|
c
KINH LĂNG-GIÀ TÂM
ẤN
Thiền
Sư Hàm Thị Sớ Giải
Thiền
Sư Thanh Từ Việt Dịch
E-
CHỈ TÔNG THUYẾT HAI ĐỀU THÔNG ĐỂ RÀNH VỀ DỤNG NGỮ
NGHĨA THỨC TRÍ, GIẢN BIỆT NGU NGOẠI, GIÚP TIẾN MÌNH NGƯỜI,
CHÁNH PHÁP GIẢI THOÁT.
1-
CHỈ TÔNG THUYẾT HAI ĐỀU THÔNG XA LÌA VỌNG TƯỞNG CHẤP TRƯỚC.
-
CHỈ TÔNG THUYẾT HAI ĐỀU THÔNG.
Khi
ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin
vì con và các Bồ-tát nói tướng tông thông. Nếu khéo phân
biệt tướng tông thông, con và các Bồ-tát thông đạt tướng
ấy, thông đạt tướng ấy rồi, chóng thành Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, chẳng theo giác tưởng và chúng ma ngoại
đạo. Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy
nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ
giáo. Phật bảo Đại Huệ: Tất cả Thanh văn, Duyên giác,
Bồ-tát có hai thứ tướng thông, nghĩa là tông thông và thuyết
thông.
Đến
tột tự tánh là tông, viên dung chẳng hai là thông. Tùy cơ
hiển bày chẳng kẹt quyền giáo gọi là thuyết thông. Bồ-tát
được hai pháp này tự thành và làm thành cho người, không
rơi vào cảnh giới ma ngoại giác tưởng, đây là phải học.
Đại
Huệ! Tông thông là, duyên tướng tự đắc thắng tiến, xa
lìa ngôn thuyết văn tự vọng tưởng, đến vô lậu giới
tự giác địa tự tướng, xa lìa tất cả hư vọng giác tưởng,
hàng phục tất cả ngoại đạo chúng ma, duyên tự giác thú,
hào quang phát sáng, ấy gọi là tướng tông thông.
Duyên
tướng tự đắc thắng tiến là, tự là tự tánh, tự được
tánh kia tối tôn tối thượng, tức là đã chứng căn bản
trí. Duyên căn bản trí này xa lìa ngôn thuyết vọng tưởng,
cứu kính vô lậu giác địa, nên nói “Phật tánh là nhân,
Niết-bàn là quả”. Tự giác tông thông này là chỗ sở hành
thánh lạc, trí tuệ minh đạt hàng phục tất cả, tất cả
không thể hàng phục được.
Thế
nào là tướng thuyết thông? Nghĩa là nói chín bộ giáo pháp,
lìa tướng khác, chẳng khác, có, không v.v... do phương tiện
khéo léo tùy thuận chúng sanh, như đáng nói pháp khiến được
độ thoát, ấy gọi là tướng thuyết thông. Đại Huệ! Ông
và các Bồ-tát khác nên phải tu học.
Chín
bộ là: 1) Tu-đa-la dịch là Khế kinh. 2) Kỳ-dạ dịch Ứng
tụng. 3) Già-đà dịch Kệ. 4) Y-đế-mục-đa dịch Bổn sự.
5) Xà-đa-già dịch Bổn sanh. 6) A-phù-đạt-ma dịch Vị tằng
hữu. 7) Ưu-đà-na dịch Tự thuyết. 8) Tỳ-phật lược dịch
Phương quảng. 9) Hòa-già-la dịch Thọ ký. Chẳng nói mười
hai bộ đó, nghĩa là các kinh Đại thừa nói thẳng đại pháp
chẳng nhờ nhân duyên, chỉ bàn lý viên mãn dứt các luận
nghị, riêng hiển chân thường chẳng đợi thí dụ, cho nên
không có ba bộ. Song cũng có đủ ba bộ. Chín bộ kinh này
đều là phương tiện tùy cơ, hiển bày chỗ vào chẳng lìa
tự tánh, chân tục viên dung, độ thoát các kiến, chẳng phải
có pháp thật, nên nói là thông.
Khi
ấy, Thế tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:
Tông thông và thuyết thông
Duyên tự cùng giáo pháp
Khéo thấy khéo phân biệt
Chẳng theo các giác tưởng.
Chẳng có tánh chân thật
Như kẻ ngu vọng tưởng
Thế nào khởi vọng tưởng
Phi tánh cho giải thoát?
Quán sát các hữu vi
Sanh diệt thảy tiếp nối
Tăng trưởng hai chấp này
Điên đảo không hiểu biết.
Một ấy là chân đế
Không tội là Niết-bàn
Quán sát vọng tưởng đời
Như mộng huyễn cây chuối.
Tuy có tham sân si
Mà thật không có người
Từ ái sanh các ấm
Có đều như huyễn mộng.
Bài
kệ thứ nhất nói chánh pháp tông thuyết đều duyên tự tánh
tự giác, có nói ra dạy bảo cốt đạt yếu chỉ này, phải
khéo phân biệt chớ theo giác tưởng (vọng tưởng). Hai bài
kệ hai và ba nói kẻ ngu vọng tưởng chẳng phải tánh chân
thật, không thể giải thoát. Chỉ quán sanh diệt tăng trưởng
hai chấp, do điên đảo mà thành. Hai bài kệ tư và năm nói
tự giác chân đế này chỉ một không hai. Cần ở trên thể
tự giác không thêm tội cấu liền là Niết-bàn. Song vọng
cấu ở thế gian tất cả các pháp sắc tâm ví như huyễn
mộng, tuy có độc tham sân si v.v... cũng chính nơi đó không
người. Các ấm hiện tại đều từ ái sanh, thảy không thể
được. Nếu hay biết chỗ này liền đó chóng lìa, thấy tánh
bản thật.
-
CHỈ TỘT TƯỚNG SANH CỦA VỌNG TƯỞNG ĐỂ HIỂN ĐỆ NHẤT
NGHĨA.
+NHÂN
ĐẠI HUỆ HỎI, CHỈ TƯỚNG SANH CỦA VỌNG TƯỞNG.
Khi
ấy, Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói
tướng vọng tưởng chẳng thật. Vọng tưởng chẳng thật
vì sao mà sanh? Những gì là pháp tên vọng tưởng chẳng thật?
Ở trong những pháp nào mà vọng tưởng chẳng thật? Phật
bảo Đại Huệ : Lành thay, lành thay! Ông khéo hỏi Như Lai
nghĩa như thế, được nhiều lợi ích, được nhiều an lạc,
thương xót tất cả người trời ở thế gian. Lắng nghe, lắng
nghe! khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông mà nói. Đại Huệ bạch
Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại
Huệ: Do các thứ nghĩa, các thứ vọng tưởng chẳng thật
chấp trước, vọng tưởng sanh. Đại Huệ! Chấp trước năng
nhiếp (tâm), sở nhiếp (cảnh), chẳng biết tự tâm hiện
lượng và rơi vào kiến chấp “có không” tăng trưởng vọng
tưởng tập khí theo kiến chấp ngoại đạo, chấp trước
các thứ nghĩa bên ngoài, tâm (tâm vương), tâm số (tâm sở),
vọng tưởng chấp trước làm ngã ngã sở mà sanh.
Đây
là tột tướng vọng tưởng sanh, để phát minh đệ nhất
nghĩa chẳng sanh vọng tưởng. Đại Huệ hỏi tướng vọng
tưởng chẳng thật từ đâu mà sanh. Thế Tôn bảo: Nhân các
thứ nghĩa vọng tưởng chẳng thật sanh. Các thứ là, tất
cả pháp sắc tâm v.v... và thánh phàm tất cả danh tướng
chân vọng. Các pháp tướng này không có tự tánh, lìa có
và không, lìa tứ cú, y đó mà sanh vọng tưởng. Cho nên nói
“vọng tưởng chẳûng thật”. Ở đây chỉ nói vọng tưởng
chẳng thật y đây mà sanh khởi, đoạn sau mới nói “vì sao
vọng tưởng chẳng thật” để đáp “pháp gì chẳng thật,
trong pháp gì chẳng thật”. Năng nhiếp sở nhiếp tức là
thể tánh của vọng tưởng. Nghĩa là vọng tưởng này do không
biết các thứ nghĩa đều tự tâm hiện, rơi vào kiến chấp
có không, tăng trưởng tập khí ngoại đạo, huân phát nơi
tâm vương, tâm sở tất cả vọng tưởng, khởi chấp trước
năng sở. Nguyên chỗ đáp của Thế Tôn cốt chỉ không biết
tự tâm hiện lượng là căn do vọng tưởng. Nếu các thứ
nghĩa bị nương tuy hiện khởi kiến chấp năng sở có không
chẳng thật, song các thứ nghĩa này thảy đều không có tự
tánh, vốn tự lìa kiến (tâm), lìa tướng (cảnh), liền đó
tức là đệ nhất nghĩa. Cho nên biết đồng các thứ nghĩa
này, mà một bên thì các thứ nghĩa vọng tưởng y đó khởi;
một bên là đệ nhất nghĩa vọng tưởng chẳng sanh. Ý này
đợi đoạn văn nạn ở sau sẽ rõ.
Tóm
lại, giác tự tâm hiện tức vọng tưởng chẳng sanh, chẳng
giác tự tâm hiện thì vọng tưởng y đó mà khởi. Chẳng
phải do các thứ nghĩa, lìa tánh lìa kiến mà khiến vọng
tưởng có không sai biệt, không thể chẳng xét kỹ. Tâm là
tám thức tâm vương. Số là 51 thứ tâm sở. Biến hành có
5, biệt cảnh có 5, thiện 11, căn bản phiền não có 6, tùy
phiền não 20, bất định có 4, tám thức tâm vương mỗi thứ
đều đầy đủ.
+
NẠN VỌNG TƯỞNG MỘT BÊN SANH MỘT BÊN CHẲNG SANH.
Đại
Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu các thứ nghĩa, các thứ chấp
trước vọng tưởng chẳng thật mà vọng tưởng sanh, chấp
trước nhiếp (tâm), sở nhiếp (cảnh), chẳng biết tự tâm
hiện lượng và rơi vào kiến chấp có không, tăng trưởng
vọng tưởng tập khí theo kiến chấp ngoại đạo, chấp trước
các thứ nghĩa bên ngoài, vọng tưởng tâm (tâm vương), tâm
số (tâm sở), chấp trước ngã ngã sở sanh. Thế Tôn! Nếu
như thế thì các thứ nghĩa tướng bên ngoài rơi vào tướng
có không, lìa tánh và phi tánh, lìa kiến (tâm), tướng (cảnh).
