Lầm và Chấp
Cư-Sĩ
Chơn-Chánh
a.
Một hành giả, theo thời gian học hỏi và tu hành, dần dần
cảm nhận ra tri thức được rộng mở, tâm lòng có chỗ an
định, yên ổn khác haün hơn xưa, xem kinh liền hiểu ý, nhưng
do lầm và chấp, nên khởi vọng niệm, tưởng mình đã thâm
nhập tri kiến Phật, tưởng đã có chỗ chứng ngộ giải
thoát mà không tự biết rằng đó mới chỉ là chút kiến
thức về Phật pháp nhờ suy lý, tư duy và kinh nghiệm trong
học hành và tu tập mà mình đã tích góp được.
Nghĩa
là tự thân hành giả vẫn còn chất chứa, câu hữu với vô
minh và nghiệp thức, nhưng vì ngã tưởng "chấp và lầm" ẩn
tàng sâu kín và quá vi tế, đến nỗi hành giả không nhận
biết được rằng chính mình đang tự kết giây trói buộc
lấy mình, trong chỗ tưởng mình đã ngộ tánh; do còn phàm
tâm nên vọng niệm chấp lầm, lại khởi tâm kiêu, cho rằng
mình đã nên thánh, nên hiền, đã đến đi tự tại; lại
nữa, do những kẻ dưới, những người chung quanh vì cuồng
tín cũng có mà vì lợi danh kết buộc cũng có, đã nịnh hót,
tâng bốc, dồn ép tâm lý trưởng dưỡng tự ngã của hành
giả ngày càng to lớn thêm, cũng như chính sự cuồng tín,
tâng bốc từ bên ngoài, mà những điều này lại gãi đúng
vào chỗ ngứa, vào nhược điểm của phàm tâm, làm thõa mãn
cái tâm kiêu, cái tâm thượng mạn chấp ngã, chấp pháp vốn
tự saün chất chứa, kết buộc từ bao đời, nên hành giả
cứ tưởng cầm chắc rằng rằng mình đã có chỗ chứng đắc
thật. Từ đó, mỗi cử chỉ, hành động, nói năng, điệu
bộ cố tình thể hiện mình như một ông thánh sống.
Có
lúc hành giả ấy quán sát tự tâm, cũng có chỗ phân vân,
thắc mắc, nghĩ ngợi mà tự hỏi : - "không biết có phải
thiệt mình đã chứng ngộ chăng? Tự bản thân ta có chỗ
niệm tưởng như thế đã đành, chứ tại sao những người
chung quanh, những người dưới trướng, những chúng sanh bên
ngoài lại cứ xum xoe, coi mình như là một ông thánh sống?
Thôi, quả thật mình là thánh rồi không còn nghi ngờ gì nữa
cả. Bỡi nếu mình không phải là thánh thật, thì tại sao
bọn kia lại tin tưởng một cách cuồng nhiệt, lại cung kính,
khúm núm, lễ lạy ta, như cố nuốt vào tim gan phèo phổi của
họ từng mỗi lời ta nói ra, (dù những lời ấy chính ta
tự thấy cũng chẳng ra gì), như thể họ sợ rằng, nếu
không nuốt, không làm hòa nhập, tan biến những lời mà chính
ta không coi ra gì kia vào tim gan, óc não, vào máu thịt của
họ, thì có khác gì như họ đã bị đánh mất đi một cái
gì đó quí giá nhất trần đời, đến tính mạng, máu thịt
của họ cũng không sánh bằng; bọn họ coi bất kể những
gì ta nói ra đều là chân lý, như thánh phán không bằng, coi
ta như là ông thần hộ mạng cho họ không khác kia mà. Đến
nỗi, có lúc ta lỡ nói ra một pháp sai, không dính dấp hay
đi ngược lại với Phật đạo, hay làm một điều gì mà
chính bổn tâm ta cũng thấy áy náy, bất an, cũng chưa thật
sự cho là thõa đáng, hay nó đi ngược, phạm vào giới răn
của đức Phật, ta còn phân vân, nghi ngờ, chưa quyết; ấy
thế mà bọn cuồng tín kia lại cứ nhắm mắt, nhắm mũi tin
tưởng một cách tuyệt đối, một cách mù quáng, coi đó như
là chân lý bất biến không bằng, làm cho ta cũng rất khó
xử, vì không còn có cơ hội nào để có thể đính chính,
sửa sai những chỗ lầm đó được; bỡi nếu nói ra bằng
một cái tâm chân thật, không chỗ dối người và đánh lừa
tự Phật, thì ta đâu còn là thánh trong con mắt của bọn
họ và kể cả trong con mắt của chính ta nữa .
Hay
là vì ta là thánh thật, nên thánh thần mượn miệng ta, thân
xác ta để nói, để làm đến nỗi có lúc cái tri thức phàm
tình trong thân xác này cũng không tự hiểu nổi những gì
chính mình đã nói, đã làm chăng? Bỡi không thấy sao, những
kẻ đồng cốt kia, khi thánh thần nhập vào xác, phán dạy
lung tung nhưng khi tỉnh lại, người ấy có còn nhớ biết
gì nữa đâu. Có lẽ ta khi nói ra đó đã vượt lìa tâm- ý-thức
của phàm phu mà mình không tự nhận biết được chăng ? Thôi,
phải rồi, đích thị là ta đã đắc pháp, đã chứng thánh
rồi mà không còn có chỗ nào sai chạy hay hồ nghi gì nữa
cả".
Và
thế là hành giả ấy không còn gì để phải suy tư, nghĩ
ngợi, quán xét tự tâm nữa; vì đối với họ, những việc
làm ấy đều bằng thừa, và đinh ninh là công đức tu hành
của họ đã được thành tựu, vì mọi cái thể hiện ở
nơi mình đều hơn người, đều khác thường một cách vượt
bậc, đều thánh cả.
Từ
ấy, họ không còn nghi ngờ, thắc mắc gì nữa, nghiễm nhiên
tự biến thành một ông thánh sống trong chính con mắt của
mình, cũng như trong bao nhiêu con mắt của những người chung
quanh, những người dưới trướng, những kẻ cuồng tín, những
cái đầu vô minh tăm tối, những kẻ ưa tâng bốc và xu nịnh.
Hành
giả ấy đã sống trong cái hào quang giả tạo của một ông
thánh rởm, không chơn thật với tự tâm, đã lừa dối người
và tự bịt mắt chính mình vì lầm và chấp, cũng là kết
buộc với không lợi thì danh mà không hề hay biết, hay cố
tình không muốn biết. Thêm vào đó, những lời tán tụng,
nịnh bợ, tâng bốc của những kẻ vây quanh đã làm cho hành
giả không còn nhận biết mình chính thật là ai, ngoài cái
ông thánh ảo kia.
