác mà xem thấy được ư ?
Phàm
nói là sanh diệt, đồng khác đều là thuộc về Vọng Trần.
Phàm nói chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải đồng,
chẳng phải khác đều thuộc về Vọng Kế. Chỉ ở nơi Cảnh
mà phân biện, chẳng ở nơi Tánh mà phân minh : đó là hý
luận. Nếu ở nơi Tánh mà phân biện, thì cái Thấy này duyên
với Tánh Cảnh, như mặt trăng thứ hai, không lìa mặt trăng
thật.
Tánh
phát ra mà thành cái Thấy, tức là cái Chân Giác phát ra mà
làm cái Sáng. Giác là cái Thể hằng sáng của cái Thấy. Cái
Sáng là Dụng của cái Thấy. Như đèn có ánh sáng : đèn là
cái Thể của sự chiếu sáng, ánh sáng là cái Dụng của sự
chiếu sáng. Tức Thấy là Giác, tức Giác là Không. Vốn không
nhiễm ô, nên nói là Thanh Tịnh. Vốn không tạo tác, nên nói
là Bổn Nhiên. Vốn không nơi chốn, nên nói là Toàn Khắp.
Theo
Tam Thân mà luận, thì Thanh Tịnh là Pháp Thân. Bổn Nhiên là
Báo Thân, Toàn Khắp là Hóa Thân. Theo Ba Đức mà luận, Thanh
Tịnh là Lý, Bổn Nhiên là Trí, Toàn Khắp là Hạnh. Hợp cả
ba mà dung nhiếp thì đưa lên một tức cả ba, đưa lên ba
tức là một. Khi chưa cảm ứng thì thanh tịnh bản nhiên,
toàn khắp pháp giới, cái Thấy này không thể nói được
là không. Khi có cảm ứng, Diệu Đức sáng rỡ, toàn khắp
pháp giới, cái Thấy này chẳng vướng nơi có. Sáu Căn thanh
tịnh, tròn đầy mười phương hư không, nên thấy trăm cõi
Phật, thấy ngàn cõi Phật, thấy toàn khắp pháp giới, mới
là tròn vẹn cái lượng thanh tịnh. Còn chẳng như thế, cũng
ứng với cái chỗ thấy tiết hạn hẹp, chỉ theo nghiệp có
hiện ra mà thôi.
Sau
có nói “Ông phát minh ra theo cái Không, thì có cái hư không
hiện. Địa, Thủy, Hỏa, Phong mỗi mỗi đều phát minh ra,
thì mỗi mỗi đều hiện. Các cái ấy là các thứ ứng ra
theo Sở Tri Lượng vậy”. Bỏ Giác mà hợp với Trần, thì
phát sanh trần lao. Ngược Trần hợp Giác, thì thấy rõ Chân
Như. Thế cũng là sự theo nghiệp phát hiện vậy. Cái Tánh
Giác Minh không có sự làm, không có sự tạo, không có người
nhận lãnh, nghiệp thiện nghiệp ác cũng đều dứt bặt. Cái
Ấy, đó là Như Lai Tạng.
Ông
Quan Cung Phụng là Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa Cấm rằng
: “Con trùn đứt làm hai đoạn, hai đầu đều cử động,
chưa rõ Phật Tánh ở đầu nào ?”
Tổ
Sa nói : “Động và Bất Động, đó là cảnh giới nào ?”
Ông
Nguyệt nói : “Lời nói không liên quan đến kinh điển, chẳng
phải là chỗ đàm luận của người Trí. Như lời Hòa Thượng
nói : Động cùng Bất Động, đó là cảnh giới nào ? Từ
kinh nào mà đem ra vậy ?”
Tổ
Sa nói : “Hẳn nhiên, nói mà không có kinh điển chẳng phải
là chỗ đàm luận của người Trí. Ông không thấy kinh Thủ
Lăng Nghiêm nói rằng “Phải biết mười phương vô biên bất
động hư không, cùng với bốn Đại Đất, Nước, Lửa, Gió
động lay kia đều gọi là sáu Đại, Tánh vốn Chân Thật,
Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt” đó
sao ?”
Bèn
khai thị một bài kệ :
“Rất
sâu xa, rất sâu xa
Pháp
giới, thân này ấy tức Tâm
Mê
ấy, mê tâm làm các sắc
Ngộ
thì cảnh cảnh chính Chân Tâm
Thân,
cảnh hai trần không thực tướng
Thấu
rõ chỗ này gọi tri âm”.
Tổ
Trường Sa khéo thuyết Lăng Nghiêm, đến chỗ nói là căn thân
và thế giới hai trần không thực tướng thì trong không thấy
có Căn Năng Kiến, ngoài không có Cảnh Sở Kiến. Năng, Sở
đều Không, tìm cái Thấy rốt là không thể đắc, còn chỗ
nào để nói sanh diệt, đồng dị ư ?
Kinh
: “Anan, tánh của Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu
thứ Căn và Trần mà hư vọng hiện ra. Nay ông hãy xem khắp
Thánh chúng trong hội này, lấy con mắt lướt qua. Mắt ông
trông khắp, chỉ như cái gương, không phân tích riêng biệt.
Cái Thức của ông ở trong đó, lần lượt chỉ ra đây là
Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây
là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Cái Thức Nhận Biết
ấy sanh ra do cái thấy, sanh ra do các tướng, do nơi hư không
hay không nhân cái gì, bỗng nhiên mà hiện ?
“Anan,
nếu cái Thức của ông sanh ra do cái Thấy, thì như không có
các tướng sáng, tối và Sắc Không thì không có cái Thấy
của ông. Cái Thấy còn không có, do đâu mà có ra cái Thức
? Nếu cái Thức của ông sanh ra do các tướng, chứ không do
cái Thấy, thì không thấy được cái sáng cũng chẳng thấy
được cái tối. Sáng tối đã không thấy thì cũng không có
Sắc Không. Các tướng kia còn không có thì cái Thức do đâu
mà phát sanh ? Nếu cái Thức ấy sanh do nơi hư không, không
phải do tướng hay do cái Thấy, ngoài cái Thấy, thì không
thể phân biệt, chẳng có thể tự biết được các tướng
sáng, tối, sắc, không. Ngoài các tướng thì không còn các
duyên, thì cái Thấy, Nghe, Hay, Biết do đâu mà thành lập.
Cả hai thứ : cái Thấy và sắc trần đều chẳng phải, nếu
là Không thì đồng với không có gì hết, còn nếu là Có
thì cũng chẳng phải đồng với vật, dầu cho có phát ra cái
Thức của ông, thì phân biệt cái gì ?
“Nếu
cái Thức không nhân gì mà bỗng nhiên phát ra, thì tại sao
giữa trưa lại không riêng biết để có ra mặt trăng sáng
?
“Ông
hãy kỹ càng, suy xét chín chắn : cái Thấy gá vào mắt của
ông, các tướng trả về cho trần cảnh, cái gì có thể hình
trạng ra được thì mới thành Có, cái gì không hình tướng
thì thành ra Không, còn cái Thức như thế do đâu mà ra ? Cái
Thức động, cái Thấy lặng yên, chẳng phải Hòa chẳng phải
Hợp. Cho đến với các sự Nghe, Ngửi, Hay, Biết cũng đều
như vậy. Không lẽ cái Thức không do đâu mà tự có ra ?
“Nếu
cái Thức đó vốn không do đâu, thì nên biết rằng : cái
Thức Đại và cái Kiến Đại Thấy, Nghe, Hay, Biết tròn đầy,
vắng lặng, bản tánh không do đâu mà có, cùng với hư không
và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là bảy Đại, Tánh Chân
Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.
“Anan,
tâm ông thô phù, không ngộ được cái Thức hay biết các
điều thấy, nghe vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem sáu
cái Thức là do Đồng hay Khác, là Không hay Có, là không phải
Đồng, Khác, hay không phải Không Có. Ông vốn không biết
trong Như Lai Tạng, cái Thức là Tánh Giác Minh. Tánh Giác Minh
là Chân Thức, là cái Biết nhiệm mầu vắng lặng toàn khắp
pháp giới, ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không, nào
có nơi chốn. Chỉ tùy theo nghiệp mà hiện bày ra, thế gian
không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên, đều
là sự phân biệt, so lường của thức tâm : chỉ có lời
nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.