Thế Tôn! Đệ nhất nghĩa cũng như thế, lìa tướng lượng,
căn, phần, thí, nhân. Thế Tôn! Vì sao một chỗ thì nghĩa
vọng tưởng chẳng thật các thứ tánh chấp trước vọng
tưởng sanh? Chỗ thì chẳng phải chấp trước tướng đệ
nhất nghĩa vọng tưởng sanh? Đâu không phải Thế Tôn nói
về tà nhân luận sao? Nên nói một sanh, một chẳng sanh.
Đây
là lặp lại lời đáp của Thế Tôn mà riêng nêu ra các thứ
nghĩa bên ngoài và có không kiến tướng đều ngay đó tánh
lìa, kiến tướng không thể được, mà Thế Tôn bảo rằng
vọng tưởng y đó mà khởi. Đệ nhất nghĩa căn lượng tông
nhân thí dụ cũng ngay đó tánh lìa, kiến tướng không thể
được, mà Thế Tôn bảo là vọng tưởng chẳng sanh. Đồng
một tánh lìa, tướng lìa, kiến lìa, mà một bên bảo các
thứ nghĩa vọng chấp có không; một bên bảo đệ nhất nghĩa
vọng tưởng chẳng sanh. Đâu không phải Thế Tôn cũng rơi
vào tà luận. Nghĩa là một bên chấp có sanh, một bêân chấp
không sanh. Không biết chỗ chấp của ngoại đạo cùng với
chỗ nói của thánh giáo, tuy tất cả tánh tướng thảy không
thể được, các kiến chấp chóng lìa; song do giác tự tâm
hiện lượng thì tất cả đều dứt, cùng chẳng giác tự
tâm hiện lượng, mà cho là tất cả đều không thể được,
thật là sai hào ly cách xa ngàn dặm. Nay những thiền gia ở
trong thiên hạ nói là tâm tông mà bảo tất cả không thể
được, tự tại vô ngại, đều không ngoài tâm lượng vọng
tưởng, theo giác tưởng lưu chuyển mà vẫn hiu hiu tự đắc
cho là phát minh tự tâm. Tất cả tánh lìa, thế đế và đệ
nhất nghĩa đế không hai không khác. Song không biết rằng
hiện chấp có tánh rồi sau nói không, cùng chẳng chấp có
tánh bình đẳng tịch diệt. Đây là giác tự tâm cùng chẳng
giác tự tâm, riêng khác giữa chân và ngụy, học giả không
thể không xét kỹ.
+
CHỈ GIÁC TỰ TÂM LƯỢNG VỌNG TƯỞNG CHẲNG SANH.
Phật
bảo Đại Huệ: Chẳng phải vọng tưởng một sanh, một chẳng
sanh. Vì cớ sao? Nghĩa là vì vọng tưởng có không đều chẳng
sanh, mà bên ngoài hiện tánh (có), phi tánh (không). Giác tự
tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh. Đại Huệ! Ta
nói những kẻ ngu vì tự tâm các thứ tướng vọng tưởng,
sự nghiệp hiện tiền các thứ tánh tướng vọng tưởng chấp
trước sanh. Làm sao kẻ ngu được lìa chấp trước ngã ngã
sở; lìa lỗi nhân duyên năng tác sở tác, giác tâm lượng
vọng tưởng của mình, thân tâm chuyển biến, cứu kính hiểu
rõ tất cả địa, cảnh giới Như Lai tự giác, lìa năm pháp,
tự tánh, sự kiến vọng tưởng? Do nhân duyên này, nên ta
nói vọng tưởng từ chấp trước các thứ nghĩa chẳng thật
sanh. Biết nghĩa như thật được giải thoát các thứ vọng
tưởng nơi tự tâm.
Chẳng
phải vọng tưởng một sanh, một chẳng sanh, cho là vọng tưởng
có không đều chẳng sanh. Đây là chỉ thẳng người giác
tự tâm hiện lượng thì tất cả vọng tưởng có không đều
chẳng sanh. Nay hiện ở trong cái có mà bảo tất cả tánh
lìa, tất cả không thể được, đây là vọng tưởng chấp
trước. Giác tự tâm hiện lượng trọn không có cái tưởng
này. Nên nói: “chẳng chấp có tánh, bình đẳng tịch diệt”.
Người ngu đối các thứ tướng sự nghiệp hiện tiền chấp
là có, cũng chấp là không, đều do vọng tưởng lưu chuyển.
Không giác tự tâm hiện lượng thì động niệm dứt niệm
đều trở về mê muội. Cho nên nói “muốn được xa lìa
các thứ lỗi về ngã ngã sở, phải giác tâm lượng vọng
tưởng nơi mình. Giác tất cả vọng tưởng thảy do tâm hiện”.
Cái bị hiện chẳng thật thì cái tưởng nơi tâm được lìa,
liền chuyển thân tâm bất giác kia theo trí tự giác, chiếu
sáng các địa đến Như Lai địa, tất cả năm pháp, ba tự
tánh đều là hý luận. Vọng tưởng do y chấp trước các
thứ nghĩa chẳng thật. Đệ nhất nghĩa do biết tự tánh như
thật. Tự thể giải thoát là vọng tưởng chẳng sanh, đây
là quyết định vậy.
+
TỤNG CHUNG.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:
Các nhân cùng với duyên
Từ đây sanh thế gian
Vọng tưởng chấp tứ cú
Chẳng biết rành ngã sở.
Thế gian chẳng có sanh
Cũng lại chẳng không sanh
Chẳng từ có không sanh
Cũng chẳng phi có không.
Các nhân cùng với duyên
Tại sao ngu vọng tưởng
Chẳng có cũng chẳng không
Cũng lại chẳng có không.
Như thế quán thế gian
Tâm chuyển được vô ngã
Tất cả tánh chẳng sanh
Vì bởi từ duyên sanh
Tất cả duyên tạo ra
Tạo ra chẳng tự có
Sự chẳng tự sanh sự
Vì có lỗi hai sự.
Vì không lỗi hai sự
Chẳng có tánh khá được.
Đây
nói tất cả thế gian từ nhân duyên sanh. Chẳng biết duyên
sanh vọng chấp có không tứ cú. Song thế gian này thẳng đó
thật không có tứ cú có thể được, đều do kẻ ngu vọng
tưởng chẳng đạt lý này. Nếu hay quán kỹ như thế, mới
biết tất cả vô ngã. Tự tánh chẳng sanh thảy từ duyên
khởi, duyên khởi cũng không thì ngườøi tạo cùng việc tạo
ra đều không có thật tánh, thẳng đó liền lìa. Câu sự
chẳng tự sanh sự, sự tức là quả sự. Nghĩa là quả cần
đợi nhân, nhân thành ra quả, không có tánh tự sanh. Tóm lại
tâm buổi đầu chẳng giác không thể tự chủ lầm theo nhân
duyên dường như có sanh diệt. Kẻ ngu chẳng biết vọng chấp
có không, người giác chóng lìa vốn không thật tánh.
Quán các pháp hữu vi
Lìa phan duyên sở duyên
Không tâm lượng của tâm
Ta nói là tâm lượng.
Lượng ấy chỗ tự tánh
Duyên sanh cả hai lìa
Tánh cứu kính diệu tịnh
Ta nói tên tâm lượng.
Ở
trước nói thế gian duyên sanh, duyên sanh nên không tánh. Ở
đây mới chỉ ra người giác tự tâm lượng, chỉ hay lìa
phan duyên và sở duyên liền đó không tâm, bèn hợp với tâm
lượng. Nghĩa là tự tánh tâm này vốn không năng duyên
sở duyên, cứu kính là viên diệu. Nếu ở ngoài tâm mà vừa
có chấp trước bèn rơi vào vọng tưởng, chẳng phải bản
hiện lượng.
Lập bày ngã thế đế
Ấy là không sự thật
Lập bày các ấm thân
Không sự cũng như thế.
Có bốn thứ bình đẳng
Tướng và nhân tánh sanh
Thứ ba vô ngã đồng
Thứ tư người, pháp tu.
Trước
nói tự tánh tâm lượng tất cả tánh lìa đương thể là
diệu tịnh. Đây nói lập bày năm uẩn, hoặc người hoặc
pháp cho đến tướng cùng vô tướng, sanh cùng vô sanh, ngã
cùng vô ngã, năng tu và sở tu thảy đều bình đẳng không
có thật tánh, để hiển chỉ có tự tánh tâm lượng, ngoài
tánh này không có cái gì riêng khác. Lập bày thế đế là
nhân tướng. Lập bày các ấm là pháp tướng. Bốn thứ bình
đẳng: tướng, nhân, ngã, tu. Tướng tức là tướng năm ấm.
Năm ấm không thật thì tướng cùng vô tướng bình đẳng.
Tướng ắt có nhân, nhân là tập đế trong tứ đế, là sanh
nhân của năm ấm. Quả tướng đã dối thì sanh cùng vô sanh
bình đẳng. Nhân quả sanh nhau thì đủ có nghĩa ngã, nhân
quả chẳng sanh thì ngã cùng vô ngã bình đẳng. Rõ ngã chẳng
phải ngã gọi đó là tu, rõ không có bị rõ thì tu cùng không
tu bình đẳng.
Vọng tưởng tập khí chuyển
Có các thứ tâm sanh
Cảnh giới hiện bên ngoài
Ấy tâm lượng thế tục.
Hiện ngoài mà chẳng có
Tâm thấy các thứ kia
Dựng lập làm thân, tài
Ta nói là tâm lượng.
Đây
nói tâm lượng thế tục do tập khí chuyển ra, vọng sanh phân
biệt dường như có ngoại cảnh. Giác được lý này thì trở
lại là tự tánh tâm lượng. Hiện ngoài chẳng phải có là,
chẳng phải riêng có do tâm vọng thấy, căn thân khí giới,
hiện ra đều duy tâm.
Lìa tất cả các kiến
Và lìa tưởng sở tưởng.
Không được cũng không sanh
Ta nói là tâm lượng.
