|
c
KINH LĂNG-GIÀ TÂM
ẤN
Thiền
Sư Hàm Thị Sớ Giải
Thiền
Sư Thanh Từ Việt Dịch
PHẨM
NHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM
Tánh
của pháp giới vốn không có ngộ mê, các loài hàm thức tự
phân chân vọng. Chân vọng vốn nơi một tâm, mê ngộ bày
ra muôn pháp. Pháp không có pháp khác mà dường như các pháp
hiện tiền. Tâm không có tâm khác mà rõ ràng thành thức tương
tục. Nguyên nhân chỗ tột chân mà bất giác, vọng động
nên tưởng sanh. Đạt vọng vốn chân, biết chân thì tưởng
diệt. Thế nên mười hai loài chúng sanh vốn là Phật mà dối
thấy có lưu chuyển. Ba mươi hai tướng hiện sẵn trong tướng
phàm phu mà trở thành điên đảo. Cho nên, Thế Tôn đại giác
của chúng ta mới cổi chiếc áo quý báu, mà mặc chiếc áo
nhơ rách. Chỉ nơi chân tế (mé thật) là vô minh, nói như
huyễn là hư ngụy. Căn thân và khí giới đều tùy tình lượng
mà phân chia. Cõi Phật và ứng thân đều y nơi trí chiếu
mà có sai biệt. Như gương sáng tùy vật mà hiện hình đẹp
xấu. Cái rỗng sáng vô tướng vốn là lặng lẽ. Ví như mặt
trăng tùy người mà có đi lại, chỉ người tự thấy, ánh
sáng vằng vặc treo giữa hư không vẫn không khuyết. Đến
hình đẹp xấu để bàn về ánh sáng của gương, căn cứ
nơi người đi lại để xem thể mặt trăng, thảy đều do
con mắt bệnh. Đây là chỗ thánh trí không cho im lặng vậy.
Cái
rỗng sáng vô tướng đâu cho nói bàn, chỉ nói chẳng phải
đẹp chẳng phải xấu. Ánh sáng vằng vặïc treo giữa hư
không, không cần chỉ bày, chỉ nói không phải đi không phải
đến. Mong chạm mắt để ngộ tâm, chỉ sợ bỏ mặt trăng
mà nhìn ngón tay. Nhân xấu mà chỉ ra đẹp, tức nơi đến
mà nói đi. Xét tột ánh sáng gương tìm không ra tướng xấu
thì tướng đẹp làm sao có đối đãi? Tìm cùng cái thể của
mặt trăng không có dấu đến thì đi làm gì có? Đẹp xấu
đều là vọng, thể gương vốn không, đến đi thảy dối,
chất mặt trăng vẫn sáng.
Vì
thế, một trăm lẻ tám câu bặt dứt nói năng, ngay đó để
phát minh nghĩa gì? Tám thứ thức xét cùng là sanh diệt, từ
vô thủy nó là hư dối không phải nhân. Chân trí vốn không
phân biệt bèn trở thành tâm bất giác. Vì cái bản tịch
chẳng giữ linh nguyên mà biến thành thức vọng động. Tâm
chẳng sanh thức, hằng Niết-bàn mà ở trong lưu chú (thức
lưu chú). Thức chẳng lìa tâm, luống sanh tử mà ở trong thường
trụ (Niết-bàn). Một phen con mắt bệnh thì ngàn hoa đốm
rối loạn trong hư không. Một phen vọng che tâm thì các tình
lượng đóng cửa trí. Bệnh hết con mắt vẫn còn, hoa đốm
sạch hư không vẫn trong. Vọng sạch thì tâm tròn, tình mất
thì trí sáng.
Nếu
như trí bị bít trong cửa tình thì toàn trí đều là tình.
Tâm mờ mịt trong biển thức tức toàn tâm là thức. Sức
huân biến không thể nghĩ bàn, mé thật sanh tử thật khó
biết. Nếu các thứ hư vọng mà có nhân để nương thì sự
tương tục của căn và thức đâu có thể dừng. Nếu chẳng
chuyển lại cái chân thức kia, ắt sanh chấp lầm là sanh nhân.
Thức lưu chú bởi mê nên có nhãn thức, sắc trần, ánh sáng
chung hợp. Nếu chấp tánh thắng diệu cho là thức, có khác
gì kẻ ngu tìm lông rùa, ép cát lấy dầu. Vọng chấp có không
nhân quả thành rỗng. Thảy do chẳng rõ được hiện tiền
bèn cho là riêng có. Cũng bởi chưa từng thấy chỗ tột cùng
mới lầm chấp là minh sơ.
