Kính
thưa đại chúng
Hôm
nay là ngày 28 tháng 1 năm 2006, cũng là ngày 30 Tết, chúng ta
đang ở tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Pháp quốc. Bài pháp
thoại hôm nay được chuyển về Việt nam. Sáng hôm nay, vào
lúc 9 giờ, tuyết bắt đầu rơi, và hiện giờ các thầy của
xóm Thượng đã tới được xóm Mới đông đủ, nhưng các
sư cô xóm Hạ, vì đường trơn quá không tới được. Không
biết là xe của các sư cô còn bị kẹt giữa đường hay đã
trở về được xóm Hạ rồi?
Ở
trong thiền viện chúng ta đều có cơ hội ngồi yên mỗi ngày
nhiều lần. Và đó là quyền lợi của những người tu, có
cơ hội ngồi yên. Trong xã hội ngày nay, những người có
cơ hội ngồi yên rất là hiếm. Và hôm nay là ngày cuối năm
âm lịch, chúng ta cũng có cơ hội để ngồi yên với nhau.
Cố nhiên là nhiều người trong chúng ta phải bận rộn lo
tết. Nhưng tại thiền viện chúng ta vẫn có thì giờ ngồi
yên. Đó là một điều rất hay. Và thì giờ ngồi yên đêm
30 tết hết sức là đặc biệt, tại vì chúng ta có ý thức
rằng một năm cũ sắp qua, và một năm mới sẽ đến.
Trong
giờ phút ngồi yên này, chúng ta có thể thấy được rất
nhiều. Năm nay chúng ta được ngồi chung, và chúng ta nên ý
thức rằng các thầy, các sư chú, các phật tử chùa Từ Hiếu
cũng được ngồi chung với các thầy, sư cô, phật tử ở
Làng Mai. Các thầy, sư chú, sư cô ở tại tu viện Bát Nhã
cũng đang được ngồi chung với các thầy, sư chú, và phật
tử ở chùa Từ Hiếu và Pháp Vân. Các vị ở Pháp Vân cũng
vậy, tu sĩ cũng như cư sĩ đang có cơ hội ngồi chung với
các vị đồng tu ở bên Pháp, cũng như ở Huế và Bát Nhã.
Tôi
vừa mới thỉnh ba tiếng chuông, và tôi sẽ thỉnh thêm một
tiếng nữa. Xin mời quý vị ngồi cho yên, chúng ta ngồi cho
cha cho mẹ, cho tổ tiên, chúng ta ngồi cho con cháu của chúng
ta. Chúng ta biết rằng khi chúng ta ngồi yên được thì cha
mẹ của chúng ta trong chúng ta cũng ngồi yên được. Và tổ
tiên của chúng ta trong chúng ta cũng ngồi yên được. Đó
là một tặng phẩm rất lớn mà chúng ta có thể hiến tặng
cho cha mẹ, cho tổ tiên của chúng ta, và cho cả thế giới.
Ngồi
yên là một cái gì rất đặc biệt, rất quý hóa. Trong chúng
ta người nào có khả năng ngồi yên thì người đó có khă
năng có hạnh phúc, và có khả năng giúp cho cuộc đời bớt
khổ. Ngồi yên ta sẽ thấy cha ta ở trong ta. Cha ta đang ngồi
với ta, và có thể là trong suốt cuộc đời của cha, cha chưa
từng có cơ hội được ngồi yên như hôm nay chúng ta đang
ngồi yên. Chúng ta đang tiếp nối cha ta một cách đích thực,
vì khi ta ngồi yên thì cha ta cũng ngồi yên. Hai cha con cùng
ngồi trong một thân thể này. Chúng ta biết rằng khi chúng
ta ngồi yên, có sự thanh tịnh, có sự vững chãi thì cha ta
cũng có sự thanh tịnh và vững chãi. Đó là một điều hết
sức mầu nhiệm, hết sức đẹp mà chúng ta có thể làm được,
có thể hiến tặng được. Chúng ta có một người anh trai
hay là một người em trai, hay một người chị, hay em gái.
Chúng ta hãy nhìn vào người anh, hay chị đó, thì ta thấy
cha ta ở trong đó. Cái cách nhìn cách mỉm miệng cưòi đó
đích thực là cách nhìn và mỉm miệng cười của cha. Chúng
ta thấy rất rõ là cha ta đang được tiếp nối nơi anh ta,
chị ta, em mình, chị mình. Và khi chúng ta nhìn vào em gái hay
chị gái thì chúng ta cũng thấy được mẹ. Cái kiểu chị
cười là mẹ cười đó, không khác chi hết. Sự tiếp nối
rất rõ ràng. Chúng ta cũng biết rằng mẹ ta đang được tiếp
nối nơi ta, mẹ ta đang nhìn với con mắt của ta. Khi chúng
ta ngồi yên như thế này thì mẹ cũng được ngồi yên. Có
thể là cả đời mẹ vất vả, ngược xuôi, lo cho chồng cho
con, chưa ngồi yên được, thì bây giờ mình ngồi cho mẹ,
nhất là mình ngồi yên được trong những giờ cuối năm.
Tổ
tiên chúng ta đã từng trãi qua những cơn đói, và người
nào trong chúng ta cũng tiếp nhận được hạt giống của sự
lo lắng của tổ tiên. Lo không biết rằng có bị đói nữa
không? Không có cơm ăn, chết đói là một nỗi lo rất lớn.
Năm 1944 có 2 triệu người chết đói ở miền bắc Việt Nam.
Buổi sáng nào thức dậy cũng thấy hàng ngàn thây người
chết. Và hình ảnh đó bám vào trong trí óc của mình. Có
thể là ông bà cha mẹ chúng ta đã từng trãi qua những trận
đói như vậy. Và hễ khi nào có được chút thì giờ thì
nghĩ đến chuyện tăng gia sản xuất để mà dự trữ thức
ăn. Và cái chuyện không làm gì hết trở ra thành cái món
quà xa xỉ.
Ngày
xưa vì đói mà chúng ta bận rộn, cha ông của chúng ta bận
rộn suốt đời. Bây giờ đây, kinh tế đã phát triển, và
người ta đã có nhiều thực phẩm, có nhiều cơ hội để
tiêu thụ, nhưng mà người ta cũng bận rộn như xưa, có thể
là còn bận rộn hơn cả ngày xưa. Ở những thành phố lớn
như Hà nội, Sài gòn, Huế, người ta bận rộn vô cùng. Cái
cơ hội ngồi yên cũng không có. Khi mà đói, bận rộn thì
đã đành rồi, nhưng khi mà có nhiều thực phẩm, có nhiều
hàng hóa, mà chúng ta có thanh thản, có ngồi yên được đâu.
Chúng ta vẫn bận rộn gấp trăm lần ngày xưa, không có khả
năng ngồi yên. Và vì vậy trong những giờ phút cuối năm
mà chúng ta có thể ngồi yên đó là một phép lạ. Chúng ta
ngồi yên cho cha mẹ, tổ tiên, con cháu, cho thế giới. Chỉ
khi nào chúng ta ngồi yên thì chúng ta mới biết chúng ta đang
đi về đâu, với tư cách của một con người, tư cách của
một dân tộc, một quốc gia, của thế giới. Chúng ta đang
đi về đâu? Xin quý thầy, quý sư cô, sư chú ngồi cho thật
yên, và trong khi ngồi yên mình có được hạnh phúc của sự
ngồi yên. Tại vì ngồi yên là một cơ hội rất lớn, một
hạnh phúc rất lớn. Chúng ta rất giỏi, chúng ta có thể làm
được rất nhiều việc. Chúng ta xây chùa, chúng ta lập hội,
chúng ta giảng dạy, chúng ta tổ chức, chúng ta kinh doanh rất
là giỏi. Có một cái chúng ta không giỏi, đó là chúng ta
không yên, không ngồi yên được. Và khi chúng ta đi, chúng
ta đi như bị ma đuổi. Chúng ta không có thì giờ để sống
cái đời sống hàng ngày của chúng ta một cách sâu sắc.
Điều này có liên hệ tới nền văn minh của con người.
