|
c
KINH LĂNG-GIÀ TÂM
ẤN
Thiền
Sư Hàm Thị Sớ Giải
Thiền
Sư Thanh Từ Việt Dịch
II
- PHẦN CHÁNH TÔNG.
A-
Chỉ pháp môn đệ nhất nghĩa rộng lớn vi diệu lìa nói bặt
chứng
-Hỏi
một trăm lẻ tám câu.
Khi
ấy, Bồ-tát Đại Huệ nói kệ tán Phật rồi, tự trình danh
tánh, con tên là Đại Huệ thông đạt được đại thừa,
nay đem một trăm lẻ tám câu thưa hỏi bậc Tôn tối thượng
(Phật). Bồ-tát tự nói thông đạt đại thừa, vì muốn người
đương thời và kẻ hậu thế biết nghĩa hỏi ở đây đều
là chỗ thiết yếu của nhất thừa, chẳng phải nghĩa sai
biệt của các thừa.
Bậc
Thế gian giải (Phật) nghe kệ kia rồi, quán sát tất cả chúng,
bảo các phật tử rằng: “Phật tử các ông! Nay cho mặc
tình hỏi, ta sẽ vì các ông nói cảnh giới tự giác”.
Cảnh
giới tự giác là chỗ chứng của chư Phật trong mười phương
và ba đời. Trong bốn quyển lặp đi lặp lại xét rõ trọn
không ngoài ý này, nên trước vì nêu bày ra.
Khi
ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ nhân lời Phật đã nói, đảnh
lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính dùng kệ hỏi rằng:
Thế nào tịnh niệm kia?
Thế nào niệm tăng trưởng?
Thế nào thấy si hoặc,
Thế nào hoặc tăng trưởng?
Thế nào hóa tướng cõi
Và các chúng ngoại đạo?
Cớ sao không thọ thứ,
Vì sao gọi vô thọ?
Niệm
là vọng giác. Si hoặc là bất giác. Chân như không tánh bất
giác vọng động, kiến hoặc vừa sanh liền có vọng giác.
Muốn sạch vọng giác thì phải tìm tột chỗ khởi vọng giác.
Muốn ngộ bất giác thì cần xét cùng chỗ sanh bất giác.
Chừng ấy mới biết chân như không tánh là mật chỉ của
chư Phật, nên phải hỏi trước. Cõi tức là cõi nước. Hóa
tướng là tất cả tướng biến hóa trong lục đạo. Trước
nói ngoại đạo, sau đề ra Vô thọ, đó là muốn biện sự
sai biệt của tà chánh. Vô thọ là Mâu-ni tịch tĩnh, chẳng
thọ một pháp, lìa các tướng trạng. Thứ là thứ lớp các
địa. Kinh Kim Cang nói “do pháp vô vi mà có sai biệt”.
Cớ sao gọi phật tử ?
Giải thoát đến chỗ nào,
Ai phược ai giải thoát?
Những gì cảnh giới thiền?
Tại sao có ba thừa?
Cúi mong vì giải nói.
Duyên khởi chỗ nào sanh?
Thế nào tác, sở tác?
Thế nào đồng dị thuyết?
Thế nào là tăng trưởng?
Thế nào vô sắc định
Và cùng diệt chánh thọ
Thế nào là tưởng diệt?
Vì sao từ định giác,
Thế nào tạo tác sanh,
Tiến đi và giữ thân?
Thế nào hiện phân biệt?
Thế nào sanh các địa?
Câu
“giải thoát đến chỗ nào” là muốn hiển bày Mâu-ni tịch
tĩnh, không có phược và thoát; nên nói tiếp “ai phược
ai giải”. Nói không có giải có phược là, bởi mê ngộ
vọng thấy mà thôi. Cảnh giới thiền là chỉ các thiền định
của phàm thánh. Duyên khởi là pháp do nhân duyên sanh ra. Tác,
sở tác là nghiệp quả năng tác và sở tác. Đồng dị thuyết
là chỉ ngoại đạo tà thuyết. Tăng trưởng là nhân gì tăng
trưởng nhân quả trong tam giới? Vô sắc định là tứ không.