Do
tâm không có mé trước, phàm có hiện ra đều bởi mê mà
sanh. Thức không có duyên sau, chỉ rõ được tướng ban đầu
thì thảy đồng huyễn hóa. Chán sanh ưa lặng, diệt các thứ
nhiếp thọ, liền thấy chỗ chung cục của cảnh giới. Bỏ
vọng chứng chân, đã thành đối trị, cũng chưa rõ đầu
mối sanh diệt. Bởi lẽ ngộ không có sai biệt, mà mê có
cạn sâu. Tâm không có đồng khác mà thức có ranh vực. Thế
nên biển tàng thức khó lường, giác tâm thì thường trụ.
Sanh tử và Niết-bàn không có người tạo, dựng lập phàm
thánh chỉ là cái bóng rỗng. Chỗ hiện của vọng tưởng,
chỗ hành của thánh trí, căn trần tâm thức đều chẳng lìa
nhất chân, mà bờ mé mê ngộ thường xa. Trên tánh chân như
tình tưởng mỗi cái có khác, ấy là lý do thăng trầm trong
sáu thú. Trong pháp vô vi trí và hạnh có nhiều đường, nhân
đó mà tứ thánh có cao thấp.
Thức
thứ tám chỉ có lỗi mê, nên sóng mòi nổi dậy, song tánh
ướt trong biển vẫn thường còn. Bảy chuyển thức vốn không
có nhân chân thật, tuy lóng trong yên lặng mà dòng tinh trạm
(thức thứ tám) sức nó chưa dừng. Cho nên cái tinh trạm hợp
chẳng lìa mé thức, đây càng thấy rõ bởi do xúc mà sanh
thọ. Toàn sóng là nước, vì chỉ cho kẻ ngu nên dùng môn
bất nhị. Lý chân thật thì lìa ngôn ngữ, chính là chỗ tự
ngộ của người tiến tu. Tột cùng bi trí tròn đầy ba tướng
(giải thoát, ly, diệt) nơi nguồn giác. Trừ sạch thức hiện
lưu vượt khỏi ngũ pháp (danh, tướng, phân biệt, chánh trí,
như như ) ra ngoài chỗ nghĩ bàn.
Kẻ
bỏ tự tông (tâm) này liền rơi vào tà kiến. Chẳng rõ tự
tâm hiện ra, dối nói có sanh nhân (có cái đầu mối sanh ra).
Người xét biết muôn pháp về không, lại rơi vào đoạn diệt.
Tìm cùng lý do của sừng thỏ, chia chẻ tột chi tiết của
sừng trâu, mới biết đối đãi nhau, cuối cùng thuộc vô
nhân (không có nguyên nhân). Nương nơi không nên có sắc, nương
nơi sắc nên có không, phân biệt rõ ràng.
Bỏ
sắc để thấy không, bỏ không để tìm sắc thì lấy bỏ
đành rành. Đâu biết đồng thời liền hiện, cảnh trong mộng
đâu có trước sau. Hai tướng không khác, sau khi giác ngộ
ai còn thấy kia đây?
Ngộ
thì hoàn toàn ngộ, biết rõ vọng thì đâu cần phá trừ.
Mê mà không biết mê, nhân căn cơ bèn có đốn tiệm. Lìa
ấm, giới, nhập được diệt môn giải thoát. Bày thí, giới,
nhẫn hiển đạo ba-la-mật. Phá cái phàm tình chấp ấm này,
dẹp cái dị thuyết chấp vô nhân kia. Chỉ rõ duyên khởi
không tánh, do vọng mà có tưởng sanh. Nêu rành vọng tưởng
từ nơi mê, nên tình lượng không có thật thể. Dẫn trở
về tự giác, chóng vào lý quên lời. Bỏ cái tâm phan duyên
theo năng và sở, rõ cái tướng tột cùng sai biệt. Nói có
chia báo thân, hóa thân, mà thừa thì không hai không ba. Thanh
văn biết như thật nên chỉ khác với hàng ngoại đạo. Bồ-tát
chẳng quên bản nguyện, vẫn còn ngại ưa vắng lặng. Về
đệ nhất nghĩa đế còn chẳng phải cảnh giới của Nhị
thừa. Huống là “tánh thường” chẳng thể nghĩ bàn thì
đâu đồng với tướng nhân của ngoại đạo. Tự giác cái
chân nhân thì thật có tự tánh, vô thường tướng khác chỉ
rơi vào chỗ nghĩ bàn. Tánh bản trụ không thuộc về thấy
nghe, do dính với cảnh sở tri bèn đem cái giác biến thành
cảnh. Thánh trí vượt ngoài phân biệt, chỉ chớ mê niệm
hiện tại, mới thấy rõ lý tâm không thể nói năng.
