C-
Chỉ như lai tàng siêu quá vọng tưởng ngôn thuyết của phàm
ngu và ngoại đạo thành tựu các địa cứu kính quả hải.
1-
CHỈ NHƯ LAI TÀNG CHẲNG ĐỒNG THẦN NGÃ CỦA NGOẠI ĐẠO.
Khi
ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Trong
kinh Phật nói Như Lai tàng tự tánh thanh tịnh, chuyển ba mươi
hai tướng vào trong thân tất cả chúng sanh, như hạt châu
rất quý cột trong chéo áo nhơ, Như Lai tàng thường trụ không
biến đổi cũng lại như thế, cột trong chiếc áo nhơ giới
ấm nhập và tham dục, sân, si, vọng tưởng chẳng thật,
các thứ trần lao làm ô uế. Đây là lời diễn nói của tất
cả chư Phật. Tại sao Thế Tôn đồng với ngoại đạo nói
có ngã, nói có Như Lai tàng? Bạch Thế Tôn! Ngoại đạo cũng
nói có tác giả thường còn, lìa ngoài cầu-na khắp giáp chẳng
diệt. Bạch Thế Tôn ! Ấy là ngoại đạo nói có ngã.
Đây
là muốn Thế Tôn phát minh Như Lai tàng chẳng đồng thần
ngã của ngoại đạo. Thần ngã của ngoại đạo chấp tâm
phân biệt trong ngũ uẩn. Tánh Như Lai tàng là chỉ cho thể
thường trụ bất biến. Thể không chân vọng mà có giác
mê. Mê thì tâm phân biệt sanh mà không phải là chân trí.
Tâm phân biệt diệt mà chẳng phải là chân tịch. Mê
trí cho là sanh, mê tịch cho là diệt, thảy đều do phân biệt
cho nên vô thường. Nếu giác thì phân biệt liền dứt,
thấy xưa không sanh thì nay cũng không diệt. Chỗ không sanh
diệt bản tánh thường trụ. Vì trừ cái phân biệt nên nói
là vô ngã, mà chẳng phải không có cái ngã Như Lai tàng thường
trụ bất biến. Vì dẹp vô ngã nên nói chân ngã, mà chẳng
đồng với cái ngã phân biệt của ngũ uẩn. Nên nói “chuyển
ba mươi hai tướng vào thân chúng sanh, mà bị buộc trong chiếc
áo nhơ ấm giới nhập và tham sân si vọng tưởng chẳng thật,
các thứ trần làm ô uế”. Khi hiện ở trong mê thì trí tịch
ẩn, sanh diệt hiện tiền. Phàm có chỗ chấp đều thuộc
về phân biệt. Đây là lý do ngoại đạo vọng chấp tác giả.
Cầu-na tức là trần duyên.
Phật
bảo Đại Huệ: Ta nói Như Lai tàng chẳng đồng cái ngãcủa
ngoại đạo nói. Đại Huệ! Cókhi nói không, vô tướng, vô
nguyện, như thật tế, pháp tánh, pháp thân, Niết-bàn, ly tự
tánh, bất sanh bất diệt, bản lai tịch tĩnh, tự tánh Niết-bàn,
những câu như thế đều nói Như Lai tàng. Như Lai ứng cúng
đẳng chánh giác vì đoạn cái sợ vô ngã của ngu phu, nên
nói lìa vọng tưởng cảnh giới vô sở hữu có Như Lai tàng.
Này Đại Huệ! Đại Bồ-tát vị lai hiện tại không nên khởi
chấp về ngã kiến.
Nói
pháp thân như thật mà trước nói là không, vô tướng, vô
nguyện. Nói tự tánh Niết-bàn mà trước nói lìa tự tánh,
bất sanh bất diệt, xưa nay là tịch tĩnh. Đây là Thế Tôn
vì nói cảnh giới vô sở hữu, môn Như Lai tàng vậy. Như
Lai ban đầu vì chúng sanh chấp ngũ uẩn là ngã nên nói vô
ngã. Sau lại vì Thanh văn chấp pháp vô ngã mê lầm tự tánh,
nên nói chân ngã. Kinh Niết-bàn nói : “Các ông nên biết,
trước đã tu tập vô thường, khổ, không, vô ngã, chẳng
phải là pháp chân thật, ví như mùa xuân có những người
tắm trong hồ lớn, ngồi thuyền dạo chơi bỗng làm rơi hạt
châu lưu ly chìm tận đáy nước. Khi ấy mọi người thảy
đều lặn xuống nước mò tìm hạt châu, giành nhau nắm lấy
ngói đá cỏ cây sạn sỏi, mỗi người tự bảo được châu
lưu ly, vui vẻ đem lên, mới biết chẳng phải châu. Lúc ấy
bảo châu vẫn còn ở trong nước, vì thế lực của châu nên
nước được lóng trong. Bấy giờ toàn thể đồng thấy hạt
châu vẫn còn dưới nước, ví như ngước xem mặt trăng trong
hư không. Trong chúng có một người trí dùng sức phương tiện,
nhẹ nhàng chậm rãi lặn xuống nước liền lấy được hạt
châu. Tỳ-kheo các ông! Chẳng nên tu tập vô thường, khổ,
không, vô ngã, bất tịnh v.v… như thế, cho là nghĩa thật.
Như những người kia mỗi người lượm ngói gạch cỏ cây
sạn sỏi mà cho là bảo châu. Các ông phải khéo học phương
tiện ở khắp mọi nơi thường tu tưởng ngã, tưởng thường,
lạc, tịnh. Như người trí kia khéo lượm được hạt châu,
là nói tưởng ngã, tưởng thường, lạc, tịnh”. Thế mới
biết, khi Như Lai nói vô ngã là ý ở chỗ chân ngã, chỉ vì
đối trị phàm phu ngoại đạo. Cho nên chỗ lầm của nhị
thừa là chỗ sợ của phàm phu đâu biết lìa vọng chính vì
hiển chân. Cảnh giới vô sở hữu Như Lai tàng môn này chẳng
đồng với ngoại đạo cho thức là ngã, chấp tướng tác
giả.
Thí
như người thợ gốm nơi một đống đất dùng phương tiện
nhân công, nước, cây, bánh xe quay mà làm thành các món đồ.
Như Lai cũng lại như thế, nói pháp vô ngã lìa tất cả tướng
vọng tưởng dùng các thứ trí tuệ phương tiện khéo léo,
hoặc nói Như Lai tàng, hoặc nói vô ngã. Bởi nhân duyên ấy
nên nói Như Lai tàng chẳng đồng cái ngã của ngoại đạo
nói, ấy gọi là nói Như Lai tàng. Vì khai dẫn cái chấp ngã
của ngoại đạo nên nói Như Lai tàng khiến họ lìa vọng
tưởng ngã kiến chẳng thật vào cảnh giới tam giải thoát
môn, hy vọng chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nên Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác khởi nói Như Lai
tàng như thế. Nếu không như vậy, ắt đồng với ngoại đạo.
Thế nên Đại Huệ! Vì lìa kiến chấp của ngoại đạo nên
y Như Lai tàng vô ngã.
Đây
lại bày rõ Như Lai dùng các thứ trí tuệ phương tiện khéo
léo, hoặc nói vô ngã, hoặc nói Như Lai tàng là để lẫn
nhau phát minh ngã tướng thanh tịnh Như Lai. Vì khai dẫn ngoại
đạo chấp ngã khiến lìa ngã kiến chẳng thật. Thế nên
rốt sau nói “Phải y nơi Như Lai tàng vô ngã ấy là nghĩa
quyết định vậy”. Kinh Niết-bàn vì lập ví dụ thầy thuốc
mới và thầy thuốc cũ, mà lại vì trong chúng xướng lời
rằng: Tỳ-kheo phải biết, các ngoại đạo nói là ngã đó,
ví như trùng ăn cây ngẫu nhiên thành chữ. Thế nên, Như Lai
ở trong Phật pháp nói là vô ngã, vì điều phục chúng sanh,
vì biết thời nên nói là vô ngã. Cho nên có nhân duyên cũng
nói có ngã. Như ông thầy thuốc giỏi kia khéo biết sữa là
thuốc, hay chẳng phải thuốc, không phải như phàm phu chấp
ngô ngã vậy.
Khi
ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nói kệ rằng:
Người, ấm, tương tục
Duyên cùng vi trần
Thắng, Tự tại tạo
Tâm lượng vọng tưởng.
Người
tức là cái ngã trong thân ngũ ấm. Tương tục là cái ngã
này lưu chú sanh diệt. Ấm là ngũ ấm. Ngoại đạo chấp có
duyên khác cùng vi trần, thắng tánh, Tự Tại thiên hòa hợp
chung nhau tạo. Đây là tự tâm vọng tưởng chấp vậy. Duyên
khác là tát-đỏa, thích-xà, đáp-ma của Số luận sư. Vì
Số luận sư chấp ngã, tư, duyên, ba việc này họp lại làm
thành ấy vậy.
2-
CHỈ NHƯ LAI TÀNG PHƯƠNG TIỆN HIỂN BÀY.
-
CHỈ CHUNG PHƯƠNG TIỆN CÓ BỐN PHÁP.
Khi
ấy đại Bồ-tát Đại Huệ quán chúng sanh vị lai, lại thỉnh
Thế Tôn: Cúi xin vì nói tu hành không gián đoạn, như các
vị đại Bồ-tát tu hành đại phương tiện.
Đây
là hỏi về phương tiện tu hành. Không gián đoạn là, không
gián đoạn nơi tự tánh, thuận tánh khởi tu, chẳng phải
tạo nhân duyên bên ngoài.
Phật
bảo Đại Huệ: Đại Bồ-tát thành tựu bốn pháp được
tu hành đại phương tiện. Thế nào là bốn? Nghĩa là khéo
phân biệt tự tâm hiện, quán ngoại tánh phi tánh, lìa kiến
chấp sanh trụ diệt, được tự giác thánh trí thiện lạc.
Ấy gọi là đại Bồ-tát thành tựu bốn pháp, được tu hành
đại phương tiện.
Khéo
phân biệt tự tâm hiện là, biết tam giới đều duy thức
hiện, chẳng phải bởi duyên khác. Quán ngoại tánh phi tánh
là, tất cả tánh bên ngoài thảy như mộng huyễn không có
tự tánh, lìa kiến chấp sanh trụ diệt là, đã biết tất
cả tánh vô tánh đều chỉ là tự tâm thì, các thức chẳng
khởi đối với pháp sở tri không khởi nhiếp thọ. Tự giác
thánh trí thiện lạc là, đã biết tam giới duy thức, tất
cả tánh không tự tánh, các thức chẳng sanh thì, tự giác
thánh trí như mặt trời ở trong hư không, tự nhiên được
tự tại pháp lạc. Ngoại đạo chẳng biết tam giới đều
duy thức hiện cho là có nhân khác, đã có nhân khác thì tất
cả tánh thật có tự sanh tánh có thể được. Nhị thừa
tuy biết không có nhân khác, song về thức hiện hành diệt
mà chủng tử chẳng diệt, đối với pháp trong ngoài không
thể chóng không. Đây đều do thức minh làm ngại, đối giác
tánh chính mình, mình chẳng viên diệu. Thế nên, với bốn
thứ này, Bồ-tát tu hành phương tiện vượt khỏi phàm ngu
và ngoại đạo. Nếu người có chí với tâm tông nên phải
xét rõ.
-
KHÉO PHÂN BIỆT TỰ TÂM HIỆN.