Thông
rằng : Nói Đất, Nước, Lửa, Gió nương nơi hư không, là
tánh năm Đại của thế giới, gọi là Tướng Phần. Nói Thấy,
Nghe, Hay, Biết nương vào nơi Thức, là tánh năm Đại của
Căn Thân, gọi là Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần
đều từ Thức Thứ Tám sanh khởi, cho nên Thức Thứ Tám vắng
lặng như nhiên, thì gọi đó là Diệu Giác, là Như Lai Tạng.
Nay
lấy năm Thức trước làm Kiến Đại, đó là chỗ gọi Tánh
Cảnh thuộc Hiện Lượng. Lấy Thức Thứ Sáu làm Thức Đại,
đó là chỗ gọi Phân Biệt Sự Thức, thuộc về Tỷ Lượng
hay Phi Lượng. Hàng Nhị Thừa vì không biết có Thức Thứ
Bảy và Thức Thứ Tám, lấy cái này cho là chủ nhân ông,
cho là gây ra nghiệp lành nghiệp dữ và nghiệp vô lậu. Thế
nên, năm Thức trước thì không có phân biệt, đến Thức
Thứ Sáu mới có thể phân biệt. Vậy nên ở đoạn kinh này
có nói “Cái Thức thì động, cái Thấy thì lặng yên”.
Đó chỉ là cái Thức này, chẳng sanh do cái Thấy, chẳng sanh
từ các tướng, chẳng sanh do nơi hư không, chẳng phải Nhân
Duyên sanh, chẳng phải không nguyên nhân mà bỗng nhiên tự
có, chẳng phải Tự Nhiên sanh ! Cái Thức Thứ Sáu này đủ
cả ba tánh thiện, ác và vô ký với cái Kiến Đại của sáu
căn ở trước mỗi cái đều có chủng tử và hiện hành,
vốn chẳng phải Hòa, chẳng phải Hợp, cả ba cái ấy đồng
là chẳng phải, rốt ráo là không chỗ nương. Thức này do
từ đâu mà đến ư ? Nếu sanh từ nơi cái Thấy, sanh từ
các Tướng, sanh nơi Hư Không thì đã có chỗ từ đó mà đến.
Đã có chỗ từ đó mà đến, bèn có nơi chốn, thì chẳng
toàn khắp. Chỉ là không từ đâu, không từ Không đến, không
từ Có đến, tức là Tánh không có chỗ từ đâu : vốn không
có bờ cõi, vốn tự tròn đầy, toàn khắp. Cho nên cái Phân
Biệt Sự Thức này cùng với hai cái Kiến Phần và Tướng
Phần đều gọi là Thất Đại. Thức này rốt là vắng lặng,
tức là hợp với Thức Thứ Tám, gọi là Như Lai Tạng.
Nếu
Thức Thứ Sáu hợp với Trần, tức là Đồng, là Có. Lìa
khỏi Trần, tức là Khác, là Không. Chẳng phải Hợp, chẳng
phải Lìa, không còn mảy dấu vết có thể tìm được, mới
được gọi là vắng lặng, như nhiên. Cái Thức vắng lặng
như nhiên này sao lại gọi là Tánh của Thức, là Thức Chân
Thật ? Vì từ cái Minh mà biết, chẳng phải từ Tình khởi
ra. Cái Thức này từ trong Chân Tánh, Chân Giác mà lưu xuất,
Thức bèn là Tánh vậy, Thức bèn là Giác vậy. Đó gọi là
chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí.
Cái
Minh Tri của Tánh Thức này là Chân Thức của Tánh Giác Minh.
Như sau có nói Diệu Minh, Minh Diệu, cũng gọi là Diệu Giác
vắng lặng như nhiên, toàn khắp pháp giới. Sáu Đại trước
thì gọi là thanh tịnh bản nhiên, chỉ có Đại này gọi là
Diệu Giác Trạm Nhiên, xét với Đẳng Giác, Diệu Giác có
chỗ phân biệt vi tế. Sáu Đại trước thì nói “Tròn đầy
khắp mười phương”, như là nghĩa Xứng Tánh. Còn Thức Đại
này thì nói “Ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không”,
như là nghĩa Phát Khởi”. Thức Tánh không có nguồn mà hay
làm nguồn cho muôn pháp. Phàm ở trước nói là Như Lai Tạng
đều quy về đây vậy.
Ở
Không Đại thì nói “Tâm ông hôn mê”, vì mê bốn Đại
và Hư Không khác nhau, vốn không biết Tánh của Hư Không là
Giác.
Ở
Kiến Đại thì nói “Tánh ông chìm đắm”, vì theo trần
trôi chảy không quay trở lại, không biết Kiến Đại là Giác
mà bất động.
Ở
Thức Đại thì nói “Tâm ông thô phù”, tức là Thức tiềm
tàng ở trong, phù là chỉ nhận phù căn, thô vì không đạt
đến nguồn gốc của Thức.
Năm
Ấm là thuộc về Mười Tám Giới, ở đây chỉ nói về Thức,
vì trong Như Lai Tạng vốn chẳng sanh chẳng diệt, cùng hòa
hợp với cái sanh diệt mà thành Thức A Lại Da. Nếu rốt
ráo quay về cái Bất Sanh Bất Diệt, thì gọi là Thức Thứ
Chín, tức Thức là Tánh vậy. Chẳng thể rốt ráo mà còn
chút ít sanh diệt, thì tuy là lặng trong không sóng cũng chỉ
là Thức mà chẳng phải Tánh. Người thấy Tánh thì chẳng
mê nơi Thức, nên an trụ nhiệm mầu nơi cái Tâm Ngộ vậy.
Tổ
Bửu Thọ thượng đường nói : “Tam giới Duy Tâm, vạn pháp
Duy Thức. Ngoài hiên mây sanh, trước rèm mưa giọt, khe suối
trong như lam, hoa đồng nở như gấm. Giờ đây mà chẳng xét
căn nguyên. Trễ nải mai kia hỏi Di Lặc. Hiểu chăng ? Đừng
có đứng lâu cho mệt”.
Tổ
Đơn Hà tụng rằng :
“Linh
nhiên chẳng dính cổ hay kim
Tam
giới đều trong một điểm Tâm
Ngoài
hiên hoa đào, xuân bướm múa
Trước
cửa dương liễu rực, oanh ca”.
Sách
Duy Tâm Quyết nói rằng : Cây sườn núi trước sân mỗi mỗi
đều trổi bày cái tướng nhiệm mầu của Vô Biên. Vượn
hú, chim kêu đều cùng nhau phát lên tiếng vẹn tròn của Bất
Nhị”.
Có
ngộ được chỗ này mới tin được là khắp đại địa không
có chỗ nào chẳng phải là thuốc, đâu chỉ ở trong Thất
Đại mà thôi đâu ? Chẳng được như thế, có nhập Lý, luận
đàm sâu xa thì cũng đổi ra thành thuốc độc ! Đâu phải
chỉ có Nhân Duyên, Tự Nhiên mới là hý luận !
Có
nhà sư hỏi Tổ Dược Sơn : “Chuyện mình chưa rõ, xin Hòa
Thượng chỉ bày”.
Tổ
Sơn nói : “Ta nay vì ông mà nói một câu thì cũng không khó.
Chỉ như ông nay dưới lời nói mà thấy được thì còn có
đôi chút rõ ràng. Còn nếu rơi vào suy lường, thì thành ra
tội lỗi của ta. Chi bằng ai nấy ngậm miệng, khỏi làm lụy
đến nhau”.
Thế,
mới biết cái thức tâm đo lường mò mẫm thì với đạo
ngày càng đi xa. Chỉ dùng lời nói thì chẳng phải là Thật
Nghĩa.