Trong
chuyến về thăm quê hương hồi năm ngoái, giờ này chúng ta
đang ở tại chùa Pháp Vân. Tôi có nhìn thấy được một
số các điều.
Điều
thứ nhất là một điều rất hay, đó là giá trị của
đạo đức đích thực. Khi mà có đạo đức đích thực thì
mình có thể chuyển hóa được con nguời và xã hội. Điều
này làm tôi rất phấn khởi. Những người rất khó chịu,
những người rất bạo động, đầy hận thù, rất ngang bướng,
không có tình nghĩa, những người đa nghi, vậy mà khi mình
có đạo đức chân thật, mình có tình thương thì mình có
thể chuyển hoá được hết, rất là hay, chuyển hóa từ từ
hoặc là chuyển hoá mau chóng. Đó là nhận xét đầu tiên
của tôi về chuyến đi Việt nam hồi năm ngoái.
Điều
thứ hai là những người làm việc trong chính quyền, trong
giáo hội, người nào cũng có hai gương mặt. Khi mình đi với
Bụt thì mình mặc áo casa, và khi mình đi với ma thì mình
mặc áo giấy. Và bất cứ người nào làm việc trong chính
quyền, trong đảng, trong giáo hội đều có hai gương mặt
như vậy hết, rất là lạ.
Và
mình hỏi nếu mình ở Việt nam thì mình có làm như vậy không?
Mình phải có hai bộ mặt, một cái mặt nạ để mang lên
? Điều này rất là rõ. Tại vì trong chuyến về tôi đã tiếp
xúc với những người trong đảng, ở trong chính quyền, ở
trong giáo hội, và tôi thấy người nào cũng có hai bộ mặt.
Khi thì dùng cái mặt này, khi thì dùng mặt khác, nếu không
có hai cái mặt đó thì không sống được. Và tôi không có
trách móc, nhưng mà tôi đặt câu hỏi: nếu phải sống như
vậy thì đó có phải đích thực là một nền văn minh không?
Tại sao mình không có được cái cơ hội, cái khả năng cho
người kia thấy được con người thật của mình, mà mình
phải sống với con người giả, nếu mình muốn thành công.
Thành công trong cái mà mình gọi là 'Phật sự'. Điều
này làm tôi lo lắng rất nhiều. Chúng ta cần bao nhiêu năm
để vượt thắng được tình trạng này, chúng ta cần phải
đeo mặt nạ tới bao giờ? Chính trong khi làm việc đạo, mình
phải đeo mặt nạ. Và chính điều này làm mình rất đau xót.
Đây không phải là đứng về phương diện tôn giáo mà nói,
đây là đứng về phương diện văn hóa mà nói. Phát triển
kinh tế để làm cái gì, phát triển giáo dục để làm cái
gì trong khi chúng ta không sống được với nhau như những
con người chân thật. Và vì vậy cho nên chỉ có một câu
trả lời duy nhất thôi: là phải tu. Phải có đạo đức
chân thật, tình thương chân thật thì mình sẽ có khả năng,
con cháu của mình sẽ có khả năng sống chân thật, mà không
cần phải đeo một cái mặt nạ. Tại vì trong tình trạng
hiện tại, không đeo mặt nạ thì không sống được.
Trong
chuyến về Việt Nam đầu năm ngoái, tôi nhận thấy rằng
cái tâm đạo của người phật tử Việt nam vẫn còn nguyên
vẹn, từ Bắc cho đến Nam. Cái tâm đạo đó là nguồn năng
lượng rất lớn, và nếu chúng ta khai thác được thì chúng
ta có thể xây dựng một nếp sống đẹp đẽ của văn hóa,
của đạo đức, của tình người. Nhưng mà theo cái kiểu
hành đạo ở Việt nam thì tôi thấy chúng ta chưa khai thác
được nguồn năng lượng vĩ đại đó của tâm đạo. Chúng
ta chỉ khai thác được để xây dựng cơ sở, tạo ra được
những hình thức sinh hoạt có tính cách bề ngoài. Chúng
ta không sử dụng được năng lượng hùng hậu đó để xây
dựng lại cơ cấu gia đình, để làm mới được con người,
để chữa lành các thương tích gây nên bởi chiến tranh, bởi
nghi ngờ, bởi sợ hãi. Và chúng ta đang bị cuốn theo một
cơn lốc, chúng ta quá bận rộn, chúng ta không có thì giờ
ngồi lại như những cá nhân, như một tập thể để tìm
ra những phương pháp cứu chữa cho tình trạng hiện nay. Tôi
nhận thấy rằng cách tổ chức tu học của chúng ta, cách
học, cách tu của chúng ta còn rất là hình thức. Những
sinh hoạt của chúng ta chỉ có thể xoa dịu một vài khổ
đau trên bề mặt. Cái học và sự thực tập của chúng ta
chưa có khả năng đào sâu để đi tới sự trị liệu và
chuyển hóa. Tôi xin thỉnh một tiếng chuông để quý vị cùng
thở và cùng có ý thức rằng chúng ta đang có cơ hội ngồi
yên với nhau, tại vì còn mấy giờ đồng hồ nữa là hết
năm cũ sang năm mới.
Sau
gần 40 năm xa quê hương, tôi trở về và thấy tất cả đều
thay đổi, ngay cả chùa tổ. Chùa tổ bây giờ không phải
là chùa tổ của ngày xưa. Tôi không cảm thấy thoải mái
như ngày xưa, sự thật là như vậy. Chùa Pháp Vân cũng vậy,
hoàn toàn không giống ngày xưa gì hết. Thành phố đã xích
tới quá gần, điều đó là sự thật. Nhưng còn có cái
gì khác nữa, chứ không phải là cái chuyện thành phố
bao quanh.
Các
vị đã sinh ra và lớn lên trong thời gian tôi vắng mặt, có
thể không thấy được sự thay đổi. Bởi vì quý vị chưa
có cái kinh nghiệm sống trong không khí chùa tổ cách đây
40 năm. Có một cái tin mà tôi cho là tin mừng, đó là trong
suốt năm qua, loa phóng thanh của xã phát mỗi ngày, vọng vào
chùa tổ, bây giờ đã ngừng phát. Trong thời gian tôi trở
về chùa tổ năm ngoái, tôi nghe mỗi ngày ra rã 2, 3 lần phát
thanh, như vậy đâu có sự thanh tịnh của chùa.
Chùa
Pháp Vân ngày xưa rất là thanh tịnh, bây giờ chợ búa bao
quanh, và có trường trung học Trần Phú kế bên nữa, thành
ra không bao giờ có sự yên tĩnh. Cố nhiên mình không thể
đòi hỏi mọi sự vật không thay đổi, bởi vì mọi vật
đều vô thường. Ngày xưa nó là như vậy, bây giờ mình đòi
hỏi nó như ngày xưa, thì làm sao được. Cái gì cũng phải
thay đổi, tâm người thay đổi, sự vật cũng thay đổi.
Nhưng
mà có một cái không thay đổi, đó là điểm đầu tiên tôi
đã nói. Đó là tâm đạo của người phật tử Việt Nam,
nó vẫn còn y nguyên như xưa, vẫn còn tha thiết thương yêu
nền đạo đức tâm linh của mình ngày xưa. Cái đó không
thay đổi, nó vẫn còn y nguyên. Ngày xưa, vào khoảng 1930,
1940, 1950, có nhiều thanh niên Việt nam lìa xa gia đình để
đi làm cách mạng và họ có một trái tim rất là trong sáng.
Họ đã bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ người yêu để đi làm cách
mạng. Và bản chất của cuộc cách mạng là đi giành độc
lập cho dân tộc, rất là đẹp. Có biết bao nhiêu người
trẻ tuổi đã ngã quỵ trên chiến trường, nhưng mà trái
tim đó, tinh thần đó rất đẹp.
