5.
Chiếc hộp ân tình
Tôi
xin kể câu chuyện hộp bánh LU để làm rõ thêm ra sự thực
tập này. Bánh bích quy hiệu LU, Lefevre Utile, là một thứ bánh
ở Việt Nam ngày xưa coi như là bánh sang, nhập cảng từ nước
Pháp. Hộp bánh LU rất đẹp. Có những cô thiếu nữ đem cất
những lá thơ tình của người con trai mình yêu viết cho mình
trong hộp bánh LU. Cô có nhỏ vào đấy một ít nước hoa và
giữ gìn hộp bánh LU rất kín đáo. Có khi cha mẹ cũng không
có cơ hội thấy được cái hộp bánh LU kỷ niệm ấy của
các cô nữa. Ngày xưa không có điện thoại, vì vậy cho nên
phương cách để cho hai người yêu liên lạc với nhau chỉ
là viết thơ thôi. Viết thơ mà đôi khi cũng không gởi bằng
nhà giây thép, tại vì nếu gởi nhà giây thép (nhà bưu điện)
thì ông phát thơ có thể đưa tới cho mẹ mình. Rồi mẹ mình
biết, và mẹ người kia biết. Thành ra đôi khi họ giả bộ
mượn sách, cho nhau mượn sách và dấu thơ trong cuốn sách
của mình. Những lá thơ đó, đọc xong mình không xé, mình
muốn giữ kỹ.
Có
một gia đình nọ, hai người lấy nhay vì tình yêu chớ không
phải là vì cha mẹ bắt ép. Lúc mới cưới nhau, họ có hạnh
phúc. Nhưng vì không biết tu tập chánh niệm nên sau một thời
gian, họ gây nội kết cho nhau và làm khổ nhau. Nguời đàn
bà mất hết sự tươi mát, người đàn ông mất hết sự
dịu dàng và ngọt ngào. Hai vợ chồng sống không có hạnh
phúc nữa. Sở dĩ họ còn sống với nhau là vì danh dự, có
thể là tại vì sợ cha mẹ hai bên buồn. Ông ta không còn
cảm thấy thoải mái khi sống gần bà vợ. Bà vợ cũng không
cảm thấy thoải mái khi sống gần chồng. Hai người đi tìm
những niềm vui riêng. Nếu những niềm vui ấy lành mạnh thì
đở. Bà bỏ hết thì giờ để lo việc chùa hay lo việc xã
hội... làm như là nếu không có bà thì nhà chùa sống không
nổi! Ông thì lấy cớ là cần phải học thêm ngành chuyên
môn nên cứ ở miết trong sở hay đi ghi tên lớp đêm để
học thêm.
Có
một bác sĩ cảm thấy không thoải mái khi về nhà, cho nên
sau giờ làm việc ở phòng mạch xong, ông nấn ná thêm một
vài giờ đồng hồ nữa để cứu xét hồ sơ của những bệnh
nhân ngày mai. Về nhà không có hạnh phúc gì mấy. Thà rằng
ngồi ở phòng mạch của mình làm việc mà khỏe hơn. Đó
là một bi kịch. Bà vợ của ông có khi than: "Em cũng là một
người bệnh nữa đây. Anh chẳng chăm sóc em gì cả. Anh chỉ
chăm sóc hồ sơ của bệnh nhân anh thôi". Người vợ đau khổ
và cũng muốn được coi như là một bệnh nhân. Câu nói đó
chỉ chứng tỏ rằng anh ta không muốn về nhà mà thôi. Có
người đã có bằng tiến sĩ rồi nhưng không muốn về nhà,
cho nên đi học thêm một lớp ban đêm để có thêm một bằng
tiến sĩ thứ hai. Không biết để làm gì? Có người tìm làm
công việc xã hội, dạy văn hóa cho con nít ở khu phố trong
khi con mình thì không hề để ý, vợ mình cũng không để
ý. Cái đó gọi là trốn tránh. Người kia mất hết sự tươi
mát rồi và mình tìm sự trốn chạy. Cả hai bên đều như
vậy cả.
Một
buổi sáng nọ, trong khi ông chồng đang ở trong sở thì bà
vợ dọn lại cái tủ áo của mình, tủ áo có nhiều chiếc
áo rất đẹp mà lâu nay bà không mặc. Bà còn giữ lại cái
áo cưới ngày xưa. Trong khi lục tìm, không biết vì sao mà
bà đụng tới cái hộp bánh LU. Rồi không biết buổi sáng
đó ông bà dun dủi làm sao mà bà ta lại có ý muốn mở cái
hộp bánh đó ra. Khi mở ra và nhìn thấy những lá thư thì
bà cảm thấy rung động. Cả mười , mười mấy năm nay bà
không nhìn thấy những lá thư đó. Thấy lại cái màu sắc
của những lá thư, những nét chữ của anh chàng ngày xưa,
tự nhiên có một cái gì như một giọt nước mát thấm vào
trái tim của bà. Bao nhiêu quá khứ, bao nhiêu kỷ niệm hạnh
phúc ngày xưa sống dậy. Bà đứng đó, rút một lá thư ra,
và đọc. Trong khi đọc, bà tiếp xúc được với cái ngôn
ngữ của anh chàng ngày xưa. Nguời gì mà nói năng, viết lách
ngọt ngào làm sao. Tự nhiên hình ảnh ngày xưa của anh chàng
hiện ra, rất tươi mát, đúng là vị hoàng tử của đời
mình. Đọc xong lá thư đó tự nhiên bà thấy khỏe. Thấy
dễ chịu. Bà bỏ lá thư ấy xuống, đọc thêm một lá nữa.