II.
ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN
Kinh
: Lúc bấy giờ, Ông Anan và cả đại chúng nhờ Phật Như
Lai vi diệu chỉ bày, thân tâm rỗng rang, không gì chướng
ngại. Cả đại chúng ấy, mỗi người đều tự biết Tâm
đầy khắp mười phương. Thấy mười phương Không như xem
chiếc lá trong bàn tay, tất cả thế gian, hết thảy vật gì
cũng đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Tâm Tánh tròn
khắp, trùm chứa cả mười phương cõi nước. Nhìn trở lại
cái thân cha mẹ sanh ra, như một hạt bụi trong hư không mười
phương, như còn như mất. Như biển lớn lặng trong, nổi trôi
một bọt nước, khởi diệt chẳng màng. Rõ ràng tự biết,
vào được cái Tâm nhiệm mầu xưa nay, thường trụ bất diệt.
Được
cái chưa từng có, bèn chấp tay lễ Phật, đối trước Như
Lai, nói lên bài kệ xưng tán bậc Giác Ngộ.
Thông
rằng : Tâm Tánh tròn khắp, hết thảy mười phương đều
bao trùm trong đó, Tâm Lượng rộng lớn vô biên, nên tự nó
như thế. Cho đến thấy mười phương Không như vật trong
bàn tay, trong đó có cả Thân Chánh Báo và hết thảy vi trần,
đó cũng mới là Hội Vọng Về Chân, dường còn cái Nhị
Kiến. So với cái Thấy “Thân tâm nhất như, ngoài thân không
vật” vẫn còn cách một sự xả bỏ(17) vậy.
Quan
đại phu họ Lục hỏi Tổ Nam Tuyền rằng : “Ngài pháp sư
Tăng Triệu thật là kỳ đặc, Ngài nói : Trời đất với
ta đồng nguồn, vạn vật cùng ta một thể”.
Tổ
Nam Tuyền chỉ cây mẫu đơn trước sân mà nói : “Này đại
phu ! Vậy mà người đời thấy cây hoa này như mộng ảo !”
Ông
Lục hụt hẫng.
Ngài
Tuyết Đậu tụng rằng :
“Thấy
Nghe Hay Biết đều chẳng phải
Núi
sông sao lại thấy trong gương
Trời
sương trăng xế, đêm gần nửa
Ai
soi bóng lạnh với đầm trong”.
(Văn
kiến giác tri phi nhất nhất
Sơn
hà bất tại cảnh trung quan
Sương
thiên nguyệt lạc dạ tương bán
Thùy
cọng trừng đàm chiếu ảnh hàn).
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Soi
thấu, ngoài vi đấy cội nguồn
Xôn
xao khởi diệt, thấy Diệu Môn
Thần
chơi ngoài kiếp, gì là Có ?
Để
mắt nhìn ra, biết Diệu Tồn
Cọp
rống ào ào hang núi vắng
Rồng
ngâm muôn vẻ động mù mây
Nam
Tuyền điểm phá người đời mộng
Biết
đấy đường đường Bổ Xứ Tôn (Bổ Xứ Phật)”.
Cổ
đức nói “Xứ xứ đều là Từ Thị(18). Cửa cửa đều
có Thiện Tài”. Đây tức là : tất cả thế gian, mỗi mỗi
sự vật đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Ở đó mà
biết được thì tự biết cái Thường Trụ Bất Diệt, mà
tin hiểu mỗi mỗi bọt nước là toàn thể đại dương. Không
thấy ở đâu có tướng khởi diệt, nên nói “Khởi diệt
chẳng màng”.
Vua
Thuận Tông nhà Đường hỏi Tổ Phật Quang Mãn : “Phật từ
đâu mà đến, tịch diệt hướng về đâu mà lui ? Đã nói
thường trụ thế, thì nay Phật tại chốn nào ?”
Tổ
Mãn đáp : “Phật từ cái Vô Vi đi lại, tịch diệt hướng
về cái Vô Vi lui về. Pháp Thân đồng hư không, thường trụ
nơi Vô Tâm. Có niệm cũng là Vô Niệm, có trụ cũng là Vô
Trụ. Đến, vì chúng sanh mà đến; đi vì chúng sanh mà đi.
Biển Chân Như thanh tịnh, thể thường trụ vắng lặng như
nhiên. Kẻ trí khéo tư duy, chớ sanh lòng lo nghĩ”.
Vua
lại hỏi : “Phật hướng về cung vua mà sanh, diệt hướng
về Song Lâm mà tịch, trụ thế bốn mươi chín năm, lại nói
chẳng có pháp nào để thuyết. Núi, sông cùng biển lớn,
trời đất cho đến trời trăng, đến thời đều diệt tận,
ai nói được là không sống chết ? Lòng nghi dường ấy, xin
trí giả khéo phân biệt cho”.
Ngài
đáp : “Thể Phật vốn Vô Vi, mê tình vọng phân biệt. Pháp
Thân đồng hư không, chưa từng có sanh diệt. Có duyên, ấy
là Phật xuất thế. Không duyên, ấy là Phật nhập diệt.
Chốn chốn giáo hóa chúng sanh, cũng như trăng dưới nước.
Chẳng phải Thường cũng chẳng phải Đoạn, chẳng phải Sanh
cũng chẳng phải Diệt. Sanh cũng chẳng từng sanh, diệt cũng
chưa từng diệt. Rõ thấy chỗ Vô Tâm, tự nhiên không có
pháp nào để nói”.
Vua
rất đẹp lòng.
Tướng
quốc Bùi Hưu ngày nọ vào chùa Khai Nguyên, thấy bức tranh
trên vách, hỏi vị chủ chùa : “Cái ấy vẽ cái gì ?”
Chủ
chùa nói : “Vẽ cao tăng”.
Tướng
Bùi nói : “Hình ảnh ở đó, cao tăng ở tại chỗ nào ?”
Vị
chủ chùa không đáp được.
Bùi
Hưu nói : “Ở đây không có thiền sư sao ?”
Chủ
chùa nói : “Có một người”.
Bèn
thỉnh Ngài Hoàng Bá đến gặp, và kể lại chuyện trước
mà hỏi Ngài.
Tổ
Bá gọi lớn : “Bùi Hưu !”
Ông
Bùi ứng tiếng : “Dạ”.
Tổ
Bá nói : “Ở tại chỗ nào ?”
Bùi
Hưu nghe xong có chỗ tỉnh ngộ.
Chỗ
này đây có thể làm chứng cứ cho cái Thường Trụ Bất Diệt,
nên chép vào.
Kinh
:
Diệu
Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn
Thủ
Lăng Nghiêm Vương đời ít có.
Thông
rằng : Ngài Định Lâm nói : “Cái Thức Tinh là Nước. Nước
chẳng dao động thì gọi là Trạm, lặng trong. Nói là Viên
Trạm(19), ấy là thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới
chẳng chia làm sáu (sáu Thức), tức là Toàn Lặng vậy. Gọi
là Diệu Trạm, vì đó là cái Diệu Lực Bất Động tổng
trì tất cả, tức là cái Lặng Trong Nhiệm Mầu vậy”.
Nói
Tánh Giác Trạm Minh, là Giác hợp với Thức Tinh, như mặt
trời hợp với Nước mà có tánh trong sáng. Nói “Trạm Tinh
Viên Thường” tức là Thức Tinh Toàn Lặng vậy.