Phi tánh phi phi tánh
Tánh phi tánh thảy lìa
Gọi kia tâm giải thoát
Ta nói là tâm lượng.
Như như cùng không tế
Niết-bàn và pháp giới
Các thứ thân ý sanh
Ta nói là tâm lượng.
Các
kiến là hai ngã kiến nhân và pháp. Tưởûng sở tưởng là
năng tưởng và sở tưởng. Lìa những cái này thì được
gốc tự tâm, mà chẳng phải mới được, cho nên nói “không
được”. Tâm lượng hiện tiền thì chẳng chấp có tánh
là sanh và nhân cả hai đều đoạn, cho nên nói “không sanh”.
Hai pháp có không do tứ cú sanh ra, tứ cú đã lìa liền đó
giải thoát. Như như, không tế, Niết-bàn, pháp giới đều
chỉ cho tâm lượng chân tịnh viên mãn, cho đến các thứ
thân ý sanh thể dụng đều diệu, thảy nói về tự tánh đến
chỗ cùng tột.
2-
CHỈ NGỮ, NGHĨA, THỨC, TRÍ ĐỂ HIỂN DỤNG TÔNG THÔNG.
-CHỈ
NGỮ, NGHĨA.
+
NHÂN ĐẠI HUỆ HỎI, TRƯỚC CHỈ TƯỚNG NGỮ.
Khi
ấy, Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế
Tôn đã nói đại Bồ-tát phải rành rẽ về ngữ, nghĩa. Thế
nào Bồ-tát rành ngữ, nghĩa? Thế nào là ngữ? Thế nào là
nghĩa? Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy
nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Lành thay,
Thế Tôn ! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Thế nào
là ngữ? Nghĩa là lời nói văn tự vọng tưởng hòa hợp,
y nơi cổ họng môi lưỡi răng nướu cằm má, nhân đó ta
nói vọng tưởng tập khí chấp trước sanh, ấy gọi là ngữ.
Ngữ
là ngôn giáo Như Lai nói ra tam thừa và nhất thừa. Nghĩa là
đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ. Đệ nhất nghĩa thánh
lạc hành xứ do ngôn thuyết được vào. Vào đệ nhất nghĩa
thánh lạc hành xứ thì hay xa lìa tất cả cảnh giới ngôn
thuyết vọng tưởng giác. Nhân ngữ mà nhập nghĩa, nên nói
chiếu liễu, mà chẳng phải y ngữ sanh nghĩa, trở lại rơi
vào giác tưởng. Trước biện biệt thể tướng hai thứ ngữ
nghĩa, nhiên hậu bảo, do ngữ nhập nghĩa, như ngọn đèn soi
cảnh sắc, chẳng phải ngọn đèn tức là cảnh sắc. Tông
thông này là hiển bày tông thú, mượn lời nói mà nhập,
không nên y lời nói chấp trước vọng tưởng tướng khác.
Vọng tưởng tập khí hòa hợp với bảy thứ: cổ họng...
thành thể tướng của ngữ. Đây là y thế gian mà nói. Nếu
thánh ngôn giáo tức là đệ nhất nghĩa diệu tâm khéo vì
hiển bày. Cho nên ở sau nói “có ngữ chẳng khác với nghĩa”.
Nhân ngữ mà biện nghĩa do ngữ nhập nghĩa nên nói giáo liễu
nghĩa. Phàm vọng tưởng tập khí cùng đệ nhất nghĩa diệu
tâm, thể một mà tên khác. Thảy do mê giác chuyển ra, nên
biết tông thông hiển bày do lời nói mà vào, chẳng phải
cảnh giới vọng tưởng.
+
CHỈ TƯỚNG NGHĨA.
Đại
Huệ! Thế nào là nghĩa? Nghĩa là lìa tất cả tướng vọng
tưởng tướng ngôn thuyết, ấy gọi là nghĩa. Đại Huệ!
Đại Bồ-tát đối với nghĩa như thế ở riêng chỗ vắng
vẻ văn tư tu tuệ, duyên tự giác liễu, hướng thành Niết-bàn,
tập khí thân chuyển biến rồi, cảnh giới tự giác xét nghĩa
tướng khoảng giữa các địa mà thắng tiến, ấy gọi là
đại Bồ-tát rành nghĩa.
Đây
chỉ thể tướng của nghĩa mà chẳng nói những gì là nghĩa.
Chỉ bảo lìa tất cả vọng tưởng ngôn thuyết, ấy gọi
là nghĩa. Bởi vì muốn người lìa chỗ ngôn thuyết vọng
tưởng được chỗ tự giác. Duyên chỗ tự giác này mới
hay ở riêng chỗ vắng vẻ, chóng rõ văn tư tu tuệ, hồi hướng
Niết-bàn. Nên nói “chuyển tập khí thân toàn là cảnh giới
tự giác. Dùng tự giác diệu tuệ chiếu sáng các địa tiến
thẳng lên trên chẳng do nơi khác”. Do nghĩa tướng này để
thấy đệ nhất nghĩa diệu tâm của Như Lai khéo vì hiển
bày, mà hay khiến người nhân ngữ biện được nghĩa, do ngữ
nhập nghĩa, nên nói “ngữ chẳng khác nghĩa”. Văn sau sẽ
nói rõ đó.
+
CHỈ DO NGỮ NHẬP NGHĨA.
Lại
nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát rành ngữ nghĩa quán ngữ cùng
nghĩa chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Quán nghĩa cùng
ngữ cũng lại như thế. Nếu ngữ khác với nghĩa thì chẳng
nhân ngữ mà biện nghĩa. Song do ngữ nhập nghĩa như đèn soi
cảnh sắc.
Đây
chính bày tông thông hiển thị sở nhập. Có bao nhiêu chương
cú đều là liễu nghĩa. Cho nên Bồ-tát rành ngữ nghĩa thì
quán ngữ biết nghĩa là chẳng khác, chẳng phải chẳng khác.
Khác thì chẳng nhân ngữ mà biện nghĩa, mà hẳn do ngữ nhập
nghĩa. Đến chỗ tự chứng lìa ngôn ngữ mà được, mới
biết tất cả ngôn giáo là chiếu liễu nguồn tâm, lìa tất
cả cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng. Chúng sanh do tập
khí che đậy nên không thể nhân ngữ mà biết chỗ trở về,
trái lại duyên ngôn thuyết theo đó chấp có không, chẳng
phải lỗi tại thánh giáo.
+
RIÊNG Y NGỮ CHẤP NGHĨA.
Lại
nữa, Đại Huệ! Chẳng sanh chẳng diệt, tự tánh, Niết-bàn,
tam thừa, nhất thừa, tâm, tự tánh v.v... như duyên lời nói
nghĩa rồi chấp trước, rơi vào chấp dựng lập (có), phỉ
báng (không), khác dựng lập (có), khác vọng tưởng, như huyễn
các thứ vọng tưởng hiện. Thí như các thứ huyễn, chúng
sanh phàm ngu cho là khác vọng tưởng, chẳng phải thánh hiền.
Đây
nói kẻ ngu không thể nhân ngữ nhập nghĩa, đối tự thể
các pháp trong đệ nhất nghĩa chẳng sanh diệt v.v... không
có chiếu liễu, trái lại y ngôn thuyết chấp trước cảnh
giới giác tưởng sở thuyết, rơi vào có không. Là khác với
tự thể các pháp đệ nhất như nghĩa mà khởi dựng lập.
Có các thứ vọng chấp như y nơi huyễn mà khởi các phân
biệt. Cho nên biết, tất cả các pháp đều là đệ nhất
nghĩa mà thánh phàm đồng hiện, mê giác vẫn phân. Người
giác tự tâm hiện lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm
duyên, nhận được pháp thể, mới tin nhật dụng không khác,
như chư thiên kia đồng bát đựng thức ăn, tùy phước dày
mỏng mà thấy mỗi phần có khác.
+
TỤNG CHUNG.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:
Ngôn thuyết vọng tưởng kia
Dựng lập ra các pháp
Bởi do kia dựng lập
Chết rơi vào địa ngục.
Trong ấm không có ngã
Ấm chẳng tức là ngã
Chẳng như vọng tưởng kia
Cũng lại phi vô ngã.
Tất cả thảy có tánh
Như phàm ngu vọng tưởng
Nếu như kia đã thấy
Tất cả nên thấy đế (chân)
Tất cả pháp không tánh
Tịnh uế thảy không có
Chẳng thật như kia thấy
Cũng chẳng phải không có.
Đây
nói ngoại đạo y ngôn thuyết vọng tưởng dựng lập có không,
đó là tà pháp nhân chấp nên phải đọa. Song Nhị thừa bảo
trong ấm vô ngã, tuy chẳng giống vọng tưởng tức ấm là
ngã, mà không biết vô ngã cũng chẳng phải đệ nhất nghĩa.
Phàm ngoại chẳng phân mê giác, lầm cho vọng là chân. Nhị
thừa đối trị tà chấp bỏ chân đồng vọng. Đây đều
chẳng đạt tánh sẵn đủ, chẳng lìa vọng tưởng mà có
chân thật. Nếu quyết lìa vọng thì nào khác lẫn vọng, cho
nên nói “Nếu như kia đã thấy tất cả nên thấy đế (chân
thật)”. Nghĩa là Nhị thừa vô ngã chẳng phải chân thật.
Thế nên biết, tất cả các pháp chân thật vốn không tự
tánh, đã có tịnh uế đều do kiến chấp mà sanh. Chỉ trừ
kiến chấp chẳng thật thì chân thật hiện tiền. Nên nói
đệ nhất nghĩa như thật bản tế thầm hợp tương ưng, không
có thủ xả. Đây là cảnh giới tự thông chẳng phải không
có, mà không phải chỗ hay nói của ngôn thuyết vọng tưởng.
Đó là sở do bài kệ chót trưng bày.
-
BIỆN THỨC, TRÍ.
+
CHỈ TƯỚNG BA THỨ TRÍ.