Thế
nào đại Bồ-tát khéo phân biệt tự tâm hiện? Nghĩa là quán
tam giới duy tâm chừng ngằn như thế, lìa ngã và ngã sở,
không dao động, lìa đi lại, do tập khí hư ngụy huân tập
từ vô thủy, các thứ sắc hành trong tam giới trói buộc thân
tài (căn) liền dựng lập, vọng tưởng tùy nhập hiện. Ấy
gọi là đại Bồ-tát khéo phân biệt tự tâm hiện.
Chừng
ngằn là nói phần lượng. Đây nói duy tâm tức là duy thức.
Mê tâm làm thức, thức tức là tâm. Cho nên nói duy tâm. Quán
tam giới này đều do tự tâm bất giác vọng sanh chừng ngằn,
trong khoảng giữa thật không có người nhiếp thọ và pháp
bị nhiếp thọ. Thế nên, tuy tạo tác mà không có sở tác;
tuy hiện đi lại mà không có đi lại. Tập khí hư ngụy huân
tập từ vô thủy là, chỉ cho nghiệp chủng của tàng thức,
tức là bất giác vọng động vậy. Đã vọng động làm nghiệp
liền do kiến (chủ thể) khởi tướng (khách thể), biến ra
dường như căn trần, thành các thứ sắc, hành (nghiệp) trong
tam giới, bèn có danh tướng dài, ngắn, co, duỗi nhất định,
hay sanh trói buộc. Chính hiện tại căn thân thọ dụng những
nhu cầu trong thế giới, rồi khởi các thứ vọng tưởng.
Tâm cảnh nhập nhau hòa hợp mà hiện, nên nói là “tự tâm
hiện”. Nếu hay quán sát cái sở hiện của tự tâm thì biết
tất cả sắc, hành (nghiệp) danh tướng trong tam giới, tự
thân thọ dụng tất cả vọng tưởng đều do mê Như Lai tàng
tánh từ vô thủy làm chủng thức, vọng sanh chừng ngằn.
Tâm cảnh bị hiện đều không thể được, không chủ, không
chỗ nương, liền đó chóng liễu ngộ.
-
QUÁN NGOẠI TÁNH PHI TÁNH.
Thế
nào đại Bồ-tát khéo quán ngoại tánh phi tánh? Nghĩa là tất
cả tánh như nắng, mộng v.v… do vọng tưởng hư ngụy từ
vô thủy huân tập làm nhân, mà quán tự tánh của tất cả
tánh. Đại Bồ-tát khéo khởi quán ngoại tánh phi tánh như
thế, gọi là đại Bồ-tát khéo quán ngoại tánh phi tánh.
Nắng,
mộng v.v… là tất cả pháp như sóng nắng, như mộng huyễn
đều do nội thức biến dường như có hiện trước, mà không
có tự tánh liền đó vô sanh. Thế nên biết không có tự
tánh. “Tất cả pháp chẳng sanh” là lời nói của chư Phật
trong ba đời, nên phải tôn trọng. Nhân là, tất cả tánh
này nhân nơi thức chủng hư ngụy làm tự tánh. Quán tất
cả tánh lấy thức này làm tự tánh thì, tất cả tánh không
tự tánh, nên nói “Khéo quán ngoại tánh phi tánh”.
-
LÌA KIẾN CHẤP SANH TRỤ DIỆT.
Thế
nào đại Bồ-tát lìa kiến chấp sanh trụ diệt? Nghĩa là
tất cả tánh như huyễn mộng, tánh tự, tha và chung chẳng
sanh, tùy vào chừng ngằn của tự tâm, nên thấy ngoại tánh
phi tánh. Thấy thức chẳng sanh và duyên không tích tụ, bởi
thấy vọng tưởng duyên sanh. Nơi tam giới tất cả pháp trong
ngoài đều không thể được. Thấy lìa tự tánh thì chấp
sanh ắt dứt. Biết tự tánh các pháp như huyễn v.v… được
vô sanh pháp nhẫn. Được vô sanh pháp nhẫn rồi, lìa kiến
chấp sanh trụ diệt, gọi là đại Bồ-tát khéo phân biệt
lìa kiến chấp sanh trụ diệt.
Tánh
tự tha chung chẳng sanh, trong Trung Luận nói: “Các pháp chẳng
tự sanh, cũng chẳng từ tha sanh, chẳng chung, chẳng không nhân,
thế nên nói vô sanh”. Xét theo đây thì biết tất cả ngoại
tánh như mộng v.v… đều do tự tâm bất giác vọng sanh chừng
ngằn (giới hạn). Bởi bất giác vọng sanh, thật không có
tánh sanh, nên nói “thấy ngoại tánh phi tánh”. Vì bất giác
vọng sanh, thật không có thức sanh nên nói “thấy thức chẳng
sanh”. Đã không có tánh sanh và thức sanh, mà vẫn thấy dường
như sanh tương tục, thảy do bất giác đồng thời liền hiện,
chẳng phải duyên nhiều thứ tích tụ. Chẳng biết liền hiện,
mà cho là duyên sanh là vọng tưởng vậy. Thấy vọng tưởng
duyên sanh, mới biết tất cả pháp trong tam giới không có
tự tánh thì, cái kiến chấp sanh liền diệt. Sự vật hiện
tiền thảy như mộng huyễn, chỉ rõ bất giác liền trụ duy
tâm. Thế nên nói “vô sanh pháp nhẫn khéo lìa kiến chấp
sanh trụ diệt”.
-
TỰ GIÁC THÁNH TRÍ THIỆN LẠC.
Thế
nào đại Bồ-tát được tự giác thánh trí thiện lạc? Nghĩa
là được vô sanh pháp nhẫn, trụ đệ bát địa của Bồ-tát,
được lìa tâm, ý, ý thức, năm pháp, ba tự tánh, hai tướng
vô ngã, được ý sanh thân.
Biết
pháp trong tam giới duy nội thức biến, không có tánh tự sanh.
Thức nhân mê mà có, giác được mê thì mê diệt, bản tâm
hiện tiền. Đây là tâm, ý, ý thức, năm pháp, ba tự tánh,
hai tướng vô ngã ngay đó liền lìa. Duy thức tụng rằng:
“Trước địa Bất động vừa xả tàng”. Thế nên nói được
quả nhị chuyển y, như ý sanh thân, văn sau tự rõ.
Thế
Tôn! Ý sanh thân là nhân duyên gì? Phật bảo Đại Huệ: Ý
sanh thân, ví như nghĩ nhanh chóng vô ngại, nên gọi là ý sanh.
Thí như ý đi qua vách đá vô ngại, nơi phương khác cách xa
vô lượng do-diên, nhân ngày trước đã thấy nhớ nghĩ chẳng
quên, tự tâm lưu chú chẳng dứt, nơi thân không chướng ngại
sanh. Đại Huệ! Ý sanh thân như thế được đồng thời sanh.
Ý sanh thân của đại Bồ-tát do sức tam muội như huyễn tự
tại thần thông diệu tướng trang nghiêm, thân chủng loại
thánh, đồng thời liền sanh. Ví như ý sanh không có chướng
ngại, tùy chỗ nhớ nghĩ cảnh giới nguyện xưa, vì thành
tựu chúng sanh được tự giác thánh trí thiện lạc. Đại
Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn như thế, trụ đệ bát địa
của Bồ-tát, chuyển xả thân tâm, ý, ý thức, năm pháp, ba
tự tánh, hai tướng vô ngã và được ý sanh thân, được
tự giác thánh trí thiện lạc. Đó gọi là đại Bồ-tát thành
tựu bốn pháp được tu hành đại phương tiện, phải học
như thế.
Đây
nói chứng tự giác thánh trí, chuyển hai sở y dùng sức tam
muội như huyễn, tự tại thần thông, tự nhiên được thân
chủng loại thánh. Vì chúng sanh một lúc đối hiện, ví như
ý sanh.
3-
CHỈ NHƯ LAI TẠNG LÌA CÁC NHÂN DUYÊN.
Khi
ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ lại thỉnh Thế Tôn: Cúi xin
vì nói tướng nhân duyên của tất cả các pháp. Do giác được
tướng nhân duyên, con và các Bồ-tát lìa tất cả tánh có,
không vọng chấp, không có vọng tưởng kiến chấp tiệm thứ
và đồng thời sanh?
Pháp
nhân duyên sanh đều do vọng tưởng của chính mình thấy,
mà kẻ ngu phu không biết chấp là thứ lớp sanh hay đồng
thời sanh. Liễu đạt nghĩa này lìa các thứ có, không, thứ
lớp hay đồng thời sanh, hiển bày vô sanh. Cho nên nói “tất
cả pháp chẳng sanh”.
Phật
bảo Đại Huệ: Tất cả pháp có hai thứ duyên tướng, là
ngoại và nội. Ngoại duyên là, hòn đất, cây cọc, bánh xe,
nước, gỗ, nhân công, các thứ phương tiện, làm thành cái
bình. Như cái bình đất, tơ lụa, lát chiếu, giống mầm,
tô lạc v.v… phương tiện làm thành cũng lại như thế. Đó
gọi là ngoại duyên trước sau chuyển sanh.
Pháp
nội ngoại hai thứ duyên, một là thế gian vọng kiến, một
là ngu phu vọng kiến. Thế nên nói trừ thức khởi, tự phân
biệt thấy thì tất cả là vô sanh. Ngoại duyên, thế gian
hiện thấy như bình cùng tô lạc v.v… chẳng phải không phương
tiện trước sau sanh khởi. Cho nên lập pháp ngoại duyên.
Thế
nào là nội duyên? Nghĩa là pháp vô minh, ái nghiệp v.v… được
tên là duyên. Từ đó sanh pháp ấm, giới, nhập, được tên
là sở duyên. Nó không cósai biệt mà ngu phu vọng tưởng,
ấy gọi là pháp nội duyên.
Vô
minh là Như Lai tàng bất giác thành thức. Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Chẳng rõ đệ nhất nghĩa đế nên gọi là vô minh”. Trong
mười hai chi vô minh là nhân duyên quá khứ, ái là nghiệp
duyên hiện tại, nghiệp là thủ và hữu, lại làm duyên sanh
lão bệnh tử ở đời sau. Pháp ấm, giới, nhập vốn từ
ba đời duyên khởi, mà thật do vô minh bất giác, ở trên
tự tâm không có tánh sanh. Kẻ ngu phu vọng cho là thật, nên
nói: “Nó không cósaibiệt”.
Đại
Huệ! Nhân kia có sáu thứ. Nghĩa là: Đương hữu nhân, tương
tục nhân, tướng nhân, tác nhân, hiển thị nhân, đãi nhân.
Đương hữu nhân là, tạo nhân rồi pháp trong ngoài sanh. Tương
tục nhân là, tạo phan duyên rồi pháp trong ngoài sanh, ấm
chủng tử v.v… Tướng nhân là, tạo tướng không gián đoạn
tương tục sanh. Tác nhân là, làm việc tăng thượng như Chuyển
luân vương. Hiển thị nhân là, việc vọng tưởng sanh rồi
tướng hiện năng tác sở tác, như ngọn đèn soi hình sắc
v.v… Đãi nhân là, khi diệt tạo đoạn tương tục, tánh chẳng
vọng tưởng sanh.
Sáu
thứ nhân tức là trong hai cái duyên có nhân tướng hay chiêu
quả sai biệt. Đương hữu nhân là, hiện tại căn trần tạo
ra hay chiêu quả đời sau, nó tương đương với nhân duyên.
Tương tục nhân là, nhân căn cảnh trong ngoài mà sanh ái, thủ,
lại khởi chủng tử sau này chẳng dứt, nó tương đương
với sở duyên duyên. Tướng nhân là, làm ra không gián đoạn
nhân quả tương tục, nó tương đương đẳng vô gián duyên.