Khi
tôi trở về, tôi không thấy cái đẹp đó nữa, không thấy
trái tim trong sáng đó nữa trong đảng, trong chính quyền. Người
thanh niên đã hy sinh cuộc đời của mình cho lý tưởng, không
tiếc thân mạng của mình, với điều kiện là họ có một
niềm tin nơi tương lai của đất nước. Và cái niềm tin đó
nó đi đôi với đạo đức, văn hóa. Khi mà đã nảy sinh ra
sự nghi ngờ, tranh giành, loại trừ, tham nhũng thì cái niềm
tin đó bị mất. Vì vậy cái đẹp của cuộc cách mạng, của
đạo đức, nó không còn nữa. Người thanh niên thiếu nữ
đã bỏ nhà, bỏ cha mẹ, bỏ người yêu để đi xuất gia
cũng có một trái tim đẹp như vậy. Tôi đã từng mang một
trái tim đẹp như vậy đi vào cuộc đời. Khi mình đi xuất
gia như vậy, mình đi theo con đường lý tưởng của đức
Thế Tôn ngày xưa. Đức Thế Tôn cũng có một mái gia đình,
một địa vị lớn, một người yêu, nhưng mà tại vì thấy
nhân loại, đất nước không có một nẻo thoát, cho nên Ngài
đã bỏ hết tất cả để đi tìm con đường. Trái tim đó
là bồ đề tâm.
Khi
tôi về năm ngoái, tôi đã thấy không biết bao nhiêu là thanh
niên xuất gia nam cũng như nữ, đã đánh mất bồ đề tâm
của mình. Tại vì những cái hư hỏng đã xãy ra trong chính
quyền, trong xã hội, trong giáo hội của chính mình. Thấy
rất là tội nghiệp. Chúng ta đã có khóa tu tại chùa Hoằng
Pháp, chùa Từ Hiếu, chùa Bồ đề, và ở thiền viện Nguyên
Thiều. May mắn là chúng ta đã có những khóa tu như
vậy cho người xuất gia trẻ. Nhờ những khóa tu này
mà nhiều người đã tìm ra được trái tim ngày xưa, thấy
được con đường, thấy được lý tưởng của mình trở
lại. Liệu những người đó có giữ được lâu bền cái
mà họ vừa mới tìm lại được không? Tại vì nếu cứ tiếp
tục sống trong một môi trường đầy dẫy sự tranh giành,
loại trừ, hư hỏng, tham nhũng thì làm sao mà giữ được
trái tim đó, niềm tin đó? Cái chí nguyện, cái ước vọng
của người thanh niên xuất gia có đó, nhưng mà nó không được
nuôi dưỡng. Và các bậc trưởng thượng có lòng muốn
đứng ra bảo ban, nuôi dưỡng, đùm bọc, tôi thấy rất là
ít, hầu như là không có. Cái hiện tượng cạnh tranh,
ganh tỵ, đi tìm địa vị quyền thế trong giáo hội rất là
nhiều. Phần lớn người ta đi tìm chỗ đứng, tìm địa vị,
tìm những cái tiện nghi vật chất, tiện nghi tình cảm.
Và khi người trẻ thấy những hiện tượng như vậy thì họ
chán nản. Cố nhiên là ngày tết chúng ta họp mặt, ngồi
chung với nhau, chúng ta bày phẩm vật cúng dường lên bàn
thờ tổ tiên tâm linh và huyết thống, chúng ta bày tỏ niềm
hiếu thảo của chúng ta đối với liệt vị tổ tiên. Chúng
ta lạy, chúng ta tiếp xúc với tổ tiên, chúng ta ăn cơm với
nhau, chúng ta cười nói với nhau, chúng ta làm văn nghệ, đọc
sớ táo quân. Nhưng mà không có lý chúng ta chỉ làm những
điều đó mà thôi? Tại vì những điều này chúng ta thường
làm hàng năm.
Chúng
ta có thể nào ngồi xuống vạch cho nhau một con đường hay
không? Có một sự bế tắc rất là lớn trong xã hội của
chúng ta, trong truyền thống tâm linh của chúng ta. Chúng ta
không thể nói sự bế tắc đó không có, không có nẻo thoát.
Nếu chúng ta không có nẻo thoát cho chúng ta, thì làm sao chúng
ta có nẻo thoát cho xã hội. cho thế giới? Cho nên cái quan
trọng nhất là chúng ta ngồi cho yên, và chúng ta tìm được
một nẻo thoát cho tâm ta. Dầu chúng ta chỉ là người
mới thọ giới sadi, sadi ni, hoặc 5 giới thì chúng ta cũng
phải có bổn phận làm chuyện đó. Tìm được lối thoát
cho mình rồi thì lúc đó mình mới có thể nắm tay nhau, mở
một đường thoát cho gia đình mình, cho cộng đồng mình,
cho xã hội của mình.
Tôi
thấy các bậc trưởng thượng cao cấp cũng rất là bí,
các bậc đại hòa thượng đang rất là bí. Tôi có niềm
tin nơi người thanh niên. Ngày xưa đi tu lúc 16 tuổi, đã biết
gì đâu, con đường tu học không rõ ràng. Nhưng biết rằng
ngày xưa đất nước đã đi ngang qua những giai đoạn khó
khăn, điêu linh. nhưng con đường tâm linh của đạo Bụt đã
mấy lần mở được lối ra cho đất nước. Mặc dù còn nhỏ,
nhưng tôi đã có một niềm tin hết sức vững chắc nơi con
đường của Bụt. Lớn lên đi học, tìm đường, dù có gặp
những khó khăn, những trở ngại, những ganh tỵ, những quấy
phá thì tôi vẫn không nản lòng, bỏ cuộc. Tôi mong rằng
các vị xuất gia trẻ, các thầy, sư chú, sư cô, những thanh
niên phật tử ngày hôm nay nối tiếp được cái niềm tin
đó, thao thức đó. Thế nào mình cũng tìm ra được con đường
thoát. Một nền đạo đức tâm linh đã từng mở được
lối thoát cho dân tộc, bây giờ được coi là một sinh hoạt
mê tín. Những người xuất gia đại diện cho nền đạo
đức, văn hóa đó được coi là những người đang làm ăn,
họ đang hành nghề. Cái tối đa mà họ có thể làm được
là xây dựng những ngôi chùa lớn, có một chức vụ nào đó
trong giáo hội.
Trong
đại giới đàn Cổ Pháp vừa rồi tại đạo tràng
Mai Thôn, có nhiều vị xuất gia trẻ được truyền đăng.
Và tôi rất hạnh phúc được truyền những cây đèn cho họ.
Có những thầy, sư cô trẻ từ Việt nam qua thực tập hạnh
phúc ở Làng Mai, có nói với tôi rằng: pháp môn đã cứu
con ra khỏi tình trạng tuyệt vọng, con thấy rằng con đi xuất
gia không uổng tuổi trẻ của con, tại con biết con sẽ làm
được cái gì cho đất nước, cho nhân loại trong tương lai.
Thầy
Trung Hải nói rằng: là người thanh niên xuất gia, sở dĩ
họ hư hỏng là vì họ không thấy được không gian rộng
lớn trước mặt mình, không thấy được cái lý tưởng. Khi
mình cho những người thanh niên đó một không gian lớn, một
lý tưởng thì tự nhiên những cái hư hỏng, những cái khó
khăn đó không còn nữa. Tuy thầy Trung Hải chỉ nói một vài
câu như vậy thôi, nhưng đủ để chúng ta thấy được thực
trạng hiện tại.
Sư
cô Tín Nghiêm là người Mỹ gốc Đại Hàn, trong khi nhận
đèn truyền đăng, có nói rằng: nếu sau này con sinh ra trở
lại thì con sẽ đi con đường này nữa, con sẽ xuất gia nữa.
Khi một người thanh niên nói được như vậy thì họ có niềm
tin ở nơi con đường của mình đang đi. Họ thấy được
con đường mà họ đang đi có thể mở ra lối thoát cho nhân
loại, cho con người trong hiện tại. Những lời nói đó có
khả năng nuôi dưỡng mình rất nhiều.