Diệt chánh thọ là diệt tận định. Tưởng diệt là vô tưởng
định. Từ định giác là hỏi Như Lai vì sao từ định mà
giác (ra) khởi các tác dụng, thị hiện thân có đi có đứng.
Hiện phân biệt là, hiện nói các thứ pháp sai biệt. Sanh
các địa là, kiến lập hành tướng các địa.
Ai người phá ba cõi
Ở đâu, thân thế nào,
Vãng sanh đến chỗ nào?
Thế nào Tối thắng tử?
Nhân gì được thần thông
Và tự tại tam-muội?
Thế nào tâm tam-muội?
Tối thắng vì con nói.
Phá ba cõi là, chỉ chung cho hàng Tam thừa ra khỏi tam giới.
Đã ra khỏi tam giới, trụ ở chỗ nào, thọ những thân gì,
vãng sanh đến chỗ nào. Nói thánh nhân tam thừa đồng ra khỏi
tam giới, song thân và cõi chẳng đồng, ứng và hóa mỗi vị
có khác. Tối thắng tử là chỉ chư Bồ-tát. Thần thông là
sáu pháp thần thông. Tam-muội dịch là chánh thọ (chánh định).
Tâm tam-muội là tâm trụ trong chánh định, cùng với pháp
chánh định đồng hay khác.
Thế nào gọi là tàng
Thế nào ý và thức?
Thế nào sanh cùng diệt
Thế nào thấy rồi hoàn?
Thế nào là chủng tánh
Phi chủng và tâm lượng?
Thế nào kiến lập tướng
Và cùng nghĩa phi ngã,
Thế nào không chúng sanh
Thế nào thế tục thuyết?
Tàng
là tàng thức. Ý là thức thứ bảy. Thức là thức thứ sáu
và năm thức trước. Sanh diệt là các căn thức hiện ra sanh
diệt. Thấy là thấy được cái sanh diệt. Hoàn là trở lại
cái không thấy. Đồng một tâm này mà có riêng biệt là tàng,
ý và thức. Rồi có khác là thấy sanh diệt và thấy chẳng
sanh diệt. Cái mê ngộ hư vọng này thảy đều không thể
có. Chủng tánh là tam thừa chủng tánh. Phi chủng là không
có chủng tánh, chỉ cho ngoại đạo và chúng xiển-đề. Tâm
lượng là đồng một tâm mà mỗi cái có chừng lượng vậy.
Kiến lập tướng là tướng ngã. Nghĩa phi ngã là tướng vô
ngã. Chúng sanh là nói khác của tướng ngã. Tức là đối
với ngã và pháp vốn không có chúng sanh, mà đối với thế
tục nói có đó là sao?
Thế nào là đoạn kiến
Và thường kiến chẳng sanh?
Tại sao Phật, ngoại đạo
Tướng đó chẳng trái nhau?
Thế nào đời sau này
Có các thứ bộ khác?
Thế nào không, tại sao?
Thế nào hoại sát-na?
Đoạn
và thường đều là tà kiến của ngoại đạo. Kiến chẳng
sanh là chẳng sanh hai kiến chấp này, tức là chánh pháp Như
Lai. Phật cùng ngoại đạo tướng chẳng trái nhau là, gồm
vào một tâm bình đẳng mà nói vậy. Bộ khác là, sau khi Phật
diệt độ đệ tử kiết tập kinh bộ mỗi phần có khác.
Nói một tâm bình đẳng, Phật cùng ngoại đạo không khác,
mà đệ tử trong pháp của Phật trở lại thấy có khác, là
sao? Không là các pháp tánh không. Hiện thấy các pháp mà nói
không đó là sao? Sát-na là niệm rất vi tế. Niệm niệm chẳng
dừng, sát-na chẳng trụ, không phải chỗ biết của người
vô trí.
Thế nào thai tàng sanh?
Thế nào thế bất động?
Nhân gì như huyễn mộng
Và thành càn-thát-bà
Thế gian thấy sóng nắng
Cùng bóng trăng đáy nước?
Bởi đâu nói giác chi
Và cùng bồ-đề phần?
Thế nào quốc độ loạn?
Thế nào khởi thấy có?