Tác nhân là, ở trên quả tạo nhân, như Chuyển luân vương
được thắng quả rồi lại tạo thắng nhân, nó tương đương
với tăng thượng duyên. Hiển thị nhân là, nhân năng tác
cùng quả sở tác đồng thời cùng hiển, như ngọn đèn soi
hình sắc, cũng nhiếp thuộc nghĩa nhân duyên. Đãi nhân là,
đối cảnh tướng khi diệt chẳng thấy tướng lưu chú sanh,
làm cho cái tương tục đoạn, thành tựu tánh chẳng vọng
tưởng. Chẳng vọng tưởng cùng với vọng tưởng đối đãi
nhau, là nhân tướng của ngoại đạo phàm ngu chấp.
Đại
Huệ! Ngu phu kia tự tướng vọng tưởng chẳng thứ lớp sanh,
chẳng đồng thời sanh. Vì cớ sao? Nếu là đồng thời sanh
thì năng tác sở tác không phân biệt, chẳng được tướng
nhân. Nếu thứ lớp sanh thì chẳng được tướng ngã. Thứ
lớp sanh thì chẳng sanh, như chẳng sanh con thì không tên cha
mẹ.
Thứ
lớp sanh hay đồng thời sanh là chỗ chấp của ngu phu. Do chẳng
biết tự tâm hiện ra, đối với pháp in tuồng sanh, tương
tục vọng thấy là nhân duyên, rồi chấp là thứ lớp hay
đồng thời. Cho nên Như Lai đặc biệt nói chẳng thứ lớp
sanh, chẳng đồng thời sanh. Nếu đồng thời sanh thì không
năng sở, chẳng được tướng nhân. Nếu thứ lớp sanh lại
không tự tánh có thể được. Tướng ngã là tự tánh vậy.
Đã không tự tánh thì liền đó vô sanh, như chẳng sanh con
thì không tên cha mẹ.
Đại
Huệ! Thứ lớp sanh phương tiện tương tục. Chẳng phải vậy,
chỉ do vọng tưởng mà thôi. Vì nhân, phan duyên, thứ đệ
duyên, tăng thượng duyên v.v… làm năng sanh và sở sanh. Đại
Huệ! Thứ lớp sanh chẳng sanh, vì tướng chấp trước vọng
tưởng tự tánh. Thứ lớp và đồng thời sanh đều chẳng
sanh, vì tự tâm hiện thọ dụng, tự tướng, cộng tướng,
ngoại tánh phi tánh. Đại Huệ! Thứ lớp và đồng thời sanh
đều chẳng sanh, trừ tự tâm hiện, bất giác vọng tưởng
nên có tướng sanh. Thế nên, nhân duyên tạo sự tướng phương
tiện phải lìa kiến chấp thứ lớp và đồng thời sanh.
Tiếp
trước thứ lớp và đồng thời chẳng sanh, để hiển ngoại
đạo và ngu phu chẳng biết tự tâm hiện ra, nên vọng tưởng
chấp trước, mà thật chẳng có pháp sanh. Tiết này riêng
chú trọng về thứ lớp sanh, chỉ kèm nói đồng thời sanh,
để biết ngoại đạo ngu phu chấp bốn duyên sanh, chỉ thuộc
về nghĩa thứ lớp. Cho nên chỉ rõ đó, khiến biết các pháp
trong ngoài ở trước mắt đều do thức biến, không có tự
tánh. Tuy có tướng nhân duyên tạo tác phương tiện, thảy
do bất giác vọng chấp mà thành. Giác thì duy tâm, kiến, tướng
toàn dứt. Nhân tức là nhân duyên là, thân cận hay sanh khởi.
Phan duyên tức là sở duyên duyên là, y ngoại sắc v.v… mà
sanh. Thứ đệ tức là vô gián duyên là, pháp trong ngoài lại
lẫn nhau chuyển sanh tương tục không gián đoạn. Tăng thượng
duyên là, tâm cùng cảnh làm tăng thượng duyên. Bốn thứ
này trong chánh pháp thường nói. Song vì mê chân nên giả lập
bày là có, mà chẳng phải thật có thể tánh. Cho nên nói
thứ lớp sanh chẳng sanh. Bởi vọng tưởng chấp trước, mà
thật thứ lớp và đồng thời thảy đều chẳng sanh. Nghĩa
là tự tâm hiện thân căn khí giới tự tướng cộng tướng
đều không tự tánh. Trừ bất giác tự tâm hiện, vọng tưởng
chấp nên có tướng. Thế nên, nhân duyên tạo ra phương tiện,
phải lìa kiến chấp thứ lớp và đồng thời sanh.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này nên nói kệ rằng:
Tất cả trọn không sanh
Cũng không nhân duyên diệt
Ở trong sanh diệt kia
Mà khởi tưởng nhân duyên.
Chẳng ngăn diệt và sanh
Tiếp nối nhân duyên khởi
Chỉ vì đoạn phàm ngu
Duyên vọng tưởng si hoặc
Pháp duyên khởi có không
Thảy đều không có sanh
Bởi tập khí mê chuyển
Từ đây ba cõi hiện
Chân thật không duyên sanh
Cũng lại không có diệt
Quán tất cả hữu vi
Ví như hoa trong không.
Năng nhiếp và sở nhiếp
Lìa bỏ kiến hoặc loạn
Chẳng đã sanh sẽ sanh
Cũng lại không nhân duyên
Tất cả vô sở hữu
Đây đều là ngôn thuyết.
Tất
cả pháp nhân duyên sanh diệt có không, đều không có tự
tánh. Liền đó là vô sanh. Chỉ vì phàm ngu si hoặc nên vọng
thấy có ba cõi. Thế nên Như Lai chỉ ngăn si hoặc, mà chẳng
ngăn các nhân duyên. Nghĩa là các nhân duyên như huyễn như
sóng nắng chẳng thể có không. Tất cả pháp hữu vi đối
với cái chân thật xưa nay xem như hoa đốm trong hư không.
Chỉ lìa các kiến chấp hoặc loạn năng sở, nhân duyên sanh
diệt trọn không có thật nghĩa, chỉ có thế luận mà thôi.
Ba bài kệ trên lặp đi lặp lại nói đoạn si hoặc. Ba bài
kệ dưới nói chân thật không sanh diệt. Chân thật tức là
xưa nay chân thật, là Như Lai tàng tâm vậy.
4-
CHỈ NHƯ LAI TÀNG ĐỆ NHẤT NGHĨA LÌA NGÔN THUYẾT VỌNG TƯỞNG.
Khi
ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi
xin vì nói tâm kinh tướng ngôn thuyết vọng tưởng. Thế Tôn!
Con và các vị đại Bồ-tát nếu khéo biết tâm kinh tướng
ngôn thuyết vọng tưởng thì hay thông đạt hai nghĩa ngôn
thuyết và sở thuyết, chóng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Đem hai thứ ngôn thuyết và sở thuyết làm thanh
tịnh tất cả chúng sanh.
Ngôn
thuyết là do lời nói phô bày tất cả cảnh giới. Vọng tưởng
là cảnh giới phân biệt của lời nói phô bày, chỗ chủ
trương. Liễu đạt hai nghĩa thì biết tất cả cảnh giới
thảy do vọng tưởng phân biệt nhân lời nói mà có phô bày,
lìa các phân biệt ngôn thuyết thì không tất cả tướng cảnh
giới. Cho nên đệ nhất nghĩa là tự giác thánh trí sở đắc.
Do ngôn thuyết vào được, chẳng phải cảnh giới ngôn thuyết
phân biệt. Tất cả chúng sanh chẳng biết đệ nhất nghĩa
tâm, chỉ y ngôn thuyết phô bày khởi các vọng giác, mà chẳng
phải chân thật tự thông. Rừng rậm ác kiến do đó chẳng
sạch, đây là chỗ thỉnh hỏi của Đại Huệ.
Phật
bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ
vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin
vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Có bốn thứ tướng
ngôn thuyết, vọng tưởng. Nghĩa là tướng ngôn thuyết,
mộng ngôn thuyết, quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết,
vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết. Tướng ngôn thuyết là,
từ vọng tưởng sắc tướng chấp trước sanh. Mộng ngôn
thuyết là, cảnh trước đã trải qua tùy nhớ nghĩ mà sanh.
Từ khi giác rồi cảnh giới không tánh sanh. Quá vọng tưởng
kế trước ngôn thuyết là, trước oán tạo ra nghiệp tùy
nhớ nghĩ sanh. Vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết là, lỗi
hư ngụy chấp trước từ vô thủy, tự chủng tập khí sanh.
Đây gọi là bốn thứ tướng ngôn thuyết vọng tưởng.
Tướng
ngôn thuyết là, do vọng tưởng chấp trước sắc tướng mà
sanh. Nghĩa là y nơi cảnh thật hiện tiền mà khởi phân biệt
nên có ngôn thuyết. Mộng ngôn thuyết là, do cảnh giới quá
khứ, từ nhớ nghĩ vọng tưởng sanh. Giác rồi cảnh giới
vô tánh là, cảnh chẳng thật, như khi mộng thức rồi thấy
cảnh giới không tánh, như độc ảnh cảnh. Quá vọng tưởng
chấp trước ngôn thuyết là, nhớ nghĩ nghiệp đã làm trước
rồi sanh hối hận, nên có ngôn thuyết. Vô thủy vọng tưởng
ngôn thuyết là, do chủng tử tập khí hư ngụy từ vô thủy,
nên có phân biệt đều là vô minh vọng giác, chẳng y nơi
thật nghĩa, do đây chấp trước mà sanh ngôn thuyết. Do bốn
thứ ngôn thuyết này bao gồm tất cả vọng tưởng, nếu hay
liễu đạt thì hay xa lìa cảnh giới vọng tưởng, được
tự giác thánh trí thú rồi, nếu có ngôn thuyết đều do tự
giác hiển bày.
Khi
ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ lại do nghĩa này khuyến thỉnh
Thế Tôn: Cúi xin lại nói cảnh giới do ngôn thuyết vọng
tưởng hiện ra? Thế Tôn! Chỗ nào? Cớ gì? Tại sao? Vì sao?
Chúng sanh vọng tưởng ngôn thuyết sanh? Phật bảo Đại Huệ:
Do đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, nướu răng hòa
hợp mà phát ra âm thanh. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Ngôn
thuyết vọng tưởng là khác hay chẳng khác? Phật bảo Đại
Huệ: Ngôn thuyết vọng tưởng chẳng khác chẳng phải chẳng
khác. Vì cớ sao? Nghĩa là vì kia là nhân sanh ra tướng. Đại
Huệ! Nếu ngôn thuyết, vọng tưởng khác thì vọng tưởng
chẳng ưng là nhân. Nếu chẳng khác thì lời nói chẳng hiển
được nghĩa, mà thật có hiển bày. Thế nên, chẳng khác
chẳng phải chẳng khác.
Ngôn
thuyết, vọng tưởng chẳng khác chẳng phải chẳng khác. Khác
thì vọng tưởng chẳng phải nhân của ngôn thuyết. Chẳng
khác thì nói chẳng hiển nghĩa, để chỉ ra văn sau ngôn thuyết
cùng đệ nhất nghĩa là khác hay chẳng khác. Chẳng biết cảnh
giới vọng tưởng giác, hư ngụy chẳng thật, cho nên ngôn
thuyết có thể phô bày. Đệ nhất nghĩa tự giác thánh trí
sở đắc, phi ngôn thuyết đến được, đây không thể đồng
thời nói.