Đã
dứt hết sanh diệt, nói là Thường. Nhưng cái Trạm này không
phải là không còn chảy, chỉ vì chảy nhanh quá mà nhìn thấy
dường như đứng yên đấy thôi. Kinh nói “Cái Thức động,
cái Thấy lặng yên”, nghĩa là Thức có tánh động, gọi
là nguồn gốc các Tưởng. Thức tự nó chẳng phải là Diệu
Trạm Tổng Trì nên niệm niệm chịu huân tập, tạo ra dòng
tập khí chảy mạnh, thành ra các Hành. Trong kinh nói các Hành
ví dụ như dòng nước, là theo như đây vậy. Nhưng Thức mà
so với các Hành thì giống như đứng lặng, nên sau có nói
“Lặng yên nhập vào lặng yên”, như sóng diệt thì thành
nước lặng yên, mà gọi là Hành Ấm hết tận. Ở trong xa,
lặng trong mà sáng tỏ, nhập mà không có chỗ nhập, là lãnh
vực của Thức Ấm. Vậy thì nói Trạm Nhập, cái Trong Lặng
nhập vào ấy, là Thức Ấm. Trạm Nhập là Thức Ấm, thì
Trạm là cái Minh Tri của Tánh Thức. Cái Minh Tri là Trí. Thức
nằm trong giới hạn của Trí. Nên nói đến năm Ấm thì nói
là “Lặng yên nhập vào Lặng yên”, nghĩa là đưa về trong
giới hạn của Thức. Tánh Thức thì không gọi là Trạm Nhập,
mà toàn khắp pháp giới, không có xuất, không có nhập.
Chỗ
gọi là “Nội Nội Trạm Minh, Nhập Vô Sở Nhập” là cái
Trạm (lặng trong) xuất ra thì làm Hành Ấm, cái Hành như nước
chảy. Trạm Nhập là Thức, cái Thức diệt hết Hành Ấm,
thế là “sâu lại càng sâu, lặng yên trong sáng” cho đến
nguồn căn của các Tưởng rốt không có chỗ Nhập (Vô Sở
Nhập).
Cái
gọi là Thức Tinh tức là A Đà Na Thức. Còn chỗ gọi là
làm dính che cái Trạm(20), tức là làm dính che cái Thức Tinh
này. Thức Tinh này như nước trong sạch, vốn không có tính
dính, chỉ vì vọng khởi phân biệt, nên cùng với Sắc hiệp,
cũng như nước hòa với đất thành ra sự dính. Nếu biết
cái Thức Tinh ấy như nước trong sạch, vốn không có tính
dính, thì không hợp với Sắc, thoát ra khỏi sự dán dính.
Trạm
có Viên Trạm, Diệu Trạm, Giác Trạm và Tinh Trạm; có Trạm
Nhập, có Niêm Trạm như các nghĩa nói ở trước, khác biệt
rất ít, toàn là những cách ví dụ.
Ngài
Mã Minh nói : “Vì y theo cái Bất Giác nên tâm động mà thành
nghiệp. Tánh Giác thì bất động”. Phàm Tánh Giác là chẳng
động, tức là cái “Diệu Trạm Tổng Trì” vậy. Động
là nghiệp, trôi lăn mà thành các hành vậy. Gọi là Thủ Lăng
Nghiêm Vương vì cái Định Thủ Lăng Nghiêm thì hàng Thập
Địa thường trụ ở trong đó, nên Đức Phật là vua vậy.
Ngài
Phó Đại Sĩ một hôm đang giảng kinh thì nhà vua đến. Đại
chúng đều đứng dậy, chỉ có Ngài là ngồi yên chẳng động.
Cận
thần báo rằng “Thánh Giá đến đây sao chẳng đứng lên
?”
Ngài
nói : “Pháp Địa nếu động, tất cả chẳng an!”
Như
Đại Sĩ, quả là thật đắc Định Thủ Lăng Nghiêm vậy.
Có
nhà sư hỏi thiền sư Khương Sơn Phương : “Thế nào là Bất
Động Tôn ?”
Tổ
Phương nói : “Chỉ mặc một áo vải lót đi qua chợ”.
Nhà
sư nói : “Kẻ học nhơn chưa hiểu”.
Tổ
Phương nói : “Cưỡi lừa đạp phá Động Đình hồ”.
Nhà
sư nói : “Thấu qua ba lớp sóng, ròng nghe một tiếng sấm”.
Tổ
Phương nói : “Duỗi tay chẳng thấy bàn tay”.
Nhà
sư : “Có cho phép kẻ học nhơn này tiến đến hay không ?”
Tổ
Phương nói : “Đạp trên đất mà rao bảo hư không”.
Nhà
sư nói : “Dưới cửa sấm, đánh trống kêu gì ?”
Tổ
Phương nói : “Vào trong trái cầu thêu, chẳng dùng cờ ngũ
sắc”.
Nhà
sư nói : “Ba mươi năm sau, lời này sẽ thịnh hành”.
Tổ
Phương bèn đánh.
Tổ
Khương Sơn tự là người ở trong ấy, chẳng ngại theo dòng
mà được Diệu. Nhà sư ấy nhận lầm phương hướng nên
khó nói cùng nhau.
Kinh
:
Tiêu
điên đảo tưởng trong ức kiếp,
Chẳng
trải tăng kỳ được Pháp Thân.
Thông
rằng : Ức kiếp thì còn có số để chỉ, còn a tăng kỳ
là ba vô số kiếp. Từ vô thủy đến nay mê cái Chân mà nhận
lấy Vọng, đều là cái thấy điên đảo. Nay đem Vọng về
Chân, được cái Bản Tâm nhiệm mầu, thường trụ, bất diệt.
Như ở trước nói Như Lai Tạng, tức là Pháp Thân vậy.
Có
vị tăng hỏi Ngài Hoàng Bá : “Kinh dạy rằng : “Tiêu điên
đảo tưởng trong ức kiếp. Chẳng trải tăng kỳ được Pháp
Thân”, là như thế nào ?”
Tổ
Bá nói : “Nếu lấy sự tu hành trong ba vô số kiếp để
có chỗ chứng đắc, thì hết hằng hà sa số kiếp cũng chẳng
được. Còn nếu trong một sát na mà được Pháp Thân, liền
ngay thấy Tánh vậy. Đó cũng là chỗ nói rốt ráo của Tam
Thừa. Vì sao thế ? Vì, thấy có Pháp Thân để đắc, tức
thuộc về giáo pháp bất liễu nghĩa”.
Tổ
Hoàng Bá xuất lời, nhả khí thật là căn khí Đại Thừa.
Ông
Anan đã được Pháp Thân sao lại còn nói “Mong được xét
trừ lầm vi tế ?” Vì ông còn thấy có Pháp Thân để được
vậy.
Thượng
Tọa Thái Nguyên Phu ban đầu giảng kinh Niết Bàn ở chùa Quang
Hiếu tại Dương Châu. Có một thiền giả vì trời mưa tuyết
nhân đó đến nghe kinh. Đến chỗ “Ba cái Nhân của Phật
Tánh, ba cái Đức của Pháp Thân”, vị Thượng Tọa đang
giảng rộng về diệu lý của Pháp Thân, thiền giả bật cười.
Giảng
xong, Thượng Tọa mời thiền giả uống trà, rồi nói : “Chí
tôi hẹp cạn, nên y theo văn mà giải nghĩa, bỗng nhờ gặp
tiếng cười, xin được nghe chỉ dạy”.
Thiền
giả nói : “Quả là tôi cười vì Tòa Chủ không biết Pháp
Thân”.
Thầy
Phu nói : “Giảng thuyết như thế, chỗ nào chẳng được
đúng ?”
Đáp
: “Xin Tòa Chủ nói lại một lần nữa !”
Thầy
Phu nói : “Cái Lý của Pháp Thân là giống như Thái Hư, dọc
suốt ba thời, ngang khắp mười phương, điều hòa Bát Cực,
bao gồm Âm Dương, tùy duyên cảm ứng, không đâu chẳng khắp”.
Thiền
giả nói : “Tôi không nói Tòa Chủ giảng không đúng. Nhưng
ấy là chỉ mới nói được chút ít cái lượng của Pháp
Thân, mà quả thật chưa biết Pháp Thân ở đâu”.
Thầy
Phu nói : “Đã như thế, xin thiền đức vì tôi mà nói”.
Thiền
giả : “Tòa Chủ có tin không ?”
Thầy
Phu nói : “Đâu dám chẳng tin”.