Thai
tàng sanh là thân phần đoạn sanh tử của chúng sanh. Thế
bất động là cõi nước hằng dời đổi mà chân tánh vẫn
thường trụ. Huyễn, mộng, thành càn-thát-bà, sóng nắng,
trăng đáy nước, thảy đều dụ cho chúng sanh cùng thế giới
không thật. Nhân gì như, ấy là chúng sanh sanh tử thế giới
đổi dời, rõ ràng hiện tiền, mà nói như mộng huyễn…
ai sẽ giác biết? Giác chi, bồ-đề đều chỉ cho chánh trí,
tức là giác ngộ thế gian mộng huyễn. Quốc độ loạn là
quốc độ dời đổi. Khởi thấy có là, quốc độ dời đổi
mà chúng sanh vô trí vọng thấy thật có. Sao mà giác mê xa
nhau lắm vậy?
Thế nào chẳng sanh diệt
Thế như hoa trong không?
Thế nào giác thế gian?
Thế nào nói lìa tự (văn tự)?
Lìa vọng tưởng là ai?
Thế nào ví hư không?
Có mấy thứ như thật?
Mấy tâm ba-la-mật?
Nhân đâu qua các địa?
Ai đến không chỗ thọ?
Chẳng
sanh diệt, hoa trong không, đều chỉ thế gian mà nói. Thế
gian vốn chẳng sanh diệt mà dối thấy sanh diệt. Vốn như
hoa trong không mà dối thấy thật có. Thế là phải đợi đến
khi giác ngộ mới thấy. Giác thế gian là giác thế gian này
chẳng sanh diệt như hoa trong không. Đã giác thế gian liền
rõ như huyễn, chẳng rơi vào có không, không phải nói năng
có thể đến, nên nói lìa văn tự. Nói năng đã lìa thì phân
biệt liền dứt. Tất cả pháp ví như hư không, thấy cội
gốc thật tướng được đến bờ kia. Trải khắp các địa
đến nơi vô thọ. Đây có thể thứ lớp chứng biết, mà
vì muốn Thế Tôn hiển bày rành rẽ. Có mấy thứ như thật
là, chứng được chân như hàng tam thừa có mấy hạng sai
biệt. Mấy tâm ba-la-mật là, được qua sanh tử cũng phân
có tam thừa.
Những gì hai vô ngã?
Thế nào tịnh sở tri?
Các trí có mấy thứ?
Mấy thứ giới chúng sanh?
Ai sanh các tánh báu,
Chân châu ma-ni thảy?
Ai sanh các ngữ ngôn?
Chúng sanh các thứ tánh?
Trong
hai thứ vô ngã, pháp vô ngã rất vi tế, nên lặp lại nói
sở tri. Sở tri là sở tri chướng, thuộc về pháp chấp. Trí
có căn bản trí, sai biệt trí. Giới có giới Tỳ-kheo, giới
Bồ-tát. Ma-ni là tánh báu thuộc khí thế gian (thế giới).
Ngữ ngôn là chủng tánh thuộc về chúng sanh thế gian (chúng
sanh). Trong lời hỏi, hoặc hỏi khí thế gian, hoặc hỏi chúng
sanh thế gian, hoặc hỏi xuất thế gian, hoặc Phật, hoặc
đệ tử Phật, hoặc ngu, hoặc ngoại đạo, trước sau không
nhất định, một lúc lẫn lộn chẳng cần chia loại, chỉ
tùy lời nói nhận được nghĩa thôi. Cần biết thảy từ
một chân pháp giới, vọng thấy có sai biệt, như huyễn không
thể nghĩ bàn.
Minh xứ và kỹ thuật.
Người nào đã hiển bày?
Già-đà có mấy thứ,
Trường tụng và đoản cú?
Có mấy thứ lý luận,
Thế nào gọi là luận?
Tại sao sanh ăn uống?
Và sanh các ái dục?
Thế nào gọi là vua
Chuyển luân và tiểu vương?
Thế nào thủ hộ quốc
Chư thiên có mấy thứ?
Thế nào gọi đại địa
Tinh tú và nhật nguyệt?
Người tu hành giải thoát
Mỗi bậc có mấy thứ?