Càng đọc bà càng thấy dễ chịu. Bà dẹp mấy cái áo vào
tủ, không muốn sắp lại nữa. Lấy nguyên hộp LU để lên
bàn, bà ngồi đọc. Bà ngồi đọc một mạch bốn chục lá
thư, cái này sang cái khác. Đọc xong, bà xếp thư trở lại
theo thứ tự ngày tháng như một trò chơi trẻ con vậy. Trong
khi bà đọc những lá thư đó, những hạt giống của hạnh
phúc, của thương yêu, của kỷ niệm được tưới tẩm. Và
hình ảnh của chàng trai dễ mến ngày xưa hiện ra, rất kỳ
lạ, giống như những hạt giống lâu nay chưa bao giờ được
tuới tẩm.
Bà
đâu có biết rằng bà đang thực tập đúng theo đường hướng
Duy thức của Phật học. Thực tập đúng nghĩa là tưới tẩm
những hạt giống của thương yêu, của hạnh phúc trong con
người của mình. Ở đây một sự may mắn đã xảy ra cho
bà thôi, chứ bà đâu có chú ý thực tập. Nếu còn giữ hộp
bánh LU của mình, xin quý vị về thử rồi sẽ biết. Trong
khi đọc thư, tâm hồn khô khan như sa mạc của bà có một
trận mưa rào đi qua. Biết bao nhiêu hạt giống bừng nở lên.
Bà thấy khỏe. Bảy tám năm nay, không bao giờ ông nói với
bà bằng cái giọng ngọt ngào như vậy. Và bà quên, đã nghĩ
không bao giờ người đàn ông lại có thể nói được những
câu như vậy. Ông ta bây giờ lạnh lùng, khắt khe, không giống
gì người con trai ngày xưa. Đọc lại những lá thư, hình
ảnh tưởng đã chết rồi lại xuất hiện trong lòng mình.
Thì ra hình ảnh ấy chưa bao giờ chết cả. Những hạt giống
còn đó, không bao giờ chết hết.
Đọc
xong thư bà thấy chuyển hóa. Bà nhìn vào bà và bà tự hỏi:
một con trai dịu hiền, biết điều, tươi mát như vậy, mình
đã làm ăn như thế nào để bây giờ người đó trở nên
một người khắt khe và lạnh lùng thế kia? Tại sao? Ta đã
có trách nhiệm nào trong việc làm cho anh chàng trở thành một
người đàn ông khó chịu như ngày hôm nay? Bà có ý định
sẽ ngồi xuống, lấy một tờ giấy và viết cho ông một
lá thư, và nói ra những cảm nghĩ của mình trong khi đọc
lại bao nhiêu lá thư đó. Bà tiếc cho cái hạnh phúc ngày
xưa của mình. Hạnh phúc ấy ngày xưa đã có chứ không phải
không có. Chính mình đã đánh mất nó. Cố nhiên là anh chàng
có lỗi, nhưng lỗi phần mình cũng có rất nhiều trong đó.
Không thể nói là mình không có lỗi được. Chưa kịp viết
thư thì có điện thoại của ông ta gọi về. Ông nói là ông
phải đi New York, chiều hôm nay không về nhà ăn cơm được.
Bà biết đó là cái thói quen trốn chạy của ông. Về nhà
đâu có hạnh phúc gì? "Ông chủ nói anh phải đi New York với
ông, có thể là ở cả tuần bên đó." Ông cũng biết rằng
bà không cần gì ông mấy. Chắc bà sẽ nói: "O.K, anh đi thì
cứ đi". Nhưng lần này giọng bà trả lời hơi ngọt. Bà nói:
"Anh cứ đi, cần thì anh đi. Nhưng xong công việc thì anh về
với em." Bà đã nói như vậy. Ông cũng không có chánh niệm
gì mấy và không để tâm tới giọng nói đã trở nên dịu
dàng của bà. Trong bảy tám năm nay, giọng bà có khi rất chua
chát. Từ một nàng tiên tươi mát, dịu hiền, bà đã trở
thành một thứ bà chằng cho ông. Đặt ống điện thoại xuống,
bà nghĩ rằng bây giờ nếu ngồi viết một lá thư cho ông
sẽ là một niềm vui. Bà ngồi và viết lá thư đó. Bà viết
như đã từng viết cho ông ngày xưa. Bà bắt đầu bằng ba
chữ: "Anh yêu quý".