Thiền
giả nói : “Nếu như thế thì Tòa Chủ tạm ngừng giảng
vài ngày, ở trong tịnh thất an nhiên dứt nghỉ, thâu tâm
nhiếp niệm, thiện ác các duyên một phen buông bỏ hết”.
Thầy
Phu theo đúng lời dạy, từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng
mõ, hốt nhiên khế ngộ. Bèn chạy đến gõ cửa.
Thiền
giả hỏi : “Ai đó ?”
Thầy
Phu đáp : “Dạ, tôi”.
Thiền
giả la rằng : “Dạy ông gìn giữ đại giáo, thay Phật thuyết
pháp sao nửa đêm lại say rượu nằm đường !”
Thầy
Phu nói : “Thiền đức tự đến giảng kinh, đem cái lỗ mũi
cha sanh mẹ đẻ của tôi ra mà vặn. Từ nay trở đi, chẳng
dám lầm lỗi như vậy nữa”.
Thiền
giả nói : “Đi đi, ngày sau gặp nhau”.
Như
thầy Phu thật là “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”.
Có
nhà sư hỏi Hòa Thượng Lợi Sơn : “Chẳng trải tăng kỳ
được Pháp Thân, xin thầy chỉ thẳng”.
Tổ
Sơn nói : “Con nối nghiệp cha”.
Hỏi
: “Làm sao lãnh hội ?”
Tổ
Sơn nói : “Chê bỏ thì chẳng có lành (từ)”.
Hỏi
: “Như thế thì đại chúng đã nhờ được rồi ?”
Tổ
Sơn nói : “Đại chúng hãy để đó, thế nào là Pháp Thân
?”
Nhà
sư không đáp được.
Tổ
Sơn nói : “Ông hỏi, ta nói cho”.
Nhà
sư nói : “Thế nào là Pháp Thân ?”
Tổ
Sơn nói : “Hoa không, bóng nắng(21)”.
Thử
nói xem chỗ nói Pháp Thân của Ngài Lợi Sơn so với Ông Anan
xa gần thế nào ?
Kinh
:
Nguyện
nay đắc quả, thành Bảo Vương,
Về
độ như thế, hằng sa chúng,
Thông
rằng : “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”, thì Tín
Vị là đúng mà Nhân Vị thì chưa phải. Cho nên, Hạnh tròn
Quả mãn, thật chứng Chân Trí, như ngọc lưu ly thanh tịnh,
ngậm chứa mặt trăng báu ở trong, mới đắc thành Bảo Vương.
Lúc ấy, nhìn khắp tất cả chúng sanh đều có đức tướng
Trí Huệ Như Lai, ta đều mỗi mỗi độ hết; chúng sanh vô
tận, nguyện này vô tận, từ bi tròn đầy, trong ấy chẳng
còn cái ta nữa. Thế mới là Phật, Pháp, Tăng, ba Thể quý
báu, là cầu bến của chúng sanh vậy.
Ngài
Động Sơn Sơ ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.
Tổ
hỏi : “Mới rời chốn nào ?”
Đáp
: “Tra Độ”.
Tổ
Môn nói : “Nhập hạ ở đâu ?”
Đáp
: “Chùa Báo Từ ở Hồ Nam”.
Tổ
Môn nói : “Rời chỗ đó khi nào ?”
Đáp
: “Ngày Hai Mươi Lăm, tháng Tám”.
Tổ
Môn nói : “Tha cho ông ba mươi gậy”.
Sáng
hôm sau, Ngài Động Sơn lại đến, hỏi : “Hôm qua nhờ Hòa
Thượng tha cho ba mươi gậy, không rõ có lỗi gì ?”
Tổ
Môn nói : “Đồ túi cơm ! Giang Tây, Hồ Nam bèn thế ấy !”
Ngài
Động Sơn ngay nơi lời nói đại ngộ, bèn nói: “Từ nay
về sau hướng về chốn bặt không người, không khói, không
giữ một hột cơm, không trồng một cọng rau, mà tiếp đãi
hết ráo mười phương qua lại. Vì họ mà nhổ đinh tháo chốt,
lột bỏ cái mũ thoa dầu, cởi ra cái áo lót hôi thúi, dạy
y vĩnh viễn làm ông thầy tu vô sự, há chẳng khoái sao ?”
Tổ
Môn nói : “Thân ông chỉ lớn bằng trái dừa, sao há miệng
lớn thế !”
Ngài
Động Sơn bèn lễ bái.
Kinh
:
Nguyện
đem toàn thể thâm tâm này,
Phụng
sự cõi nước nhiều như bụi,
Thế
mới gọi là báo Phật Ân,
Thông
rằng : Hai chữ “thâm tâm” này có cái mùi vị mà hạng
thiển cận không thể đo lường nổi. Cõi nước nhiều như
bụi, không có bến bờ, Trí Bi vô lượng, cùng với Phật
đồng Tâm Từ, mới gọi là báo ơn vậy.
Ngài
Lâm Tế từ giã Tổ Hoàng Bá.
Tổ
hỏi : “Đi đến chốn nào ?”
Ngài
Lâm Tế đáp : “Không phải là Hà Nam, thì là Hà Bắc !”
Tổ
Bá liền đánh. Ngài chụp lại rồi thoi một thoi.
Tổ
Bá cười lớn, gọi thị giả : “Đem cây thiền bản trên
bàn thờ của Tiên Sư Bá Trượng lại đây”.
Ngài
Lâm Tế nói : “Thị giả, đem lửa lại đây !”
Tổ
Bá nói : “Tuy nhiên như thế, ông hãy đem đi, về sau rồi
ngồi trên đầu lưỡi của thiên hạ”.
Sau
này, Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Lâm Tế há chẳng
cô phụ Hoàng Bá đấy ư ?”
Ngài
Ngưỡng Sơn nói : “Không đâu”.
Tổ
Quy nói : “Con lại còn cho làm sao ?”
Ngài
Ngưỡng Sơn nói : “Biết ơn mới biết trả ơn”.
Tổ
Quy nói : “Xưa kia cổ nhơn có chuyện tương tự như thế
không ?”
Ngài
Ngưỡng nói : “Có chứ, nhưng lâu xa quá nên không muốn nêu
ra”.
Tổ
nói : “Dầu như thế, ta không biết, con hãy nêu ra đi”.
Ngài
nói : “Như ở hội Lăng Nghiêm, Anan tán thán Phật rằng :
“Nguyện đem toàn thể thâm tâm này, phụng sự cõi nước
nhiều như bụi. Thế mới gọi là báo Phật Ân”. Đó chẳng
phải là việc báo ơn sao ?”
Tổ
Quy nói : “Thế đấy, thế đấy ! Chỗ Thấy ngang Thầy, thì
giảm một nửa Đức của Thầy. Chỗ Thấy hơn Thầy mới
nên truyền thọ”.
Lại
Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Sau này Lâm Tế như thế
nào ?”
Ngài
Ngưỡng Sơn đáp : “Khoảng giữa đất Ngô, đất Việt có
một người, gặp gió lớn thì ngừng lại”.
Tổ
Quy nói : “Vậy là thế nào ?”
Ngài
Ngưỡng nói : “Đem thâm tâm này hiến trần sát. Đó mới
gọi là báo Phật Ân !”
Về
sau, Ngài Phong Huyệt Chiểu đắc pháp với Ngài Thủ Sơn Niệm.
Người ta cho đó là Ngưỡng Sơn trở lại.
Như
Tổ Ngưỡng Sơn quả là có thâm tâm, thế nào lường được
ư ? Thế nào lường được ư ?
Kinh
:
Cúi
xin Thế Tôn chứng minh cho,
Ngũ
trược ác thế, thề vào trước,
Thông
rằng : Năm Ấm chưa Không, thì Năm Trược khó phá, làm sao
độ hết thảy khổ ách ? Chỉ có bậc đắc quả, đã chứng
pháp xuất thế gian nên chẳng ngại “Thõng tay vào chợ”,
lấy Giác mà giác ngộ cho người. Chỗ nói “Đem thâm tâm
này hiến trần sát”, tất trước dâng cho đời ác Năm Trược
vậy. Cái Nghiệp của Ông Anan là cái Nguyện này. Ở quốc
độ này, có Ngài Phó Đại Sĩ đủ sức đảm đương việc
đó.