Ở
Làmg Mai như lời Hoà Thượng Giác Quang nói: cơ sở đâu có
gì đâu, ngồi xe từ phi trường Bordeaux về làng cứ tưởng
tượng làng Mai đồ sộ thế này, đồ sộ thế kia, rốt cuộc
đến nơi thấy không có gì nhiều, có vài cây thông, cây sồi
mà thôi. Những điều kiện sinh sống ở làng Mai hết sức
đơn giản. Tuy vậy những thiền sinh trên thế giới về làng
rất là đông. Mùa hè năm ngoái có trên 4000 người về tu
học, đại diện cho gần 50 nước. Trong số đó có rất nhiều
người trẻ và trí thức. Những người thiền sinh về làng
không giống những người Việt đi lễ chùa, họ không mang
theo nhang đèn, lễ vật để cúng kiến gì hết. Họ đến
làng Mai không phải để cầu nguyện, để cúng dường mà
là để tiếp xúc với tăng thân, để tiếp nhận những pháp
môn tu tập cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng mình.
Kinh
nghiệm của tôi cho thấy: con đường mà đức Thế Tôn khơi
mở cho chúng ta là con đường tuyệt vời, rất đẹp. Tôi
đang nói những câu này và nhìn ra ngoài cửa sổ thiền đường
Trăng Rằm, thấy tuyết vẩn còn tiếp tục rơi. Tôi thấy
rõ ràng rằng: giáo lý của đức Thế Tôn không có rắc
rối như người ta tưởng. Người ta đã làm cho giáo lý của
đức Thế Tôn rắc rối. Càng học càng thấy rắc rối. Học
5 năm thì rắc rối vừa, học 10 năm thì rắc rối thêm, học
20 năm rắc rối thêm nữa. Tôi tìm ra rằng: giáo lý
của đức Thế Tôn rất là đơn giản. Nếu áp dụng vào thì
nó có kết qủa liền lập tức, nó đem hạnh phúc lại cho
mình liền lập tức.
Cái
điều mà tôi thấy, nếu như phải nói một câu gì cho đời,
để đời nhớ mình thì tôi sẽ nói rằng tôi thực tập
đạo Bụt có hạnh phúc lắm. Không có gì hạnh phúc bằng
áp dụng những lời Bụt dạy vào đời sống hàng ngày của
mình. Khi đi, khi đứng, khi cười, khi ăn cơm, khi rửa tay,
khi làm việc, áp dụng vô là mình hạnh phúc liền lập tức.
Cái hạnh phúc đó có thiệt, có thể có ngay trong giây phút
hiện tại. Và bài thuyết pháp ngắn nhất của mình là 'đã
về đã tới'. Nó hết sức là đơn sơ. Cái thông điệp
hết sức đơn sơ 'đã về đã tới' có ai mà không
hiểu? Ai mà không hiểu bốn chữ 'đã về đã tới'
là an trú trong hiện tại.
Nhưng
có những người học Phật 20 năm, 40 năm vẫn không hiểu
được điều đó. Giống như làm bộ là mình không hiểu được,
không làm được. Mình có thể học Phật trong học viện 10
năm mà vẫn không có khả năng hiểu được 4 chữ 'đã
về đã tới'. Hoặc nếu họ hiểu thì chỉ hiểu được
cái ý của nó mà thôi, chứ mình không nắm được. Có điều
lạ lùng là những người chưa bao giờ học Phật hết, họ
tới họ nghe trong vòng 5, 10 phút là họ làm được liền,
rất là hay. Trong khi đó có những vị hòa thượng đã học
Phật 30, 40 năm mà vẫn không nắm được. Điều này là
điều hết sức lạ lùng. Có thể họ nghĩ đạo Bụt rất
cao sâu thâm diệu, nếu nó không thâm diệu thì nó không phải
là đạo Bụt. Có lẽ vì nghĩ như vậy cho nên họ mới không
tiếp nhận được giáo lý đạo Bụt.
Thầy
thuyết pháp tại chùa Linh Mụ Huế
Tôi
có hứa là đêm 30 đọc thơ, mà tôi quên đọc thơ rồi. Bây
giờ có tập thơ nào thì đem ra đọc một bài cho vui. Tôi
xin đọc bài thơ 'thơ từng ôm và mặt trời từng hạt'. Thơ
đối với tôi là một cái gì rất đẹp. Thơ ở đây không
phải là tiêu khiển, nó là chất liệu nuôi dưỡng. Thơ tức
là không khí mà mình thở, thơ tức là nắng để làm hoa nở.
Thơ tức là trái đào tiên tháng tám, thơ tức là những bước
chân mà mình đang đi. Thơ là một cái gì rất cụ thể, cái
này dính tới cái kia. Trong bài thơ 'thơ từng ôm và mặt
trời từng hạt' có một hình ảnh mái tranh nghèo đang
đứng đợi ven sông. Đất nước Việt nam ngày xưa nghèo lắm,
và hình ảnh 'quê hương tôi đất mặn đồng chua', những
'mái tranh nghèo đứng đợi ven sông', những hình ảnh đó,
có thể mai này sẽ không còn nữa. Nhưng với thế hệ của
tôi, đó là những hình ảnh rất bền. Hình ảnh người nông
dân cầm liềm hoặc mang cuốc trên vai, cày, cuốc mồ hôi
đổ xuống đất khô cằn, hình ảnh đó còn mãi. Bây giờ
mình có hình ảnh những chiếc máy cày, những nông trại rộng
lớn. Nông dân bây giờ sử dụng máy vi tính, sử dụng máy
móc và làm ra rất nhiều tiền. Thành ra những hình ảnh này
có thể làm ra những hình ảnh thi ca mà nó không còn thích
hợp nữa.
'Nắng
trên không gian và thơ trên nắng
Thơ
làm ra nắng nắng ra thơ'
Ở
làng Mai vào tháng tư, mình thấy nắng ấm và trời xanh, nếu
mình đi tìm thơ thì thơ ở trong nắng, trong trời xanh. Thơ
đó, nắng đó, trời xanh đó nuôi mình sau những tháng lạnh
lẽo, buốt giá. Mình đi thiền hành ở xóm Thượng, xóm Mới
hoặc là xóm Hạ, mình tiếp xúc với nắng với trời xanh
và mình được nuôi dưỡng bởi những cái đó. Nó chính là
thơ.
Nắng
trên không gian và thơ trên nắng
Thơ
làm ra nắng nắng ra thơ'
Thơ
ở đây tức là sự sống, là chánh niệm. Nếu có nắng mà
không có thơ tức là không biết rằng nắng có đó mà cũng
như không. Vì vậy ở đây thơ là ý thức sáng tỏ, là những
chất liệu nuôi dưỡng. Thân tâm mình có đó, nếu không có
chánh niệm thì cũng không có nắng cũng không có thơ, cũng
không có không gian,và không có gì hết. Cho nên ở trong hai
câu thơ này, không có chữ nào là chánh niệm, nhưng chánh
niệm là gốc của mọi thứ.
Nhờ
có gì mà mình biết là có nắng trên không gian? Nhờ tâm của
mình, nhờ chánh niệm cho nên mình biết rằng có không gian
và nắng đang bay trên không gian, và thơ trên nắng.
Ở
bên Mỹ có một trường phái triết học phát sinh ở Princeton
nói là 'there is thinking in the blue sky'. Có tâm của mình ở
trong trời xanh. Vì vậy cho nên không gian ở trên cao có tôi
ở trên đó, có ý thức của tôi trên đó. Và nắng cũng ở
trên đó, và tâm tôi cũng ở trên đó, chứ không phải chỉ
ở trong thân của tôi mà thôi. 'Nắng trên không gian và
thơ trên nắng' hai cái đó chuyên chở nhau. 'Thơ
làm ra nắng nắng ra thơ', nếu không có nắng làm sao
có thơ, nếu không có thơ làm sao có nắng. Đó là tương tức.
Đó là gói quà tết.
Mặt
trời cất chứa trong lòng trái khổ qua
Thơ
bốc thành hơi trên bát canh mùa Đông, trong khi bên ngoài gió
hú.
Mở
ra 'mặt trời cất chứa trong lòng trái khổ qua',
trái khổ qua là một món quà tết. Và nếu anh mở ra anh thấy
cái gì? thấy mặt trời trong đó. Ngộ không? Nếu không có
mặt trời chiếu hồi tháng 6, tháng 7, tháng 8 thì làm sao mình
có trái khổ qua cất trong tủ đông đá. Tại làmg Mai, mình
trồng khổ qua vào mùa hè, và nếu ăn không hết thì để
dành trong tủ đá. Khi mùa đông đến, mình lấy khổ qua ra
làm khổ qua hầm. Tại vì mình tu chánh niệm trong đời sống
hàng ngày, chứ không phải chuyện thơ thẩn gì hết đó. Khi
mình lấy trái khổ qua ra, nó giống như một món quà tết.