Lại
nữa, Đại Huệ! Tướng trí, thức nay sẽ nói, nếu khéo phân
biệt tướng trí và thức thì ông và các Bồ-tát ắt hay thông
đạt tướng trí và thức, chóng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Đại Huệ! Trí kia có ba thứ: Nghĩa là thế gian,
xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng. Thế nào là
trí thế gian? Nghĩa là tất cả ngoại đạo phàm phu chấp
trước có không vậy. Thế nào trí xuất thế gian? Nghĩa là
tất cả Thanh văn, Duyên giác rơi vào chấp trước hy vọng
tự tướng cộng tướng. Thế nào là trí xuất thế gian thượng
thượng? Nghĩa là chư Phật Bồ-tát quán pháp không thật có,
thấy chẳng sanh chẳng diệt, lìa các loại có không. Như Lai
địa nhân pháp vô ngã, duyên tự đắc mà sanh.
Tất
cả chúng sanh chẳng được duyên tự giác liễu đều do không
đạt hai tướng trí và thức. Cho là trí mà thật là thức,
thành tăng thượng mạn. Đó là lý do Như Lai lặp đi lặp
lại để hiển bày vậy. Trong ba thứ trí, thế gian trí chỉ
cho ngoại đạo. Cũng nói người trí, bởi vì ngoại đạo
tự cho là người trí. Nhị thừa đạt các ấm vô ngã, vẫn
còn chấp pháp ấm, không biết đều là tự tâm hiện, nên
nói “theo tự tướng cộng tướng hy vọng”. Chư Phật Bồ-tát
giác tự tâm hiện, đạt tất cả pháp đều không thật có,
lìa có không sanh diệt, tự tánh như như. Bởi vì Như Lai địa
nhân pháp đều quên, duyên tự đắc sanh, chẳng cùng ngoại
đạo, Nhị thừa chấp có không, hy vọng tự cộng mà so sánh
được.
+
CHỈ THỨC, TRÍ SAI BIỆT.
Đại
Huệ! Cái sanh diệt kia là thức; cái chẳng sanh diệt là trí.
Lại nữa, rơi vào tướng vô tướng và các thứ nhân tướng
có không là thức; siêu việt tướng có không là trí. Lại
nữa, tướng trưởng dưỡng là thức; chẳng phải tướng
trưởng dưỡng là trí.
Bất
giác tự tâm hiện, vọng thấy tất cả pháp sanh, vọng thấy
tất cả pháp diệt. Giác tự tâm hiện, chỗ hiện là duy tâm,
không có sanh diệt. Đây là lý do trí cùng thức phân biệt
vậy. Y cái sanh diệt này chấp tướng có không, cùng nhân
có không là thức. Hay siêu việt cái này là trí. Trưởng dưỡng
là nghĩa sanh. Đối tất cả pháp mà tạo sanh nhân là thức.
Đối tất cả pháp mà làm liễu nhân là trí. Như Lai đã có
ba mươi bảy pháp trợ bồ-đề và sáu ba-la-mật, tất cả
vô lượng ba-la-mật đều là liễu nhân mà chẳng phải sanh
nhân.
Lại
nữa, có ba thứ trí: Biết sanh diệt, biết tự cộng tướng,
biết bất sanh bất diệt. Lại nữa, tướng vô ngại là trí,
cảnh giới các thứ tướng ngại là thức. Lại nữa, tướng
ba việc hòa hợp phương tiện sanh là thức, tướng vô sự
phương tiện tự tánh là trí. Lại nữa, tướng đắc là thức,
tướng chẳng đắc là trí. Cảnh giới tự đắc thánh trí
chẳng ra chẳng vào, cho nên như trăng trong nước.
Sanh
diệt là mê chân duyên tập. Nghĩa là các phàm phu ngoại đạo
mê chân tánh mình, khởi ra tất cả nhân duyên sanh diệt. Tự
cộng tướng là kẹt nơi chân duyên tập. Nghĩa là Nhị thừa
kẹt nơi pháp chấp chẳng đạt chân tánh, khởi ra tất cả
nhân duyên nhàm chán tự tướng cộng tướng. Chẳng sanh chẳng
diệt là tự chân duyên tập. Nghĩa là Bồ-tát thủy giáo thấy
chân tánh mình chẳng lìa chân tế, khởi ra tất cả pháp nhân
bồ-đề chẳng sanh diệt. Biết ba thứ này mới gọi là trí.
Hay biết ba thứ mà biết chẳng phải ba thứ, nên nói nhất
thiết trí trí thanh tịnh. Vô ngại tức là nghĩa tứ vô ngại
trong kinh Hoa Nghiêm. Nghĩa là lý vô ngại, sự vô ngại, sự
lý vô ngại, sự sự vô ngại. Chân thuyên vô ngại vừa có
thiên trọng liền rơi vào thức tâm. Ba việc là, căn trần
thức. Rõ biết căn trần đều do nội thức biến dường như
có, mà không có căn trần có thể được. Tất cả phân biệt
tức là vô phân biệt trí, nên nói “tùy thuận phân biệt
các tướng pháp, mà nơi đệ nhất nghĩa chẳng động”. Tướng
tức là tất cả tướng sắc, tâm v.v... Giác tự tâm hiện
không có các tướng có thể được, gọi là tướng chẳng
đắc. Đây đều là cảnh giới tự giác thánh trí như trăng
trong nước chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải
ra chẳng phải vào, không thể hiển bày, chỉ chứng tương
ưng.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:
Gom nhóm nghiệp là thức
Chẳng gom nhóm là trí
Quán sát tất cả pháp
Thông đạt không thật có
Liền được sức tự tại
Ấy tức tên là tuệ
Buộc cảnh giới là tâm
Giác tưởng sanh là trí
Không thật có và thắng
Tuệ ắt từ ấy sanh.
Đây
phân trí tuệ. Trí là nhằm giác liễu tự tâm, chẳng theo
thức tâm phân biệt nhiếp thọ, là chỉ căn bản trí. Tuệ
là nhằm sai biệt, được tất cả chỗ vô sai biệt trí, vào
pháp hạnh Phổ Hiền, nhậm vận trang nghiêm. Buộc cảnh giới
là, bị tất cả pháp sanh diệt buộc, tâm giác cảnh buộc
này vốn tự viên tịnh. Chỉ do vọng tưởng thảy không thể
được, cũng nhiếp thuộc căn bản trí. Giác thì hay liễu,
liễu mà không có sở liễu, đến chỗ vô tướng, lần lượt
tăng thắng cũng nhiếp thuộc sai biệt. Vô tướng là cảnh
giới Bát địa. Thắng tức Như Lai địa.
Tâm ý cùng với thức
Xa lìa tưởng suy nghĩ
Được pháp không tưởng nghĩ
Phật tử phi Thanh văn
Nhẫn tịch tĩnh thắng tiến
Như Lai trí thanh tịnh
Sanh ra nghĩa thiện thắng
Đã làm thảy xa lìa.
Đây
tức nơi tâm ý ý thức mà được trí thanh tịnh Như Lai, chẳng
phải Nhị thừa đến được. Tâm ý ý thức đương thể toàn
không, chỉ hay lìa các phân biệt thì được pháp thể vô
phân biệt, liền khéo vào nhẫn tịch diệt đến trí địa
thanh tịnh Như Lai. Do trí thanh tịnh Như Lai đều từ pháp
vô phân biệt mà sanh. Pháp vô phân biệt tức là nghĩa thiện
thắng. Pháp thiện thắng vô phân biệt này tức là thể của
suy nghĩ phân biệt. Vì mê nên y thể khởi vọng, vì giác nên
thể hợp tưởng dừng, bản trụ hiện tiền tâm hành chóng
hết. Đó là nghĩa đế vô phân biệt tối thắng vậy. Nhẫn
có năm: Phục, tín, thuận, vô sanh, tịch diệt. Từ tam hiền
cho đến Phật địa chỗ chứng có sâu cạn. Về tịch diệt
nhẫn đến địa thứ mười là Pháp vân mới chứng, bậc
Đẳng giác và Diệu giác Phật địa các hoặc đoạn hết
cũng nhiếp thuộc nhẫn nầy.
Ta có ba thứ trí
Thánh vạch mở chân thật
Nơi kia suy nghĩ tưởng
Đều nhiếp thọ các tánh
Nhị thừa chẳng tương ưng
Trí lìa các sở hữu
Chấp trước nơi tự tánh
Từ các Thanh văn sanh
Vượt qua các tâm lượng
Như Lai trí thanh tịnh.
Ba
thứ, tức trong chánh văn biết ba thứ sanh diệt v.v... ba thứ
hay biết này tức là trí thể thanh tịnh chân thật của Như
Lai. Bởi vọng suy nghĩ khởi các nhiếp thọ, liền nhiếp thọ
các pháp. Cùng nhiếp thọ không tương ưng tức thuộc Nhị
thừa. Nếu đạt pháp tánh không thật có thì nhiếp thọ chóng
lìa, liền đồng thánh trí. Cho nên biết, Nhị thừa chỉ đối
với không thật có mà vọng sanh chấp trước, bèn thành tâm
lượng. Siêu vượt nơi đây liền đó thanh tịnh chẳng phải
lại riêng có Như Lai trí.
+
CHỈ NGOẠI ĐẠO CHUYỂN BIẾN CHẲNG LÌA VỌNG THỨC.
NÊU
DANH TƯỚNG NGOẠI ĐẠO CHUYỂN BIẾN.
Lại
nữa, Đại Huệ! Ngoại đạo có chín thứ chuyển biến luận,
mà kiến chấp ngoại đạo chuyển biến sanh. Nghĩa là: Hình
xứ chuyển biến, tướng chuyển biến, nhân chuyển biến,
thành chuyển biến, kiến chuyển biến, tánh chuyển biến,
duyên phân minh chuyển biến, sở tác phân minh chuyển biến,
sự chuyển biến. Đại Huệ! Ấy gọi là chín thứ kiến chấp
chuyển biến, các ngoại đạo nhân đó khởi ra có không, sanh
chuyển biến luận. Thế nào là hình xứ chuyển biến? Nghĩa
là hình xứ thấy khác, thí như vàng biến làm các món vật
thì có các thứ hình xứ hiển hiện, chẳng phải tánh vàng
có biến đổi. Tất cả tánh biến cũng lại như thế. Hoặc
có ngoại đạo khởi vọng tưởng như thế cho đến vọng
tưởng sự biến, vì vọng tưởng kia chẳng phải như, chẳng
phải khác.