Đệ tử có mấy thứ?
Sao là A-xà-lê?
Phật lại có mấy bậc,
Lại có mấy bản sanh?
Minh
xứ là ngũ minh: 1) Thanh Minh, 2) Công xảo minh, 3) Y phương minh,
4) Nhân minh là khảo đính tà chánh, 5) Nội minh nói rành rẽ
về năm thừa. Ba minh trước là ngoại luận. Hai minh sau thuộc
nội luận (nội điển). Già-đà dịch là kệ. Trường tụng
đoản cú đều là kinh nói. Lý là lý nói ra. Luận là riêng
giải thích nội điển và ngoại điển. Đây là hỏi nói pháp
phải có bao nhiêu thứ. Ăn uống, ái dục, vua, chư thiên, đại
địa, tinh tú, nhật, nguyệt, tổng hỏi về danh tướng hai
thứ thế gian chúng sanh và thế giới. Tu hành, đệ tử, Xà-lê,
Phật, bản sanh là danh tướng sai biệt của xuất thế gian.
Tu hành là thông tam thừa. Đệ tử là gồm Bồ-tát và Thanh
văn. Xà-lê dịch là quỹ phạm (mẫu mực). Có năm thứ quỹ
phạm. Bản sanh là Như Lai nhiều đời tu hành cho đếân thành
Phật, những việc hiện sanh.
Ma và các ngoại đạo
Kia mỗi loại mấy thứ?
Tự tánh và cùng tâm
Mỗi cái bao nhiêu thứ?
Thế nào thi thiết lượng?
Cúi mong Tối thắng nói
Thế nào không, gió, mây?
Thế nào niệm thông minh?
Thế nào là rừng cây,
Thế nào là cỏ rậm?
Thế nào voi, ngựa, nai,
Thế nào là bắt lấy?
Thế nào là thấp hèn,
Nhân gì mà thấp hèn,
Thế nào nhiếp lục tiết?
Thế nào nhất-xiển-đề?
Nam nữ và hoàng môn
Đây đều nhân đâu sanh?
Tánh
cùng tâm đều chỉ cho căn dục của chúng sanh. Thi thiết lượng
là tâm tánh chừøng lượng giả vì thi thiết. Niệm thông
minh là thế trí biện thông. Nhiếp lục tiết là ở Tây vức
cho hai tháng làm một tiết, một năm phân làm sáu tiết. Nhất-xiển
dịch là tín. Đề dịch là bất cụ. Nghĩa là lòng tin chẳng
đủ. Đây cũng là hỏi danh tướng sai biệt của chúng sanh
và khí thế gian.
Thế nào tu hành thối?
Thế nào tu hành sanh?
Thiền sư dùng pháp gì,
Kiến lập những người nào?
Chúng sanh sanh các cõi
Tướng gì và loại gì?
Tu
hành có tiến có thối. Sanh tức là tiến. Pháp của thiền
có đốn tiệm chẳng đồng. Bởi căn cơ người lớn nhỏ
chẳng phải một. Đây là sự sai biệt của xuất thế gian.
Các cõi là sáu đạo và bốn sanh. Tướng loại là tướng
loại của các cõi. Chúng sanh thế gian huyễn vọng tự chia
nhiều lối.
Thế nào là tài phú,
Nhân gì được tài phú?
Thế nào là Thích chủng,
Nhân gì có Thích chủng,
Thế nào dòng Cam Giá?
Vô thượng tôn xin nói.
Thế nào trường khổ tiên,
Kia dạy bảo những gì?
Như Lai tại vì sao,
Hiện tất cả thời, cõi,
Các thứ loại danh sắc,
Tối thắng tử vây quanh?
Tại sao chẳng ăn thịt,
Tại sao cấm ăn thịt,
Ăn thịt bao chủng loại,
Nhân gì nên ăn thịt?
