|
c
KINH LĂNG-GIÀ TÂM
ẤN
Thiền
Sư Hàm Thị Sớ Giải
Thiền
Sư Thanh Từ Việt Dịch
LỜI
NGƯỜI DỊCH
Chúng
tôi phiên dịch bộ kinh Lăng-già Tâm Ấn này với mục đích
cho tăng, ni học tại thiền viện chúng tôi. Tuy nhiên trước
chúng tôi đã có Sư bà Diệu Không dịch, ấn hành vào năm
1970 và 1971 rồi, song bản dịch ấy vì lược nhiều quá khiến
chúng tôi không hài lòng, bất đắc dĩ phải dịch lại.
Ở
đây chúng tôi dịch trung thực với thiền sư Hàm Thị không
dám tăng giảm trong phần sớ giải. Nếu có giảm, chỉ đôi
chút thôi. Bởi chúng tôi thấy, ngài Hàm Thị quả thật là
một thiền sư ngộ đạo trong môn đình Tào Động, cho nên
lời sớ giải của Ngài rất phù hợp với tâm tông. Trên
phần chánh văn kinh, chúng tôi dịch nguyên âm những danh từ,
không nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa, độc giả cần đọc qua
phần sớ giải sẽ hiểu rõ. Vì chánh văn vừa tối nghĩa
lại cô đọng khúc chiết, nếu không nhờ phần sớ giải,
chúng ta không tài nào lãnh hội được.
Bản
kinh ngài Hàm Thị sớ giải đây, nguyên tên là Lăng-già A-bạt-đa-la
Bảo kinh (Lankàvatàrasùtra), do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (Gunabhadra)
dịch Phạn Hán, có bốn quyển. Bởi tổ Bồ-đề-đạt-ma
sau khi truyền pháp cho tổ Huệ Khả còn bảo: “Xứ này có
bốn quyển kinh Lăng-già có thể dùng ấn tâm…”, nên ngài
Hàm Thị sớ giải để thêm hai chữ Tâm Ấn. Tâm Ấn có nghĩa
là toàn bộ kinh Lăng-già cốt làm sáng tỏ bản tâm. Người
đọc khéo lãnh hội sẽ thấy rõ bản tâm mình, bao nhiêu lời
Phật nói trong kinh dường như Phật đem tâm Ngài in qua tâm
mình. Cộng thêm lời giải của ngài Hàm Thị càng làm cho
chúng ta thấy rõ bản lai diện mục của chính mình, hiện
sờ sờ dưới bóng mặt trời trí tuệ của Ngài. Vì thế,
hai chữ Tâm Ấn thật là xứng đáng. Do đó ngoài bìa chúng
tôi chỉ đề năm chữ Kinh Lăng-già Tâm Ấn.
Về
phẩm loại thì bản dịch đời Ngụy chia mười tám phẩm,
bản dịch đời Đường chia mười phẩm, chỉ riêng bản này
gồm chung lại một phẩm để tên là Nhất Thiết Phật Ngữ
Tâm, có bốn phần. Câu Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm đã nói
lên chẳng những đức Phật Thích-ca nói kinh Lăng-già này
chỉ thẳng bản tâm, ngoài tâm không có một pháp, mà tất
cả chư Phật có nói ra cũng đều chỉ bản tâm. Như thế,
để thấy Phật Phật giáo hóa không khác, pháp pháp đều
hiện bày bản tâm.
Trong
phần đầu trước khi giải kinh, ngài Hàm Thị có làm bài
Tổng luận mà không để tên Tổng luận, lại để phẩm Nhất
Thiết Phật Ngữ Tâm phần một khiến độc giả dễ lầm
là văn kinh. Đó là Ngài muốn nêu lên cho chúng ta thấy lời
bàn luận của Ngài ở đây do góp nhặt những yếu điểm
trong kinh, chỗ tất cả chư Phật nói về tâm, chớ không có
ý kiến nào riêng của Ngài. Vì thế, trong bài Tổng luận
này thật cô đọng có thể gom hết toàn ý bộ kinh. Độc
giả thông được bài Tổng luận coi như nắm được yếu
chỉ bộ kinh Lăng-già.
Bốn
quyển kinh Lăng-già, ngài Hàm Thị giải thành tám quyển. Đến
phần cuối kinh, độc giả sẽ ngạc nhiên tại sao không có
câu: “Phật nói kinh này rồi, tỳ-kheo, tỳ-kheo ni… đều
rất vui mừng, tin nhận vâng làm, lễ bái lui đi” (Phật thuyết
thử kinh dĩ, tỳ-kheo, tỳ-kheo ni… giai đại hoan hỷ, tín
thọ phụng hành, tác lễ nhi khứ). Bởi vì toàn bộ kinh Lăng-già
rất nhiều, các vị học giả Ấn Độ mang sang Trung Hoa phần
nào thôi, nên phiên dịch chưa đến phần chót.
Chúng
tôi mong độc giả đọc bộ kinh Lăng-già này thấy được
bản tâm, để khỏi cô phụ công ơn đức Phật dùng mọi
cách chỉ dạy và khỏi uổng công ngài Hàm Thị đã nhọc
nhằn giải thích cho chúng ta.
Kính
ghi,
Tu
viện Chơn Không
Đầu
Xuân 1975
THÍCH
THANH TỪ

|