Đại
Sĩ tên là Hấp, năm mười sáu tuổi cưới cô gái Diệu Quang
nhà Lưu Thị, sanh hai con tên là Phổ Kiến và Phổ Thành. Năm
hai mươi bốn tuổi bán vợ con mà làm hội cúng thí các loài
dưới nước, trên cạn. Rảnh rỗi thì cùng người trong làng
ngăn bờ bắt cá. Bắt được, nhận giỏ cá xuống sông, rồi
chú nguyện cho: “Đi thì thả, ở thì giữ”. Ai cũng cho là
khùng dại.
Gặp
vị Đầu Đà người Ấn là Tăng Tung. Vị này nói : “Ta cùng
ông đã phát nguyện ở chỗ Phật Tỳ Bà Thi. Nay y bát vẫn
còn ở cung trời Đâu Suất, ngày nào ông trở về ?”. Rồi
bảo Ngài ra nơi nước nhìn bóng, thì thấy hào quang và lọng
báu.
Ngài
cười mà nói : “Nơi lò rèn còn nhiều sắt vụn, nơi cửa
thầy thuốc có lắm bệnh nhân. Cứu đời là cần gấp, sao
mà nghĩ đến cái vui kia ?”
Vị
Đầu Đà chỉ lên ngọn Tùng Sơn mà nói : “Chỗ ấy dừng
ở được”.
Đại
Sĩ tự mình cày ruộng ở đó. Có người trộm đậu, lúa,
dưa, trái Ngài cho luôn giỏ để đựng.
Năm
thứ hai đời Thiên Gia thị tịch, cảm ứng có bảy vị Phật
cùng theo đưa, đức Thích Ca dẫn đầu, cuối là Ngài Duy Ma
Cật. Đức Thích Ca nói mấy lời : “Làm Bổ Xứ cho Ta”.
Chỉ
thẳng Tâm người, thấy Tánh thành Phật, Chánh Pháp Nhãn Tạng
từ Đức Ca Diếp, Đức Anan truyền đến Tổ Đạt Ma là hai
mươi tám đời. Cõi này tuy có kinh điển, nhưng chưa được
nghe cái Tông Phong tối thượng. Thế mà Tổ Đạt Ma chưa tới,
Ngài Đại Sĩ đã sanh, thế không phải là cái minh chứng cho
việc Vào trước hay sao ?
Kinh
:
Còn
một chúng sanh chưa thành Phật,
Rốt
chẳng nơi kia nhận Niết Bàn,
Thông
rằng : Vô lượng Chư Phật đời quá khứ độ thoát vô lượng
chúng sanh. Đâu phải ai ai cũng thành Phật rồi, mà đã nhập
Niết Bàn ? Kinh Kim Cang nói: “Ta đều khiến nhập Niết Bàn
Vô Dư mà diệt độ, kỳ thật không có chúng sanh được diệt
độ”. Đến cảnh giới này thì không thấy có Phật để
thành, có chúng sanh để độ, cũng không có Niết Bàn để
nhập, mới là Chánh Kiến.
Có
vị tăng hỏi Ngài Trung quốc sư : “Cái gì là Phật Tâm ?”
Quốc
sư nói : “Tường vách gạch ngói chính là đó”.
Tăng
hỏi : “Rất trái với kinh vậy. Kinh Niết Bàn nói “Lìa
ngoài vật vô tình tường vách, nên gọi là
Phật
Tánh”. Nay nói đó là Phật Tâm, chưa rõ Tâm và Tánh là khác
hay chẳng khác ?”
Ngài
đáp : “Mê thì khác, ngộ tức chẳng khác”.
Tăng
nói : “Kinh nói : Phật Tánh là thường, tâm là vô thường,
nay nói chẳng khác nhau, là sao vậy ?”
Ngài
đáp : “Ông chỉ y vào lời nói, mà chẳng y vào nghĩa. Ví
như tháng lạnh, nước kết thành băng. Đến khi trời ấm,
băng tan thành nước. Khi chúng sanh mê, thì kết Tánh thành
cái tâm. Khi chúng sanh ngộ, rã tan cái tâm thành Tánh. Nếu
chấp rằng vô tình không có Phật Tánh, thì rốt ráo chẳng
nói được Tam Giới Duy Tâm. Rõ ràng ông tự trái với kinh,
ta nào có trái”.
Tăng
nói : “Trong kinh giáo chỉ thấy nói hữu tình thành Phật,
chẳng thấy có vô tình được thọ ký. Vả lại, ngàn Phật
đời Hiền Kiếp có ai là Phật vô tình đâu ?”
Ngài
nói : “Như Hoàng Thái Tử khi chưa lên ngôi thì chỉ có một
thân. Lên ngôi rồi, toàn quốc độ đều thuộc về vua, há
có quốc độ riêng nhận ngôi vị ư? Nay khi chỉ có hữu tình
được thọ ký làm Phật, thì mười phương quốc độ đều
là thân Phật Tỳ Lô Giá Na, há lại có vô tình được thọ
ký ư ?”
Tăng
nói : “Tất cả chúng sanh đều ở trên thân Phật, ỉa đái
dơ lấm thân Phật, xoi đục dày đạp thân Phật, há chẳng
có tội sao ?”
Ngài
nói : “Toàn thể chúng sanh là Phật thì còn ai làm tội ?”
Tăng
hỏi : “Kinh nói : Thân Phật không quái ngại, nay lấy vật
hữu vi chướng ngại mà làm thân Phật, thế chẳng trái với
Thánh chỉ ư ?”
Ngài
nói : “Kinh Đại Phẩm nói : Không thể lìa hữu vi mà nói
vô vi. Ông có tin Sắc là Không chăng?”
Tăng
nói : “Lời chân thật của Phật sao dám chẳng tin”.
Ngài
nói : “Sắc đã là Không, sao còn quái ngại ?”
Tăng
nói : “Chúng sanh vốn đồng Phật Tánh, thì chỉ cần một
vị Phật tu hành, khi ấy hết thảy chúng sanh đều giải thoát.
Nay đã không thế, thì nghĩa đồng ở đâu ?”
Ngài
nói : “Ông chẳng thấy Lục Tướng nghĩa Hoa Nghiêm nói rằng
: trong cái Đồng có cái Khác, trong cái Khác có cái Đồng.
Tướng Thành, Tướng Hoại, tướng Tổng, tướng Biệt mỗi
mỗi đều như thế. Chúng sanh cùng Phật, tuy đồng một Tánh
mà chẳng trở ngại mỗi mỗi tự tu tự đắc. Chưa từng
thấy người ăn mà mình no. Lấy bọt nước và biển làm thí
dụ. Một bọt nước đã tan mất thì toàn thể vẫn vốn là
biển cả. Chưa hề thấy một bọt nước tan mà tất cả bọt
đều tan. Nên trong cái Tánh ấy đâu có ngại gì mỗi người
tự tu, mỗi người tự đắc”.
Đã
ngộ khắp hết thảy đều là nước, thì có bọt nào mà không
là nước ? Chúng sanh chẳng phải là Phật đấy sao ? Nếu
thấy tất cả chúng sanh là Phật, thì bèn ở trong Niết Bàn.
Kinh
:
Đại
Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi,
Mong
xét trừ cho lầm vi tế,
Thông
rằng : : Đại Hùng(22), vì bậc Thập Địa bên dưới là Thư,
con mái. Đại Lực vì vượt quá Ngũ Lực. Cho sự vui là Từ.
Cứu khỏi khổ gọi là Bi. Muốn khiến cho cái tâm kia thông
suốt mới gọi được là Tự Tánh hiện bày, nên Anan hy vọng
Thế Tôn xét trừ cho mê lầm vi tế. Đã được Pháp Thân,
sao lại còn điều lầm ?