Cho
nên, họ mới nghĩ : đã là thánh thì phong cách sống cũng
phải thoát trần, khác tục chứ ai lại giống như những chúng
sanh bình thường, như bọn phàm phu ô trọc kia được ? Bỡi
bọn kia còn là phàm phu nên bọn chúng còn phải tu hành, còn
phải nghe ta giảng pháp, còn phải ra công trì giới, phải
nhẫn nhục, tinh tấn . phải thật hành mọi thiện pháp, phải
còn nỗ lực nhiều hơn nữa mới được như ta ngày nay;
chứ người đã nên thánh như ta rồi (phi thiện phi ác trong
tưởng tượng, vọng niệm), đã biết thế nào là sắc
sắc, không không trong con mắt của một ông thánh sống, thời
hiện đại thì đâu còn cần trì giới, nhẫn nhục hay tinh
tấn gì nữa. (chỗ biết sắc, không này của hành giả
chỉ là sự cảm nhận bằng tri thức huyễn vọng, chứ chẳng
phải biết rõ như thật bằng tánh sáng chơn thường của
Bát-nhã-trí mà chính mình trong ấy đang-là, nghĩa là chưa
thật sự "một" trong chỗ sắc, không của thể tánh chơn thật,
không nhơn duyên tạo tác, chơn không mà diệu hữu, nhiệm
mầu, phi năng phi sở của Phật tâm).
Bỡi
lầm và chấp mà các thánh này tìm kiếm những lý lẽ để
cố biện minh, che đậy cho cái tự ngã quá lớn còn chất
chứa trong cái tâm phàm, tự bịt mắt mình mà đưa ra hình
ảnh của những vị đã thật sự chứng ngộ để dùng chúng
làm tấm chắn cho cái bóng của mình, cũng như bên cạnh đó,
những kẻ cuồng tín, lúc nào cũng tâng bốc, nịnh hót tìm
cách kết dệt, thần thánh hóa hình ảnh trước mắt mà họ
đang tôn thờ một cách mù quáng, để nương bóng ấy mà cầu
danh, trục lợi.
Hành
giả ấy biện bạch, lý luận, rằng há không thấy sách vở
còn ghi chép rành rành kia sao ? Một bậc đắc pháp, giải thoát
như Tuệ-Trung Thượng-Sĩ, mỗi lời ông ta nói ra đều thể
hiện sự phá chấp một cách triệt để, ông ta đâu có còn
coi trì giới nhẫn nhục ra làm sao cả, vì còn trì giới tức
là còn phàm phu, còn như thánh tự phong ta đây cũng đã được
tự tại như Tuệ-Trung Thượng-Sĩ rồi thì đâu còn cần phải
trì giới hay nhẫn nhục gì nữa. Rồi tự lý luận để bảo
vệ cho cái lầm và chấp vi tế của tự ngã : - bỡi Tuệ-Trung
Thượng-Sĩ nói rất rõ ràng trong hầu hết các tác phẩm thơ,
kệ cũng như trong những bài pháp (mà ông thánh hiện đại
chỉ biết, chỉ hiểu được lời của người xưa theo mặt
chữ, theo tướng của ngôn từ vì còn nặng ngã chấp, pháp
chấp mà chẳng phải tự vượt thoát được chính mình để
hòa một trong tâm thể của các Ngài ấy, được biểu hiện
bằng tư-tưởng, bằng chữ nghĩa sáng trong, không chỗ trói
buộc) rằng không có gì là trì giới với nhẫn nhục cả,
cứ sống tự nhiên như nhiên, như đói ăn, khát uống, mệt
đi ngủ; rằng Tuệ-Trung Thượng-sĩ bảo quả không sai, rằng
cứ tự nhiên an ổn lại không muốn, lại đi leo lên cây cao
mà làm gì, để phải bị gió lay mà la làng xóm? Đó, bằng
chứng là lời của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ nói ra rành rành kia,
có sai đâu, có ai bịa đặt đâu, và thánh ta đây cũng nói
và làm y hệt như ông ta ấy chứ !
Thế
là ông thánh sống của thời hiện đại bắt chước ngay người
xưa, nhưng chỉ bắt chước được ở phần hình nhi hạ, phần
sắc tướng, còn tâm thể chơn thật thì chẳng có chút gì
tương ưng, tương hợp với lẽ đạo, bỡi chẳng phải tự
một, chẳng phải đang-là không khác không hai với tâm thể
của người xưa, vì tự thân tâm ông ta còn như là một trái
núi Tu-di trong hư không; thế nhưng vì lầm và chấp, tự ngã
trói buộc còn to đùng sờ sờ ra đó mà cứ tưởng, hoặc
cố tình tưởng mình đã thật sự vô ngã, nên thánh ta vẫn
cứ phán một câu xanh rờn như thánh thiệt không bằng, rằng
"riêng
tôi thì phá chấp, không chê chay cũng chẳng chờ mặn, nhưng
không chấp nhận thành kiến ăn chay, có lẽ do ảnh hưởng
tinh thần Bát nhã!". Oâi trời ! Cũng may là thánh chỉ mới
nói là "có lẽ" thôi, chứ chưa phải tự khẳng định mình
thánh trăm phần. Bỡi nếu thánh xác quyết trăm phần, người
viết lại phải tốn thêm giấy mực để chỉ ra cho thánh
và những người mê lầm thấy chỗ không chút gì dính dấp
của thánh đối với "tinh thần Bát-nhã" cả. Bỡi nếu không
chỉ ra giùm thì lại có không biết bao nhiêu là người khác
phải mắc lầm, nghe thánh phán "phá chấp" một cách triệt
để như thế, cứ tưởng thánh ta đã thật sự tự tại,
để rồi đến nghe thánh thuyết pháp trói buộc với thường,
đoạn nhị nguyên mà cứ tưởng là thuyết pháp giải thoát
chơn thật của Phật, thì khổ cho người ta.
Thưa
Thánh ! Một hành giả đã thật sự chứng ngộ, sự lý vô
ngại, tánh tướng dung thông (thể hiện phá chấp triệt
để như ngài Tuệ-Trung chẳng hạn) đã đến đi tự tại,
thì không ai và không bao giờ lại thể hiện ra bằng lời
một cái tâm trói buộc với nhị nguyên sanh diệt như là lời
thánh nói ở đây. Đó chỉ là do thân tâm của thánh còn kết
buộc với vô minh, nên mới lầm và chấp, mà thánh thì hoàn
toàn không tự tỏ rõ chỗ lầm và chấp này của mình, vì
chưa sáng tánh; chứ qua câu nói trên của thánh, đối với
sự giác ngộ chơn tâm, thì còn cách ngàn trùng xa thẳm.