Đại
Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Là ngôn thuyết tức đệ nhất
nghĩa hay sở thuyết là đệ nhất nghĩa? Phật bảo Đại Huệ:
Phi ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa, cũng phi sở thuyết là
đệ nhất nghĩa. Vì cớ sao? Nghĩa là đệ nhất nghĩa thánh
lạc, do ngôn thuyết được vào, ấy là đệ nhất nghĩa. Chẳng
phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa. Đệ nhất nghĩa là,
thánh trí tự giác đã được. Chẳng phải cảnh giới ngôn
thuyết vọng tưởng giác. Thế nên, ngôn thuyết vọng tưởng
không hiển bày đệ nhất nghĩa. Ngôn thuyết là sanh diệt
dao động, lần lượt do nhân duyên khởi. Nếu lần lượt
nhân duyên khởi thì nó không hiển bày đệ nhất nghĩa. Đại
Huệ! Vì tướng tự tha không tánh, nên tướng ngôn thuyết
chẳng hiển bày đệ nhất nghĩa. Lại nữa, Đại Huệ! Vì
tùy nhập tự tâm hiện lượng, các thứ tướng bên ngoài
tánh phi tánh. Ngôn thuyết vọng tưởng chẳng hiển bày đệ
nhất nghĩa. Thế nên, Đại Huệ! Phải lìa tướng ngôn thuyết
các thứ vọng tưởng.
Phân
chia ngôn thuyết và sở thuyết, cùng tột cảnh thú của ngôn
thuyết, hiển đệ nhất nghĩa chẳng phải ngôn thuyết đến
được. Ngôn thuyết này là riêng chỉ danh, cú, văn, thân.
Sở thuyết là chỗ hiển bày của ngôn thuyết, gồm có vọng
tưởng và tướng so sánh biết. Nên nói là cảnh giới ngôn
thuyết vọng tưởng giác, chẳng phải thật đệ nhất nghĩa.
Đệ nhất nghĩa là chỗ thánh lạc do ngôn thuyết mà vào,
như lấy tay chỉ mặt trăng, chẳng phải ngón tay là mặt trăng.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Như người lấy tay chỉ trăng cho người,
người kia nhân ngón tay nên phải thấy mặt trăng. Nếu chỉ
thấy ngón tay cho là thể mặt trăng thì, người này đâu những
quên mất vầng mặt trăng, cũng quên luôn ngón tay kia. Vì cớ
sao? Vì nhận ngón tay nêu kia làm mặt trăng sáng, đâu những
quên ngón tay mà cũng chẳng biết sáng cùng với tối. Vì cớ
sao? Vì cho thể ngón tay là mặt trăng sáng thì, tướng sáng
tối không rành rõ”. Phàm đệ nhất nghĩa tự giác thánh
trí đã được, chẳng phải cảnh giới ngôn thuyết vọng
tưởng giác. Thể ngón tay, thể mặt trăng, sáng tối rõ vậy.
Cho nên nói ngôn thuyết vọng tưởng chẳng hiển bày đệ
nhất nghĩa. Sanh diệt dao động tức là đầu, ngực … tám
việc, lần lượt hòa hợp. Nghĩa là nhân duyên lần lượt
hòa hợp này, không hay hiển bày đệ nhất nghĩa là chỉ ngôn
thuyết vậy. Tướng tự tha tức là chỉ sở thuyết. Nghĩa
là cảnh tự tha sở thuyết là y nơi vọng tưởng phân biệt,
như hoa trong gương không có thật tánh, đây là tướng ngôn
thuyết. Cho nên nói “tướng ngôn thuyết không hiển bày đệ
nhất nghĩa”. Người thật hay nhập tự tâm hiện lượng
thấy các thứ tướng bên ngoài, đều không tự tánh, đều
do ngôn thuyết vọng tưởng dựng lập. Nếu lìa ngôn thuyết
vọng tưởng tức không có tướng tất cả cảnh giới. Chính
ngay lúc này chỉ có thể chứng biết, không cho có nói năng.
Cho nên chỉ nói “ngôn thuyết vọng tưởng không hiển bày
đệ nhất nghĩa” mà thôi. Chỗ ngôn ngữ suy tư dứt bặt
là chỗ thánh lạc tiến đến. Mù tan thì mặt trời hiện,
như con gặp mẹ, thời tiết nếu đến lý kia tự bày. Cho
nên rốt sau nói “phải lìa tướng ngôn thuyết vọng tưởng”.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này nên nói kệ rằng:
Các tánh không tự tánh
Lại cũng không ngôn thuyết
Nghĩa thậm thâm không không
Kẻ ngu không thể hiểu
Tất cả tánh tự tánh
Pháp ngôn thuyết như bóng
Còn Tự Giác Thánh Trí
Thật tế ta đã nói.
Tất
cả các pháp không có tự tánh, không thể nói bày, đây
là nghĩa thậm thâm không không. Sanh tử không, Niết-bàn không.
Chỗ đất tự giác thánh trí thật tế, chẳng phải kẻ ngu
hay hiểu. Cho nên trong kinh đều là ngôn thuyết tự tánh, pháp
như bóng, vang, vì phương tiện chỉ chỗ trở về. Tông Cảnh
nói: “Ngôn thuyết là từ giác quán sanh, là cộng tướng
hòa hợp mà khởi. Phân biệt là nhân ý thức sanh, là suy tính
so lường mà khởi. Tóm lại mà nói, đều nhân bất giác,
giáo quán tùy sanh. Nếu không có tâm bất giác thì tất cả
các pháp thảy không có tự tướng có thể nói, chỉ
trừ môn phương tiện mà vì mở bày, đạo tột cùng trở
về là vô ngôn”.
5-
CHỈ NHƯ LAI TÀNG TỰ GIÁC THÁNH TRÍ LÌA BỐN CÂU CÓ KHÔNG.
Đại
Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói
lìa một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải
có, chẳng phải không, thường, vô thường chỗ chẳng hành
của tất cả ngoại đạo, là chỗ hành của tự giác thánh
trí. Lìa vọng tưởng tự tướng cộng tướng vào nghĩa đệ
nhất chân thật. Các địa tiếp nối thứ lớp tiến lên được
tướng thanh tịnh, tùy vào địa tướng của Như Lai, bản
nguyện không khai phát. Ví như châu ma-ni có các hình sắc,
cảnh giới vô biên tướng hạnh, tướng tự tâm hiện thú
bộ phận, tất cả các pháp. Con và các vị đại Bồ-tát
lìa kiến chấp vọng tưởng tự tánh, tự tướng, cộng tướng
như thế v.v…, chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, khiến tất cả chúng sanh được tất cả an lạc đầy
đủ sung mãn.
Ở
Tây Vức có chín mươi sáu thứ ngoại đạo đều do bốn câu
có, không v.v… khởi ra sáu mươi hai lưới kiến chấp. Luận
Bảo Tánh nói: “Bồ-tát loạn ý về không đối với chân
không diệu hữu này vẫn có ba cái nghi. Một là nghi không
để diệt sắc, chấp cái không đoạn diệt. Hai nghi không
khác với sắc, chấp ngoài sắc có không. Ba nghi không là vật,
chấp không làm hữu”. Bồ-tát còn vậy, huống là phàm ngu
ngoại đạo ư? Đại Trí Độ Luận kệ nói: “Có không hai
kiến diệt chẳng còn, các pháp thật tướng Phật đã nói”.
Chư pháp thật tướng là nói chỗ hành của tự giác thánh
trí. Thiên Dẫn Tuyệt Vô Ỷ Quán nói: “Nghĩa là chân không
này không thể nói tức sắc chẳng tức sắc, không thể nói
tức không chẳng tức không, tất cả đều không thể nói,
không thể nói cũng không thể nói. Lời này cũng chẳng thọ,
vượt xa không còn chỗ gá, chẳng phải chỗ lời nói đến,
chẳng phải chỗ hiểu được, ấy gọi là hạnh cảnh. Vì
cớ sao? Vì sanh tâm động niệm liền trái pháp thể, liền
mất chánh niệm. Cho đến, nếu tiền giải không rỗng suốt
thì không do đâu tiếp tục tu hành. Nếu chẳng giải hạnh
pháp này, dứt cái tiền giải không do đâu thành chánh giải
kia. Nếu giữ cái giải chẳng bỏ thì không do đâu vào chánh
hạnh này. Thế nên hạnh do giải thành, hạnh khởi giải tuyệt”.
Nghĩa đệ nhất chân thật y cứ vào Sơ địa kiến đạo tự
nhận được thật tướng các pháp. Kinh Hoa Nghiêm thì chỉ
Thập trụ sơ tâm thấy rõ Phật tánh cùng Phật không khác.
Trải qua các vị, một vị tức là tất cả vị, hành bố
(tiệm thứ) viên dung (đốn ngộ) thuần dùng vô công dụng
đạo nhậm vận tiến đến Phật. Vào cõi nước vô biên khắp
hiện sắc thân, đều chẳng ngoài sai biệt do tự tâm hiện
ra. Bốn câu là, câu một, câu khác, câu cũng một cũng khác,
câu chẳng phải một chẳng phải khác. Câu một là nhiếp
thuộc về hữu và thường. Câu khác là nhiếp thuộc về vô
và vô thường. Ba cái này đều có bốn câu. Pháp của ta cũng
có nghĩa phá bốn câu. Văn Niết-bàn Luận nói: “Còn mà chẳng
phải là hữu, để phá chấp thường của Thanh văn. Mất mà
chẳng phải là vô, để phá chấp đoạn của Thanh văn. Mất
mà chẳng phải là vô, tuy vô mà là hữu. Còn mà chẳng phải
là hữu, tuy hữu mà là vô”. Đây là song phá hữu vô, hiển
bày cũng hữu cũng vô. Tuy hữu mà vô nên nói phi hữu. Tuy
vô mà hữu nên nói phi vô. Đây là phá cũng hữu cũng vô,
hiển bày phi hữu phi vô. Thảy đều lẫn nhau phá trừ để
hiển trung đạo là chỗ Phật sở hành.
Phật
bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Ông hay hỏi ta nghĩa như
thế được nhiều an lạc, được nhiều lợi ích, thương
xót tất cả chư thiên và người đời. Phật bảo Đại Huệ:
Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông phân
biệt giải nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay!
Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Phàm phu ngu si chẳng
biết tâm lượng, chấp tánh trong ngoài, y nơi một, khác, đồng,
chẳng đồng, có, không, chẳng phải có, chẳng phải không,
thường, vô thường, tự tánh là tập nhân chấp trước vọng
tưởng.
Chẳng
biết tự tâm hiện lượng thì toàn thể là thức, tự nhiên
chẳng biết lý do các tánh trong ngoài, lầm ở trước mắt
vọng sanh phân biệt. Đây là sở do sanh tứ cú. Tập nhân
là chỉ cho chủng thức. Chẳng biết tâm lượng tức thành
tập nhân, cố nhiên sanh chấp trước vậy.
Ví
như bầy nai bị khát bức ngặt thấy sóng nắng trong mùa xuân
mà khởi tưởng là nước, mê loạn chạy tìm, không biết
chẳng có nước. Như thế, người ngu hư ngụy vọng tưởng
huân tập từ vô thủy, ba độc đốt tâm ưa cảnh giới sắc,
thấy sanh trụ diệt, chấp tánh trong ngoài, rơi nơi tưởng
một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải có,
chẳng phải không, thường, vô thường vọng kiến nhiếp thọ.
Trước
nói các kiến chấp khởi lên là do mê tự tâm lượng, mà
thành chủng thức, thấy có trong ngoài, sanh bốn thứ tà kiến.
Đây nói hiện hạnh và chủng tử cùng nhau sanh, lẫn nhau hoặc
loạn, đối với cứu kính không, thành cứu kính có.