Tổ
Vân Môn nói : “Được ngay sự chạm mắt không vướng ngại,
thấu được Danh Thân, Cú Thân tất cả các pháp đều Không,
núi sông đất đai là Danh Thân, cũng là bất khả đắc. Gọi
đó là Biển Tánh Tam Muội sẵn đủ, như biển không sóng
gió. Được ngay sự quên thấy biết nơi cái Giác, Giác là
Phật Tánh đó vậy. Gọi là người Vô Sự, nhưng cũng cần
biết có một khiếu (lỗ) hướng thượng !”
Tổ
Thiên Đồng nêu ra : “Khách, chủ không hòa, cả hai đều
có lỗi. Mỗi bên đều cho hai mươi gậy. Còn một khiếu hướng
thượng thì làm sao ? Tê giác nhân xem trăng mà sừng sanh vằn.
Voi bị sấm hoảng kinh mà hoa in vào ngà”.
Ngày
khác, Tổ Vân Môn lại nói : “Ánh sáng không thấu thoát do
có hai loại bệnh. Một là tất cả chỗ không sáng, trước
mặt có vật. Hai là thấu suốt được tất cả pháp là Không,
mà còn có cái mơ hồ tương tự như vật, đó cũng là ánh
sáng không thấu thoát. Pháp Thân cũng có hai loại bệnh. Một
là đến được Pháp Thân, nhưng vì pháp chấp chưa hết, cái
Thấy của mình dường như còn, mà ngồi một bên Pháp Thân.
Hai là tuy đã thấu được Pháp Thân mà bỏ đi chẳng được,
kiểm điểm kỹ càng trở lại, có chút khí tức gì cũng là
bệnh”.
Ngài
Thiên Đồng tụng rằng :
“Um
tùm muôn tượng khá chênh vênh
Thấu
thoát không đâu ngại mắt mình
Quét
sạch môn đình ai đủ sức ?
Núp
trong lồng ngực : tự thành Tình
Thuyền
ngang bờ lục, màu thu biếc
Vào
đám bông lau, tuyết sáng soi
Xâu
sợi ông chài ôm đến chợ
Êm
êm thuyền lá mặc buông trôi”.
Tổ
Càn Phong nói : “Pháp Thân có ba thứ bệnh, hai thứ ánh sáng,
sao Vân Môn lại thiếu đi một thứ?” Các nơi đều nói :
“Chưa đến thì chạy quàng. Đến rồi thì bám riết. Thấu
thoát không chỗ nương. Đó là ba. Thế là trước thiếu một
thứ”. Phật Nhãn nói : “Cỡi lừa tìm lừa, là một. Cỡi
lừa rồi chẳng chịu xuống, đó là hai”. Thế là sau còn
thiếu một thứ”.
Các
tôn túc bàn luận ba thứ bệnh của Pháp Thân, vi tế đến
như thế. Đâu có liên quan gì đến kinh giáo ư ?
Kinh
:
Khiến
tôi sớm lên Vô Thượng Giác,
Nơi
mười phương cõi ngồi Đạo Tràng,
Thông
rằng : Vô Thượng Giác ấy tức là một khiếu hướng thượng
vậy. So với ở trước “Được Pháp Thân và đắc quả”,
thì có sai khác ư ? Không sai khác ư ? Chỗ có thể nói là
Phật Quả thì có bảy; Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật
Tánh, A Ma La Thức, Không Như Lai Tạng và Đại Viên Cảnh Trí.
Ngộ
Bồ Đề, thấy Phật Tánh có thể nói là được Pháp Thân.
Sau khi thấy Tánh, xét trừ mê lầm vi tế khiến sanh diệt,
diệt sanh đều vắng lặng, cùng hợp với Niết Bàn, Chân
Như. Trong trắng thuần sạch, hợp cùng A Ma La Thức. Rỗng
suốt tròn soi, hợp cùng Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh
Trí. Như thế mới có thể gọi là đắc quả, nhưng chưa có
thể gọi là lên Vô Thượng Giác.
Xem
một chữ Sớm (Tảo(23)) là pháp môn Đốn Ngộ, một hiểu
được thì trăm thành ra ngay, không nhờ tu hành thứ bậc,
chẳng kể phàm phu hay Thập Địa, ai ai cũng có thể lên.
Đức
Phật nói rằng : “Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu
Tâm mật phó cho Ông Ca Diếp”. Nào có dấu vết tăm hơi gì
khá được ư ? Đây tức là Vô Thượng Giác vậy. Một lần
lên cái Giác này là đến địa vị Phật, bèn ở mười phương
cõi ngồi tòa sen báu, vì chúng sanh thuyết pháp. Long Nữ còn
như vậy, huống là bực đệ tử Thanh Văn ư ?
Ngài
Dược Sơn ở với Đức Mã Tổ ba năm.
Đức
Mã Tổ hỏi : “Gần đây chỗ thấy của ông ra sao ?”
Ngài
Sơn nói : “Da dẻ rơi rụng sạch, chỉ còn một cái Chơn
Thật”.
Đức
Mã Tổ nói : “Chỗ được của ông khá gọi là hợp với
Tâm Thể, trải khắp tay chân. Đã như thế thì đem ba miếng
cật tre bó giữ da bụng, tùy chỗ mà trụ sơn(24) đi”.
Ngài
thưa : “Tôi là người nào mà dám nói chuyện trụ sơn ?”
Đức
Mã Tổ nói : “Chẳng phải thế đâu. Chưa hề có đi mãi
mà không đứng lại. Chưa hề có dừng mãi mà không đi. Muốn
ích mà không có chỗ ích, muốn làm mà không có chỗ làm,
nên làm thuyền bè, không nên dừng lâu ở đây”.
Ngài
Đức Sơn đến Tổ Quy Sơn, kẹp một cái áo lót lên nhà giảng,
từ Tây sang Đông, từ Đông sang Tây quay nhìn Tổ Quy Sơn mà
nói : “Có chăng ?”
Tổ
Quy Sơn cứ ngồi, không để ý đến.
Ngài
Đức Sơn nói : “Không, không !”
Rồi
bỏ đi ra.
(Ngài
Tuyết Đậu chú rằng : “Khám phá xong rồi !”)
Ngài
Đức Sơn ra đến cửa, bèn nói : “Tuy là như thế, cũng chẳng
được buông tuồng”.
Rồi
đầy đủ oai nghi, trở vào tương kiến. Vừa qua khỏi cửa,
đưa lên cái tọa cụ, nói : “Hòa Thượng !”
Tổ
Quy Sơn định lấy cây phất tử. Ngài bèn hét, phất tay áo
mà đi ra.
(Ngài
Tuyết Đậu chú thêm : “Khám phá xong rồi !”)
Tổ
Quy Sơn đến tối hỏi Thủ Tọa : “Cái ông mới đến ngày
hôm nay có đây không ?”
Thủ
Tọa nói : “Ngay khi ra khỏi nhà giảng thì mang dép cỏ đi
luôn rồi”.
Tổ
Quy Sơn nói : “Ông ấy về sau lên đỉnh núi đơn độc chót
vót kết thảo am, la Phật mắng Tổ đó”.
Ngài
Tuyết Đậu chú rằng : “Trên tuyết lại thêm sương !”
Rồi
tụng rằng :
“Một
khám phá, hai khám phá !
Trên
tuyết thêm sương, thêm hiểm họa
Tướng
quân bay ngựa vào triều giặc
Về
được hoàn toàn có mấy ai ?
Mau
chạy qua, chẳng bỏ qua !
Trên
đỉnh cô phong, ngồi am cỏ
Ối
!”.
Thêm
một chữ “Ối” này là ngón nghề kỳ đặc của Ngài Tuyết
Đậu. Chẳng lên Vô Thượng Giác khó mà hiểu nổi.