(Đâu
phải các bậc tôn túc, đức cao đạo cả như Hòa thượng
Trúc-lâm, hay Hòa-thượng vườn Mai, vườn Hồng không thấy
chỗ nói sái, làm sái của ông thánh này đâu, cũng như chẳng
phải không thấy sự thuyết ma trước đây của ông Chơn-Quang
chẳng hạn. Nhưng vì các Ngài cũng là thánh rồi nên quá đỗi
từ-bi hỉ-xả, ai muốn làm muốn nói gì thì cứ làm, cứ
nói, vì với các Ngài không chỗ dính dấp. Dẫu đệ tử của
mình có thuyết pháp ma đi nữa, các Ngài cũng không lên tiếng,
vì các Ngài sợ nói ra thì làm mất lòng, sợ người ta đánh
gía trò mình, sợ và sợ.đủ thứ sợ. Thậm chí với những
bọn không ra gì giật sập, xóa sạch một thánh tích ngàn
năm của Phật giáo, một báu vật của lịch sử văn minh nhân
loại, các Ngài cũng chẳng lên tiếng; vì với các Ngài những
việc này có gì dính dấp tới đâu, bỡi các Ngài đã tự
coi mình là thánh, đã"Vô-Ngã Vô-Sự" rồi kia mà. Chỉ khi
nào với những việc khác như đi Tàu, đi Tây để kiếm tiền
xây chùa cho thật to, để nhìn cho sướng mắt, để được
khắc ghi công đức vào bia đá ngàn năm, lưu danh vạn đại,
cũng như làm cái việc bênh vực cho bọn khủng bố thì ngay
đó các Ngài liền tự thể hiện "Hữu ngã" vì đó mới là
việc đáng làm, mới có lợi lạc và danh tiếng vậy. Bỡi
vì sao các Ngài lại làm như thế ? Vì nếu "chỉnh" các đệ
tử của mình là nói pháp sai, không khéo các Ngài lại bị
chính mấy ông con tố ngược lại, rằng thầy cũng thuyết
rất nhiều chỗ không đúng, dẫn người ta đi xà quần tới
chết mà cũng không thoát nổi cột buộc của hai bờ và vọng
nghiệp, thế thì lại chết chùm cả đám. (Đại-Lãn và Lý
Việt-Dũng). Thôi thì cứ dĩ hòa vi quí, im-lặng là thượng
sách, cứ cho rằng chúng sanh nào đó bỡi do nặng nghiệp nên
mới tin nghe theo lời CQ thuyết ma, thì đó cũng là cái quả
báo, cái dư nghiệp mà bọn kiạ phải trả mà thôi, còn các
Ngài không chỗ dính dấp, nên cứ kín tiếng là "có lợi"
cho cả hai đàng, là hòa cả làng.
Cũng
như việc hai thánh tích Phật giáo bị giật sập và xoá sổ
ở A-phú-hãn, nào có thấy các Ngài lên tiếng đâu. Vì nếu
lên tiếng, ngộ nhỡ chúng nghe được thì mình cũng không
yên với chúng, dù chúng ở rất xa xôi, nhưng sự đời mà,
biết đâu ! Cái gương của ông sư Đại-Lãn nào đó, do phê
phán các pháp tu "Thiền của thánh", thì liền ngày một ngày
hai đã có thầy tới chùa hăm doạ sư còn sờ sờ ra đó.
(dĩ
nhiên là có chỗ giây mơ rễ má dính dấp tới thánh, chứ
nếu không dính dấp thì ai dại dột gì lại đi làm cái chuyện
cố tình phạm pháp để muốn được bỏ tù đâu !)
Cho
nên, với các thánh, đề cập tới những chuyện sai trái như
của Chơn-Quang thuết ma, thuyết dâm dục thì nào có ích gì,
bỡi nói ra có té được lợi hay danh gì cho thánh đâu mà
các thánh phải nhọc lòng, khổ xác.
Thế
nhưng khi có "cơ hội" để củng cố không lợi thì danh cho
tự ngã của thánh, như nghe người ta nói sửa soạn tấn công
bọn khủng bố giết người như ngoé kia, thì có thánh liền
nhảy ra, hùng hồn bênh vực cho bọn giết người; thánh dùng
miệng lưỡi đem ra nào là lòng từ bi, hỉ xả (một cách
lý thuyết), không thể áp dụng một cách thật tế trong cuộc
sống, khuyên mọi người là hãy nên biết lắng nghe, cố lắng
nghe và phải lắng nghe tâm tư và nguyện vọng của những
bọn cuồng tín khát máu kia, cũng như hãy nên rộng mở lòng
từ mà tha thứ cho nhau, để cùng họ sống với mình trong
tình anh em ruột thịt một nhà, trong tình yêu thương nhơn
loại, dù họ có là quĩ dữ đội lốt người cũng phải nên
biết lắng nghe và nên sống chung hòa bình với họ. (!)
Thật
tình mà nói, không biết khi quân Taliban rục rịch chuẩn bị
đánh bom làm sập và xóa sổ vĩnh viễn hai thánh tích của
Phật giáo tại A-phú-hãn, mà thời gian để chúng chuẩn bị
làm việc đó cũng rất lâu, cũng là bước khởi đầu cho
việc tàn sát người vô tội sau đó, đủ để cho thánh có
thì giờ sang A-phú hãn để lắng nghe tâm tư và nguyện vọng
của họ, để mong làm sao cho hai tượng Phật được tồn
tại mà góp phần không nhỏ vào việc tô điểm cho lịch sử
văn minh nhân loại, để người đời sau được nhờ, cũng
như để chận đứng những việc làm vô nhân bản ngày 11/9.
Nhưng không biết khi ấy thánh đã biến đi đâu mà không thấy
tăm hơi gì hết ?
Hóa
ra thánh chỉ biết nói thánh, chỉ biết hùng biện trên lý
thuyết khi nào gặp cơ hội tốt, khi nào sự nói đó có thể
đem lại lợi và danh cho thánh thì thánh mới nói mà thôi,
dù việc nói đó ïkhông đắc nhân tâm, đi ngược lại với
ước vọng của bao nhiêu người khác muốn bảo vệ cuộc
sống yên bìnhcho tương lai của chính họ mà thôi. Nghĩa là
thánh chỉ biết nói theo kinh điển, theo lý thuyết, chứ trong
chỗ thật hành chánh pháp thì hoàn toàn không làm hay là làm
ngược lại, cũng có nghĩa là tri hành bất nhất.
Tại
sao lại nói thánh chỉ biết nói thánh khi nào thánh thấy có
lợi và danh thì mới nói ? Bỡi vì, thánh có thể biện luận,
bào chữa sự không lên tiếng của mình, rằng với hai tượng
Phật bị phá hủy, tự nó nhân duyên đã hết, nên có nói
ra cũng bằng thừa, lại không có lợi gì cho thánh cả, vì
trước mắt thánh, vạn pháp tự như mà.
Còn
nay mọi người đang vì lương tâm và lo cho cuộc sống an ổn
trong tương lai của nhân loại mà truy quét bọn khủng bố,
thì thánh lại cho rằng đó là sự trả thù bẩn thỉu, không
khế hợp với tâm tu, với lòng từ bi, nên thánh nhảy ra tuyên
bố này nọ cách khác người, không ngoài mục đích để nhân
lúc mọi người cùng chú ý đến một điểm, thánh nói ra
đó cũng chỉ là "từ-bi cơ-hội" để cho ai nấy thấy cái
"danh"kết buộc trong tự ngã của thánh được hiện hữu mà
thôi. Lòng từ bi của thánh thể hiện thật đúng lúc, nhưng
chẳng chút nào dính dấp tới lòng từ trong sáng của người
tu Phật chơn chánh.
Bỡi
cớ sao ? Bỡi thánh biện luận, rằng, do thánh đã thật sự
là thánh, nên vạn pháp tự như trước mắt thánh. Hai pho tượng
của đức Đạo sư là thánh tích có một không hai của nhân
loại, thể hiện niềm tôn kính và thiêng liêng của chúng
sanh đối với đức Vô-Thượng-tôn, bị bọn người cuồng
tín xóa sổ, thì dĩ nhiên là không chút dính dấp gì tới
chỗ chơn như của thánh là điều tất nhiên rồi, cũng như
cái biểu tượng của sự phồn vinh và văn minh nhân loại
và gần bảy ngàn mạng người hết được sống kia, cũng
chẳng gì dính dấp tới thánh, vì vạn pháp tự như trong mắt
thánh, còn duyên thì hiện, hết duyên thì tan, đó là qui luật
vô thường, nào có gì ràng buộc tới một thiền sư đắc
pháp đâu (điều này thì chưa chắc,sẽ có dịp xét lại
sau này).