Như
thành Càn-thát-bà, phàm ngu không trí khởi tưởng là thành,
tập khí chấp trước tướng từ vô thủy hiện. Kia chẳng
phải có thành, chẳng phải không thành. Như thế, ngoại đạo
hư ngụy tập khí chấp trước từ vô thủy, y nơi cái thấy
một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải có,
chẳng phải không, thường, vô thường không thể rõ biết
tự tâm hiện lượng.
Tập
khí chấp trước tướng từ vô thủy hiện, kia chẳng phải
chẳng thành chẳng phải không thành, đây là nói rất rõ tâm
sắc tất cả cảnh giới hiện tiền đều duy thức biến,
chẳng thật có không, nên nói như huyễn bất khả tư nghì.
Ngoại đạo không trí lầm là thật có, luống thêm tà kiến.
Thí
như có người mộng thấy nam nữ, voi ngựa, xe cộ, thành ấp,
vườn rừng, núi sông, ao hồ các thứ trang nghiêm, tự thân
vào trong ấy, khi thức rồi chỉ còn nghĩ nhớ. Đại Huệ!
Ý ông nghĩ sao? Kẻ kia như thế, đối với việc mộng trước
nhớ nghĩ chẳng bỏ, là người thông minh chăng? Đại Huệ
bạch Phật: Thế Tôn! Chẳng thông minh. Phật bảo Đại Huệ:
Phàm phu như thế bị ác kiến nhai, ngoại đạo trí tuệ mà
chẳng biết tự tâm hiện tánh như mộng, y nơi kiến chấp
một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải có,
chẳng phải không, thường, vô thường.
Đây
lấy việc thấy trong mộng so sánh cho dễ biết. Đến khi thức
rồi nhớ nghĩ chẳng bỏ, gồm dụ cho người ngu, biết rõ
các pháp chẳng có nhân khác, mà chấp pháp trong ngoài vẫn
cố chẳng quên.
Thí
như tượng vẽ chẳng cao thấp, mà phàm ngu kia khởi tưởng
cao thấp. Như thế đời sau ngoại đạo ác kiến tập khí
dẫy đầy y nơi kiến chấp một, khác, đồng, chẳng đồng,
có, không, chẳng phải có, chẳng phải không, thường, vô
thường tự hoại và hoại người. Còn luận lìa có không
vô sanh cũng là ngôn thuyết không, kiến chấp bài báng nhân
quả, nhổ gốc thiện căn, hoại nhân thanh tịnh. Người thắng
cầu phải xa lìa đó. Khởi nói như thế là họ rơi nơi kiến
chấp tự, tha, đồng, là vọng tưởng có không rồi, chìm
nơi kiến lập (có) và phỉ báng (không), do ác kiến ấy sẽ
đọa vào địa ngục.
Thế
Tôn nơi đây thâm trách ngoại đạo ác kiến, dựng lập tự
tông phỉ báng chánh pháp, lưu truyền đời sau, tự hoại và
hoại người sẽ đọa địa ngục.
Thí
như con mắt bệnh thấy có tóc rủ, liền bảo mọi người
rằng các ông xem đây, mà thật tóc rủ cứu kính phi tánh
phi vô tánh, vì thấy và chẳng thấy. Như thế, ngoại đạo
vọng kiến hy vọng y nơi kiến chấp một, khác, đồng, chẳng
đồng, có, không, chẳng phải có, chẳng phải không, thường,
vô thường, mà phỉ báng chánh pháp tự đọa và làm người
đọa.
Cứu
kính phi tánh phi vô tánh, vì thấy và chẳng thấy là, tất
cả pháp thảy như tóc rủ, chẳng phải tánh có không, do người
thấy cùng chẳng thấy, đây là chỉ thẳng duy thức. Lặp
lại nói phỉ báng chánh pháp, tự đọa và làm người đọa,
là lòng thương xót thiết tha của Như Lai, đại khái có thể
thấy vậy.
Thí
như vòng lửa chẳng phải vòng, người ngu tưởng là vòng,
chẳng phải là người có trí. Như thế, ngoại đạo ác kiến
hy vọng y nơi một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng
phải có, chẳng phải không, thường, vô thường, tưởng tất
cả tánh sanh.
Bản
dịch đời Ngụy không có đoạn này, cũng khắp dụ không
có nghĩa riêng cho nên lược.
Thí
như bong bóng nước giống như châu ma-ni, đứa bé ngu không
trí khởi tưởng ma-ni, chấp trước tìm cầu. Song bong bóng
nước kia không phải ma-ni, chẳng phải phi ma-ni. Vì chấp và
chẳng chấp. Như thế, ngoại đạo ác kiến vọng tưởng tập
khí huân tập, đối với vô sở hữu nói là có sanh, duyên
nơi có sanh nói là diệt.
Bong
bóng nước là một, vì có người chấp người chẳng chấp,
chẳng phải thật có sanh diệt. Phàm phu ngoại đạo đối
với bong bóng nước vô sở hữu mà chấp cho là hữu. Kẻ
ngu duyên nơi bong bóng nước có, chẳng chấp cho là diệt.
Kinh Ương-quật-ma-la bài kệ nói: “Thí như có kẻ ngu, thấy
bọt sanh vọng tưởng, cho là châu lưu ly, lấy rồi đem trở
về, để nó ở trong bình, gìn giữ như chân bảo, chẳng lâu
thảy tiêu dung, tưởng không lặng yên đứng, nơi chân lưu
ly khác, cũng lại khởi tưởng không. Văn Thù cũng như thế,
tu hành tột không tịch, thường khởi suy nghĩ không, phá hoại
tất cả pháp. Giải thoát thật chẳng không, mà khởi tưởng
tột không, ví như thấy bọt tiêu, lạm hoại các chân bảo.
Người nay cũng như thế, lạm khởi tưởng tột không, thấy
được pháp không rồi, chẳng không cũng nói không.”
Lại
nữa, Đại Huệ! Có ba thứ lượng, năm phần luận, mỗi thứ
dựng lập rồi, được thánh trí tự giác, lìa việc hai tự
tánh, mà khởi hữu tánh vọng tưởng chấp trước.
Ba
thứ lượng là, hiện lượng, tỷ lượng, thánh ngôn lượng.
Hiện lượng là, thật cảnh hiện tiền, chẳng rơi vào ý
ngôn, thân được pháp thể không có lầm lẫn, như tự giác
thánh trí tương ưng với chứng biết. Tỷ lượng là, so sánh
mà biết, như nhân cảnh mộng mà biết là tự tâm hiện, tuy
chẳng phải thân chứng, mà so sánh biết không dối. Thánh
ngôn lượng là, như Pháp thân Phật nói, Báo thân Phật nói,
Hóa thân Phật nói, nhất định làm mô phạm. Ba chi là, tông,
nhân, dụ. Như đối với giáo pháp của ta lập lượng rằng:
“Như Lai tàng đệ nhất nghĩa tâm là Tông. Nhân nói, vì tự
tâm hiện lượng. Dụ nói, như hoa trong gương, trăng đáy nước
và cảnh trong mộng”. Như đối với ngoại đạo lập lượng
rằng: Kia do thần ngã thắng tánh là Tông. Nhân nói, vì tập
khí hư ngụy từ vô thủy và tác giả có không. Dụ nói, như
lông rùa, dầu cát, bình bể v.v… Ba chi này cũng gọi là ba
chi tỷ lượng, cùng với Hợp, Kết thành năm. Ba lượng và
năm phần đều là Như Lai nói ra, để hiển bày thánh trí
tự giác, lìa kiến chấp có và không. Song họ chẳng dựng
lập thánh trí tự giác, lại khởi có tánh phân biệt, đây
là phá nội ngu ngã tướng.
Đại
Huệ! Tâm, ý, ý thức thân tâm chuyển biến, tự tâm hiện
năng nhiếp sở nhiếp các vọng tưởng dứt. Như Lai địa
tự giác thánh trí, người tu hành không đối với kia khởi
tưởng tánh và phi tánh. Nếu người tu hành kia nơi cảnh giới
như thế, tánh (có) phi tánh (không) nhiếp thủ tướng sanh
thì kia chấp trưởng dưỡng và chấp ngã nhân.
Tâm,
ý, ý thức thân tâm chuyển biến, tự tâm hiện năng nhiếp
sở nhiếp vọng tưởng dứt là, đã chuyển tâm, ý, ý thức
thì tự tâm hiện ra năng thủ và sở thủ các vọng tưởng
liền đoạn. Cho nên lại nói: Như Lai tự giác thánh trí chẳng
nên nơi kia lại khởi thấy có không. Nếu người tu thánh
hạnh đối cảnh giới tự giác lìa pháp có không, mà khởi
chấp có tánh tướng, tức là rơi vào ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả. Đây là nương văn trước là khởi chấp trước
có tánh lại thêm một phen cạo gọt. Kinh Viên Giác nói: “Tâm
ấy cho đến chứng cứu kính Như Lai rõ biết Niết-bàn thanh
tịnh đều là ngã tướng”. Lại nói: “Ngộ rồi vượt
hơn tất cả chứng, thảy là nhân tướng”. Lại nói: “Liễu
chứng liễu ngộ đều là ngã nhân, mà tướng ngã nhân chẳng
kịp, còn có sở liễu gọi là chúng sanh tướng”. Lại nói:
“Tâm chiếu thanh tịnh giác được sở liễu, tất cả nghiệp
trí trọn không tự thấy vẫn như mạng căn”. Lại nói: “Như
nước sôi làm tiêu băng, không riêng có băng, biết băng tiêu
vẫn còn ngã để giác ngã, cũng lại như thế”. Cho nên biết
được tự giác thánh trí, lìa việc hai tự tánh (có, không)
mà còn khởi hữu tánh vọng tưởng chấp trước, đều chẳng
lìa bốn tướng này.
Đại
Huệ! Nếu nói tánh kia tự tánh, tự tướng, cộng tướng,
tất cả đều là Hóa Phật nói ra, chẳng phải Pháp Phật
nói. Lại, các ngôn thuyết, thảy do ngu phu hy vọng kiến chấp
mà sanh. Chẳng vì riêng dựng lập đến pháp tự tánh. Người
được thánh trí tự giác tam-muội lạc trụ, mới phân biệt
hiển bày.
Đây
lại nói Như Lai có khi nói tánh, nói tướng, các thứ tự
và tha, đều là Hóa Phật nói. Bởi vì ngu phu hy vọng có sở
đắc, vì chỉ hóa thành, mà chẳng thật có kiến lập tiến
đến pháp tự tánh. Vì người được thánh trí tự giác tam-muội
lạc trụ phân biệt hiển bày. Nhật dụng của chúng sanh thật
chẳng phải vô thường. Vì trừ chấp thường nói tưởng
vô thường, cho đến cũng phi vô lạc, ngã, tịnh. Vì trừ
chấp lạc, ngã, tịnh nên nói tưởng vô lạc, ngã, tịnh.
Thánh trí tự giác cũng không đắc quả đắc thiền, vì thuận
theo hy vọng nói quả tướng, nói thiền tướng. Nếu không
hy vọng, ắt Như Lai trước sau chẳng nói. Cho nên biết hy
vọng tình kiến muốn đoạt gấp trong lời Phật nói, mà thánh
trí thầm hợp, phải mở đường tỏ ngộ ngoài lời nói.
Như Lai vẫn có nói ra ở đây, mà chỉ thú lại ở kia. Đem
chỗ này để rõ ngôn thuyết trọn chẳng đến, tức dùng
dẫn dụ lìa lời nói tự đến. Trong nước chẳng phải mặt
trăng, mà mặt trăng sáng hiện rõ ràng. Trong gương chẳng
phải hình tượng, mà vạn tượng sum la đều lập. Chỗ chí
lý chưa bày, mà thánh ý ẩn hiển vậy. Xem văn sau Hóa Phật
nói ra, như bóng hình v.v… mới biết chỗ mê của ngu phu ngoại
đạo, là chỗ thông của người trí, không có hai đường
vậy.