Ngoại
đạo chín thứ chuyển biến nhân nơi thân tứ đại năm uẩn
và tất cả pháp hữu vi ở thế gian hiện thấy ở trước
mắt, nhân quả sanh diệt thành bại khổ vui, các thứ dời
đổi thật có như thế, tạo thành định luận. Họ chẳng
biết tự tâm hiện ra, như vàng làm các món trang sức, vàng
không cố định là món trang sức, món trang sức chẳng ngoài
vàng, chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải có chẳng
phải không. Vì mê nên thấy rõ ràng, vì giác nên thấy như
huyễn. Duy Thức luận nói là “tùy duyên bất biến, bất
biến tùy duyên”. Như Lai nêu ra chỗ này, tuy chỉ cái sở
do vọng chấp của ngoại đạo cũng là vì tất cả chúng sanh
trong thiên hạ ở đời sau và người tu hành dẹp trừ chướng
hý luận trước mắt. Do đạt tự tâm hiện ra thật không
có tự tánh. Hình tức là uẩn thân, thân có lưu chuyển trong
sáu đạo, tướng có đẹp xấu không nhất định. Hình tướng
có nhân, nhân đủ thì quả thành, thấy già trẻ nhiều thay
đổi, tánh khổ vui chóng đổi thay. Duyên sanh ra rõ ràng, pháp
duyên sanh rành rẽ, năng sở đã đủ thì việc sanh sáng tỏ.
Đây là chín thứ chuyển biến, ngoại đạo y theo đó thành
kiến chấp hữu nhân vôâ nhân. Lại nêu lên hình sự là toát
yếu hết chín thứ, dùng vàng và trang sức làm dụ, lìa vàng
nói trang sức cũng tức trang sức nói vàng, chẳng phải tức,
chẳng phải ly, là tức là ly đồng với hý luận, thảy do
vọng tưởng. Đây cũng thuộc về thức.
CHỈ
CHUYỂN BIẾN KHÔNG TÁNH, ĐỀU DO VỌNG THỨC. GỒM TỤNG.
Như
thế, tất cả tánh chuyển biến nên biết như sữa, lạc,
rượu, trái v.v... đã chín. Ngoại đạo chuyển biến vọng
tưởng, kia cũng không có chuyển biến. Hoặc có hoặc không
tự tâm hiện ra ngoại tánh (có), phi tánh (không). Đại Huệ!
Như thế, chúng sanh phàm ngu tự vọng tưởng tu tập sanh. Đại
Huệ! Không có pháp hoặc sanh hoặc diệt, như thấy sắc huyễn
mộng sanh.
Lại
nêu tất cả pháp như sữa, lạc, rượu, trái v.v... hiện thấy
chuyển biến để thấy ngoại đạo y đây mà khởi vọng tưởng
chuyển biến. Song tất cả pháp không có tánh chuyển biến.
Sữa không có tánh lạc, trái không có tánh rượu, do nhân
duyên biến đổi hoặc có hoặc không, đều là tự tâm hiện
mà không có tự tánh. Như thấy tất cả sắc tướng mộng
huyễn, nó chẳng phải sanh chẳng phải diệt, chẳng phải
có chẳng phải không. Phàm ngu không biết cho là tự tu tập
sanh, vọng thấy có thật pháp.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:
Hình, xứ, thời, chuyển biến
Tứ đại chủng các căn
Trung ấm thứ lớp sanh
Vọng tưởng phi minh trí.
Tối Thắng đối duyên khởi
Chẳng như vọng tưởng kia
Song thế gian duyên khởi
Như thành Càn-thát-bà.
Thấy
tứ đại các căn có hình, xứ, thời, tướng của chuyển
biến và thân trung ấm thứ lớp sanh trưởng, đều là vọng
tưởng, chẳng phải minh trí. Thế gian duyên khởi như thành
Càn-thát-bà, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải
một chẳng phải khác. Chư Phật Như Lai quyết chẳng ở nơi
duyên khởi có không mà có chút ít phân biệt, như kẻ vọng
chấp kia. Hiện sanh là tiền ấm, hậu sanh là hậu ấm. Xả
hiện sanh chưa đến hậu sanh, khoảng giữa có hiện thân,
gọi là trung ấm.
-
RIÊNG Y NGỮ THỦ NGHĨA THÀNH CHẤP SÂU KÍN.
+ ĐẠI HUỆ THƯA HỎI.
Khi
ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin
vì nói nghĩa tất cả pháp tương tục và nghĩa giải thoát.
Nếu khéo phân biệt tướng tất cả pháp tương tục và chẳng
tương tục thì con và các Bồ-tát hiểu rành tất cả tương
tục phương tiện khéo léo, chẳng rơi vào như nghĩa đã nói,
chấp trước tương tục. Chúng con khéo đối với tướng tất
cả pháp tương tục, chẳng tương tục và lìa ngôn thuyết
văn tự vọng tưởng giác, dạo đi tất cả cõi nước chư
Phật, vô lượng đại chúng, lực tự tại thông, được ấn
tổng trì, các thứ biến hóa, hào quang chiếu sáng, giác tuệ
khéo nhập mười vô tận cú, không có hạnh phương tiện,
ví như nhật nguyệt, ma-ni, tứ đại. Đối tất cả địa
lìa kiến chấp tướng vọng tưởng của mình, thấy tất cả
pháp như mộng huyễn v.v... nhập thân Phật địa. Đối tất
cả chúng sanh giới tùy chỗ họ mong mỏi mà vì nói pháp,
dẫn đường cho họ, đều khiến họ an trụ, tất cả các
pháp như mộng huyễn v.v... lìa các loại có không và vọng
tưởng sanh diệt, khác với nghĩa ngôn thuyết, thân kia chuyển
biến thù thắng.
Đoạn
này duyên ngôn thuyết nghĩa chấp trước, muốn Thế Tôn phát
minh được nhân ngôn thuyết vào đệ nhất nghĩa thánh lạc
hành xứ, để tiến đến cứu kính không rơi vào lối tẽ.
Duyên ngôn thuyết nghĩa chỗ chấp sâu kín giác tưởng chẳng
dứt, cho nên nói tương tục, Nhị thừa nhất thừa đồng
có cái chướng này, nên nói chấp pháp. Như nhân thánh giáo
nói “năm uẩn vô ngã”, Nhị thừa duyên đây vào quán vô
ngã, chứng nhân vô ngã cho là thật có pháp năm uẩn, thật
có pháp đã chứng vô ngã. Cái chướng này đến Thất địa,
chưa vào Bát địa còn không thể khỏi. Nếu pháp vô ngã thì
vi tế sở tri đến Phật địa mới hết. Sở tri tức là lý
không sở chứng. Trí không năng chứng vừa còn sở liễu thì
đối với đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ còn chưa viên
mãn. Đây là tột cùng tế tướng tương tục. Song, nếu Bồ-tát
hiểu rành phương tiện cũng không rơi vào cảnh giới ngôn
thuyết vọng tưởng giác mà được giải thoát, tổng trì
giác tuệ, dùng giác tuệ này dạo đi tất cả cõi Phật, thần
thông biến hóa, chợt hay nương mười nguyện vô tận như
nhật, nguyệt, ma-ni, tứ đại, soi khắp mười phương không
dừng không mắc, trải tất cả địa, lìa kiến chấp các
tướng, đạt pháp như huyễn, được thân cõi cứu kính của
Như Lai. Nhiên hậu tùy căn cơ chúng sanh mà vì dẫn đường,
như chỗ mình hiểu, chóng trừ có không sanh diệt, siêu tất
cả ngôn thuyết vọng tưởng tương tục. Cho nên biết ngoại
đạo Nhị thừa đều do chẳng rành phương tiện, chấp ngôn
thuyết vọng tưởng, không thể phát minh giác tuệ giải thoát.
Đây là lý do phân trí cùng thức, sự xoay chuyển của mê
với giác vậy. Ý Bồ-tát Đại Huệ thỉnh chỗ then chốt
sâu kín. Thập vô tận cú, trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát được
sơ Hoan hỷ địa phát nguyện rộng lớn như pháp giới, dùng
thập vô tận mà được thành tựu, thập cú này có tận thì
nguyện ta có tận, do thập cú này không tận nên nguyện ta
không tận. 1) Chúng sanh giới vô tận. 2) Thế giới vô tận.
3) Hư không giới vô tận. 4) Pháp giới vô tận. 5) Niết-bàn
giới vô tận. 6) Phật xuất hiện giới vô tận. 7) Như Lai
trí giới vô tận. 8) Tâm sở duyên vô tận. 9) Phật trí sở
nhập cảnh giới vô tận. 10) Thế gian chuyển, pháp chuyển,
trí chuyển vô tận. Như nhật, nguyệt, ma-ni, tứ đại là,
nhật, nguyệt đi trong không chẳng nương gá, ma-ni tùy phương
hiện sắc không có tự tánh, đất nước lửa gió khắp giáp
pháp giới không có chướng ngại.
+ CHỈ RA MƯỜI MỘT THỨ TƯƠNG TỤC SÂU KÍN.
Phật
bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo
suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng
thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Vô lượng tất cả pháp như
nghĩa đã nói, chấp trước tương tục. Nghĩa là: Tướng kế
trước tương tục, duyên kế trước tương tục, tánh phi tánh
kế trước tương tục, sanh bất sanh vọng tưởng kế trước
tương tục, diệt bất diệt vọng tưởng kế trước tương
tục, thừa phi thừa vọng tưởng kế trước tương tục, hữu
vi vô vi vọng tưởng kế trước tương tục, địa địa tự
tướng vọng tưởng kế trước tương tục, tự vọng tưởng
vô gián vọng tưởng kế trước tương tục, hữu vô phẩm
ngoại đạo y vọng tưởng kế trước tương tục, tam thừa
nhất thừa vô gián vọng tưởng kế trước tương tục.
Tướng
tức là Nhị thừa chấp pháp tướng năm uẩn và trí tướng
pháp vô ngã của Thập địa đều là tướng. Duyên tức là
nhân duyên cũng là chỗ chấp của Nhị thừa và duyên tự
giác liễu vừa có chỗ nương đều là pháp duyên. Tánh vẫn
là pháp. Tánh phi tánh, sanh bất sanh, diệt bất diệt, thừa
phi thừa, vi vô vi đều là chỗ chấp đối đãi của thế
gian và xuất thế gian. Địa địa tự tướng là, địa địa
đều không thật pháp. Kinh Hoa Nghiêm một địa tức đủ các
địa, lại các địa mỗi mỗi vào một địa, như lưới châu
của trời Đế Thích lẫn nhau nhiếp nhập không có tự tánh.