Thế
nên, những việc xảy ra như ở trên, với thánh đều vô can,
nên cần gì bắt thánh phải lên tiếng.
Thưa
thánh ! Nếu thánh đã nói vạn pháp tự như trong mắt thánh,
nên hai việc đau lòng của phàm phu chúng tôi xảy ra ở trên
đều vô can với thánh, thì chúng tôi xin hỏi thánh, thế thì
cái việc đánh đấm nhau giữa chúng sanh với chúng sanh lần
sau này sao thánh lại quan tâm, sao thánh lại bênh vực cho bọn
cuồng sát (đó là chưa cần tách bạch rằng đánh đây
là đánh những kẻ cuồng tín, khát máu người, giết hàng
loạt người vô tội mà chúng không biết thương tiếc hay
ân hận gì mà lại vui mừng hả hê như những tuyên bố của
chúng sau đó . Và những hành động cuồng sát này vẫn sẽ
còn tiếp diễn dài dài nữa, biết đâu trong những lần sau
chính bản thân của thánh cũng sẽ bị làm vật tế thần
để thánh được "tử vì đạo" cho những cái tâm cuồng đó,
thì lúc ấy thánh sẽ phải trả lời ra sao với chính mình
đây? )
Thưa
thánh . Trần gian là cõi tương đối. Nếu thật sự thánh
đã là thánh rồi thì ắt haün phải biết rõ điều đó hơn
ai hết. Mà đã nói là tương đối, thì trong thiện đã saün
chứa mầm ác, trong ác đã saün chứa mầm thiện vậy.
Một
con rắn độc đã cắn chết người, thánh thấy biết rất
rõ ràng điều đó, vì có ai che mắt thánh đâu, nghĩa là nếu
cứ để cho con rắn độc kia nó sống thì ắt sẽ phải có
không biết bao nhiêu người nữa phải bị nó cắn chết một
cách oan uổng. Nếu để nó sống như ý muốn của thánh, thì
hành động đó của thánh được gọi là thiện hay ác đây?
Thưa
thánh, đó là làm việc thiện với con rắn độc mà cũng là
làm việc ác đối với con người vậy. Đó là điều không
ai có thể phủ nhận được.
Bằng
giết con rắn độc đi, thì sẽ không còn người nào bị nó
cắn chết trong tương lai nữa. Đó là đối với con rắn là
việc ác, mà đối với con người lại là việc thiện. Thưa
thánh. Nếu thánh đã là thánh rồi thì dĩ nhiên hai việc này
chẳng can hệ gì tới thánh, mà trước mắt thánh chỉ là
sự biến hiện sanh diệt, nhân quả của vạn pháp, như bóng
lồng trong gương, chẳng gì dính dấp. Bằng nếu thánh chưa
phải là thánh thật mà còn có chỗ cần phải mở miệng,
hay hành động thật tế thì thánh nên giết con rắn đi để
mọi người được sống yên ổn, hay là thánh nên bảo vệ
con rắn độc, để cho nhiều người trong tương lai phải chết
oan khúc, chết mà không biết tại sao đương sống thì đùng
một cái phải chết tập thể , vì lòng từ bi qúa đỗi của
thánh ?
Còn
nói như thánh, rằng nên lắng nghe, cố lắng nghe, phải lắng
nghe tâm tư và nguyện vọng của cái con rắn độc kia thì
rõ ràng thánh đã lú lẫn mất rồi. Bản chất của rắn độc
là tự nhiên như thế đó, làm sao thánh có thể lắng nghe
mà cảm hóa nó từ độc ra lành được? Nếu sự tình quả
đúng được như lời thánh nói, nên lắng nghe, phải lắng
nghe thì chỉ ngay trong thời đức Phật còn tại thế, ắt
phải cảm hóa và sẽ không còn một bóng ma nào nữa, chứ
đâu phải còn ma nhan nhản sanh sôi nảy nở như bây giờ?
Có
lẽ thánh ở trên cao cho nên thánh mới có những ý nghĩ lạ
lùng, khác thường, kỳ quặc như thế, chứ rắn độc mà
sống chung hòa bình với loài người thì dưới con mắt phàm
phu của mọi người, chưa ai từng nghe nói như thế cả. Vì
đó là qui luật tự nhiên tương sanh, tương khắc trong nhân
quả, như lửa thì khắc chế nước, như sắt thì chặt gỗ,
vv. vậy. Lửa và nước không thể nào cùng tồn tại dồng
một được. May ra chỉ có mỗi một mình thánh là biết lắng
nghe và chung sống hòa bình được với rắn độc mà thôi
. Xin bái phục, bái phục thánh vậy !
Ơû
đây, qua những lời thuyết của thánh, dĩ nhiên là chúng tôi
đánh giá một cách chắc nịch rằng, thánh chưa phải là thánh
thật, thế nhưng vì lầm và chấp mà thánh đã tự che mắt
mình và đánh lừa người một cách khôn khéo để vun đắp
cho tự ngã, nghĩa là lời thánh phát xuất từ cơ tâm vị
ngã hơn là vì lòng từ trong chỗ không tâm, vì nó còn kết
buộc trong chỗ không danh thì lợi, trong chỗ không phải từ
tánh giải thoát chơn thật vậy.
b.
Lại cũng có vị, tuy đức cao đạo cả, thật là bậc hiếm
có trong hàng Nhơn-Thiên, nhưng thật sự chưa tỏ rõ bổn lai
tự tánh, chưa thật sự đồng "một" không hai không khác với
tánh sáng hằng sáng phi sanh diệt của Phật tâm, vì còn thể
hiện các tướng trói buộc một cách quá rõ ràng, qua những
lời giảng, những câu tuyên bố còn dính mắc trong phàm trần
đối đãi; thế nhưng ông cũng được người ta xum xoe, tôn
thờ, tâng bốc lên như một vị thánh sống, cho rằng thánh
nói gì làm gì cũng trúng, cũng tương ưng tương hợp với
đạo. Bằng có người nào dở miệng dở mồm mà nói ra chỗ
nói pháp không trúng của thánh, thì liền có người tới hỏi
thăm sức khoẻ hay bị hăm doạ ngay. Chẳng phải chính ông
ta làm, nhưng mà do những người quá cuồng tín đối với
ông ta làm mà thôi.
Ông
ta dạy rằng, người Phật tử cần phải biết sống sao cho
hợp với khế cơ, khế lý mà đức Phật đã dạy, nhưng chính
ông ta, trong chỗ thực hành khế cơ của đức Phật, thì lại
làm ngược lại. Ông ta bảo mọi người rằng, cần phải
vực dạy Thiền-tông đời Trần, một câu nói tuy đầy
tâm huyết, lo lắng cho tương lai, vận mệnh của Phật-giáo
nước nhà, mới nghe qua không ai là không cảm phục, tán thán;
tuy nhiên, đối với lý duyên sanh của nhà Phật nói chung cũng
như đối với bản chất của Thiền-tông, nói riêng, thì câu
nói này đầy mâu thuẫn và cột buộc, nghĩa là việc làm
này hoàn toàn không thích hợp nếu không muốn nói là đi ngược
lại "khế cơ" của đức Phật, cũng như đi ngược lại bản
tánh vạn pháp tự như không chỗ dính dấp, không chỗ trói
buộc, dưới con mắt vượt thoát của Thiền-tông. Bỡi cớ
sao ? Vì nếu đã nói là khế cơ thì đó là chỗ tuỳ duyên
mà bất biến. Mà ở đây không biết tùy duyên, hay làm ngược
lại với nhơn duyên sanh khởi, là biến thể, thì làm sao có
thể gọi là tỏ ngộ chơn lý, là tương ưng tương thích,
là khế cơ, khế lý được. Đó chính là chỗ mâu thuẫn chỉ
trong một câu nói ngắn, cũng như việc làm này chống lại
chỗ khế cơ mà đức Phật đã dạy.