Thí
như trong nước có bóng cây hiện, nó chẳng phải bóng phi
chẳng phải bóng, chẳng phải hình cây phi chẳng phải hình
cây. Như thế, ngoại đạo do kiến tập huân, vọng tưởng
chấp trước, y nơi tưởng một, khác, đồng, chẳng đồng,
có, không, chẳng phải có, chẳng phải không, thường, vô
thường mà không thể hiểu tự tâm hiện lượng. Ví như gương
sáng tùy duyên hiển hiện tất cả sắc tượng, mà không vọng
tưởng. Kia chẳng phải tượng phi chẳng phải tượng, mà
thấy tượng, chẳng phải tượng. Ngu phu vọng tưởng mà khởi
tưởng là tượng. Như thế, ngoại đạo ác kiến nơi tự
tâm tượng hiện, vọng tưởng chấp trước, y nơi kiến chấp
một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải có,
chẳng phải không, thường, vô thường. Thí như gió và
nước hòa hợp phát ra tiếng. Kia chẳng phải tánh, phi chẳng
phải tánh. Như thế, ngoại đạo ác kiến vọng tưởng y nơi
kiến chấp một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng
phải có, chẳng phải không, thường, vô thường. Ví như quả
đất chỗ không có cỏ cây, do sức nắng nóng thấy như suối
chảy, sóng dậy, mây tụ, kia chẳng phải tánh, phi chẳng phải
tánh, vì tham và không tham. Như thế, ngu phu hư ngụy tập khí
huân tập từ vô thủy, vọng tưởng chấp trước y nơi sanh
trụ diệt, một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng
phải có, chẳng phải không, thường, vô thường, duyên
môn tự trụ sự, cũng như nắng nóng, sóng mòi. Ví như có
người dùng chú thuật máy phát động, chẳng phải trong số
chúng sanh, do quỷ Tì-xá-xà phương tiện hiệp thành, dao động,
lăng xăng, phàm phu vọng tưởng chấp trước cho là có qua
lại. Như thế ngoại đạo ác kiến hy vọng, y nơi kiến chấp
một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải có,
chẳng phải không, thường, vô thường, hí luận chấp trước,
chẳng thật kiến lập. Đại Huệ! Thế nên muốn được việc
tự giác thánh trí phải lìa sanh trụ diệt, một, khác, đồng,
chẳng đồng, có, không, chẳng phải có, chẳng phải không,
thường, vô thường v.v… ác kiến vọng tưởng.
Đây
nêu ra do Hóa Phật nói để chỉ quyền, thật gồm bày. Bởi
do tự tâm hiện lượng không mình không người, tùy duyên
cảm đến ứng vật hiện hình, mặc các hữu tình phân biệt
thấy khác. Bóng cây trong nước chẳng thuộc có không. Gương
sáng hiện hình vốn không tâm chiếu. Gió nước phát tiếng
chẳng phải nhân chẳng phải duyên. Do sức nắng nóng thấy
như suối chảy, sóng dậy, mây tụ, tham cùng không tham đều
chẳng phải sanh diệt. Bởi chú thuật nên tử thi đi, máy
động, tượng dậy, trọn không có sự thật, mà đi đến
rõ ràng. Đây đều là tự tâm hiện ra chẳng phải chân chẳng
phải vọng, chẳng kia chẳng đây, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng
giác chẳng tri. Như Lai lấy mộng huyễn trăng đáy nước thuận
theo căn dục kia, mà dùng toàn cơ đại dụng, ngộ đây tu
hành. Ngu phu và ngoại đạo chẳng biết ở trong pháp thánh
trí tự chứng, vọng khởi tà kiến, có kiến lập ra đều
thành hí luận.
Khi
ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nói kệ rằng:
Huyễn, mộng, bóng cây nước
Tóc rủ, nắng mùa nóng
Như thế xem ba cõi
Cứu kính được giải thoát.
Bài
kệ này nói các pháp trong ba cõi, không thể có không, thảy
đều như việc mộng huyễn v.v… Khởi quán như thế liền
đó được giải thoát.
Ví như nai khát tưởng
Động chuyển tâm mê loạn
Nai tưởng cho là nước
Mà thật không có nước.
Như thế chủng tử thức
Động chuyển thấy cảnh giới
Người ngu vọng tưởng sanh
Như mắt nhặm bị che
Nơi sanh tử vô thủy
Chấp trước tánh nhiếp thọ
Như ngược chốt tháo chốt
Xả lìa tham nhiếp thọ.
Như huyễn chú máy động
Mây nổi mộng điện chớp
Quán thế được giải thoát
Hằng đoạn ba tương tục.
Nơi kia không người tạo
Ví như nắng trong không
Như thế biết các pháp
Tức là không chỗ biết.
Năm
bài kệ này nói ba cõi như mộng huyễn vốn không sự thật.
Do chủng tử thức vọng thấy cảnh giới, như mắt bệnh thấy
hoa đốm, lầm cho hoa từ con mắt sanh, chấp con mắt thấy
hoa là tánh nhiếp thọ. Đây chính là căn bản sanh tử từ
vô thủy, vọng tâm phân biệt. Nếu hay tức cái phân biệt
này biết là vọng phân biệt, như tháo chốt ra. Mới biết
máy động, chú đứng dậy, mây nổi, mộng, điện chớp, ngay
đó không người, liền được xa lìa tam độc nhiếp thọ,
mà không có người xa lìa. Nên nói dùng trí vô tác quán tất
cả pháp, mà không phải cảnh giới giác tưởng.
Ngôn giáo chỉ giả danh
Kia cũng không có tướng
Nơi kia khởi vọng tưởng
Ấm hành như tóc rủ
Như vẽ, tóc rủ, huyễn
Mộng, thành Càn-thát-bà
Vòng lửa, sóng nắng nóng
Không mà hiện chúng sanh.
Thường, vô thường, một, khác
Đồng, chẳng đồng cũng vậy,
Lỗi vô thủy tiếp nối
Kẻ ngu si vọng tưởng.
Gương sáng, nước trong, mắt.
Ma-ni diệu bảo châu
Trong ấy hiện các sắc
Mà thật không thể có
Tất cả tánh hiển hiện
Như vẽ sóng nắng nóng
Các thứ sắc hiện bày
Như mộng không thể có.
Năm
bài kệ này nói Như Lai thuyết pháp cũng vì chúng sanh giả
lập danh ngôn. Nhân kia phân biệt vọng kiến, nên bảo họ
rằng: “Năm ấm các hành như tóc rủ v.v… Ở trong cái vô
sanh mà hiện việc sanh”. Cho đến bốn câu tà chấp cũng
lại như thế, đều là hư ngụy từ vô thủy. Kẻ ngu không
biết vọng sanh phân biệt. Hai bài kệ sau, lại nói tất cả
ngôn giáo đều tùy theo căn dục của chúng sanh có bày hiện
ra mà chẳng phải pháp thật. Đây là nhổ gốc kẻ ngu nhân
lời nói sanh hiểu biết. Như Lai dẫn đường từ quyền về
thật, ý rất thâm thiết.
Lại
nữa, Đại Huệ! Như Lai nói pháp lìa bốn câu như thế. Nghĩa
là một, khác, đồng, chẳng đồng, có, không, chẳng phải
có, chẳng phải không, thường, vô thường. Lìa nơi có không
kiến lập và phỉ báng phân biệt, kiết tập chân đế duyên
khởi đạo, diệt, giải thoát. Như Lai nói pháp lấy đó làm
đầu, chẳng phải tánh, chẳng phải Tự Tại thiên, chẳng
phải vô nhân, chẳng phải vi trần, chẳng phải thời, chẳng
phải tự tánh tương tục, mà vì nói pháp. Lại nữa, Đại
Huệ! Vì sạch phiền não và sở tri chướng, ví như thương
chủ dẫn đường thứ lớp dựng lập một trăm lẻ tám câu
vô sở hữu, khéo phân biệt các thừa và tướng các địa.
Đây
là tổng kết Như Lai nói pháp là lìa tứ cú có không phân
biệt, để kiết tập chân đế. Chân đế là tự giác thánh
trí đệ nhất nghĩa đế, đây chẳng phải tứ đế của Nhị
thừa, mà có thể so sánh. Thấy tự giác đệ nhất chân đế,
mới hay thâm đạt lý duyên khởi. Tùy thuận tu đạo chứng
nơi tịch diệt mà được giải thoát. Đây là lý do cùng với
luận của ngoại đạo nào là thắng tánh, tự tại v.v… khác
vậy. Đoạn hai thứ chướng cũng tức là việc tu đạo chứng
diệt. Song đều kiết tập nơi tự giác chân đế. Nên nói
dựng lập một trăm lẻ tám câu ở vô sở hữu. Vô sở hữu
tức chỉ chân đế, không tất cả kiến chấp hữu vô.
Tức thế gian tức phi thế gian, tức xuất thế gian, tức phi
xuất thế gian, câu ấy rõ ràng trong sáng, thuần nhất không
tạp. Cho nên biết vô sở hữu, là kho tàng bí mật của Như
Lai, trong sạch không nhơ. Được trụ đây rồi tự hay khéo
phân biệt biết các tướng thừa, địa. Đây vẫn là thuận
tánh khởi dụng, khéo dùng các phương tiện để tự trang
nghiêm, mà chẳng phải riêng có. Như Lai thuyết pháp khắp
vì các Bồ-tát thành tựu tự giác, như thương chủ dẫn đường,
đến nơi Bảo sở, lại không có pháp thật.
6-
CHỈ BỐN THỨ THIỀN ĐỂ HIỂN NHƯ LAI THANH TỊNH CHẲNG ĐỒNG
NHỊ THỪA.
Lại
nữa, Đại Huệ! Có bốn thứ thiền. Thế nào là bốn? Nghĩa
là ngu phu sở hành thiền, quán sát nghĩa thiền, phan duyên
như thiền, Như Lai thiền. Thế nào là ngu phu sở hành thiền?
Nghĩa là Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo tu hành, quán tánh
nhân vô ngã, tự tướng, cộng tướng, các lóng xương, vô
thường, khổ, tướng bất tịnh, chấp trước làm đầu. Tướng
như thế chẳng quán khác, trước sau chuyển tiến, tướng
chẳng trừ diệt. Ấy gọi là ngu phu sở hành thiền.
Bốn
thứ thiền, chỉ ngu phu sở hành thiền là chỗ tu của nhị
thừa ngoại đạo. Quán sát thiền, duyên như thiền là hành
tướng của các địa. Như Lai thiền là tướng cứu kính của
tự giác thánh trí. Nhị thừa quán khổ, không, vô ngã, bất
tịnh, tu tập tứ đế. Nghĩa là biết khổ, đoạn tập, tu
đạo, chứng diệt. Đây là đối trị thế gian vô thường
chấp là thường, vô lạc chấp là lạc, vô ngã chấp là ngã,
bất tịnh chấp là tịnh. Tu quán vô ngã, quán thành tựu rồi,
đến chỗ ái hết được Niết-bàn, mà pháp tướng trong ngoài
trọn chẳng trừ diệt. Do chẳng biết pháp trong ngoài tự
tâm hiện ra, cho là thật có chỗ diệt, thật có chỗ chứng.