Nếu có địa tướng sở chứng liền có tự tướng năng chứng,
nên nói “tự vọng tưởng”. Hữu vô phẩm tức là trước
nương nơi có và nhận tánh tham sân si, về sau nói không, đều
y thánh ngôn thành tăng thượng mạn, phá hoại Phật pháp đồng
với ngoại đạo ấy vậy. Tam thừa nhất thừa cũng là thánh
giáo đã nói, không biết phương tiện, nhân lời nói nhận
nghĩa rồi chấp cho là thật pháp, thảy đều thuộc về tương
tục.
+
CHỈ TƯƠNG TỤC SÂU KÍN TỰ HOẠI HOẠI NGƯỜI.
Lại
nữa, Đại Huệ! Đây cùng chúng sanh phàm ngu khác tự vọng
tưởng tương tục. Bởi cái tương tục này mà phàm ngu vọng
tưởng, như tằm nhả tơ làm kén; do tơ vọng tưởng tự trói
trói người, tướng có không có tương tục chấp trước.
Nương
trước suy rộng ra lại có vô lượng thứ chấp trước sâu
kín. Tự trói trói người đây đều y ngôn thủ nghĩa vọng
sanh tướng khác cho là bí mật. Tự hoại lại hoại chánh
pháp làm chướng chúng sanh, rất đáng thương xót, là lý do
Như Lai không ngớt thương xót.
+
CHỈ CÁC PHÁP TỊCH TĨNH, XA LÌA TƯƠNG TỤC VÀ CHẲNG TƯƠNG
TỤC.
Lại
nữa, Đại Huệ! Trong kia cũng không tướng tương tục và
chẳng tương tục, vì thấy tất cả pháp tịch tĩnh nên vọng
tưởng chẳng sanh. Đại Bồ-tát thấy tất cả pháp tịch
tĩnh. Lại nữa, Đại Huệ! Giác ngoại tánh (có), phi tánh
(không), tự tâm hiện tướng không thật có, tùy thuận quán
sát tự tâm hiện lượng, có không tất cả tánh không tướng
thì thấy tương tục tịch tĩnh. Cho nên đốùi tất cả pháp
không tướng tương tục và chẳng tương tục. Lại nữa, Đại
Huệ! Trong kia không có hoặc trói hoặc mở, những người
rơi vào giác tri không như thật thấy có trói có mở. Vì cớ
sao? Vì đối tất cả pháp có không có, không chúng sanh có
thể được.
Cũng
không tướng tương tục và chẳng tương tục, lại vì người
chấp chẳng tương tục mà nói. Được tự giác đệ nhất
nghĩa thấy tất cả pháp tịch tĩnh thì vọng tưởng chẳng
sanh, tương tục cùng chẳng tương tục thảy thành hý luận.
Sở dĩ như thế, vì giác tất cả pháp bên ngoài không có
tự tánh, do tự tâm hiện như huyễn như mộng đều không
thật có. Quán sát như thật giác tự tâm lượng thì có không
đều dứt, thuần một tịch tĩnh, không tướng tương tục
nên cũng không tướng chẳng tương tục. Nếu có trói có mở
đều rơi vào không giác tri như thật, chẳng phải tất cả
pháp tự tướng chân như. Tất cả pháp tự tướng chân như
thì có không có đều không chủ tể. Đây là tự giác đệ
nhất nghĩa trong ngoài tương ưng.
Lại
nữa, Đại Huệ! Kẻ ngu có ba thứ tương tục. Nghĩa là: tham,
sân, si và ái, vị lai có ái hỷ chung. Do tương tục này nên
có thú tương tục. Tương tục ấy là tiếp nối trong ngũ
thú. Đại Huệ! Tương tục dứt thì không có tướng tương
tục cùng chẳng tương tục. Lại nữa, Đại Huệ! Ba hòa hợp
duyên tạo phương tiện chấp trước nên thức tương tục
vô gián sanh. Phương tiện chấp trước thì có tương tục.
Ba hòa hợp duyên thức dứt thì thấy ba giải thoát, tất cả
tương tục chẳng sanh.
Kẻ
ngu có ba thứ tương tục, Nhị thừa nương tương tục này
chứng chẳng tương tục, thành kiến chấp chẳng tương tục.
Cho nên Như Lai đặc biệt gọi đó bảo “tương tục dứt
thì không có tướng tương tục chẳng tương tục”. Tham sân
si là nhân tương tục. Nhân này từ vô minh bất giác liền
sanh kiến tướng nên nhân pháp rõ ràng, phiền não y đó mà
khởi. Do cái ái ấy đến sanh đời sau cùng tham hỷ chung.
Bởi cái tương tục này bèn thành ngũ thú. Nhị thừa tuy đoạn
nhân tương tục mà chẳng biết vô minh bất giác thảy đồng
huyễn hóa, lầm cho là có tướng nên đoạn, nên nói “chấp
pháp”. Ba hòa hợp duyên phương tiện chấp trước thức sanh
là, ba hòa hợp tức căn, trần, thức. Thức này tuy gồm tám
thức, song thủ nghĩa này thì chỉ thức chấp ngã thứ bảy.
Thức này Nhị thừa chỉ đoạn nhân chấp ngoại ngã. Ngoại
ngã này đoạn không có người nhiếp thọ thì nhân sanh trong
tam giới tự đoạn. Bởi vô minh chưa đoạn nên kiến phần
nội ngã vẫn còn. Nội ngã tức là pháp ngã. Do có pháp ngã
nên khi nhân sanh đoạn khởi tưởng chẳng tương tục, chẳng
phải chân giải thoát. Nếu thức thứ bảy nội ngã ngoại
ngã đều đoạn thì thấy ba môn giải thoát của đại thừa
là tất cả tương tục chẳng sanh. Nhị thừa khởi tướng
chẳng tương tục vẫn là nhân nói thủ nghĩa. Cái tương tục
này lại là sâu kín, đến chứng giải thoát mới hay hằng
đoạn. Ba giải thoát là, không, vô tướng, vô nguyện. Vô
nguyện mới đặc biệt nhị ngã chân lạc. Thế nên vào môn
này thì tất cả pháp tịch tĩnh.
+
TỤNG CHUNG.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ
rằng:
Chẳng chân thật vọng tưởng
Là nói tướng tương tục.
Nếu biết chân thật kia
Lưới tương tục ắt đoạn
Đối các tánh không biết
Tùy ngôn thuyết nhiếp thọ
Thí như con tằm kia
Nhả tơ mà tự trói.
Kẻ ngu vọng tưởng trói
Tương tục chẳng quán sát.
Ý
bài kệ nói chỉ nhập chân thật đệ nhất nghĩa thì tương
tục tự đoạn, không có tướng tương tục cùng chẳng tương
tục. Kẻ ngu hiện tại bị trói trong tương tục, bởi không
khéo quán sát y nơi ngôn thuyết thủ nghĩa vọng sanh tưởng
khác. Muốn cầu giải thoát trở lại tự trói buôâïc, đều
do chẳng được đệ nhất nghĩa tự giác vậy.
-
CHỈ THÁNH TRÍ KHÔNG SỰ ĐỂ PHÁ VỌNG CHẤP.
+
ĐẠI HUỆ NẠN CÁC PHÁP ĐOẠN DIỆT.
Đại
Huệ lại bạch Phật: Như Thế Tôn đã nói “Do các vọng
tưởng kia vọng tưởng các pháp kia, chẳng phải các pháp
có tự tánh, chỉ là tự tánh vọng tưởng thôi”. Thế Tôn!
Nếu chỉ là tự tánh vọng tưởng, chẳng phải tánh tự tánh
đối đãi, Thế Tôn nói như thế đâu không mắc cái lỗi
phiền não thanh tịnh đều không có chăng? Vì tất cả pháp
do tự tánh vọng tưởng thảy đều không có?
Tất
cả các pháp do tự tâm hiện ra nên chẳng phải có chẳng
phải không. Bởi mê tự tâm vọng khởi chấp trước có tự
tánh các pháp. Như Lai Thế Tôn thường nói: “Các pháp không
tự tánh chỉ có tánh vọng tưởng”. Cho nên Đại Huệ nạn
rằng: “Nếu chỉ có tánh vọng tưởng mà không có tự tánh
các pháp thì, các pháp nhiễm tịnh đâu không hoàn toàn hoại”.
Đây là nghi các pháp đoạn diệt. Chẳng biết các pháp do
tự tâm hiện ra không có tự tánh. Kẻ ngu không biết vọng
tưởng thấy có. Vì khiến họ lìa vọng chấp nên nói thánh
trí tự tánh không sự. Không, chẳng rơi vào có, mà có thánh
trí sở tri, lại chẳng phải pháp hoại. Văn sau lặp đi lặp
lại cho sáng tỏ, thảy chỉ ra ý này.
+
CHỈ KHÔNG TÁNH CÁC PHÁP, CHẲNG PHẢI KHÔNG TRI KIẾN THÁNH
TRÍ.
Phật
bảo Đại Huệ: Như thế, như thế, như ông đã nói. Đại
Huệ! Chẳng phải như kẻ ngu tánh tự tánh vọng tưởng chân
thật, tự tánh vọng tưởng này chẳng có tướng tánh, tự
tánh. Song, Đại Huệ! Như thánh trí có tánh tự tánh, thánh
tri thánh kiến thánh tuệ nhãn. Như thế, tánh tự tánh biết.
Chấp
nhận lời thuật lại của Đại Huệ, chỉ có tánh vọng tưởng
không tánh các pháp, mà chẳng phải đoạn diệt. Nghĩa là
tất cả các pháp không có tánh nhất định là phiền não,
thanh tịnh, mà chẳng phải không tánh. Cho nên nói “như thánh
trí có tánh tự tánh, thánh tri thánh kiến thánh tuệ nhãn,
như thế tánh tự tánh biết”. Sở dĩ thánh trí có tánh tự
tánh, là vì thánh tri thánh kiến thánh tuệ nhãn, nhất như
thật tướng các pháp trong ngoài tương ưng không có cảnh
giới riêng. Chẳng như kẻ ngu vọng sanh phân biệt, vọng có
chỗ chấp.
+
NẠN CÁC PHÁP CHẲNG KHÔNG, THÁNH TRÍ RƠI VÀO CÓ.