Lại
nữa, Thiền-tông đời Trần đã đi vào quá khứ, cũng như
cái ước vọng của ông ta cần phải làm một cái gì đó
thì lại ở vị lai, mà hai thời này chẳng có chút gì dính
dấp tới cái thực tại tuyệt đối, ba thời trong nhứt niệm
chơn như, chân thật dưới con mắt của Thiền-Tông cũng như
tương ưng với bản chất của nó . Vì sao ? Vì Thiền tông
đời Trần hay Thiền-tông của bất cứ đời nào cũng vậy,
có chỗ nào khác, có chỗ nào cách lìa hay làm mất đi cái
thật tại tuyệt đối khế hợp, tương ưng đồng một với
đạo như là Phật đã đưa nhành sen vàng lên trước mắt
đại chúng trong hội Linh sơn đâu? Bỡi hễ có chỗ chia lìa,
có chỗ biến, có chỗ là hai hay là khác với thật tại tuyệt
đối của bản chất Thiền-tông, thì liền sái, chẳng còn
là tánh cách chơn thật của Thiền-tông nữa. Chỉ chợt tự
hòa làm "một" trọn vẹn trong cái mỉm cười của Tôn-giả
Ma-ha Ca-Diếp, thể hiện ba thời trong một niệm, rạng rỡ
sáng trong, tự như,
không, vô tướng, vô tác mà "quá
khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị
lai tâm bất khả đắc" vạn pháp tự như trước mắt Đệ-Nhất
Tổ Ca-Diếp, thì đó là chỗ tương ưng tương thích với đạo
rồi, chứ còn tìm Thiền-tông đời Trần hay đời Đường,
đời Tống nào nữa? Chỉ có nhận ra và sống được trong
thật tại, thật hữu trước mắt, không khởi một vọng niệm,
một vọng tưởng nào ngoài chỗ này, đó là hợp đạo, là
khế cơ khế lý của Phật, cũng chính là bản chất của Thiền
tông mà. Bằng nếu chẳng phải được như thế mà khởi vọng
trụ chấp để đi tìm cái này cái kia mà mình cho là hay, là
đẹp trong quá khứ hay vị lai thì cũng là trụ chấp trong
chỗ vọng tưởng, liền sái, ngay đó đối với đạo chẳng
có gì dính dấp, chẳng gì còn có thể gọi là khế cơ như
đức Phật dạy nữa.
Lại
nữa, ông ta còn phán những lời trói buộc với nhơn quả,
thường đoạn của hai bên, rằng, Tông Thiền phải là nhất,
nên áp dụng tu hành, còn Tịnh và Mật không nên tu, nhất
là trong thời đại hòa bình độc lập, tự do, thống nhất
như bây giờ. Vì sao ông ta lại nghĩ như thế nhỉ? Ông lý
giải rằng, tu Tịnh hay tu Mật là các pháp tu chỉ thích hợp
trong thời đại mất nước, trong lúc nước nhà phong ba khói
lửa, trong lúc nhân dân làm nô lệ cho thực dân, trong lúc
đất nước bị đô hộ mà thôi. Bỡi theo quan niệm của ông
(dĩ
nhiên là kết buộc trong các pháp tướng), rằng Tịnh,
Mật là các pháp tu mất nước, chỉ biết ngồi một chỗ
mà trì chú hay niệm Phật, là bi quan yếm thế, là chán đời,
là không giúp ích gì cho quốc gia dân tộc. Ông cho rằng thời
thái bình không ai lại đi tu Tịnh, Mật bao giờ, mà nên tu
Thiền (?) thì mới thích hợp. Ông cho rằng Phật giáo Việt-nam
trải qua bao thăng trầm, mà chỉ có Phật giáo đời Trần,
hay nói rõ hơn chỉ có Thiền-tông đời Trần mới là cực
thịnh, và rằng người việt nam phải nên tu Thiền như đời
Trần, cũng như phải vực dậy Thiền-tông đời Trần, mà
ông ta là người chủ xướng và có công vực dậy, nên ông
ta chứ còn ai vào đây nữa đáng nhận lãnh làm Tổ sư giòng
thứ năm Thiền-tông Việt nam hậu bán thế kỷ 20 và đầu
thế kỷ 21 vậy. Ý này hiện ra rất rõ trong các tác phẩm
"Ba vấn đề trọng đại trong đời tu của tôi" và "Thiền-tông
Việt nam cuối thế kỷ 20". (tuy không nói ra, nhưng ai cũng
ngầm hiểu ý ông muốn gì).
Nói
đến khế cơ của đức Phật, người viết chợt liên tưởng
tới những năm cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên
sáu mươi tại nước nhà. Lúc ấy ông Tổng-giám-mục Ngô-đình-Thục
một mặt ra sức khuyến dụ, mua chuộc người ta theo Thiên-chúa,
một mặt ép buộc, cưỡng bức người ta vào, bằng mọi cách
và mọi gía, để ông ta có cơ may được tòa thánh sớm trao
cho chiếc áo hồng.
Rồi
giữa năm 1963, đức Giáo hoàng sang thăm Việt-nam. Phong trào
bắt treo cờ Thiên-chúa phát động trong dịp này. Nhà nào
cũng phải treo, không phải là Thiên chúa thì vẫn có người
tới treo cờ giùm. Hôm trước khi đức Giáo-hoàng tới, ngủ
một đêm thức dậy, ai nấy cũng đều bỡ ngỡ, cả một
rừng cờ, nhà nhà đều cắm cờ, mặc dù chẳng phải là
Giáo-dân và cũng chẳng ai mua cờ tự cắm cả. Té ra ban đêm
có người đến cắm giùm hồi nào không hay, chỉ trừ có
các chùa chiền, miếu mạo là không cắm. Nhưng rồi sau đó,
như ai cũng biết, nước chảy theo giòng mà, tất cả những
việc làm "không khế cơ" đó đều như mây bay, gió thổi cả.
Vì sao ? Vì chỗ dụng sự ấy hoàn toàn chẳng phải khế cơ
như lời đức Phật đã dạy. Nghĩa là nếu không khế cơ
thì sự việc sẽ không thành tựu được, bỡi tự nó không
trọn đủ ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhơn hòa như
trong triết cổ đông phương quan niệm.
Cho
nên, ước vọng vực dậy Thiền tông đời Trần chỉ là một
việc làm có chủ ý nhưng mà không tưởng, vì khó bề thành
tựu một cách chơn chánh, có khác nào việc treo cờ để che
mắt Giáo-hoàng ở trên kia đâu. Đó là những ý nghĩ chấp
ngã lạ lùng, kết buộc với nhân quả, không chút gì khế
hợp với bản hoài của Tổ, Phật, đặc biệt là đi ngược
lại bản chất của Thiền tông.