Mở nó ra thì thấy có nắng trong đó. Mùa đông ở đây xám
xịt, không biết mặt trời nó đi đâu? Vậy mà mở trái khổ
qua ra thì thấy mặt trời nằm trong đó. 'Mặt trời cất
chứa trong lòng trái khổ qua, thơ bốc thành hơi trên bát canh
mùa đông'. Trong khi bên ngoài gió hú mà thầy có bát
canh khổ qua. Khổ qua đó là thơ, hơi nóng của bát canh bốc
lên cũng là thơ. Hồi tôi làm bài thơ này thì tại làng Mai
chưa có hệ thống sưởi trung ương, và nếu phòng nào hên
thì có một lò sưởi củi.
'Thơ
theo gió đi về cồn xưa bãi cũ
Mái
tranh nghèo còn đứng đợi ven sông'
Quê
hương không phải nằm bên kia, mà nằm ngay trong lòng trái
khổ qua. Và khi ăn trái khổ qua thì nhớ những hình ảnh đó.
Quê hương có chiến tranh, có nghèo đói, quê hương không có
chủ quyền, quê hương bị áp bức và vì vậy trong bát canh
không chỉ có mặt trời, có không gian, mà còn có quê hương.
Mình chưa bao giờ xa quê hương cả dù chỉ 1 năm hay 40 năm.
'Thơ
nơi từng giọt mưa xuân
Thơ
trong từng đóm lửa hồng'
Nếu
mình sống có chánh niệm thì mình thấy tất cả đều mầu
nhiệm. Một giọt mưa chứa đựng cả thế giới tam thiên
đại thiên, nó chứa đựng tất cả quê hương.
'Nắng
cất chứa trong lòng gỗ thơm
Nắng
ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử'
Khúc
gỗ thơm mà mình bỏ vào trong lò sưởi, nó là nắng, nó chứa
nắng trong đó. Mặt trời không có mặt, nhưng khúc cũi đại
diện cho mặt trời, và mình bỏ vào trong lò thì có sức ấm.
Tôi nhớ hồi viết cuốn 'Đường xưa mây trắng' trong phòng
tôi chỉ có một lò sưởi cũi và tôi hơ tay trái trên lò
sưởi, còn tay phải thì tôi viết, nhưng hạnh phúc chán. Viết
được chừng 3,4 trang thì dừng lại đi làm một bình trà.
Trên lò sưởi đã có sẳn nước nóng, thành ra châm trà rất
mau.
'Nắng
cất chứa trong lòng gỗ thơm'. Mình phải thấy mặt
trời trong khúc gỗ. Nếu không thấy thì làm sao có thơ được,
làm sao mà có 'Đường xưa mây trắng' được. Có một cái
mà mình tưởng là không có mặt, nhưng thực ra nó đang có
mặt. Mùa hè có mặt trong khúc gỗ thơm mà mình bỏ vào lò
sưởi. Nói tới đây tôi nhớ thời gian tôi viết 'Am mây ngủ'.
Am mây ngủ là một tác phẩm ngoại sử, viết về đời của
Trúc Lâm Thượng Sĩ và công chúa Huyền Trân. Am mây ngủ là
một cuốn sách ngoại sử, đã được nghiên cứu rất kỹ,
tất cả những chi tiết trong đó đều có nghiên cứu, chứ
không phải do tưởng tượng mà viết ra. Nếu bây giờ chúng
ta đọc lại Am mây ngủ thì chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh
bát canh khổ qua, và mặt trời cất chứa trong lòng khúc gỗ
thơm.
'Nắng
vắng trong hư không, nhưng nắng chất đầy một lò sưởi
đỏ'
Mình
gọi là hơi ấm hay nắng cũng được, nó cùng một tính chất.
'Nắng
lên thành màu Khói, thơ đọng thành màu Sương'
Nếu
quý vị có bài thơ này trong tay thì quý vị sẽ thấy chữ
khói viết hoa và chữ sương cũng viết hoa. Tại sao phải viết
hoa hai chữ này? Không phải chỉ hai chữ này mới viết hoa
mà tất cả đều phải được viết hoa. Tại vì tất cả
đều hết sức là mầu nhiệm. Mầu nhiệm như Bụt như đức
Quan Âm. Tại vì Bụt cũng ở trong đó và đức Quan Âm cũng
có trong đó. Khói là cái gì, sương là cái gì ? Đó là chánh
niệm, đó là Bụt, là tổ, là hạnh phúc, là sự nuôi dưỡng.
Đã biết bao nhiêu lần quý vị nấu cơm bằng cũi, đã biết
bao nhiêu lần quý vị chất cũi vào lò sưởi, nhưng quý vị
có ý thức không? Có thấy rằng những khúc cũi đó chứa
đựng mặt trời tháng tám. Có khi nào quý vị vo gạo xong,
múc nước đổ vào nồi và thấy nước là từ mấy đám mây
ở trên trời cống hiến hay không? Sự khác nhau của người
tu và người không tu là ở chỗ đó. Khi mà mình ăn cơm, mình
được nuôi nấng bằng những đám mây trên trời, bằng sức
nóng của mặt trời trên những đồng lúa vàng rực. Và khi
mình nấu cơm như vậy là mình tu, mình là thi sĩ, là thiền
giả. Quý vị đâu cần tới chùa để làm việc đó, tại
vì quý vị cũng nấu cơm tại nhà, có phải không? Phải sống
cho thảnh thơi, vững chãi, sống dừng lại trong từng giây
từng phút, nhìn cho kỹ để thấy tâm mình trong đó, chánh
niệm trong đó, thì giây phút nào cũng mầu nhiệm. Sương cũng
mầu nhiệm, khói cũng mầu nhiệm, trái khổ qua cũng mầu nhiệm,
những hạt gạo cũng mầu nhiệm, mà nước cũng mầu nhiệm.
Hạnh phúc là ở chỗ đó. Quý vị còn tìm hạnh phúc ở đâu
nữa? Không cần phải đợi làm Tăng Thống hoặc Pháp Chủ
mới có hạnh phúc.
'Nắng
cất giữ trong từng hạt mưa xuân'
Nếu
không có nắng thì sức mấy có mưa. Nếu không có mưa thì
sức mấy hạt cây nẩy mầm.
'Giọt
nắng cúi xuống hôn Đất cho hạt cây nẩy Mầm'
Chữ
đất viết hoa, chữ mầm cũng viết hoa. Mình phải vinh danh
đất, vinh danh hạt cây. Cái gì cũng quý giá vô cùng.
'Thơ
đi theo mưa về trên từng đọt lá'
Mỗi
hạt mưa xuân là một bài thơ. Bài thơ này không phải là
chuyện tình cảm vẩn vơ. Đây là sự nuôi dưỡng. Không có
những trận mưa xuân đó làm sao mình có hoa có trái có cơm
có gạo.
Nắng
thành màu xanh thơ màu hồng'
Màu
xanh cũng vậy mà màu tím cũng vậy. Một nắm rau mồng tơi
màu xanh, một nắm rau tía tô màu tím, tất cả đều là thơ.
Không cần phải mua một tập thơ, cứ ra vườn đi thì cái
gì cũng là thơ hết đó. 'Lá tía tô gọi hạt mồng tơi',
lá tía tô, hạt mồng tơi đều là thơ.
'Nắng
cất giữ trong từng hạt mưa Xuân
Giọt
nước cúi xuống hôn Đất cho hạt cây nẩy Mầm
Thơ
đi theo mưa, về trên từng đọt Lá
Nắng
thành màu Xanh thơ màu Hồng'
'Nắng
chở trên cánh Ong tới trút Ấm lên đài hoa'
Ong
có hai cánh và trên hai cánh của nó chở đầy nắng. Phải
để ý mới được. Trong khi mình đi, đừng để tâm mình
bay bổng trên hư không. Phải tiếp xúc với tất cả mầu
nhiệm của sự sống. Ong chở nắng trên hai cánh và khi tới
đài hoa thì nó giao hàng bằng cách trút nắng vào đài hoa.