NGHI
CHỖ BIẾT CỦA THÁNH TRÍ ĐỒNG VỌNG TƯỞNG HIỆN.
Đại
Huệ bạch Phật: Nếu như thánh dùng thánh tri thánh kiến thánh
tuệ nhãn, chẳng phải thiên nhãn, chẳng phải nhục nhãn,
tánh tựï tánh như thế biết, chẳng phải như vọng tưởng
của ngu phu. Thế Tôn! Làm sao ngu phu lìa vọng tưởng ấy,
vì chẳng giác việc thánh tánh? Thế Tôn! Họ cũng chẳng phải
điên đảo, chẳng phải không điên đảo. Vì cớ sao? Vì họ
chẳng giác thánh sự tánh tự tánh, vì chẳng thấy lìa tướng
có không.
Chỗ
biết của thánh trí chẳng phải như vọng tưởng. Nghĩa là
chỗ biết của thánh trí chẳng như cảnh giới vọng tưởng.
Đây nêu ra ngu phu chẳng lìa vọng tưởng, chẳng giác thánh
tánh. Tuy cảnh giới chẳng đồng, mà đồng một năng kiến,
đồng một sở kiến, là năng sở của vọng tưởng muốn
lìa tức căn trần của thánh trí rành rõ. Đây là lý do của
Đại Huệ nạn vậy. Ý nói phàm phu ngu si hiện có vọng tưởng
phân biệt làm sao được lìa. Hiện có cảnh giới thánh trí
mà không biết như thật thì không thể nói giác. Song chỗ
biết của thánh trí tướng tánh tự tánh đồng với vọng
tưởng hiện. Nên nói, thế gian nói trâu, thánh nhân cũng nói
là trâu; thế gian nói ngựa, thánh nhân cũng nói là ngựa,
chỗ chấp tưởng chẳng đồng mà đồng một phổ thông. Cho
nên nói “họ chẳng phải điên đảo, chẳng phải không điên
đảo”. Chẳng thấy lìa tướng có không, đây tức là chẳng
giác thánh sự. Nên nói “chẳng phải không điên đảo”.
Tướng tánh tự tánh này, một bên thấy lìa có không, một
bên chẳng thấy lìa có không, trọn không có hai pháp, mà cảnh
giới mỗi bên có khác. Do đây mà khởi nạn, cũng do đây
mà rõ tông chỉ. Phật cùng Bồ-tát cơ cảm hợp nhau thật
không có ý chỉ riêng.
Thế
Tôn! Thánh cũng chẳng như thế thấy như việc vọng tưởng,
vì chẳng lấy cảnh giới tự tướng làm cảnh giới. Thế
Tôn! Kia cũng tướng tánh tự tánh vọng tưởng tự tánh như
thế hiện, vì chẳng nói nhân không nhân, vì rơi vào cái thấy
tánh tướng. Cảnh giới khác chẳng phải như kia v.v... như
thế mắc cái lỗi vô cùng. Thế Tôn! Vì chẳng giác tướng
tánh tự tánh. Thế Tôn! Cũng chẳng phải tự tánh vọng tưởng
nhân tướng tánh tự tánh. Kia tại sao vọng tưởng chẳng
phải vọng tưởng, như thật biết vọng tưởng?
Lại
nói thánh trí tuy chẳng cùng vọng tưởng đồng thấy, mà
các pháp chưa từng chẳng cùng vọng tưởng đồng hiện. Chẳng
cùng vọng tưởng đồng thấy thì cảnh giới ấy chẳng lìa
các pháp mà khác. Mà cùng vọng tưởng đồng hiện thì các
pháp chẳng nhân thánh trí mà không. Các pháp đồng nhất mà
tại vọng tưởng chỉ muốn nói không, tại thánh trí chẳng
hiềm rơi vào có. Đây là chỗ nạn của văn sau. Câu “thánh
cũng chẳng như thế thấy như việc vọng tưởng ...”, nghĩa
là thánh trí giác tự tâm hiện, nên chẳng lấy tướng tự
tâm hiện mà cho là cảnh giới thật. Song chẳng phải không
tướng tánh tự tánh hiện ra đồng với tự tánh vọng tưởng
hiện. Chỉ thánh trí chẳng nói nhân cùng không nhân, rơi vào
cái thấy tánh tướng. Chẳng phải như cảnh giới riêng khác
của ngu phu, tự sanh cái lỗi vô cùng. Bởi ngu phu chẳng giác
tướng tánh tự tánh do tự tâm hiện ra. Nên biết tướng
tánh tự tánh này, chỗ biết của thánh trí đồng với vọng
tưởng hiện, mà không nên bảo nhân vọng tưởng mà có. Cho
nên nói “cũng chẳng phải vọng tưởng nhân tướng tánh
tự tánh”. Tướng tánh tự tánh đã chẳng nhân vọng tưởng
mà có thì, chỗ chấp của vọng tưởng tức chẳng phải vọng
tưởng chấp, cũng như vọng tưởng chấp. Tóm lại, các pháp
đồng nhất mà chỗ biết của thánh trí là chỗ chấp của
vọng tưởng. Đợi đến văn sau ngăn vọng chấp nói không,
mà chỗ hành của thánh trí lại rơi vào thấy có.
NGHI
THÁNH TRÍ RƠI VÀO CÓ.
Thế
Tôn! Vọng tưởng khác, tướng tự tánh khác. Thế Tôn! Chẳng
tương tợ, nhân vọng tưởng tướng tự tánh, kia tại sao
mỗi mỗi chẳng vọng tưởng, mà ngu phu chẳng như thật biết.
Song Phật vì chúng sanh lìa vọng tưởng nói như tướng vọng
tưởng chẳng như thật có. Thế Tôn! Cớ sao ngăn chúng sanh
thấy có không tự tánh chấp trước, mà cảnh giới sở hành
của thánh trí lại rơi vào thấy có? Nói không pháp chẳng
có , mà nói thánh trí tự tánh?
Đoạn
này tiếp ở trước “tướng tánh tự tánh thấy khác mà
đồng hiện”. Bởi vì Như Lai ngăn vọng tưởng mà nói chẳng
phải thật, hiển bày thánh trí mà nói sở hành, vẫn là rơi
vào không và có. Tướng tự tánh chẳng nhân vọng tưởng
mà có, cho nên nói “khác vọng tưởng, khác tướng tự tánh,
khác thì chẳng tương tợ, đã chẳng tương tợ mà vẫn nhân
vọng tưởng thấy tướng tự tánh”. Đây là ngu phu chẳng
như thật biết mỗi mỗi tướng tự tánh, mỗi mỗi không
cảnh giớùi vọng tưởng. Song đã vì chúng sanh lìa vọng
tưởng chấp có, mà lại nói cảnh giới sở hành của thánh
trí. Năng sở của vọng tưởng ấy muốn không thì cảnh giới
sở hành của tự tánh thánh trí rõ ràng không lỗi. Không
biết rằng tất cả các pháp thánh phàm đồng hiện, mà người
giác tự tâm thì chẳng rơi vào có không. Cho nên nói: “Các
pháp không tánh, chẳng giác tự tâm, vọng chấp là có, hoặc
lầm là không, thảy trái pháp thể. Như Lai thương xót kẻ
này vì nói không pháp”. Nghĩa là không pháp tánh chỉ có
vọng tưởng. Nếu biết pháp thể vốn rỗng, vọng chấp chẳng
thật thì chính nơi cảnh giới vọng tưởng là sở hành của
thánh trí, chuyển biến trong sát-na không hai không khác, ắt
chẳng nói nơi đây thì ngăn, nơi kia lại rơi. Chân vọng thể
khác, có không đối đãi, không phải người trụ tự giác
quán sát hiển bày ra.
+
CHỈ THÁNH TRÍ KHÔNG SỰ LÌA CÓ KHÔNG.
Phật
bảo Đại Huệ : Chẳng phải ta nói không pháp phi tánh, cũng
chẳng rơi vào thấy có, nói việc thánh trí tự tánh. Song
vì khiến chúng sanh lìa câu khủng bố. Chúng sanh từ vô thủy
đến nay chấp trước tướng tánh tự tánh, thánh trí sự,
tự tánh chấp trước tướng kiến nói không pháp. Đại Huệ!
Ta không nói tướng tánh tự tánh. Đại Huệ! Chỉ ta trụ
tự được như thật không pháp, lìa hoặc loạn tướng kiến,
lìa thấy tự tâm hiện ra có chẳng có, được ba môn giải
thoát, như thật ấn mà ấn, đối tánh tự tánh được duyên
tự giác quán sát trụ, lìa tướng kiến có không.
Như
Lai nói không, nói thánh trí tự tánh xưa nay tịch tĩnh. Bởi
vì chúng sanh từ vô thủy tập khí chấp trước tất cả tánh
tướng trong ngoài, muốn khiến xa lìa. Lại sợ họ tự sanh
khủng bố nên nói việc thánh trí tự tánh không pháp, là
nói “trụ tự được như thật không pháp”. Như thật không
pháp này, lìa tự tâm hiện chẳng phải rơi vào không, được
giải thoát ấn mà chẳng phải rơi vào có. Ba giải thoát là,
không, vô tướng, vô nguyện. Được giải thoát này mới biết
tự tánh không sự như thật pháp ấn, sẵn có sẵn lặng,
thật là duy thức tánh. Tự giác quán sát xa lìa có không tất
cả tướng kiến hoặc loạn.
+ CHỈ THÁNH TRÍ KHÔNG SỰ CHẲNG LẬP TÔNG THÚ.
CHỈ
CHẲNG NÊN LẬP TÔNG BẤT SANH.
Lại
nữa, Đại Huệ! Tất cả pháp chẳng sanh, đại Bồ-tát chẳng
nên lập tông ấy. Vì cớ sao? Vì tông tất cả tánh phi tánh
và vì nhân sanh tướng kia nên nói tất cả pháp chẳng sanh
làm tông, tông kia ắt hoại. Tông kia tất cả pháp chẳng sanh,
tông kia ắt hoại ấy, bởi vì tông có đối đãi mà sanh.
Lại vì tông kia chẳng sanh vào tất cả pháp, vì tướng chẳng
hoại chẳng sanh. Lập tất cả pháp chẳng sanh làm tông, thì
thuyết kia ắt hoại. Đại Huệ! Có không chẳng sanh làm tông,
tông kia vào tất cả tánh, tướng có không chẳng thể được.