Aáy
thế mà ông ta lại dạy người khác phải sống cho hợp với
khế cơ khế lý, còn chính ông ta thì nói và làm lại ràng
buộc với thế pháp và đi ngược lại tâm ý của Tổ Phật,
chẳng có chút nào là khế cơ theo lý đạo cả.
c.
Lại cũng có vị tiếng tăm lẫy lừng trong nhà ngoài nước,
phá chấp một cách còn triệt để hơn, thuyết pháp mà như
lời tình tự của nam nữ đang yêu nhau, mà tình cờ chúng
tôi đọc được một trích đoạn trong vài ngày gần đây,
được gọi là Thiền-Ôm (Hugging Meditation) do đạo hữu BayTran
nhờ Post lên <hoasen-1@yahoogrups. Com.
Qua
đoạn dạy thật hành một pháp thiền mà ông này cho là của
Thế-tôn, nhưng có lẽ do kiến thức chúng tôi hẹp hòi, lại
cũng không có đạo nhãn như ông ta, nên lục tìm trong hết
sách vở cũng không thấy Thế-tôn hay bất cứ một vị Tổ-sư
của bất cứ một giòng Thiền nào hay bất cứ một Tông sư
nào có lối giảng dạy biểu hiện bằng những lời tượng
hình quái đãn, lạ lùng như thế.
Ông
thánh này dạy các đệ tử của mình rằng: "Các con hãy
về thực tập coi ôm em của mình, ôm chị của mình, ôm mẹ
của mình. Và thực tập theo phương pháp Phật dạy : thở
vào sướng quá, thở ra vui quá. Tại vì khi mình thở vào và
thở ra thì mình làm cho cái đối tượng nó hiện ra rõ như
là một thật tại.
Hôm
trước ta đã dạy học rằng, nếu ta thở và nhìn bông hồng,
thì bông hồng hiện ra như là một thực tại rất là mầu
nhiệm. Mẹ cũng vậy, cha cũng vậy, chị cũng vậy , con cũng
vậy. Nếu chúng ta trở về với hiện tại, thở và ôm người
đó, thì người đó hiện ra như là một thực tại mầu nhiệm
và ôm rất là ngon, rất là sung sướng. Thầy gọi đùa cái
đó là "Hugging Meditation". Thích Nhất-Hạnh.
Đọc
qua đoạn văn thực tập Thiền Hít-Thở chính thật là của
đức Đạo sư, nhưng được người giảng pháp hình tượng
hóa bằng đoạn văn trên, chúng tôi tự nghĩ, có lẽ ông ta
sẽ nổi tiếng hơn nếu là một nhà văn thay vì một nhà sư,
một thi sĩ hơn là một thiền gỉa. Hơn thế nữa, ông ta phải
là một bậc thầy của nhà văn tả thực như Vũ-trọng-Phụng,
hay một sư phụ của thi nhân như Hồ xuân-Hương, vì đoạn
văn 'thuyết pháp" của ông ta nêu trên, nửa thật nửa hư,
nửa đùa nửa thiệt, nửa trọc nửa thanh (như chính từ
lời ông ta nói ra trong khi giảng về thật hành pháp Phật
: Thầy gọi đùa là Thiền ôm) để ai muốn hiểu sao thì
hiểu, đục cũng phải mà trong cũng hay, hư cũng phải mà thực
cũng chẳng sai, đều cũng có lợi cho ông ta cả. Tại sao nói
hai bên đều có lợi cho ông ta ? Bỡi vì, nếu người nào
đó nghiêm túc trong tu tập, nhận ra được pháp quán hơi thở
mà ông ta đã chỉ dạy thì ông ta cũng được lợi, vì truyền
được chút pháp tự tánh thanh tịnh thiền cho người khác
mà không phải bị mắc nợ áo cơm .
Bằng
nếu có người không biết ôm, không biết thở thế nào để
có thể làm cho tăng thêm mười lần sung sướng, thì ông thánh
này sẽ mở rộng lòng từ bi mà mượn cái xác phàm này để
tự thân chỉ dạy thực hành "Thiền ôm" giùm cho người một
cách "vô phân biệt", mà chỉ có ai học và tập tới đó thì
mới biết. Cho nên, người nào biết tự thật hành thì thánh
cũng được lợi, mà không biết thật hành, nhờ thánh chỉ
thật tế cách ôm thì thánh sẽ mượn cái xác phàm này của
thánh mà áp dụng thật tế ôm giùm, để thử biết sự thật
ra thế nào là tăng thêm mười lần sung sướng, thì thánh
cũng có lợi vậy.
Tuy
nhiên, giảng pháp Phật dù là đúng pháp đi chăng nữa mà
dùng những lời gợi hình, gợi ý không được sáng trong,
trang nhã, và nghiêm túc như trên là điều mà chúng tôi chưa
từng bắt gặp trong bất cứ một kinh điển hay ngữ lục
nào, mà chỉ có ở ông thánh thời nguyên tử này, mặc dù
chính ông thánh này đã giảng và gọi đùa đó là "Thiền
ôm".
Cái
lối giảng "giảng pháp" nửa đùa nửa thật này, từ xưa
tới nay hoàn toàn chưa từng thấy xuất hiện trong cách dạy
người của chư Tổ cũng như từ chính đức Phật. Chỉ có
những người coi việc truyền pháp như một trò đùa không
hơn không kém thì mới có những lời như thế. Đó cũng là
lối thuyết pháp ma mị của ông thánh Chơn-Quang trước đây,
khi đứng trước tu sinh mà đa phần là các Ni-cô còn nhỏ
tuổi, còn trong trắng, trinh bạch, thế mà ông ta thuyết toàn
là về sinh dục học, tình dục học, tính dục học, hoặc
triết lý âm dương mà trong đó ông ta chỉ nói toàn chuyện
giao phối giữa các giống loài nam nữ, đực cái, cồ mái.
Thật là lối giảng dâm ô tà mị.
Với
lối giảng pháp "đùa" một cách vô tư là "Thiền ôm" thoải
mái như thế này, mà thánh tập cho người ta thật tế vừa
ôm vừa thở, biết đâu có lúc nào đó, có chúng sanh chào
đời, lọt ra hồi nào mà không ai hay chăng ?
Biết
đâu Thánh này cũng có hàng đệ tử như thánh nho nhỏ Chơn-Quang,
đến lúc đó thì Thánh nho nhỏ cũng thuyết "bài chuồn", rằng
"chỉ
có người nữ mới biết thương con vì người nữ có cái
sắc tố đặc biệt thương con, còn người nam thì hổng có,
nên ổng hổng thương con, vì con đó chẳng phải do ổng đẻ
ra". Lời thánh Chơn-Quang, trong Chướng Ma Đời Mạt pháp.
Một người đảm nhiệm trọng trách thay Phật giáo hóa chúng
sanh mà coi việc giảng pháp như trò đùa thì làm sao có thể
nói là báo ơn Phật được, cũng như có thể dẫn người
đến giải thoát rốt ráo được ?
d.
Lại cũng có vị, viết sách tiểu luận về Phật đạo phát
hành rộng rãi, với tiêu đề thật là giật gân "Tiểu luận
về PHƯƠNG-PHÁP KIẾN- TÁNH".