Thơ
theo nắng về rừng xa uống Mật
Tưng
bừng xôn xao bướm ong về chật đất
Nắng
làm nên Khúc Múa, thơ làm nên Lời Ca
Đâu
cần lát nữa mới có văn nghệ, khi mình đi thiền hành mình
thấy bướm ong, hoa làm văn nghệ non stop.
Mồ
hôi giọt xuống đất khô, thơ bay trên luống cày
Nghèo
thì nghèo thiệt, nhưng mà có thơ, có sự sống, không có bận
rộn quá. Ngày xưa ở chùa Từ Hiếu tôi có đi cuốc đất
trồng khoai, trồng sắn, gánh nước, chặt cũi. Tuy phải làm
việc nhiều như vậy nhưng thấy thanh thản lắm, đâu có bận
rộn như là các thầy bây giờ.
Cán
cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở
Đi
từng bước có chánh niệm và thực tập hơi thở. Ngày xưa
tổ Bách Trượng cũng chấp tác ngoài vườn. Cố nhiên là
trong khi vác cuốc thì ngài cũng thở, mỉm cười và đi có
chánh niệm như vậy.
Nắng
rụng bên Sông nắng Chiều ngập ngừng bỡ ngỡ
Thơ
đi về chân trời, nơi vừng Sáng đang đắp chăn mây
Chăn
có nghĩa là mền. Mặt trời đắp mền ngủ. Nhưng nhà in in
sai, bỏ dấu ớ thành chân mây. Đắp chân mây là đắp cái
gì mình không thể hiểu được?
Mặt
trời còn biết đi ngủ, còn mình thì cứ làm việc non stop,
không chịu đi ngủ.
Có
cái máy vi tính cứ làm việc hoài.
Mặt
trời xanh rờn một rỗ rau tươi
Sư
cô, sư chú vừa mới đi hái rau về, một màu xanh rờn, nhưng
tất cả đều là mặt trời đó. Mặt trời không chỉ là
màu đỏ thôi, nếu anh nghĩ mặt trời màu đỏ thôi thì anh
lầm. Cái rỗ rau này là mặt trời đó. Và mình thấy mặt
trời rất là xanh.
Thấy
được mặt trời màu xanh thì người đó mới là người tu.
Mặt
trời xanh rờn một rỗ rau tươi
Mặt
trời dẻo thơm trong bát cơm gạo Tấm
Có
ai nói mặt trời dẻo và thơm không? Khi mình nhai có chánh
niệm thì mình thấy gạo dẻo và thơm. Đó là mặt trời dẻo
và thơm đó. Nếu không có mặt trời thì sức mấy có bát
cơm này cho mình ăn. Đây là tương tức, duyên sinh, và mặt
trời là cái gì mà mình đang tiêu thụ.
Thơ
trong ánh mắt em thơ, thơ trong mầu da nắng sạm
Thơ
nơi từng cái Nhìn chăm chú
Nhìn
mà thấy được thì mới gọi là nhìn. Đó là quán. Còn nhìn
mà chưa thấy thì chưa phải là nhìn. Danh từ thiền là 'khán'
tức là nhìn cho rõ. Nếu là công án thì mình phải nhìn với
tất cả niệm và định của mình. Ở đây không cần công
án. Chỉ cần nhìn vào nắm rau, nước trong nồi cơm là có
rất nhiều hạnh phúc rồi. Nhìn con thấy cha, nhìn đệ tử
thấy thầy, nhìn thầy thấy Bụt, nhìn như vậy đáng cho mình
nhìn lắm. Thương nhau là ở chỗ mình có nhìn bằng tâm của
mình hay không.
Thơ
nơi từng bàn tay vun xới miền đồng chua nước mặn xa xăm.
Tất
cả đều nằm trong giây phút hiện tại.
Mặt
trời cười tươi trên bông hướng dương
Mặt
trời trĩu nặng nơi trái đào Tiên tháng tám
Hồi
nãy mình nói mặt trời màu xanh, mặt trời dẻo thơm, bây
giờ là mặt trời trĩu nặng, mặt trời đang có mặt trong
trái đào tiên tháng tám.
Thơ
nơi từng bước chân thiền quán
Nếu
trong bước chân của sư chú mà có thơ thì sư chú hạnh phúc
quá đi. Phải để thơ vào trong chân mà đi.
Thơ
nơi từng dòng chữ
Thơ
nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình Thương.
Cái
câu chót này phải giải thích một chút thì mới hiểu được.
Hồi đó có nhiều văn nghệ sĩ phải đi học tập cải tạo.
Và ở bên này có chương trình gởi quà về giúp đỡ họ.
Những gói quà 1 kg toàn là thuốc tây, khi gia đình của những
văn nghệ sĩ này nhận được quà thì họ đem bán lấy tiền
đi thăm nuôi người thân, và để sống trong vòng vài tháng.
Lúc đó có rất nhiều người tham gia vào việc gói quà để
gởi về bên nhà. Công việc phải làm trong bí mật, nếu không
thì sẽ liên lụy đến người nhận ở Việt nam. Công việc
đó được làm với rất nhiều tình thương. Mình nuôi ai bằng
cái công tác đó. Trước hết là nuôi cái tình thương ở
trong mình. Trong khi rất nhiều người bó tay, không tìm ra được
cách nào để giúp đồng bào còn ở tại quê nhà thì mình
tìm ra được cách để giúp đỡ họ. Cái hạnh phúc trước
tiên là hạnh phúc cho chính mình. Mình nuôi dưỡng được
cái tình thương trong mình. Cho nên mới có câu: 'thơ nơi
từng dòng chữ, thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình
Thương'. Ngày xưa có một cơ hội các anh em 'thanh niên
phụng sự xã hội' được bảo lãnh qua bên này (Pháp), tôi
cũng đã đọc bài thơ này cho quý vị. Đây là lần thứ hai
tôi đọc bài thơ này.
Bây
giờ bên nhà tới giao thừa chưa? 11 giờ rồi hả? Tôi xin
thỉnh một tiếng chuông để chấm dứt buổi pháp thoại hôm
nay, để các vị ở Pháp Vân, Từ Hiếu, Bát Nhã chuẩn bị,
họ còn 1 giờ đồng hồ nữa để đón giao thừa. Trong khi
ở bên này còn tới 7 giờ nữa mới đến giao thừa. Đại
chúng ở đây sẽ đi thiền hành, và vào 5giờ rưỡi sẽ đắp
y ngồi thiền. Lúc 6 giờ tức là 12 giờ khuya ở Việt nam
sẽ khai chuông trống bát nhã, lạy tổ tiên tâm linh và huyết
thống. Và quý vị ở bên nhà có tưởng tượng được không
là 7 giờ tối ở đây tức 1 giờ sáng ở bên đó, chúng tôi
sẽ ăn chiều. Và 2 giờ sáng bên kia, tức 8 giờ tối ở đây
sẽ có văn nghệ. Bên này sẽ còn thức dài dài. Chúc các
thầy, các sư chú, sư cô, các Phật tử bên nhà có một năm
mới Bính Tuất nhiều hạnh phúc, nhiều vững chãi, nhiều
thảnh thơi và có cơ hội thật nhiều để thực tập hạnh
phúc.