Đây tuy là chánh pháp mà đồng với ngoại đạo. Cho nên Thế
Tôn của ta ở trên hội Niết-bàn, đặc biệt vì nhị thừa
nói bốn thật đế. Gọi Bồ-tát Văn Thù nói: “Có khổ có
đế có thật, có tập có đế có thật, có diệt có đế
có thật, có đạo có đế có thật. Như Lai phi khổ phi đế
là thật. Hư không phi khổ phi đế là thật. Phật tánh phi
khổ phi đế là thật”. Đây nói khổ, là tướng vô thường,
là tướng nên đoạn, ấy là chân đế. Tánh của Như Lai phi
khổ phi vô thường, chẳng phải tướng nên đoạn, thế nên
là thật. Nói là tập, hay khiến năm ấm hòa hợp mà sanh,
cũng gọi là khổ, cũng gọi là vô thường, ấy là tướng
nên đoạn. Tánh Như Lai chẳng phải tánh tập, chẳng phải
là nhân ấm, chẳng phải là tướng nên đoạn, thế nên là
thật. Nói là diệt, gọi là phiền não diệt, cũng có thường
vô thường, là sở đắc của nhị thừa, gọi là vô thường.
Sở đắc của chư Phật ấy gọi là thường, cũng gọi là
chứng pháp, ấy là thật đế. Tánh của Như Lai chẳng gọi
là diệt, mà hay diệt phiền não, chẳng phải có thường và
vô thường, chẳng gọi là chứng biết mà thường trụ không
biến, thế nên là thật. Đạo là hay đoạn phiền não, cũng
có thường vô thường, là pháp nên tu, ấy gọi là thật đế.
Như Lai chẳng phải đạo, mà hay đoạn phiền não, chẳng phải
có thường và vô thường, chẳng phải pháp nên tu, thường
trụ chẳng biến đổi, thếâ nên là thật. Lại nói: “Các
ngoại đạo v.v… có khổ tập đế, không diệt đạo đế.
Đối với cái chẳng phải diệt mà sanh tưởng diệt, đối
với cái chẳng phải đạo mà sanh tưởng đạo, đối trong
cái chẳng phải quả mà sanh tưởng quả, đối trong chẳng
phải nhân mà sanh tưởng nhân. Bởi do nghĩa này nên kia không
có một đạo thanh tịnh”. Kinh này nói: “Trước sau chuyển
tiến, tướng chẳng trừ diệt”, chính chỉ có tướng nên
đoạn, có tướng nên tu, pháp bị chứng biết. Nên nói chẳng
phải quả mà sanh tưởng quả, chẳng phải nhân mà sanh tưởng
nhân.
Thế
nào là quán sát nghĩa thiền? Nghĩa là nhân vô ngã, tự tướng,
cộng tướng và ngoại đạo tự, tha, đồng, không tánh rồi,
quán pháp vô ngã, nghĩa tướng địa kia thứ lớp tăng tiến,
ấy gọi là quán sát nghĩa thiền.
Đây
là quán pháp vô ngã, mới vào duy thức. Bồ-tát chứng duy
thức đạt tất cả pháp không, gọi là phần kiến đạo,
ấy là Sơ địa. Do nghĩa tướng các địa ấy thứ lớp tăng
tiến.
Thế
nào là phan duyên như thiền? Nghĩa là vọng tưởng về hai
vô ngã vẫn là vọng tưởng, chỗ như thật chẳng sanh vọng
tưởng, ấy gọi là phan duyên như thiền.
Vào
đất chân như thật tế, đã thấy pháp tướng hai vô ngã
thanh tịnh, còn không hiện tiền. Nếu tướng này hiện tiền,
vẫn gọi là vọng tưởng, chẳng gọi là như thật chứng
biết.
Thế
nào là Như Lai thiền? Nghĩa là vào đất Như Lai được tướng
tự giác thánh trí, ba thứ lạc trụ, thành tựu việc bất
khả tư nghì cho chúng sanh, ấy gọi là Như Lai thiền.
Ba
thứ lạc trụ là nói ba tam-muội: Không tam-muội, vô tướng
tam-muội, vô tác tam-muội. Không là đối hai mươi lăm cõi
chẳng thấy có một pháp thật. Vô tác là đối hai mươi lăm
cõi chẳng khởi nguyện cầu. Vô tướng là không có mười
tướng: Sắc tướng, thanh tướng, hương tướng, vị tướng,
xúc tướng, sanh tướng, trụ tướng, diệt tướng, nam tướng,
nữ tướng. Thật tướng cũng có ba thứ vui: Một thọ vui,
hai vắng lặng vui, ba giác tri vui. Như Lai thường trụ không
có đổi dời, gọi là thật tướng.
Khi
ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này, nói kệ rằng:
Phàm phu sở hành thiền,
Quán sát tướng nghĩa thiền
Phan duyên như thật thiền,
Như Lai thanh tịnh thiền.
Thí như hình nhật nguyệt
Bát-đầu-ma, lặng sâu
Như hư không, lửa hết,
Người tu hành quán sát.
Như thế các thứ tướng
Ngoại đạo nói thông thiền
Cũng rơi vào Thanh văn
Và cảnh giới Duyên giác.
Bỏ lìa tất cả kia
Tức là vô sở hữu
Chư Phật tất cả cõi
Dùng tay bất tư nghì,
Một lúc rờ đảnh kia
Tùy thuận vào tướng như.
Bát-đầu-ma
dịch là hoa sen hồng. Hình nhật nguyệt, hoa sen hồng, tướng
biển lặng sâu, hư không lửa hết đều là cảnh giới sai
biệt của thiền định. Ngoại đạo, nhị thừa vì chấp trước
nên thành tà kiến. Nếu tất cả bỏ lìa, liền đó tự giác
tức là chỗ vô sở hữu. Liền được chư Phật gia hộ tùy
vào Như Lai địa chân như thật tướng.
7-
CHỈ NHƯ LAI TẠNG TỰ TÁNH NIẾT-BÀN CHẲNG ĐỒNG NHỊ THỪA.
Khi
ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Vào
Niết-bàn, nói những pháp gì gọi là Niết-bàn? Phật bảo
Đại Huệ: Tất cả tự tánh, tập khí, tạng, ý, ý thức,
kiến, tập chuyển biến gọi là Niết-bàn. Chư Phật và Niết-bàn
của ta là cảnh giới tự tánh không sự.
Tự
tánh tập khí tàng là thức thứ tám. Ý là thức thứ bảy.
Ý thức là thức thứ sáu. Tức là tâm, ý, ý thức. Kiến
tập chuyển biến, thức thứ tám là Như Lai tàng không có
chuyển biến, bị chuyển biến chỉ là kiến và tập. Như
Lai tàng bất giác vọng động khởi kiến phần, do đó
nhân, pháp huân biến thành tập khí. Nếu hay phát minh thức
tức là tánh, liền lìa kiến tập, ấy gọi là Niết-bàn.
Niết-bàn gọi là tàng bí mật, như chữ y (o0o) ba điểm. Kinh
Niết-bàn nói: “Pháp giải thoát cũng chẳng phải Niết-bàn,
thân Như Lai cũng chẳng phải Niết-bàn, ma-ha Bát-nhã cũng
chẳng phải Niết-bàn. Ba pháp mỗi thứ khác cũng chẳng phải
Niết-bàn”. Đây là pháp thân Như Lai, trí tuệ, giải thoát
viên mãn không thiếu, chẳng phải dọc chẳng phải ngang, nên
gọi là tự tánh không sự. Lại nói: “Tu đại Niết-bàn
thấy biết pháp giới, hiểu rõ thật tướng, không vô sở
hữu, không có tướng hòa hợp hiểu biết”.
Lại
nữa, Đại Huệ! Niết-bàn là cảnh giới thánh trí tự giác,
lìa đoạn thường, vọng tưởng tánh, phi tánh. Thế nào là
phi thường? Nghĩa là tự tướng, cộng tướng, vọng tưởng
dứt nên phi thường. Thế nào là phi đoạn? Nghĩa là tất
cả thánh quá khứ vị lai hiện tại được tự giác nên phi
đoạn.
Kinh
Niết-bàn nói: “Niết-bàn không nhân mà thể là quả. Vì
cớ sao? Vì không sanh diệt, vì chẳng làm ra, vì chẳng phải
hữu vi, vì là vô vi, vì thường chẳng đổi, vì không chỗ
nơi, vì không thủy chung. Thiện nam tử! Nếu Niết-bàn có
nhân thì không được gọi là Niết-bàn. Vì không nhân nên
chẳng rơi vào thường, vì thể tự giác thánh trí nên chẳng
rơi vào đoạn. Lại Niết-bàn vô ngã, mà có tám thứ tự
tại gọi là đại ngã: Một là hay thị hiện một thân làm
vi trần thân. Hai là hay thị hiện một trần thân đầy cả
đại thiên giới. Ba hay dùng thân đầy cả đại thiên giới
nhẹ nhàng bay trong không. Bốn hay làm một việc mà khiến
chúng sanh mỗi mỗi xong xuôi, hoặc ở một cõi mà khiến cõi
khác đều thấy. Năm hay sáu căn hỗ dụng. Sáu hay được
tất cả pháp mà không sở đắc. Bảy nói tự tại. Tám đầy
khắp tất cả chỗ tự tại. Đây là cảnh giới đại bát
Niết-bàn tự giác của ba đời Như Lai”.
Đại
Huệ! Niết-bàn chẳng hoại chẳng tử. Nếu Niết-bàn tử,
lại phải thọ sanh tương tục. Nếu hoại lẽ ưng rơi vào
tướng hữu vi. Thế nên, Niết-bàn lìa hoại, lìa tử. Vì
thế nên là chỗ nương về của người tu hành.
Thế
Tôn thường bảo Ca-diếp rằng: “Ngươi không nên khởi nghĩ
tưởng này, bảo Như Lai tánh là diệt tận. Ca-diếp! Diệt
phiền não chẳng gọi là vật, vì hằng cứu kính thế nên
gọi là thường”. Lại nói: “Thí như thánh vương nghỉ
ở hậu cung, hoặc khi dạo chơi ở sau vườn, vua tuy chẳng
ở trong các thể nữ, không thể nói thánh vương mạng chung.
Như Lai cũng vậy, tuy không hiện trong cõi Diêm-phù-đề, vào
trong Niết-bàn, mà chẳng gọi vô thường. Như Lai ra khỏi
vô lượng phiền não vào nơi Niết-bàn an lạc, dạo vườn
hoa giác, hoan hỉ thọ vui”. Lại nói: “Nay ta sẽ khiến tất
cả chúng sanh và đem bốn bộ chúng con ta thảy đều an trú
trong kho bí mật. Ta cũng an trú trong ấy vào nơi Niết-bàn”
(Những đoạn này đều dẫn trong kinh Niết-bàn).
Lại
nữa, Đại Huệ! Niết-bàn chẳng phải xả, chẳng phải đắc,
chẳng phải đoạn, chẳng phải thường, chẳng phải một
nghĩa, chẳng phải nhiều nghĩa, ấy gọi là Niết-bàn.
Kinh
Niết-bàn nói: “Giải thoát gọi là không có chỗ khác. Thí
như có người chỉ ở trong cái nhà thanh tịnh thượng diệu,
lại không có chỗ khác”. Phàm không có chỗ khác là chẳng
phải xả vậy. Lại nói: “Giải thoát gọi là không thể
thủ. Như trái a-ma-lặc người có thể nắm giữ, giải thoát
không như vậy, không thể nắm giữ. Phàm không thể nắm giữ
là chẳng phải đắc”. Lại nói: “Giải thoát gọi là đoạn
tất cả pháp hữu vi, xuất sanh tất cả pháp vô lậu. Phàm
đoạn hữu vi là chẳng phải thường, sanh vô lậu thì chẳng
phải đoạn”. Lại nói: “Giải thoát gọi là không thể
lường, thí như biển cả không thể tính lường. Lại giải
thoát gọi là một vị, như sữa chỉ có một vị, giải thoát
cũng vậy, chỉ có một vị. Phàm không thể lường thì chẳng
phải một nghĩa, chỉ có một vị thì chẳng phải nhiều nghĩa”.