Đại Huệ! Nếu khiến tông kia chẳng sanh, tất cả tánh chẳng
sanh mà lập tông. Như thế tông kia hoại, vì có, không tánh
tướng chẳng sanh, chẳng nên lập tông. Vì năm phần luận
nhiều lỗi, vì lần lượt nhân tướng khác và vì tạo tác,
chẳng nên lập tông phần. Bảo tất cả pháp chẳng sanh, như
thế tất cả pháp không, như thế tất cả pháp không tự
tánh, chẳng nên lập tông.
Tất
cả pháp chẳng sanh ba đời Như Lai đồng nói, chính vì kẻ
bất giác, chẳng vì người giác. Người giác tự tâm hiện
chóng dứt các vọng, nội thân tự chứng trọn không thể
chỉ bày. Trừ vì chúng sanh khiến lìa các chấp trước nên
nói tánh không sanh; vì lìa các khủng bố nói có thánh trí
tự tánh không sự. Song chẳng nên lập đó làm tông. Tông
tất cả tánh phi tánh ấy, nguyên tất cả tánh vốn vô sanh
tánh. Lập tông chẳng sanh, nhân ấy vọng thấy tướùng sanh.
Cho nên nói “và vì nhân kia sanh tướng”. Đã nhân vọng
thấy tướng sanh, mà nói chẳng sanh, lại lập đó làm tông
thì tông ấy ắt hoại. Bởi vì chẳng sanh là đối với sanh,
vì có đối đãi. Lại tông này vào tất cả pháp, tất cả
pháp đã chẳng sanh cũng nên không tướng chẳng sanh, mà vẫn
còn có pháp tướng chẳng sanh thì pháp chẳng phải không sanh,
là lý do thuyết này bị hoại. Câu “tướng chẳng hoại chẳng
sanh”, bản Đường dịch “tướng chẳng sanh cũng chẳng
sanh”. Tức chính chỉ thánh tánh không sự, vì khiến lìa
chấp trước và khủng bố, chẳng nên lập đó làm tông. Nhân
vọng chấp có nên nói chẳng sanh. Không nhân có mà lập, có
không thành hai tướng, đối tất cả pháp thì tánh không thể
được. Nếu lập đó làm tông thì trái với pháp thể. Như
năm phần luận, tông nhân lần lượt, có ra tướng khác đều
thuộc tạo tác chỉ thành nhiều lỗi. Mới biết tất cả
pháp chẳng sanh ấy, là vì lìa chấp trước. Như thế tất
cả pháp không, tất cả pháp không có thể tánh, xét đến
tự tướng như thật trọn không thuyết ấy, nên chẳng ưng
lập tông. Xét trong ba lượng (hiện lượng, tỷ lượng, thánh
giáo lượng) thì tỷ lượng có ba chi: 1) Tông, 2) Nhân, 3) Dụ,
gồm Hiệp và Kết làm năm phần. Tông có 9 lỗi, nhân có 14
lỗi, đồng dụ có 5 lỗi, dị dụ có 5 lỗi, chung lại là
33 lỗi. Đây là ngoại đạo lập ra. Nếu do pháp của ta thì
tông cũng có một lỗi, nghĩa là chẳng được pháp thể. Nhân,
Dụ là thành lập tông, mà tông đã lỗi thì nhân, dụ lần
lượt tướng khác càng nhiều. Sao nói không được pháp thể?
Như lập lượng rằng: Tất cả pháp chẳng sanh làm TÔNG, NHÂN
nói vì không tự tánh, DỤ nói như cây chuối. Gạn lỗi rằng:
Những pháp gì chẳng sanh? Đáp: Pháp tâm hiện ra, pháp đều
tâm hiện không có tánh sanh. Gạn lại: Tâm không tánh sanh
thì có tánh chẳng sanh chăng? Đáp: Nghĩa là tánh không
sanh nên nói chẳng sanh, đâu được lại có. Kết lỗi rằng:
Nếu chẳng lại có mà lập tông chẳng sanh thì chẳng được
pháp thể. Song pháp của ta phương tiện vì đoạn chấp kia,
chẳng phải có thật pháp. Chấp kia đoạn rồi tự nhiên rõ
tướng tâm ban đầu, trở lại nơi bản đắc, như thật tự
chứng đại dụng hiện tiền, ngôn ngữ tình lượng chóng
dứt, sanh cùng vô sanh, đều là lời nói thừa. Cho nên chẳng
ưng lập tông. Như Lai chỉ thẳng nguồn tâm chẳng do nơi khác
mà ngộ.
CHỈ
THÁNH TRÍ XEM THẤY NHƯ HUYỄN KHÔNG LỖI.
Đại
Huệ! Song đại Bồ-tát nói tất cả pháp như huyễn mộng,
vì tướng hiện và chẳng hiện và vì lỗi ở giác tưởng.
Phải nói tất cả pháp như tánh huyễn mộng. Trừ vì ngu phu
lìa khủng bố. Đại Huệ! Ngu phu rơi vào cái thấy có không,
chớ khiến họ kinh sợ xa lìa Đại thừa.
Huyễn
mộng chẳng phải thật, không thể nói có. Huyễn mộng rõ
ràng, không thể nói không. Có không đều chẳng phải, có
hiện chẳng hiện thảy do giác tưởng. Vì thế nói như huyễn
mộng đối các pháp thể vẫn không lầm trái, cũng hay cảnh
giác người trí chính nơi ấy biết chỗ trở về được gốc
vô sự, cho nên “phải nói”. Trừ vì ngu phu lìa khủng bố
là, bởi ngu phu rơi vào cái thấy có không, mỗi bên có chỗ
y cứ, nghe nói mộng huyễn mờ mịt không chỗ vin bèn sanh
kinh sợ, xa lìa Đại thừa. Cho nên phàm nói thánh tánh sự,
hoặc bát Niết-bàn đều thuộc về phương tiện. Nếu được
đường ngôn ngữ dứt chỗ tâm hành diệt thì thản nhiên
tự giác. Mới biết Như Lai đêm ấy thành Phật, đêm ấy
nhập Niết-bàn, ở trong khoảng giữa đó không nói một chữ.
Thầm hợp tương ưng khó vì hiển bày. Dù muốn chỉ điểm
trước mắt, không phải huyễn thì không lấy gì làm thí dụ.
TỔNG
KẾT CHẲNG SANH NHƯ HUYỄN.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói
kệ rằng:
Không tự tánh không nói
Không sự không tương tục
Ngu phu kia vọng tưởng
Như tử thi ác giác
Tất cả pháp chẳng sanh
Chẳng phải tông ngoại đạo
Đến tột chỗ không sanh
Tánh duyên được thành tựu.
Tất cả pháp chẳng sanh
Người tuệ không khởi tưởng
Vì tông kia nhân sanh
Người giác thảy trừ diệt.
Như
Lai tàng vốn không tự tánh, cũng không nói bày. Tất cả tám
thức như hoa đốm trong hư không, đều không sự thật.
Sở dĩ Phật dạy chỉ vì chỉ bày cho kẻ mê. Kẻ ngu không
trí chẳng đạt phương tiện, đây là vọng tưởng ác kiến.
Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp đến tột không có
chỗ sanh, do nhân duyên hòa hợp như huyễn như mộng, người
trí ở trong đó không nên khởi tưởng. Bởi vì ngoại đạo
nhân sanh mà nói chẳng sanh, chấp là thật pháp. Cho nên tất
cả pháp chẳng sanh ở đây, không đồng với ngoại đạo
nói. Giác thì phương tiện thảy trừ. Chữ “sự ” tức
là tướng . Chữ “tương tục” tức là lưu chú. Tướng
cùng lưu chú thảy đều chỉ cho tám thức sanh diệt, như huyễn
không thể được.
Ví như mắt bệnh xem
Vọng thấy tướng tóc rủ
Chấp trước tánh cũng vậy
Ngu phu tà vọng tưởng
Lập bày ra ba cõi
Không có sự tự tánh
Lập bày sự tự tánh
Suy nghĩ khởi vọng tưởng
Tướng sự lập ngôn giáo
Ý loạn rất lăng xăng
Phật tử khéo ra khỏi
Xa lìa các vọng tưởng.
Mắt
bệnh, tóc rủ dụ cho ngu phu vọng thấy. Do vọng thấy này
nên khởi các giác tưởng, lập bày ba cõi. Lại do ba cõi giả
lập danh tướng rồi chấp là thật tánh. Lại khởi vọng
chấp dựng lập ngôn giáo, lần lượt nhân nhau nên ý loạn
lời rối. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tri kiến mỗi cái muốn lưu
ở thế gian thì nghiệp vận mỗi thứ thường dời nơi quốc
độ”. Vọng tưởng thế gian niệm niệm sanh diệt. Nếu hay
giác được chỗ này thì trong khoảng sát-na đương thể là
lặng lẽ, thật không thể nghĩ bàn.
Chẳng phải nước tưởng nước
Đây từ khát ái sanh
Ngu phu lầm như thế
Thánh thấy ắt chẳng vậy.
Thánh nhân thấy thanh tịnh
Tam thoát tam-muội sanh
Xa lìa nơi sanh diệt
Dạo đi không ngăn ngại.
Tu hành không ngăn ngại
Cũng không tánh phi tánh
Tánh phi tánh bình đẳng
Từ đây sanh thánh quả.
Chẳng
phải nước tưởng nước, đây là chỗ mê của ngu phu, chính
là chỗ ngộ của thánh nhân. Thanh tịnh tam-muội tức là ngộ
chỗ trở về. Dùng ba môn giải thoát, an trụ trong tâm hải,
thuận tánh khởi hạnh, lìa nơi sanh diệt, chỗ đến không
ngại. Bài tụng kinh Tịnh Danh nói: “Chẳng dính thế gian
như hoa sen, thường khéo vào nơi hạnh không tịch, đạt các
pháp tướng không ngăn ngại, đảnh lễ như không không chỗ
nương”. Đây chính là tánh phi tánh bình đẳng, nhân gồm
biển quả, quả suốt nguồn nhân, biết không sai biệt.
Thế nào tánh phi tánh?
Thế nào là bình đẳng?
Bảo kia tâm chẳng biết
Trong ngoài rất xao động. |