Pháp
thoại cuối năm Ất Dậu : Bình Thơ: "Thơ Từng Ôm và Mặt
Trời Từng Hạt": http://www.tuvienlocuyen.org/phap_thoai/phienta/2006-01-28.html
Lời
tòa soạn Tạp chí Mindfullness Bell:
Dù
cho nhiều người trong chúng ta đã đi theo
Thầy và phái đoàn tăng ni về
Việt nam, mình cũng thấy mọi chuyện xảy ra sờ sờ trước
mắt đấy, nhưng quả ư thật là
khó hiểu làm sao! Trong bài nầy chúng
ta sẽ nghe chính lời của Thầy, nói lúc vừa về Pháp,
về các biến cố quan trọng nhất
trong chuyến đi và tầm ảnh hưởng
có thể có trong tương lai vào
chính quyền Việt nam, cũng như vào tầng
lớp tăng ni và cư sĩ sở tại. Bằng
phương cách thực tập giản dị và giọng nói mạch lạc,
Thầy đã đề nghị lên chính phủ kế hoạch 6 điểm để
chuyển hóa cách nhận thức quá ư nông cạn
về đạo Phật và sử dụng sức mạnh của tiền
nhân để giải đáp các khó khăn hiện tại. Chúng ta cũng
chứng kiến nhiều móc xích ràng buộc vào nhau giữa tòa nhà
tâm linh và gốc rễ tây
phương của chúng ta. Các bài
thơ ở đây, các mẫu chuyện ở đây, và các báo
cáo về chương trình trợ giúp nhân
đạo của Làng Mai sẽ đem chúng
ta gần lại hơn với gia tài
tâm linh của chúng ta, không phải với tư cách
của một người Á hay Âu, mà với tư cách của một vị Bụt-
sẽ- thành!
Việt
dịch: Chân Hỷ Điền
Lúc
phi cơ từ Việt nam về gần đến Pháp, sư chú Pháp Hữu nói:
“Con sẵn sàng
về
(Làng Mai) rồi, thưa Thầy”, tôi
liên tưởng đến cụm từ ’sẵn sàng chưa? Nếu
tôi thực sự sẵn sàng thì
tôi phải thấy khỏe khoắn cho
dù ở Việt nam hay về nhà bên
Pháp. Nếu tôi không cảm thấy dễ chịu,
tức là tôi chưa sẵn sàng! Ba tháng ở Việt nam rất lâu nhưng
rất sâu sắc. Chúng ta cần một thời
gian dài để tiêu hóa những
gì mắt thấy tai nghe để chúng có thể nuôi dưỡng
xương cốt và bắp thịt ta và sẽ trở thành một
phần của cơ thể ta. Chúng ta
cần ít nhất 6 tháng để tiêu hóa hết các kinh nghiệm của
chuyến hành trình đó.
Trước
ngày đi, tôi cảm thấy tôi đã sẵn sàng trở lại Việt nam
rồi. Tôi biết sẽ gặp nhiều khó khăn, và
gặp nhiều sự việc ngoài dự liệu,
nhưng tôi thấy tôi sẵn sàng đối
đầu với chúng. Tôi đã chuẩn bị câu thần chú
thứ 5. Một cư sĩ người Mỹ
đã phát minh ra câu thần chú thứ 5 nầy.
Có nhiều lần vợ anh có ý kiến trái ngược với ý
kiến của anh, y như sắp sửa có giông bão lớn trong
gia đình! Cho nên anh đã sáng chế
ra câu thần chú thứ 5 này: “Vâng lệnh Bà!”
Chúng
tôi nghĩ chúng tôi sẽ phải đối đầu
với nhiều chướng ngại ở Việt nam, bởi
vì có nhiều người trong guồng máy
nhà nước không có cùng
ý
kiến với nhau! Về Việt nam giống
như chèo thuyền trên biển để tránh sóng thần!
Chúng tôi không để cho các trắc
trở tạo thành bất mãn hay tức giận! Cho nên
chúng tôi học chấp nhận mọi chuyện xảy đến dù tốt
dù xấu! Khi bạn đối đầu với chuyện rất ư khó chấp
nhận, bạn nói: “Vâng lệnh Bà”. Thế là xong!
Tôi
cũng có niềm tin vào tổ tiên,
vào các tổ sư. Họ đưa đường
chỉ lối cho tôi đi. Tôi đi với một trái
tim trong sáng, không dự án, không toan tính,
không muốn sở đắt,
không giành quyền uy! Nếu tim bạn
trong sáng, các bậc tổ sư sẽ
hướng dẫn bạn làm những gì cần
làm và khuyên bạn không làm những gì không
cần làm! Tôi tin tưởng
bạn cũng có niềm tin đó. Và nó sẽ giúp
bạn khi bạn đầu với khó khăn. Khi gặp trắc trở,
dù lớn dù nhỏ, bạn nên đặt
hết niềm tin vào các tổ sư.
Khi bạn có trái tim trong sáng, không ẩn
ý, không mưu mẹo thì mọi chuyện
sẽ được suông sẻ. Điều đó có
thật trong chuyến đi vừa qua.
Chấp
nhận những trắc trở ngoài dự liệu
Nếu
mọi sự việc đều tiến hành
đúng kế hoạch thì hay quá! Nhưng
thực tế thì khác! Thí dụ như khi chúng tôi
đến Hà nội, chúng tôi yêu cầu chính quyền cho phép sử
dụng những tiện nghi rộng lớn có
thể chứa 6 ngàn người.
Mình
nghĩ càng có nhiều người thì sự
chia sẻ thực tập càng có hiệu quả
lớn hơn. Nhưng chính quyền không cho phép.
Lúc đầu họ chỉ
muốn cho chúng tôi giảng
pháp trong phạm vi nhà chùa! Nhưng
vì có nhiều thỉnh nguyện
thư, nhiều yêu sách, nên họ cho phép
chúng tôi nói chuyện trước
cử tọa từ 300 đến 500 người,
ít quá! Dù vậy, ít mà thành
hay, bởi vì thính giả đi nghe
là những thành phần có ảnh hưởng lớn
trong xã hội. Tỉ như các nhà khoa học, học giả và những
thành phần nồng cốt trong chính quyền. Vài
trăm người đi nghe như vậy có ảnh hưởng lớn
hơn cả vạn người đi nghe. Mà
có vạn người đi nghe chúng tôi cũng không
thể tổ chức nỗi.
Phần
đông cử tọa là những người lần đầu
tiên trong đời được nghe pháp thoại!
Những bài pháp thoại hữu ích và
lành mạnh! Sau một buổi pháp thoại,
có một học giả Việt nam được
nhiều người ngưỡng mộ, cho rằng ông
từng nghĩ đạo Phật là đạo tu khổ hạnh, là hành xác,
là đè nén tâm thần! Nhưng
quan niệm của ông thay đổi sau khi nghe tôi giảng
làm cách nào đem hạnh phúc
cho chính mình, chính đời mình.
Những
gì chúng tôi chia sẻ đã
đáp ứng tức khắc vào các
nhu cầu sâu thẩm nhất
của quần chúng. Mắt họ mở to!
Tâm họ rạng rở! Lần đầu tiên trong
lịch sử, bài pháp thoại tại Hà nội đã xé tan màn ảo
tưởng, đã nói thẳng với giới lảnh đạo cả
nước và đã chỉ đường cho
phương hướng mới. Bài pháp thoại đã thay đổi
đời họ, và thay đổi hướng nhìn vào tương lai.
Cho dù có vạn người nghe đi nữa, tầm lợi
ích không thể lớn hơn thế ấy.
Trong
chuyến đi, có nhiều hạt
giống được vun trồng lần
đầu tiên vào mảnh đất mầu mỡ.
Một khi được gieo, hạt sẽ nẩy nở
thành cây vững khoẻ và sẽ tươi
đẹp vô cùng. Các phật
tử đi nghe pháp thoại cho
biết là họ rất hạnh phúc vì cái họ cần
là một đạo Phật thực tiển, giúp
họ giải quyết những khó
khăn hàng ngày, những trăn
trở thực tại. Ở Trung hoa và
ở Việt nam ngày nay, theo đạo Phật
đồng nghĩa với cầu nguyện, dâng hương, mộ
đạo hết lòng hết dạ. Chỉ một
số ít hiểu được cái
cốt lỏi quan trọng nhất của
đạo Bụt, đó là giác ngộ và tuệ
giác. Nhiều vị Hoà thượng, Thượng tọa,
Sư bà đã từng 60, 70 tuổi đạo, nay có cơ duyên
được xúc chạm lần đầu tiên niềm
hạnh phúc của Pháp. Họ thấy được
tuệ giác thực sự. Chúng ta phải
khen ngợi sự cố gắng của
họ đã giữ gìn đạo sống còn
và truyền lại cho các thế hệ
kế tiếp. Tuy nhiên, giáo lý họ dạy khô khan quá.