Đại
Huệ! Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác là giác được tự
tướng cộng tướng, cảnh giới chẳng tập cận, chẳng kiến
điên đảo, vọng tưởng chẳng sanh những vị kia đối trong
kia khởi tưởng Niết-bàn.
Thanh
văn, Duyên giác đối với bốn điên đảo khởi thấy chẳng
điên đảo, tưởng là Niết-bàn. Sao gọi là bốn điên đảo?
Nghĩa là chẳng biết Như Lai thường lạc ngã tịnh, cho nên
đối trong thường tưởng vô thường, đối trong lạc sanh
tưởng khổ, đối trong ngã sanh tưởng vô ngã, đối trong
tịnh sanh tưởng bất tịnh, ấy gọi là bốn đảo. Do bốn
điên đảo cho là chẳng điên đảo, nên có tu tập đều là
tác nhân, mà chẳng phải liễu nhân, nên không phải chân Niết-bàn.
Đại
Huệ! Hai thứ tướng tự tánh. Thế nào là hai? Nghĩa là ngôn
thuyết tự tánh tướng chấp trước, sự tự tánh tướng
chấp trước. Ngôn thuyết tự tánh tướng chấp trước là,
từ vô thủy ngôn thuyết hư ngụy tập khí chấp trước sanh.
Sự tự tánh tướng chấp trước là, từ bất giác tự tâm
hiện chừng ngằn sanh.
Ngôn
thuyết tập khí chấp trước là, như áo màu trắng nói là
trắng, áo màu đen nói là đen, cũng có cõi khác chẳng nói
trắng đen. Cho nên biết đều là từ vô thủy truyền tập
cho là quyết định trắng, quyết định đen. Sự tự tánh
chấp trước là như sắc tâm v.v… sanh diệt hiện tiền, hoặc
chấp có nhân hoặc chấp không nhân, đều do chẳng biết tự
tâm hiện ra vọng khởi tính xét. Hai tướng tự tánh này chính
là sở do pháp chấp của phàm phu và ngoại đạo, nên nói
lặp lại vậy.
8-
CHỈ THẦN LỰC DỰNG LẬP CHẲNG RƠI VÀO CÓ KHÔNG.
Lại
nữa, Đại Huệ! Như Lai dùng hai thứ thần lực kiến lập,
đại Bồ-tát đảnh lễ chư Phật nghe nhận hỏi nghĩa. Thế
nào là hai thứ thần lực kiến lập? Nghĩa là thần lực trong
tam-muội chánh thọ vì hiện tất cả thân mặt ngôn thuyết
và thần lực tay quán đảnh.
Đây
là Như Lai kiến lập hai thứ thần lực, gia trì người tu
hành trước sau hộ niệm, chẳng rơi vào lối tẽ. Trong thiền
định hiện thân mặt ngôn thuyết, đây là Sơ địa trụ.
Tay quán đảnh là đầy đủ thập địa được quán đảnh
trao ngôi vị. Nếu không có hai thứ thần lực, quyết định
chẳng thành tựu.
Đại
Huệ! Đại Bồ-tát khi được Sơ địa Bồ-tát trụ thần
lực Phật, nên nói nhập Bồ-tát đại thừa Chiếu minh tam-muội.
Nhập tam-muội này rồi mười phương thế giới tất cả chư
Phật dùng sức thần thông vì hiện tất cả thân mặt ngôn
thuyết, như đại Bồ-tát Kim Cang Tạng và các Bồ-tát khác,
tướng công đức như thế thành tựu đại Bồ-tát. Đại
Huệ! Ấy gọi là Sơ địa Bồ-tát.
Chiếu
minh tam-muội là, định Quang minh. Bồ-tát được nhập định
này do trụ thần lực. Bồ-tát Kim Cang Tạng trên hội Hoa Nghiêm
nương sức gia trì của Phật, cử một lệ nhiều vậy.
Đại
Bồ-tát được Bồ-tát tam-muội chánh thọ thần lực, ở
trăm ngàn kiếp chứa nhóm thiện căn được thành tựu tướng
thứ lớp các địa đối trị và sở trị thông đạt cứu
kính, đến Pháp vân địa trụ nơi cung điện Đại Liên hoa
vi diệu, ngồi tòa sư tử báu Đại Liên hoa, đồng hàng đại
Bồ-tát quyến thuộc vây quanh, các thứ báu anh lạc trang nghiêm
thân, như huỳnh kim, chiêm-bặc, nhật nguyệt quang minh. Các
bậc Tối thắng tử từ mười phương đến, đến ngồi trên
tòa trong cung điện Đại Liên hoa mà quán đảnh kia. Thí như
Chuyển luân thánh vương Tự Tại và thái tử của trời Đế-thích
quán đảnh (rót nước trên đầu để truyền ngôi), ấy gọi
là Bồ-tát tay quán đảnh thần lực. Đại Huệ! Đây gọi
là đại Bồ-tát hai thứ thần lực. Nếu đại Bồ-tát trụ
hai thứ thần lực này, diện kiến chư Phật Như Lai. Nếu
chẳng như thế thì không thể thấy.
Đây
nương Sơ địa, kế đến các địa nhẫn đến Thập địa
quán đảnh, đều là trụ thần lực của Phật.
Lại
nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát phàm có phân biệt hạnh các
pháp tam-muội thần túc, những vị ấy tất cả đều trụ
hai thứ thần lực của Như Lai. Đại Huệ! Nếu đại Bồ-tát
lìa thần lực của Phật hay biện thuyết thì tất cả phàm
phu cũng ưng biện thuyết. Vì cớ sao? Vì không trụ thần lực.
Đại Huệ! Núi đá cây cối và các thứ nhạc khí thành quách
cung điện, do sức oai thần của Như Lai khi nhập thành đều
tự nhiên phát ra tiếng âm nhạc, huống là hữu tâm, mù điếc
câm ngọng các khổ vô lượng đều được giải thoát. Như
Lai có vô lượng thần lực như thế… làm lợi ích an lạc
chúng sanh.
Nói
phàm phu ắt không thể biện thuyết, thấy Bồ-tát có nhạo
biện (nhạo thuyết biện tài) đều do trụ thần lực của
Phật. Lại đề ra vô tình dẫn đến hữu tình thần lực
rộng lớn bất khả tư nghì, song cũng là tự tâm hiện ra.
Một thể tròn khắp các loài hàm thức do tình sanh trí cách.
Bồ-tát
Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Do nhân duyên gì Như
Lai ứng cúng đẳng chánh giác, đại Bồ-tát khi trụ tam-muội
chánh thọ và khi thắng tiến địa quán đảnh, Phật gia trì
thần lực kia? Phật bảo Đại Huệ: Vì lìa ma nghiệp phiền
não và chẳng rơi vào thiền Thanh văn địa, vì được Như
Lai tự giác địa và vì tăng tiến pháp sở đắc. Thế nên,
Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác gồm dùng thần lực kiến
lập các vị đại Bồ-tát. Nếu không dùng thần lực kiến
lập ắt rơi vào ngoại đạo ác kiến vọng tưởng và các
Thanh văn chỗ hy vọng của chúng ma, không được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Vì lẽ ấy, chư Phật Như Lai đều
dùng thần lực nhiếp thọ chư đại Bồ-tát. Khi ấy, Thế
Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nói kệ rằng:
Thần lực Nhân trung tôn
Đại nguyện thảy thanh tịnh
Tam-ma-đề quán đảnh
Sơ địa và Thập địa.
Như
Lai gia trì cho người tu hành trước sau quá đủ, mà ngu phu
ngoại đạo không biết, tình chấp khó phá, trọn rơi vào
đường tà, cũng nên lẫn nhau răn nhắc.
9-
CHỈ CÁC PHÁP DUYÊN KHỞI ĐỂ HIỂN BÀY NGHĨA NHƯ LAI TẠNG
PHI NHÂN DUYÊN.
Bấy
giờ đại Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Phật
nói duyên khởi tức là nói nhân duyên, chẳng tự nói
đạo. Thế Tôn! Ngoại đạo cũng nói nhân duyên. Nghĩa là
thắng, tự tại, thời, vi trần sanh, như thế các tánh sanh.
Nhưng, Thế Tôn! Bảo là ngôn thuyết nhân duyên sanh các tánh,
hữu gián tất-đàn và vô gián tất-đàn (pháp thí).
Mười
hai nhân duyên từ vô minh khởi hành, vô minh là nhân, các hành
là quả. Hành là nhân thức là quả, đây là nhân duyên sanh
pháp. Ngoại đạo cũng nói từ nơi thắng tánh, tự tại, thời,
vi trần v.v… là nhân sanh tất cả pháp, nên nghi tất-đàn
vô gián. Gián là khác. Chẳng biết mười hai nhân duyên từ
vô minh bất giác, chẳng phải tác giả sanh, cũng chẳng phải
tự thể sanh, mà ngoại đạo vọng chấp là thắng tánh, nói
là tác giả hay sanh các pháp. Chẳng biết kia mê tự thể,
bèn lấy tự thể sở mê làm nhân các pháp, toàn thể đều
là thức, thức tánh hư vọng cũng tức là không nhân.
Thế
Tôn! Ngoại đạo cũng nói có, không là nhân có sanh, Thế Tôn
cũng nói không nhân có sanh, sanh rồi diệt. Như Thế Tôn đã
nói, vô minh duyên hành, cho đến lão tử. Đây là Thế Tôn
nói không nhân chẳng phải nói có nhân. Thế Tôn kiến lập
khởi nói như vầy: “Đây có nên kia có”, chẳng phải kiến
lập thứ lớp sanh. Xét ngoại đạo nói là thắng, chẳng phải
Như Lai. Vì cớ sao? Thế Tôn! Ngoại đạo nói nhân chẳng theo
duyên sanh mà có chỗ sanh. Thế Tôn nói quán nhân có quả,
quán quả có nhân, như thế nhân duyên tạp loạn, như thế
lần lượt không cùng.
Ngoại
đạo cho tác giả là sanh nhân, tức là vô nhân, bèn nghi Thế
Tôn nói bất giác vọng khởi, khởi rồi lại diệt cũng là
vô nhân. Đây có nên kia có, nghĩa là đây có vô minh nên kia
có các hành, lại nghi Thế Tôn chẳng kiến lập sanh nhân thứ
lớp mà khởi. Kia đây sanh nhau thì nhân duyên tạp loạn. Trái
lại chẳng bằng ngoại đạo nói tác giả rất thắng. Chẳng
biết thảy do bất giác dường như có sanh khởi, nhân thành
ra quả, quả lại khởi nhân, đều do vọng kiến thật không
có nghĩa sanh.
Phật
bảo Đại Huệ: Ta không phải nói vô nhân và nói nhân duyên
tạp loạn. Đây có nên kia có là năng nhiếp sở nhiếp phi
tánh, giác tự tâm hiện lượng. Đại Huệ! Nếu chấp trước
năng nhiếp sở nhiếp, không giác tự tâm hiện lượng, cảnh
giới bên ngoài là tánh phi tánh, kia có lỗi như thế, chớ
chẳng phải ta nói duyên khởi. Ta thường nói rằng nhân duyên
hòa hợp mà sanh các pháp chẳng phải vô nhân sanh.
Giác
tự tâm hiện lượng mới biết năng thủ sở thủ đều do
bất giác, vọng thấy có không, chẳng phải cảnh giới bên
ngoài thật có tự