|
c
KINH LĂNG-GIÀ TÂM
ẤN
Thiền
Sư Hàm Thị Sớ Giải
Thiền
Sư Thanh Từ Việt Dịch
I-PHẦN
TỰ:
A-DUYÊN
KHỞI CỦA KINH:
Tôi
nghe như vầy, một hôm Phật ở trên đảnh núi Lăng-già tại
bờ biển Nam, dùng các thứ hoa báu trang nghiêm, cùng với các
vị đại tỳ-kheo tăng và chúng đại Bồ-tát câu hội. Chúng
đại Bồ-tát ấy ở các cõi Phật khác đến. Các ngài có
sức tự tại vô lượng chánh định và thần thông du hý,
đại Bồ-tát Đại Huệ làm thượng thủ. Các ngài đã được
tất cả chư Phật làm phép quán đảnh, và khéo hiểu nghĩa
cảnh giới tự tâm hiện, các loại chúng sanh, các thứ tâm
sắc, vô lượng độ môn, tùy loại khắp hiện. Đối với
năm pháp, ba tự tánh, tám thức và hai thứ vô ngã, các ngài
đã thông đạt cứu kính.
Trên
hội Niết-bàn, ngài A-nan hỏi Phật: Khi kết tập các kinh,
lấy câu nào để đầu? Phật dạy: Phải dùng câu “Tôi nghe
như vầy, một hôm Phật ở…” làm thông lệ cho các kinh.
Kinh này Phật chỉ thẳng cho chúng sanh căn thân khí giới hiện
tiền đều duy tâm hiện, như mộng như huyễn chẳng phải
có chẳng phải không. Một niệm bất giác muôn pháp này đồng
hiện. Chính nơi đó mà phát minh thì chỉ một tâm không có
gì khác. Đây là cảnh giới bất tư nghì của chư Phật, Bồ-tát,
không phải chỗ biết của hàng nhị thừa và ngoại đạo.
Cho nên những vị đương cơ cùng chư đại Bồ-tát đồng
đến trong hội, đều được chánh định tự tại và thần
thông du hý, khéo hiểu tất cả cảnh giới tự tâm hiện.
Các ngài tùy các thứ tâm sắc của chúng sanh lập bày phương
tiện để độ thoát, và thông đạt cứu kính năm pháp, ba
tự tánh, tám thức, hai vô ngã. Các ngài đủ khả năng thọ
nhận đệ nhất liễu nghĩa của Như Lai, không rơi vào lưới
nghi, không bị tất cả ngoại đạo, Nhị thừa làm hoặc loạn.
Những vị đại tỳ-kheo chung hợp trong hội này đều là hàng
Nhất thừa hóa hiện, không đồng với hàng định tánh Thanh
văn, chẳng kham phát tâm Đại thừa. Cho nên phần duyên khởi
này cùng với yếu chỉ Duy tâm của bản kinh phù hợp nhau
hiển bày.
B-
ĐƯƠNG CƠ KỆ TÁN
Khi
ấy, Bồ-tát Đại Huệ cùng Bồ-tát Ma-đế hợp nhau dạo
tất cả cõi nước chư Phật, nương thần lực của Phật
từ tòa đứng dậy, bày vai áo mặt, quỳ gối mặt xuống
đất, chắp tay cung kính dùng kệ tán thán Phật:
Cõi
nước chư Phật tức là cõi nước chúng sanh. Những vị Bồ-tát
này hay chính chỗ nhật dụng của chúng sanh mà thông đạt
cảnh giới Phật. Bảo rằng “Thấy tất cả sắc đều là
sắc Phật, nghe tất cả tiếng đều là tiếng Phật, dạo
tất cả cõi nước đều là cõi nước chư Phật”. Do đó
các Ngài trên nương thần lực chư Phật, dưới vì trong hội
chúng phát lời tán thán. Những lời tán thán Phật đều hàm
súc ý nghĩa kinh, không có chỉ thú riêng.
Thế gian lìa sanh diệt
Ví như hoa hư không,
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Tất cả pháp như huyễn
Xa lìa nơi tâm thức,
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Xa lìa chấp đoạn thường
Thế gian hằng như mộng,
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
“Thế
gian như không hoa, tất cả pháp như huyễn, thế gian hằng
như mộng”, những câu này là tức nơi nhật dụng của chúng
sanh liền thấy cảnh giới bất tư nghì của Như Lai, chẳng
phải do dụng công quán chiếu của trí khiến nó thành có
hay thành không. Như Lai thương xót các chúng sanh này không
thể tự giác, luống theo tâm thức vọng chấp đoạn, thường.
Ngài khởi đại bi lập bày phương tiện để độ thoát. Bồ-tát
thâm hiểu được ý này, cho nên trong lời tán Phật riêng
bày chỉ thú toàn kinh. Đây là “khéo hiểu nghĩa cảnh giới
tùy tâm hiện” ấy vậy.
Biết nhân pháp vô ngã
Phiền não và sở tri (nhĩ diệm)
Thường thanh tịnh không tướng
Mà khởi tâm đại bi.