Người
viết vừa bắt gặp quyển sách, chợt cảm thấy lạ lùng,
bỡ ngỡ, tự nghĩ, từ khi đức Phật thành đạo và ra hoằng
hóa suốt bốn mươi chín năm, sau đó Tổ Tổ tiếp nối mà
xiểng dương Chánh pháp giải thoát cho đến tận ngày nay,
chưa ai từng nghe đức Phật có thuyết hay nghe một vị Tổ
sư nào xác nhận thật sự có "phương pháp" cũng như qui tắc
nhất định nào đó để kiến tánh cả. Bỡi Phật pháp là
pháp vô vi. Mà đã nói là vô vi thì tất thảy mọi pháp hữu
vi đều không có chỗ dính dấp tới được, chỉ tạm mượn
chúng làm bè để khám phá cái tánh chơn thật của chỉ một
tâm này mà thôi.
Cho
nên, khi thấy có người phát minh ra được cái "Phương pháp
Kiến tánh" thì ai lại không ngạc nhiên, ai lại không cho là
ngồ ngộ, là chuyện khó tin mà có thiệt, vì thấy trên bìa
sách ghi rành rành kia mà.
Người
viết nghĩ thầm, thời đại văn minh vượt bậc có khác. Hơn
hai ngàn rưởi năm nay chưa từng có một định pháp nào để
kiến tánh cả. Chỉ mới có mươi năm lại đây, từ khi cách
mạng thông tin bùng nổ, cách xa vạn dặm mà mặt đối mặt
nhìn nhau, nói cười với nhau được; nào là phi thuyền bay
lên tận sao hỏa, sao kim, cái gì người ta cũng có thể biết,
có thể làm được hết, đến nỗi kiến tánh mà người thời
nay cũng phát minh ra được phương pháp, thật là hy hữu, hy
hữu !
Thôi,
đời này, kiếp này ắt là mình thành Phật rồi, vì chỉ
cần mua về một cuốn sách "Phương pháp Kiến tánh" để học
ngay cái phương pháp này, như cách dạy lên giây cót đồng
hồ chẳng khác, bỡi nó là phương pháp kia mà, thế thì không
chóng thì chầy ắt đời này sẽ thành Phật .
Vì
rõ ràng đề tựa của quyển sách là tiểu luận về phương
pháp kiến tánh, tức là có chỗ, có vị trí, có điểm đi,
điểm đến, quá rõ ràng rồi kia mà. Bằng nếu tự mình chưa
thấu suốt được cái phương pháp để kiến tánh này thì
mình cứ việc đi tìm tác giả để nhờ chỉ cho, thì ắt
nay mai cũng phải thành Phật thôi.
Mua
quyển sách về nhà liền giở ra đọc ngay, vì tâm trạng đang
nôn nóng muốn mau kiến tánh để thành Phật. Nhưng thật là
ngỡ ngàng làm sao !
Đọc
một mạch hết cuốn sách, chỉ thấy có cái tựa trên bìa
là làm cho mọi người giật gân, giật mình mà thôi : "Tiểu
luận về PHƯƠNG PHÁP KIẾN TÁNH" còn bên trong thì không có
gì thật sự là "phương pháp để kiến tánh" của tác giả
cả, mà toàn là bổn cũ soạn lại, lấy chỗ này một ít
chỗ kia một ít, xào xáo lung tung, không đâu ra đâu cả.
Tưởng
là ông thánh viết ra cuốn sách này còn hơn Phật một bậc,
vì có định chắc phương pháp (là pháp hữu vi) haün hoi để
dạy cho người thấy tánh là điều hy hữu chưa từng thấy,
đến Phật cũng chưa từng có được một pháp định chắc
(phương pháp) nào, nếu không phải tùy nhơn duyên mà giáo
hóa. Ai dè ngay trong quyển sách, những câu của chính tác giả
viết cũng trói buộc quá chặc trong các pháp tương đối,
trong nhị nguyên phân biệt, thế thì làm sao chỉ cho người
kiến tánh để thành Phật được ? Hầu hết nội dung quyển
sách chỉ là góp nhặt lời trong kinh điển mà đa phần là
về Đại thừa đốn giáo và Duy-thức học, góp nhặt mà không
theo một hệ thống gíao-lý nào cả, góp nhặt lung tung, đủ
tất thảy mọi pháp, nếu ai không rành, đọc mà thật hành
thì ắt là tẩu hoả nhập ma hết. Chỉ có mỗi cái tựa thì
thật là hy hữu, giật gân là chính thị của riêng ông Thánh
thời hiện đại mà thôi.
Thời
này, thánh mọc ra như nấm gặp mưa mùa, mà nguyên nhân "đắc
quả" của các thánh chẳng phải nhờ tỏ ngộ bổn lai tự
tánh mà là vì lỗi chủ quan "chấp và lầm", khởi vọng niệm
kết buộc với kiêu và mạn của tự thân. Bên cạnh đó là
lỗi khách quan do những kẽ cuồng tín, tâng bốc, nịnh bợ,
tin tưởng một cách mù quáng, thiếu óc suy lý đã góp phần
tạo nặn nên một ông thánh sống để được ăn theo với
thánh; với lối suy nghĩ thiển cận, vụ lợi, mê tín, rằng
nếu thánh đã là thánh thì những kẻ kia nghĩ chắc là mình
hiểu được ý thánh, được diễm phúc cận kề gần gũi
bên thánh, thì ắt mình cũng phải là á thánh, nhứt là các
món lợi danh trước mắt mà mình có thể có được nhờ thánh
chiếu cố, ban ơn, ban đức dù chỉ là một bữa cơm chay được
hầu kề bên thánh, cũng như nghĩ rằng mai kia thánh có vào
cõi cực lạc thì cũng kéo mình theo với thánh, chí ít là
phù hộ cho mình cũng được vui sướng ngay trong cõi này, vì
có ai là người thân thiết, gần gũi và hiểu được thánh
bằng mình đâu.
Thế
nên, nếu có ai đó lỡ đụng nhằm tới một vài sợi lông
của thánh, thì tức khắc các ông á thánh mù cuồng tín, nịnh
bợ thời hiện đại này lồng lộn lên, như đỉa phải vôi,
như chính mình bị treo cổ không bằng, lôi hết kinh này điển
nọ ra để biện bạch, bào chữa cho thánh, mà không cần biết
người ta nói ra đó là sự thật, là đúng hay là người ta
bịa đặt, hay nói sai, nói bậy. Với những người cuồng
tín, do lòng tin mù quáng, không biết suy lý, biện biệt trắng
đen, mà chỉ có một tâm cuồng nhiệt mê lầm, nên dù ai có
nói trúng tới đâu mà đụng tới thánh của họ thì họ sẽ
sống chết với thánh của mình, như người điên không còn
biết phân biệt phải trái, cứ dùng cái đầu "vô tư, không
suy lý" mà húc tới.
Thí
như trước đây, trong vài bài viết đầu tiên về thánh Chơn-Quang,
thấy có người dám lấy nhíp nhổ mấy sợi lông "tài" trên
mép của thánh, mấy đệ tử ruột của thánh tức thì lồng
lộn lên, không suy không nghĩ, chẳng biết đúng sai, không
tự biết đó là mấy sợi lông "ác" mà ông Chơn-Quang đã
nhổ trộm trên mép của Trư-ngộ Năng rồi gắn vào mép mình,
được người ta nhổ hộ cho, chẳng những không biết ơn
đã đành mà còn nổi nóng, bất kể thân mạng, nhắm mắt
nhắm mũi ôm xăng đi chữa cháy cho thánh.