Đây
vẫn hỏi sự sai biệt của thế và xuất thế gian. Thích chủng,
dòng Cam Giá, bởi quá khứ rất xa, khi ấy có một Bồ-tát
làm thái tử trong nước, nhường ngôi cho em đi tu, theo học
với Cù-đàm Bà-la-môn liền đổi họ làm Cù-đàm. Sau trở
về ngoài thành ở tinh xá tại vườn Cam Giá, bị nạn giặc
bắt làm thương tổn, máu chảy đầy đất. Đại Cù-đàm
dùng thiên nhãn xem thấy, dùng thần túc đến vườn Cam Giá,
lấy máu đựng trong hai cái bình để bên phải bên trái. Chúc
rằng: Đạo sĩ này nếu tâm chí thành sẽ khiến máu biến
thành người. Mười tháng sau, hai cái bình đựng máu một
biến thành người nam, một biến thành nữ, bèn thành dòng
Cam Giá. Về sau thứ phi vua Ý Ma sanh bốn con được chánh hậu
khen ngợi. Vua đuổi bốn con ra khỏi nước ở trên núi Tuyết
trong rừng Trực thọ. Mẹ bốn vị ấy tìm đến, vì mỗi
người lập gia đình cho đều được xong xuôi. Vua nghe tin
này rất vui vẻ, nói rằng: Đây thật là Thích tử, khéo tự
lập tự tồn, nhân đó gọi là Thích. Thích dịch là năng,
nghĩa là có tài năng. Người con thứ tư tên Trang Nghiêm
tức là tổ tiên vua Bạch Tịnh. Tất cả thời cõi là tất
cả thời, tất cả cõi, tùy loại khắp hiện.
Thế nào hình nhật nguyệt,
Tu-di và Liên Hoa,
Cõi Sư tử thắng tướng,
Thế giới nghiêng, đứng, úp,
Như lưới trời Đế Thích,
Hoặc thảy đều trân bảo,
Như đàn, trống lưng eo,
Dáng tợ các loại hoa,
Hoặc lìa sáng nhật nguyệt.
Như thế thảy vô lượng?
Tu-di
là núi Diệu cao, trùm bốn thiên hạ làm một thế giới. Liên
hoa là thế giới Liên hoa tạng. Sư tử là thế giới đẹp
nhất trong các thế giới. Thế giới có cái nghiêng, có cái
úp, gồm các thế giới đẹp và xấu như lưới trời
Đế Thích. Vì lưới trời Đế Thích có một ngàn hạt châu,
mỗi hạt châu chiếu sáng xen nhau, ý nói vô tận. Nhật nguyệt,
cây đàn, trống lưng eo, hoa trái đều là diễn tả hình tướng
của thế giới. Trân bảo là có thế giới do trân bảo làm
thành. Lìa sáng nhật nguyệt là thế giới Vô Cấu Quang Minh,
chẳng nhờ ánh sáng nhật, nguyệt.
Thế nào là hóa Phật?
Thế nào báo sanh Phật?
Thế nào như như Phật?
Thế nào trí tuệ Phật?
Tại sao ở Dục giới ,
Chẳng thành Đẳng Chánh Giác?
Vì sao Sắc cứu kính,
Lìa dục được bồ-đề?
Thiện thệ vào Niết-bàn
Ai người giữ chánh pháp?
Thầy trời trụ bao lâu?
Chánh pháp trụ chừng nào?
Tất-đàn cùng với kiến
Mỗi loại bao nhiêu thứ?
Phần Tỳ-ni Tỳ-kheo
Thế nào nhân duyên gì?
Các Tối thắng tử kia
Duyên Giác và Thanh văn
Nhân gì trăm biến dịch?
Thế nào trăm vô thọ?
Hoá
Phật là hóa thân trăm ngàn muôn ức, đây là tùy loại hóa
hiện. Đại hóa là thân ngàn trượng Lô-xá-na vì hàng Bồ-tát
thập địa mà hiện, cũng gọi là tha báo thân. Như như, trí
tuệ đều chỉ cho pháp thân. Như như là bản giác, trí tuệ
là thủy giác. Đây là tự báo,vì thủy giác bản giác hiệp
một, lý và trí cả hai đều dung thông. Lô-xá-na trên cõi
trời Sắc cứu kính được đạo bồ-đề, chớ không ở Dục
giới. Đó là vì thị hiện lìa dục được thanh tịnh. Ai
người giữ chánh pháp là những căn dục nào mới kham truyền
giữ chánh pháp. Chư Phật ở đời, chánh pháp ở đời mỗi
phần đều có nhân duyên gần xa và tự tha. Tất là khắp.