Bởi
không giác ngộ tự tâm, nên tùy sự tu tập mà sanh ra các
thừa, mỗi thừa tự thành chủng tánh. Chẳng phải không có
Phật tánh, Phật thừa thần lực nhiếp hóa chúng xiển-đề,
ắt cũng có nhân duyên. Cho nên biết mê ngộ đồng duyên mà
tâm biết mỗi người có khác. Thánh và phàm đồng một chân
thật, bởi giác và tưởng mà có phân chia. Như đồng ấm,
giới, nhập mà một bên thấy là ta là người, một bên thấy
là vô ngã, nghĩa thật do đó mà cách xa. Như tâm, ý, thức
có pháp cho là tức ngã, có pháp cho là ly ngã, mà thể giác
chưa từng biến đổi. Bởi phá chấp trở về chân thật,
nên lập tánh có ba (biến kế, y tha, viên thành). Nhân nơi
ngã chỉ bày là không, nên thành có hai trí (nhân không, pháp
không). Thấu rõ thật tướng các pháp thì nơi danh, tướng
tức là như như. Khéo biết tự tánh chân không thì vọng tưởng
biến thành chánh trí.
Bồ-tát
như tự tánh vọng tưởng, y duyên khởi mà đối hiện sắc
thân. Vào chỗ chư pháp như huyễn mà không rơi vào có và
không, khắp dạo các cõi nước. Rộng độ chúng sanh mà không
có chúng sanh được diệt độ. Hiện bày huyền nghĩa đâu
rơi vào nói năng. Vì đối trị tâm phân biệt nên nói không
có cảnh giới. Dẹp trừ cái tưởng vô ngã, vì nói môn Như
Lai tàng. Chớ kẹt vào cái khéo phương tiện, chỉ nên chứng
pháp ở trong. Cái lý “không không” sâu xa chẳng phải do
ngôn ngữ có thể bày hiện. Người tăng tiến bậc thượng
thượng sẽ được chỗ sở hành của tự giác. Lìa tứ cú
(có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải
không), vượt ngoài tam chi (tông, nhân, dụ), hiện trong bóng
sáng trăng nước, ra ngoài kiến lập và phỉ báng.
Thiền-na
bày bốn (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền), về
thánh lạc chỉ có ba. Không, vô tướng, vô nguyện đối với
thật đế rất là phù hợp. Thọ, tịch tịnh, giác tri trong
thân chỉ nên thầm hợp. Làm tiêu băng tâm ý thức sanh tử,
trở về nước Như Lai tạng Niết-bàn. Tự tánh không việc,
chẳng phải đoạn chẳng phải thường. Hoa giác như huyễn
chẳng hoại cũng chẳng tử. Cho nên ngoài tự tánh vọng thấy
có Niết-bàn, đều thuộc về nhân duyên thì chỉ có nói năng.
Pháp như huyễn hằng ở trong sanh tử đồng với hoặc loạn,
mà ngay đó là vô sanh. Vì không tánh nên nói vô sanh. Vì vô
sanh nên nói như huyễn. Pháp như huyễn chẳng rời cảnh giới
Văn Thù và Phổ Hiền, nên không thể nói năng. Lý vô sanh
tánh nó là ly, nên không phải chỗ biết của ngoại đạo
và Tiểu thừa, nên dứt nghĩ bàn.
Tứ
quả chẳng ngoài tâm lượng, nhị giác đều do chọn lựa
Niết-bàn. Lìa thức lại-da không có tánh chứa đựng. Lìa
cái bất giác thì không có lại-da. Bảy chuyển thức vốn
là vô sanh, luống phân biệt nên tăng thêm bất giác. Bởi
bất giác nên duyên khởi vọng có tướng sanh, giác được
cái vọng do mê thì tánh Viên thành tự hiện.
Mười
phương ba đời đồng là nhất thừa, thế và xuất thế gian
vốn không có hai cái ngã. Thấu được cái chân truyền, vọng
tưởng không tánh, suốt yếu chỉ tự giác, không do nơi người.
Mới biết tâm chẳng sanh duyên, duyên chẳng sanh tâm. Tâm và
duyên cả hai đều bặt thì tịch chiếu khắp hà sa. Sự và
lý dung thông nhau, không và hữu, bóng hiện trong hải ấn.
Một địa (địa vị Bồ-tát từ sơ địa đến thập địa)
là tất cả địa, tất cả địa là một địa. Rõ thấu pháp
vốn vô sanh thì dung hội được hình bóng trong gương và nước.
