|
c
KINH LĂNG-GIÀ TÂM
ẤN
Thiền
Sư Hàm Thị Sớ Giải
Thiền
Sư Thanh Từ Việt Dịch
LĂNG-GIÀ
A-BẠT-ĐA-LA BẢO KINH TÂM ẤN
Lăng-già
(Lanka)ø là tên núi, núi này do sản xuất châu Lăng-già nên
lấy tên châu mà gọi tên núi. Núi nằm tại biển Nam là chỗ
ở của Dạ-xoa. Bởi vua Dạ-xoa thỉnh Phật thuyết pháp trên
núi, nên lấy tên núi đặt tên kinh.
Đại
sĩ Táo Bá nói: “Kinh này nói trên núi Lăng-già ở trong biển
Nam. Như Lai nói kinh dưới núi, vua Dạ-xoa La-bà-na và Bồ-tát
Ma-đế ngồi cung điện hoa đến thỉnh Như Lai vào núi thuyết
pháp. Núi này cao vót nhìn xuống biển cả, chung quanh không
lối vào. Người được thần thông mới có thể lên được,
để tiêu biểu pháp môn tâm địa, người không tu không chứng
mới hay lên được. Nhìn xuống biển cả, để tiêu biểu
biển tâm thanh tịnh, do gió cảnh thổi, nên sóng thức nổi
dậy. Người đạt được ngoại cảnh vốn không thì biển
tâm tự vắng lặng. Tâm cảnh đều lặng thì việc gì cũng
sáng tỏ, ví như biển cả lặng gió thì mặt trời mặt trăng
và vạn vật hiện hình rõ ràng. Kinh này Phật vì hàng Bồ-tát
căn cơ đã thuần thục, liền nói chủng tử nghiệp thức
là Như Lai tàng; khác với Nhị thừa do diệt thức tiến đến
không tịch; cũng khác với Bát-nhã bởi Bồ-tát quán không
rồi thích cái Không tăng thắng. Đây chỉ thẳng thức thể
bản tánh toàn chân, liền thành trí dụng, như biển cả kia
lặng gió thì cảnh tượng đều hiện bày. Biển tâm chẳng
động thì gió cảnh chẳng khác. Chỉ người khéo hiểu được
tánh chân, liền nơi thức biến thành trí”. Táo Bá rất thâm
hiểu tông thú kinh Lăng-già vậy.
Kinh
này dịch lần đầu do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (Gunabhadra) đời
Lưu Tống (424-454), dịch thành bốn quyển để tên là Lăng-già
A-bạt-đà-la Bảo kinh. Đến đời Nguyên Ngụy (500-516), ngài
Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) dịch thành mười quyển tên là
Nhập Lăng-già. Đời Đường thời Võ Tắc Thiên (684-705),
ngài Thật-xoa-nan-đà (Sikshànanda) cùng với ông Phục Lễ v.v…
dịch thành bảy quyển tên là Đại thừa Nhập Lăng-già.
Bản
dịch đời Đường rất đơn giản, không bằng bản dịch
đời Tống rất cao sâu. Cho nên từ xưa đến nay những nhà
nghiên cứu hầu hết đều theo bản dịch ban đầu (đời Tống).
Thời
vua Lương Võ Đế, đại sư Đạt-ma đi đường biển
đến Trung Hoa rồi sang nước Ngụy, ở tại chùa Thiếu Lâm
chín năm ngồi xoay mặt vào vách. Sau Ngài truyền pháp cho tổ
Huệ Khả nói: “Xứ này chỉ có bốn quyển kinh Lăng-già
có thể dùng ấn tâm, trọn trao cho ngươi”. Từ đây kinh
Lăng-già bèn thành vật bí mật trong Tông môn (Thiền tông).
Thiền giả thời nay đã bỏ qua (kinh Lăng-già) cho đến suốt
đời chưa từng giở ra xem, thật đáng buồn thay! Về nhóm
Nghĩa học (học kinh), chỉ có đầu niên hiệu Hồng Võ (1368)
có ông Tông Lặc, Như Khỉ vâng chiếu chung nhau sớ. Đến
cuối niên hiệu Vạn Lịch (1620) có ngài Đức Thanh bút ký.
Đến khoảng giữa niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643) có ngài Trí
Húc nghĩa sớ. Ngoài những sớ giải trên, không còn thấy
chỗ nào khác.
Tổ
Đạt-ma thường bảo rằng: “Kinh này sau năm trăm năm trở
thành môn học danh tướng”. Xét kỹ lời nói này càng thêm
lo sợ. Tổ nói tông của ta thất truyền đâu phải do người
hay việc nào khác!
Hàm
Thị tôi, từ niên hiệu Thuận Trị nhằm năm Tân Sửu (1661),
trước thì Hoa Thủ thị tịch, năm sau Đại Nhật tiếp tục
tạ thế. Hai năm qua lạc thú nhân sanh đối với tôi đã hết
sạch. Tôi bèn rút lui về ở núi Lôi Phong, quanh quẩn trong
am tranh, nương chí đời trước, cùng đáp những câu hỏi
của thiền gia, dùng để tự vui, chưa dám chỉ dạy người.
Chỉ nghĩ đến đạo pháp nảy mầm lộn lạo, nói rằng kiến
tánh mà đồng với thần ngã; một con đường thấu thoát
(tu thiền) mà không khác với minh sơ. Như câu “Chẳng tự
sanh, chẳng phải chẳng sanh”, lời Thánh nói vẫn đầy đủ,
mà có người chẳng đạt lý duyên khởi, rốt cuộc rơi vào
bác không, mặc tình phá hoại Phật pháp. Xét ra do họ mắc
kẹt trên danh tướng, nên công và tội chẳng đồng vậy.
Kinh
này chỉ thẳng chủng tử nghiệp thức là Như Lai tàng, thật
có mê ngộ. Chẳng thế, thì lấy thức lưu chú làm tự tâm,
trở lại thành lỗi tâm sanh thức. Trong lời sớ giải thâm
thiết rõ ràng, chỉ trước dẫn ra cho có huyết mạch. Có
dẫn kinh luận chỉ lấy chỗ gần là nhập lý để phát minh
lẫn nhau. Đến như những lời nói của thiền gia cốt ở
chỗ thận trọng giữ mình. Phàm thiền gia dùng có lời để
tháo chốt. Còn kinh điển cốt dẫn người trở về không
lời. Chính vì chỗ bàn sâu nên không từ phá dẹp, luống
dùng lời để cắt đứt, đâu khỏi lẫn lộn chân thuyên
(lời nói bày chân lý). Lầm lẫn danh ngôn nên chữ Ô [
] chữ Yên [ ] thành chữ Mã [
]. Thiền bệnh thời nay là do chân giả khôn phân. Tổ của
ta ban đầu lập không lời, cùng truyền bốn quyển kinh, đã
thầm bày ẩn ý vậy. Hàm Thị tôi xin tất cả người đời
sau nên noi theo ý chỉ của đấng Đại Từ đã chỉ dạy.

|