Đến
khi thiện ác, phải quấy bị lột trần, té ra là thánh đất
do ma nặn ra để truyền giáo ma pháp, dẫn người vào làm
dân ma để củng cố sự nghiệp cho Ba-tuần, thì các ông đệ
tử ruột ấy liền biến mất, đến nổi chẳng còn dám héo
lánh tới chùa của thánh nữa. Thật là tệ.
Vì
tâm còn phàm phu tăm tối, si mê đủ đường, cứ ôm mấy
tạng kinh làm của riêng, cứ tưởng rằng hiểu kinh là nên
thánh, còn người dưới thì cũng cứ tưởng mình hiểu ý
thánh là giỏi là hay, là á thánh rồi chứ còn ai vào đây
nữa. Cho nên nếu có ai đó dại dột đụng tới thánh của
họ, thì họ saün sàng nhắm mắt đưa đầu ra húc mà không
cần biết phải trái, thiệt hơn gì cả. Họ saün sàng xả
thân vì thánh, bỡi có chết cũng là tử vì đạo mà. Nhưng
thật ra, việc họ húc mà không suy lý đó cũng chẳng chết
chóc gì cho cam, bỡi khi nếu biết ra sự thật thì họ chỉ
việc lơ thánh này đi mà tìm thánh khác để tôn thờ vậy.
Những người như thế, chẳng phải là chẳng có trên đời
này vậy.
Cho
nên, đối với những người này, thánh của họ là nhất,
là thánh, mà không cần phải nói năng bàn cãi gì nữa cả,
đến nỗi thánh của họ dù có sanh con đẻ cái trên thế
gian này, dù có làm nhơ cữa Phật bằng đủ thứ chuyện họ
cũng không cần quan tâm tới, bỡi họ chỉ biết một việc
là cắm đầu mê muội mà tin thánh dù là thánh giả tự phong
hay do bọn dưới trướng phong cho để nhờ đó mà cầu lợi
dưỡng cũng không cần biết. Chỉ biết một điều là ai đụng
tới thánh của họ là ngay đó bị họ chụp cho cái mũ nào
là chống phá Phật pháp, nào là kẻ vô thần, là kẻ theo
Cộng-sản, là vạch áo cho người xem lưng vv và vv,.Nhưng những
cái chiêu ấy thì đã quá lỗi thời rồi, không còn ai mù
quáng mà cứ nhắm mắt tin nghe theo những lời không căn cứ
ấy nữa.
Thí
như có thánh thật sự sanh con, đẻ cái làm nhơ nhớp tăng
y chẳng hạn, mà nếu có ai đụng tới thánh của họ là y
như rằng, họ đem sách này, vở nọ do thánh viết ra (vì
là thánh nên chỉ lý thuyết thì hay chứ thật hành thì trật
lất) trích đăng tràn giang đại hải trên mạng để cố
làm mờ mắt độc giả, hay đem chính chỗ thật tại tuyệt
đối của những bậc Thiện-tri thức, những bậc vô tâm,
giải thoát rốt ráo ra, dùng làm bình phong, che mắt thiên hạ,
rồi biện luận một cách mê muội là thánh thì phải hòa
ánh sáng cùng bụi trần chứ, phải hòa với thế tục, sống
như thế tục để mới có thể làm phận sự cứu độ được
chứ. Họ biện luận rằng Thánh tuy có "nếm mùi trần" thật
chứ tâm thánh đâu có nhiễm trần, mà đó chỉ là xác phàm
của thánh muốn thật tế vị trần một chút mà thôi, có
ai chết đâu ? !
Nhắm
mắt nhắm mủi tin tưởng một cách mù quán, mà không cần
biết phân biệt giả hay chơn, thật hay hư, đó là cái bệnh
của những người lầm và chấp, còn kết buộc với vô minh,
mà tự thân thì cứ nghĩ là mình đã sáng tâm lắm lắm rồi.
Có
những việc sờ sờ ra đó, trắng đen rõ như ban ngày thế
mà các ông cuồng tín này cứ vẫn tự lấy tay che mắt, tưởng
rằng mình không thấy người, ắt là người cũng không thấy
mình.
Họ
cứ tưởng là nhắm mắt, nhắm mũi tôn thờ một cách mê
muội vào thánh của mình, như những kẻ Hồi giáo cực đoan
tin mấy ông giáo sĩ của họ vậy, mới là người tốt, mới
là người trung thành, có tín tâm vững vàng, mới là kẻ biết
tôn sư trọng đạo. Còn những ai không mê muội, không tự
bịt mắt mình và dối lừa tự Phật như họ, mà còn dám
đụng tới thánh của họ, mặc dù thánh ấy có nói pháp sai
hay là làm không đúng theo giới luật của Phật đi nữa, thì
họ liền kết tội những người ấy, rằng nào là kẻ vong
ân, phá đạo, rủa sả họ phải đọa đọa ngục vv và vv.thôi
thì đủ thứ mũ để họ chụp, họ chửi.
Thưa
các ông cuồng tín. Không phải như các ông đã nghĩ vậy đâu,
các ông "tâm chì" ạ.
Đừng
tưởng thánh có thể giúp các ông sau khi chết, bỡi vì nếu
đã hiểu sai và làm sai chánh pháp Phật, đã tự dấn thân
ra ngoài giòng đạo pháp thì đến chính thánh còn chưa tự
giúp được thánh giải thoát nổi, huống là có thể cứu
người giải thoát. Chỉ phải tự mình thắp đuốc mà soi
đường cho chính mình. Chỉ tự mình cứu mình chứ chẳng
ai ngoài mình có thể giúp mình giải thoát, dù là Phật, là
thánh hay là gì gì đi nữa cũng đứng đó bó tay mà nhìn thôi.
Bằng
nếu đã tự minh tâm kiến tánh, đã như pháp mà hành trì,
nhứt nhứt không rời lìa chánh niệm, thì dẫu có ngàn Phật,
muôn Tổ xô ra, cũng không chỗ dính dấp.
Pháp
Phật có những bốn vạn pháp môn chơn thật chứ chẳng phải
là ít đâu. Hãy tự chọn cho mình một hướng đi thích hợp,
chứ nếu cứ mù quáng, mê muội, cuồng tín hay tự che mắt
mình, dối lừa tự Phật, đến khi thánh giũ sổ thì mình
bị hụt hẫng đấy. Tới chừng ấy chỉ còn biết quờ quạng
mà đi theo sự dẫn dắt của nghiệp thức tăm tối mà thôi.
Đó là điều chơn thật, từ xưa tới nay không hề sai dối
vậy.
Chúng
tôi thật tâm không có ý gì muốn đụng chạm tới các bậc
tôn túc. Chỉ vì thời này, Phật đạo suy đồi, sanh ra lắm
kẻ mê lầm cuồng tín, và chính họ đã góp phần làm lu mờ
sự trong sáng của Phật đạo.
Thế
nên trong chỗ quá bức xúc mà mới có bài viết này. Nếu
thật sự có chỗ không đúng, rất mong các bậc vô tâm từ
bi, hỉ xả.