Đàn là thí. Kiến là chỉ căn cơ bị giáo hóa. Nghĩa là Như
Lai đem giáo pháp khắp thí cho các căn cơ chúng sanh kia, cộng
lại có bốn thứ:
Thế giới tất-đàn là được lợi ích hoan hỷ.
Đối trị tất-đàn là được lợi ích diệt ác.
3- Vị nhân tất-đàn là được lợi ích sanh các pháp lành.
4- Đệ nhất nghĩa tất-đàn là được lợi ích ngộ
lý.
Tỳ-ni
dịch là luật, Tỳ-kheo là người trì luật. Nhân duyên là
nhân duyên kiết giới. Trăm biến dịch, trăm vô thọ, đây
là nói sự sai biệt của Bồ-tát, Duyên giác và Thanh văn.
Biến dịch là biến dịch sanh tử, vì chưa đến quả vị
Phật vẫn còn ở phương tiện đổi thân thô thành thân diệu.
Vô thọ là Vô dư Niết-bàn, người hàng Tam thừa đều chứng.
Thế nào là thế tục thông?
Thế nào xuất thế gian?
Thế nào là thất địa?
Cúi mong vì diễn nói.
Tăng già có mấy loại?
Thế nào là hoại tăng?
Thế nào luận y phương,
Ấy lại nhân duyên gì?
Bậc
Bồ-tát Ngũ địa vào thế tục lợi sanh gọi là thế gian
thông. Đến hàng Thất địa nhân sanh đều hết mới gọi
là xuất thế. Tăng có Đại thừa và Nhị thừa. Hoại tăng
là phá luật phá kiến vậy. Phật dụ lương y, để nói Như
Lai tùy duyên hóa hiện, hợp bệnh cho thuốc, như lương y thế
gian.
Cớ gì đại Mâu-ni
Nói lên như thế này:
Ca-diếp, Câu-lưu-tôn
Câu-na-hàm là ta?
Cớ sao nói đoạn thường
Và cùng ngã vô ngã?
Sao không tất cả thời
Diễn nói nghĩa chân thật
Mà lại vì chúng sanh
Phân biệt nói tâm lượng?
Nhân đâu rừng nam nữ
Ha-lê, A-ma-lặc,
Kê-la và Thiết Vi,
Kim Cang thảy các núi
Vô lượng bảo trang nghiêm
Tiên Đạt-bà đầy dẫy?
Ca-diếp,
Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm là ta, nghĩa là xưa nay tự tha không
có tướng một hai, đó là lời nói chân thật. Mà lại nói
thường nói đoạn, nói ngã nói vô ngã, rộng vì chúng sanh
phân biệt nói tâm lượng, đều vì căn có đại tiểu, pháp
có tà chánh. Đoạn, thường, ngã đều chỉ cho ngoại đạo.
Vô ngã chỉ cho Nhị thừa. Rừng nam nữ tức là rừng Thi-đà,
rừng này cây sanh trái dáng giống như nam nữ. Ha-lê, A-ma-lặc
là tên hai thứ trái cây. Đây tức là cây trái hiện tiền.
Suy ra đến các núi Kê-la, Thiết Vi, Kim Cang có vô lượng trang
nghiêm, tất cả tiên thần đều đầy dẫy trong ấy. Tột
trong chỗ thấy nghe và ngoài chỗ thấy nghe do nhân gì mà có,
trọn gọi là gì? Chỗ này không thể dùng tâm ý mà hiểu
được. Mới biết một trăm lẻ tám câu cùng tột thế gian
và xuất thế. Song chẳng ngoài năm pháp, ba tự tánh, tám thức
và hai vô ngã. Bỗng nhiên gõ thẳng cửa chân. Bất chợt chỉ
điểm tục đế dường như không thứ lớp, đều tự tâm
hiện ra. Cảnh giới như huyễn bất tư nghì không có cạn
sâu thì đâu phân khó dễ, chỉ chứng mới biết.

|