Thế hệ thanh thiếu niên ngày
nay không thực sự hài lòng với cách dạy đạo
bằng lý thuyết xưa
cũ nữa. Nhưng sau khi
nghe chúng ta giảng đạo Bụt theo
phương pháp mới, họ bắt đầu phục hồi niềm hoan
lạc và đầy ấp nhiệt tình trở lại.
Chính
quyền gây nhiều khó khăn
Có
một nhóm trong chính quyền, họ có đầu óc bức bách, sợ
hải, kỳ thị. Họ tạo ra không ít căm giận
và phân hóa. Họ không muốn Thầy về, nhưng họ
chịu để Thầy về chỉ vì có sức ép từ bên ngoài muốn
thấy nhân quyền được cải thiện. Họ chỉ muốn Thầy
giảng đạo cho các bô lão mà
thôi. Nhiều công an, cảnh sát thuộc bè cánh đó. Đây là
thí dụ. Khi Thầy giảng ở chùa Thiên Mụ, một
trong những chùa đẹp nhất nước, có 9000 người tham
dự, dù ngồi dưới mưa! Nhưng công
an và các chức sắc địa phương đã ra lệnh
cho thầy cô các trường học phải tổ chức học sinh đi cắm
trại ngày đó, như là một cách ngăn chận học sinh
tham dự buổi giảng pháp!
Xão
thuật tương tự như thế đã lập lại
từ nam ra bắc, do nhóm ấy trong chính quyền.
Nếu có quá nhiều người tham dự hơn số họ
dự liệu, thì họ tìm cách
cắt giảm chỉ tiêu! Trong
quá khứ, chính quyền đã từng bức
bách tăng sĩ và cư sĩ, không cho phép hội họp,
không được tự do đi lại.
Lực lượng đặc nhiệm, gọi là
“bảo vệ tôn giáo”, đã
từng gây không biết bao là xúc phạm và phân hoá
trong hàng ngủ cộng đồng Phật giáo.
Nhưng
bên cạnh đó cũng có
nhiều người muốn Thầy về, họ cho sự
có mặt của Thầy sẽ đem lợi lạc
cho đất nước. Họ hi vọng nhóm chống đối sẽ thấy
Thầy không phải là một đe dọa, mà chỉ
giúp cho Việt nam thôi. Sự hiện
diện của Thầy sẽ làm giảm bớt
sợ hải và kỳ thị trong họ. Tôi biết rằng nếu
tôi về với một trái tim trong sáng và
đoan chính, chúng tôi có thể tiếp xúc thẳng với
quần chúng và cho họ
niềm tin. Nhưng tôi biết điều đó
khó khăn lắm! Cũng
có nhiều người trong chính quyền ủng hộ Thầy hết
mình, nhưng họ không muốn xuất
đầu lộ diện, vì sợ bị tác hại đến địa vị.
Ở
Huế, Bình định và ở Sài gòn, chúng tôi
cũng gặp khó khăn tương tự. Có cả thảy 8 buổi nói
pháp cho nhân viên chính phủ, cho giới
chính trị, và cho các nhân vật
cao cấp mà chúng ta không hề được phép tiếp
xúc với. Họ mở lòng ra hết
sức tốt đẹp. Sau cùng tôi gặp
Thủ Tướng Phan văn Khải và tôi đề nghị 6 điểm
cho chế độ công sản xem
xét và thực tập.
Tôi
gợi ý rằng người cộng sản Việt nam cũng có
gốc rễ bám chặt vào văn hoá
Việt nam, và Phật giáo
đóng một vai trò quan trọng trong văn hoá.
Phật giáo đã hình thành con người
Việt nam và đã đóng một vai
trò quyết định trong các triều đại
vua chúa ngày xưa khi
đất nước thống nhất. Phật giáo đã du nhập vào Việt
nam từ 2000 năm qua. Phật giáo
không phải chỉ là một tôn giáo,
nó còn là tinh anh thâm nhập vào quyết quản
của người Việt chúng ta.
Người Công giáo Việt và người
Cộng sản Việt cũng có Phật chất
bên trong theo tinh thần đó.
Thắp
nhang dâng lên bàn thờ tổ tiên trong nhà,
bạn là một phần của văn hoá Việt, đó không phải là mê
tín. Đó là truyền thống của cái tuệ
giác hiểu biết rằng anh có gốc
rễ trong tổ tiên anh.
Đạo Bụt không phải là một cái gì ngoài anh. Nó
nằm ngay trong anh. Và mỗi người trong chúng
ta ai cũng nên có chiều hướng tâm linh. Đạo Phật
không nên bị khống chế, không nên
bị theo dõi hay dò xét. Chúng
ta phải để người dân
có tự do tối thiểu.
Có
nhiều văn hoá khác nhau đã từng
du nhập vào nước ta,
trong đó có đạo Khổng,
đạo Lão và đạo Phật. Rồi chúng
hài hòa vào nhau để trở thành
những thành tố của một truyền thống văn hoá
chung, một gia tài đạo đức chung
của đất nước. Viên chức
chính quyền xuất thân là Phật tử phải biết làm mới
đạo Bụt và biết áp dụng tuệ
giác đạo Bụt để giải quyết thõa đáng các
nhu yếu của quần chúng. Còn những người
lảnh đạo xứ sở cần phải đi
tiên phong và đáp ứng tức khắc
các nhu cầu quần chúng thay vì
dùng giáo điều để cai trị. Nếu
hai phía đều làm tốt được như vậy thì
mọi ngườI chung lưng chung sức làm
việc cho tương lai một Việt nam
tươi sáng.
Nếu
bạn la to chống đối họ,
thì đó chỉ là chiến
tranh, sẽ không còn
truyền thông nào hết. Chúng tôi có
thể bàn thảo những khó khăn, những trở ngại
với chính quyền vì chúng tôi không muốn kết án
hay phán xét họ. Thay vào đó
chúng tôi mở cánh cửa của truyền thông
và của phát triển.
Bởi
vậy cho nên quần chúng trong nước cần nên
suy gẫm, và cần chuyển hóa. Giới cư sĩ và
tăng sĩ có thể cần 5 năm hay lâu
hơn để canh tân đạo Bụt, tìm
hiểu và thực tập các pháp môn
mới. Còn phía chính quyền có thể
thời gian chuyển đổi sẽ lâu hơn
nhiều, thử chờ xem!
Đi
trong Tự do
Sau
39 năm lưu đày xa đất mẹ, niềm mong
ước thực sự và duy nhất của
tôi là đi bằng những bước đi
thực sự cho tự do. Nhưng nếu tôi chưa sẵn sàng
thì các bước chân của tôi sẽ
không có tự do.
Nhiều
năm qua, khi tôi đi khắp nơi trên thế giới,
tôi tự huấn luyện mình đi sao
cho có an lạc. Bước đi trên đất mẹ cũng
giống bước đi ở đây trên
đất của nước Pháp. Và ở đây
tôi cũng còn bước đi như tôi bước trên đất
Việt nam. Tất cả đều tùy thuộc
ở chỗ là tôi đã sẵn sàng chưa?
Một bước tự do ở Việt nam cũng là một bước tự do
ở Âu châu hay Mỹ châu. Bởi
vậy đất mẹ của tôi cũng theo
bước chân tôi về nhà. Không hề có
sự phân biệt không gian. Với từng
bước chân, bạn tiếp xúc với nhà
bạn ở khắp chốn.
Ở
Việt nam người ta than với tôi:
“Thầy, Thầy vừa về sau 40 năm
ly hương và Thầy chỉ ở lại có ba tháng. Sao Thầy
không ở lại đây
với chúng con lâu hơn?” Như vậy họ còn kỳ thị.
Nếu tôi không ở Âu châu trong 40 năm
thì ba tháng có giá trị gì
đáng kể đâu? Qua không gian và
qua thời gian, chúng ta nhìn thấy và
hiểu nhiều về con người và đất nước Việt. Bởi vậy
khi trở về, mình thực sự gần Việt nam hơn nữa
và có cơ hội hiểu thấu đáo hơn
nữa.
Trích:
Phật Giáo Dấn Thân Engaging Buddhism Issue 01 - 2006