Kinh
:
Tánh
hư không còn có thể tiêu,
Tâm
Kim Cang không hề động chuyển,
Thông
rằng : Thuấn Nhã Đa(25) (Sũnyata) là Hư Không; Thước Ca Ra(26)
(Cakravãda) là kiên cố như Kim Cang. Câu này xưa nói “Tánh
Hư Không vô thể còn có thể tiêu vong. Tâm kiên cố của tôi
rốt ráo không động chuyển”. Tựa như Ông Anan phát nguyện
như vậy. Đã nguyện “Đắc quả thành Bảo Vương”, sao
lại có nguyện này ? Đã “Lên Vô Thượng Giác tọa Đạo
Tràng”, sao lại khăng khăng “Không động chuyển” ?
Câu
này vốn chẳng có lầm, phải cần biết cái yếu chỉ quy
về. Đó là “Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn. Thủ Lăng
Nghiêm Vương đời ít có”, nói ở trước.
Sao
nói là Diệu Trạm ? Vì, tuy Lặng Trong Bất Động, mà chẳng
bám giữ hư không, nên mới gọi là Diệu. Nếu trụ bám Hư
Không mà cho là bất động, thì rốt cuộc chẳng phải “Cả
thảy rốt ráo kiên cố”. Ý Ông Anan là : dù mười phương
ngồi Đạo Tràng, cũng không trụ bám Pháp Thân Hư Không, nên
Chánh Pháp Nhãn Tạng rốt ráo kiên cố. Cũng như nói “Thủ
Lăng Nghiêm Vương, Diệu Trạm Bất Động” vậy. Đầu đuôi
ứng nhau, lý thú còn lâu dài mãi.
Cổ
đức nói : “Dài là Pháp Thân dài, ngắn là Pháp Thân ngắn”.
Ngài
Thiên Đồng nêu ra rằng : “Thử nói xem : Thuấn Nhã Đa sao
lại gọi đó là Pháp Thân ?”
Ngài
im lặng một lúc rồi nói : “Có hiểu không ? Không thể nối
dài con le le mà cắt chân con hạc, phá hòn núi để lấp cái
lỗ hang !”
Lời
nói này chính là vì sợ người ta hướng về trong hư không
mà đóng chết ở trong đó.
Tổ
Sơ Sơn thượng đường, nói : “Bệnh tăng rõ hết trước
năm (niên tiền), thì hiểu được chuyện bên phía Pháp Thân.
Rõ hết sau năm (niên hậu) thì hiểu được chuyện hướng
thượng của Pháp Thân”.
Ngài
Vân Môn bước ra, hỏi : “Thế nào là chuyện bên phía Pháp
Thân ?”
Tổ
Sơn nói : “Cây Xuân(27) khô”.
Hỏi
: “Thế nào là chuyện hướng thượng của Pháp Thân ?”
Tổ
Sơn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô !”
Hỏi
: “Có cho phép tôi nói đạo lý không ?”
Tổ
Sơn nói : “Cho”.
Ngài
Vân Môn nói : “Cây Xuân khô há chẳng phải tỏ rõ cái chuyện
bên phía Pháp Thân sao ?”
Tổ
Sơn nói : “Đúng vậy”.
Ngài
Vân Môn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô” há chẳng phải
tỏ rõ chỗ hướng thượng của Pháp Thân sao ?”
Tổ
Sơn nói : “Đúng vậy”.
Ngài
Vân Môn nói : “Như thế Pháp Thân bao trùm tất cả phải
không ?”
Tổ
Sơn nói : “Pháp Thân toàn khắp, sao chẳng trùm hết ?”
Ngài
Vân Môn chỉ cái tịnh bình, nói : “Như thế cái tịnh bình
có bao trùm Pháp Thân không ?”
Tổ
Sơn nói : “Xà Lê chớ hướng về một bên tịnh bình tìm
kiếm !”
Ngài
Vân Môn bèn lễ bái.
Rõ
ràng chỉ ra “Chẳng phải cây Xuân khô” là một con đường
sống. Chỉ là cái “Chẳng phải cây Xuân khô” này, chánh
thật hợp với ý chỉ “Tánh hư không còn có thể tiêu”
vậy.
Ngài
Tào Sơn ban đầu ra mắt Tổ Động Sơn.
Tổ
Động Sơn nói : “Thầy Xà Lê tên gì ?”
Ngài
đáp : “Bổn Tịch”.
Tổ
Động Sơn nói : “Hình dạng gì ?”
Ngài
đáp : “Chẳng gọi là Bổn Tịch”.
Tổ
Động Sơn nói : “Rất là pháp khí vậy”.
Từ
đó, được nhập thất, trải qua mấy năm mới xin đi. Tổ
Động Sơn mới mật truyền cho “Bảo Cảnh Tam Muội”, lại
hỏi : “Ông hướng chỗ nào đi ?”
Ngài
Tào Sơn đáp : “Đi vào chỗ chẳng hề thay đổi”.
Tổ
nói : “Chỗ chẳng hề thay đổi lại có đi ư ?”
Ngài
nói : “Đi cũng chẳng thay đổi !”
Ngài
Đơn Hà tụng rằng :
“Nhà
nhà cửa đóng, ánh trăng soi
Chốn
chốn oanh kêu dương liễu rung
Nếu
bảo tung hoành không đổi khác
Cũng
như quăng kiếm chém hư không”.
Tổ
Tào Sơn, Chánh Thiên kiêm đới(28), có thể nói là được
con mắt kim cang. Như định nhìn nhận chỗ không thay đổi,
dường vẫn còn cây kiếm. Ôi, vi tế, nhỉ !
01
Sấm lậu.
02
Tổ Hạo Giám tại Ba Lăng, Nhạc Châu. Người nối kế chánh
pháp của Tổ Vân Môn.
03
Tự do, Giải thoát.
04
Của thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ.
05
Đời Đường, tại Đăng Châu, núi Hương Nghiêm, tại Ngụy
Sơn học Tổ Linh Hựu được tỏ ngộ. Sắc tặng hiệu tự
là Tập Đăng Đại Sư.
06
Tổ sư đời vua Lương Võ Đế. Vua thường hỏi việc an nguy
đất nước về sau. Tổ không nói, lấy tay chỉ yết hầu
để chỉ bày, ý nói Hầu Cảnh. Vua không hiểu. Sau quả bị
nghịch thần là Hầu Cảnh bức bách. Vua mới tỉnh ngộ thì
nghiệp xưa đã tiêu.
07
Tức Đoạn Thường Nhị Kiến. Cái thứ hai trong năm Ác Kiến,
gọi là Biên Kiến. Biên Kiến có hai thứ: một là Đoạn Kiến;
hai là Thường Kiến.
08
Thay đổi.
09
Đây nghĩa là xứng Tánh.
10
Phái Tào Động xuất phát từ Ngài Thanh Nguyên Hành Tư.
11
“Táp địa hồng luân tú, hải để bất tài hoa”.
12
Mất dấu.
13
Giảng kinh.
14
Cái Không phi lý luận của Tiểu Thừa và ngoại đạo.
15
Đinh Giao có nghĩa là đóng đinh.
16
Có, Không, vừa Có vừa Không, không Có không Không.
17
Nghĩa là có chi đâu mà buông bỏ.
18
Di Lặc.
19
Vẹn toàn lặng trong.
20
Niêm Trạm.
21
“Không hoa, dương diệm”.
22
Hùng là con trống.
23
Linh ngã tảo đăng Vô Thượng Giác.
24
Dạy chúng.
25
Dịch nghiã là Không Tánh, cái thật thể của hư không.
Trường
Thủy Sớ : Thuấn Nhã Đa là Không vậy. Cái tánh của hư không
chẳng khá tiêu diệt được.
26
Theo Tạp Danh, Cakravãda (Thước Ca Ra) Là tên núi Thiết Vi Sơn.
Theo Tạp Ngữ, Cakra (Thước Kiết), dịch là Kim Cang, luân,
tinh tấn.
Trường
Thủy Sớ: Thước Ca Ra nói rằng kiên cố chẳng hư nát vậy.
27
Cây Xuân là một loại cây sống đến mấy ngàn năm.
28
Sự Lý viên dung.