Thuận tánh khởi dụng thì xếp đặt các chủng loại ở chốn
không minh. Đoạn ngoại sắc của La-hán, hại hữu tâm của
giác thân. Phật không có tự và tha, pháp đồng xưa và nay.
Cứu kính trọn không có một chữ, tùy loài bèn có ba thân.
Nếu
chấp có, trở lại kẹt nơi vô nhân. Nếu nhận không bèn
thành hoại pháp. Pháp giới vốn tự vô sanh, do vọng nên theo
duyên khởi. Tánh tướng vắng lặng, đâu cho có tâm chấp
hữu. Nhân quả rõ ràng, khó khỏi cái nghiệp vô tác. Có không
đều chẳng chấp mới vào được tự tông (tâm tông). Phương
tiện tùy cơ không thể chẳng nói. Nhân nơi tông (tâm) khởi
lời nói, do lời nói đạt được tông (tâm). Các thứ chẳng
thật tức là cái đệ nhất như thật tự tánh vốn không.
Chỗ vọng tưởng phát sanh, tức là vọng tưởng chẳng sanh,
tùy duyên đâu có khác. Một sanh một chẳng sanh, do vọng thấy
mà thành tà kiến. Tứ tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả)
và tứ bình đẳng (từ, bi, hỷ, xả) trong chân giác không
có hai. Do nơi ngữ mà thể nhập nghĩa, nên kinh điển hiển
bày nguồn tâm. Biện được thức rõ được trí, ở bậc
Như Lai chỉ duyên mà tự được. Tất cả các pháp, tâm làm
tự tánh, an trụ trong tâm thì không có tướng chuyển biến.
Tất cả cái tương tục, giác là liễu nhân, trở về bản
giác mới là biết như thật.
Vì
ngăn vọng chấp nên nói pháp không. Vì lìa khủng bố nên
nói tánh hữu. Như thế đều chẳng phải lời nói chỉ đến
chỗ tột cùng. Chẳng qua, tùy phương tiện để chỉ bày vậy.
Không lập tông thì tự tướng các pháp mới sáng tỏ. Chẳng
phải vô trí, vì vọng tưởng và vô tri mà tự khác. Giáo
liễu nghĩa diệu chỉ ở trước lời nói. Người tu hành đạt
được tông thú, giác ngộ vượt ngoài chánh lý. Y lời nói
mà nhận nghĩa là bị danh ngôn dối gạt. Đạt lối tẽ của
pháp mới dẹp trừ được thế luận. Chỉ biết lìa
văn cú mà chẳng phải lặng thinh. Lại biết tột các duyên
tâm mà chẳng thành đoạn diệt. Thế thì cái chân vọng đối
đãi liền được dung thông. Đây là lối đối trị năng và
sở đều dứt. Pháp giải thoát như thật duy tự chứng biết.
Niết-bàn vô trụ là pháp bình đẳng, chẳng phải nhân chẳng
phải quả. Tri giác của Như Lai có tự mà không tha, tức nơi
sắc thân là pháp thân, chư Phật khéo ứng hiện đâu phải
không, vô nghĩa.
Vô
tánh là phi vô, dị danh là phi hữu. Phi vô là pháp không sanh,
chẳng theo duyên diệt. Phi hữu là pháp chẳng diệt, đâu đợi
duyên sanh. Chẳng theo duyên diệt, mà vì chúng sanh nói là chẳng
sanh. Không đợi duyên sanh, mà vì chúng sanh nói là chẳng diệt.
Tạm mượn phương tiện lập bày để xây dựng chương cú
đại thừa. Vì thế giỏi nghĩa mới gọi là đa văn. Dụ xem
ngón tay là quở trách kẻ ngu. Tướng vô kiến là tánh thật
của vọng tưởng. Lìa vòng xúc xích của mười hai nhân duyên
tức là phân biệt tuệ không. Hai thứ ác kiến (thường, đoạn)
nhân mê các pháp mới sanh. Ba cõi nảy sanh do tâm, chỉ y trong
tự giác mà trụ. Phi thường và vô thường quyết định không
có tánh. Có nhiếp thọ và không nhiếp thọ, sự sai biệt
đều do người. Giác ngộ pháp có tướng khác, vẫn thuộc
về thiền định của nhị thừa. Bồ-tát nhớ nghĩ đến bản
nguyện, còn đợi đến bát địa giác ngộ mới giữ gìn.
Mộng qua sông đã tỉnh, thì ánh sáng của ngọn lửa mạnh
mới khắp.