Phàm
phu chấp trong thân ngũ ấm là ngã nên phiền não y đó mà
khởi. Nhị thừa quán ngũ ấm vô ngã mà cái sở tri chưa quên.
Cả hai đều thuộc về mê, không phải có cạn sâu vậy. Ở
đây nói “nhân pháp vô ngã, phiền não sở tri thường tự
thanh tịnh” đều là lời tán Phật. Song cũng chỉ rõ phàm
phu Nhị thừa ngay đó toàn không, bởi do bất giác vọng thấy
lưu chuyển. Như Lai biết rõ nên khởi đại bi độ thoát.
Tuy không có chúng sanh được diệt độ, mà mười câu vô
tận bản nguyện sâu rộng vậy. Xét theo Tam tế:
Y bất giác tâm động gọi là Nghiệp tướng.
Y tâm động khởi năng kiến gọi là Chuyển tướng.
Y năng kiến mà cảnh giới vọng hiện gọi là Hiện tướng.
Ba
thứ này, thuộc về thức thứ tám, là cái tập
khí hư ngụy từ vô thủy. Sau y Hiện tướng đối cảnh phân
biệt thành Lục thô.
Trí
tướng tức pháp chấp câu sanh.
Y
trí khởi niệm chẳng dứt gọi Tương tục tướng là pháp
chấp phân biệt. Hai cái pháp ngã (chấp) này, tuy thuộc thức
thứ bảy, song cội gốc nó thật khó thấy. Vì nó y bất giác
mà khởi nên rất vi tế. Đến hàng Thập nhất địa (Đẳng
giác) vẫn có hai phần sở tri ngu, cho nên không phải chỗ
Nhị thừa thấy được. Chữ sở tri tức là nhĩ diệm vậy.
Y
niệm khởi chấp gọi Chấp thủ tướng, là nhân chấp câu
sanh.
Y
chấp khởi kế (tính toán) gọi Kế danh tự tướng, là nhân
chấp phân biệt. Hai cái nhân ngã (chấp) này, khởi ra tất
cả cội gốc phiền não, cũng thuộc về thức thứ bảy. Song
vì y cảnh phân biệt làm chỗ chấp giữ, nên hàng Nhị thừa
quán nhân vô ngã cũng hay đoạn được mà pháp ngã của thức
thứ bảy chẳng đoạn. Ngài Huyền Trang cho phân biệt thuộc
thức thứ sáu, câu sanh thuộc thức thứ bảy. Song ở đây
xét về nguyên do sanh khởi nên nói chung là thức thứ bảy.
Y hoặc tạo nghiệp gọi Khởi nghiệp tướng.
Y nghiệp chiêu báo gọi Khổ hệ tướng.
Hai
phần này thuộc về trời người. Nhưng tóm kết Tam tế và
Lục thô thảy đều do bất giác. Nếu giác thì hoàn toàn không,
nên nói “thường thanh tịnh không tướng”.
Tất cả không Niết-bàn
Không Niết-bàn của Phật
Không có Phật Niết-bàn
Xa lìa giác, sở giác
Hoặc có hoặc không có
Cả hai thảy đều lìa.
Bốn
bài kệ trước nói chỗ nhật dụng của chúng sanh thảy là
cảnh giới của Như Lai. Bài kệ này nói Như Lai Niết-bàn
chẳng khác với chúng sanh sanh tử, nên nói “tất cả không
Niết-bàn”. Nếu có Niết-bàn thì đâu không sanh tử; đã
có sanh tử tức có chúng sanh sanh tử và có chúng sanh vào
sanh tử. Có chúng sanh sanh tử tức là có Phật Niết-bàn.
Có chúng sanh vào sanh tử tức có Phật vào Niết-bàn. Thế
là cái năng giác và sở giác rõ ràng thành đối đãi. Đâu
biết rằng tất cả chúng sanh đã vào Niết-bàn, chẳng cần
lại Niết-bàn. Như Lai thấy rõ nên hay tùy thuận bản tế,
sanh tử Niết-bàn đều như mộng huyễn. Đã tuyệt tâm năng,
sở thì không rơi vào cái thấy có, không. Bậc Vô thượng
chánh chân không thể đem trọn sự suy xét so lường đến
được.
Quán Mâu-ni tịch tĩnh
Thế là xa lìa sanh
Ấy gọi là chẳng thủ
Đời này đời sau tịnh.
Pháp
thân không tánh không sanh, chẳng phải tâm chẳng phải thức,
đây là Mâu-ni tịch tĩnh, chóng lìa tất cả kiến, tướng
sanh diệt. Nếu khởi cái quán này, trong một sát-na các chấp
đều đoạn. Liền đó mắt mình mở rộng thẳng đến vị
lai tự nhiên tịnh niệm tương tục. Đó là chỗ Lục tổ
nói “niệm trước chẳng sanh, niệm sau chẳng diệt” vậy.
Nhân lời tán Phật này để chỉ cho người phải để mắt
nơi đây.

|