Các
bậc trụ không có, cứu kính khác gì sơ tâm. Phật địa trang
nghiêm được nhanh, thủy giác tức là tối thắng. Nếu chấp
tự giác thánh trí thường không sanh thì có lỗi, vì nó khác
với hư không kia. Bởi dùng phương tiện tu hành chứng được,
nên chẳng đồng với nhân tác của ngoại đạo. Tự tánh
không nhơ, bất giác mà thành cái nhân các thú. Bảy chuyển
thức nhiếp trì, tuy vô ngã mà vẫn còn cái lỗi của tập
khí thừa. Như Lai tàng tánh vốn không sanh diệt, do khách trần
mà in tuồng có trọc có thanh. Từ tục vào chân phải nương
nơi năm pháp. Do trí đến tịnh chỉ rõ được nhất tâm.
Chư Phật ba đời vượt hẳn mọi sự tôn trọng của thế
gian, vì dựng lập tự tâm thông suốt, không phải như hoa
ưu-đàm-bát. Tập khí vô lậu không phải là nghĩa sát-na,
nếu an trụ chánh pháp thì xem nó như thành Càn-thát-bà. Lục
độ cũng chia có quyền thật. Ba Phật (pháp, báo, hoá) lẫn
nhau phát minh. Thúc đẩy Nhị thừa đến chỗ cứu kính, khuyên
chúng sanh trong ba cõi tu hành trong sạch, thảy thuộc về quyền
lập, đều là Phật hóa thân nói. Nếu bàn về bổn trụ (pháp
thân) trọn không có ngữ ngôn, chỉ nói phi thừa khiến người
tự khế ngộ. Bản giác thanh tịnh chẳng nhờ công huân tập.
Tự tánh đã trang nghiêm đâu cho ô nhiễm. Nên nói “căn bản
trí sáng, sai biệt tuệ đầy, trước sau gốc ngọn hội tột
chỗ vô ngôn” ấy vậy.
Tóm
lại, đại đạo không dấu vết, chỉ ở trước mắt. Chỗ
chí lý bặt nghĩ lường, chẳng bàn kiếp ngoại. Do đó, đức
Thế Tôn đóng cửa thất nơi nước Ma-kiệt (Magadha), ngài
Duy Ma Cật lặng thinh trong thành Tỳ-da (Vaisàli). Chẳng nói
mà nói, phơi bày sum la vạn tượng; chẳng nghe mà nghe, gom
ngàn căn cơ về nơi vắng lặng. Vừa dính tình lượng đã
rơi vào hiện giờ. Chỉ cần trở về, đâu cần phô bày hình
tướng. Thế nên, đêm ấy thành Phật, đêm ấy Niết-bàn,
khoảng giữa chẳng nói một chữ. Bản tế sanh tử, bản tế
Niết-bàn, tùy thuận đâu có hai dòng. Diệu tại chẳng biết,
lỗi cũng tại chẳng biết. Mê phi cú này, tức ngộ cũng phi
cú này. Toàn thân trong mộng, khi thức cũng chẳng rời khỏi
gối mền. Trong cái tưởng sai biệt, xoay lại không ngoài việc
xem gương. Như nước ngậm trăng, trong ngoài đều loãng. Như
gương soi không, rỗng sáng xen nhau. Từ cổ đến kim, từ sáng
đến tối đâu do có người mà thêm đẹp đẽ. Nào bởi không
kiếp mà giảm bớt hư minh. Người mất đó cũng đồng tâm
biết này. Người được đó chẳng đổi nghe thấy. Cần phải
biết có, đâu dùng lại không. Ngọc ma-ni đâu phân làm năm
sắc. Toàn thân con voi đâu giấu với nhóm người mù. Giữ
chân bỏ vọng, khó tránh khỏi sự chê “nối dòng chim le
dứt dòng chim cò”. Mở cái tối bít cái sáng, không khỏi
người cười “dời núi lấp rãnh”.
Bởi
vì tám thức vốn rỗng, năm pháp đều giả. Hai cái ngã (nhân
và pháp) dối tự gìn giữ. Ba tánh lầm nương nhau mà lập.
Ngàn sai muôn khác chẳng qua một cái mê. Tột trước cùng
sau cứu kính trở về niệm hiện tiền. Tin pháp môn thẳng
tắt không do đâu, hội được pháp tổng trì mới chung cục.
Cái bất giác trước, cái bất giác sau, như sữa trong nước
thật là khó phân. Thánh rửa tình phàm, phàm che kiến thánh,
mảnh than trong tối dễ nhận. Đâu biết tình mất trí hiệp,
tưởng hết thể tròn. Cho nên nói: “Đại đạo chỉ tại
trước mắt, chỗ chí lý đâu bàn kiếp ngoại”.

|