1.
Miệng núi lửa
Có
một cô thiếu nữ người Pháp, sinh ra ở một tỉnh cách làng
Hồng độ chừng hai trăm cây số. Khi lớn lên, tới 19 tuổi,
cô bỏ gia đình, bỏ nước Pháp, đi sang nước Anh để sinh
sống. Người thiếu nữ Pháp đó giận mẹ, giận gia đình,
giận luôn cả tổ quốc. Cô sang bên Anh sống như vậy luôn
hai mươi năm. Hồi còn bé cô có bệnh, đã phải đi bệnh
viện và giải phẩu nhiều lần. Bà mẹ cũng đã cố gắng
làm đúng bổn phận của bà mẹ. Nhưng theo cô, bà mẹ đã
không hết lòng lo cho cô. Có lẽ bà mẹ cũng có nhiều đau
khổ và nhiều vấn đề. Thành ra hai mẹ con lục đục và
không thương nhau. Cô gái nghĩ là bà mẹ không thương cô hết
lòng. Còn bà mẹ thì nghĩ rằng mình làm như vậy là đủ
quá rồi, tại vì chính bản thân mình cũng còn nhiều khổ
đau và nhiều vấn đề quá. Hai mẹ con có nội kết với nhau
và đã gây khổ đau cho nhau. Hai mẹ con đã leo thang trong sự
làm khổ nhau, đã tưới tẩm nội kết của nhau. Trong những
năm gần đây, cô bỗng thấy nhớ mẹ và muốn trở về để
hòa giải với mẹ. Dầu sao những hạt giống của tình thương
và của bổn phận làm con vẫn còn trong lòng cô gái đó. Và
bà mẹ, tuy có giận con, nhưng cũng đã âm thầm mong con trở
về.
Bà
cứ tâm tâm nguyện nguyện là con gái trở về thì mình sẽ
cố gắng ăn nói thật nhẹ nhàng và thật dịu dàng để hai
mẹ con có thể làm hòa với nhau. Rồi bà nghĩ nếu trong tương
lai có con gái sống bên mình thì thế nào hai mẹ con cũng có
an lạc, có an ninh và có thoải mái hơn. Cô gái cũng vậy,
cô cũng muốn trở về với mẹ, muốn dung ngôn ngữ hòa ái
để làm hòa với mẹ, để thỏa mãn cái ước ao sâu kín
trong lòng cô. Hai mẹ con đều có ý muốn hòa giải. Không
ai bắt buộc họ làm điều này. Không phải do Chúa bảo, không
phải do Bụt bảo, cũng không phải do Thầy bảo. Chính do cái
lương tâm của mình thúc đẩy. Lương tâm ở đây là hạt
giống tình thương mẹ con nằm sâu trong tâm thức của cả
hai người. Rồi hai mẹ con gặp lại nhau. Khi mới gặp, họ
bắt đầu nói những câu khá dễ thương.
Nhưng
sau đó hạt giống giận hờn cũ nổi dậy. Hai mẹ con lại
bắt đầu cãi nhau. Và hai mẹ con lại giận nhau như cũ. Người
con gái lại phải ra đi. Mấy tháng sau, người con gái lại
muốn trở về, lần nấy quyết chắc mình sẽ thành công hơn.
Cái ý chí muốn trở về với mẹ, muốn hòa giải với mẹ
rất mạnh. Nhưng cả hai thất bại. Lần thứ ba rồi lần
thứ tư cũng thế. Lần thứ mười cũng thế. Hễ hai người
gặp nhau là có sự bùng nổ, dù cả hai mẹ con đều không
muốn như vậy. Ý chí muốn hòa giải rất mạnh nơi hai người,
nhưng sự hòa giải đã không thực hiện được. Mình thử
đặt câu hỏi tại sao?
Bụt
thường nói tới ba nghiệp. Ba nghiệp tức là thân nghiệp,
khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân nghiệp là hành động của
thân thể, khẩu nghiệp là hành động của ngôn ngữ, và ý
nghiệp là hành động của tư tưởng, của tâm niệm. Mình
thử hỏi xem trong ba nghiệp đó, nghiệp nào đã chịu trách
nhiệm về sự thất bại của hai mẹ con? Cái ý chí muốn
hòa giải, cái thân cũng đã làm được chuyện hòa giải,
tức là đã lên xe lửa đi về tới Pháp. Nhưng cái miệng
hình như chưa giỏi. Lạ lắm, ban đầu hai mẹ con nói những
câu rất cảm động với nhau:
"Lâu
quá không được gặp mẹ", " Lâu quá con mới trở về. Mẹ
mừng lắm."
Những
câu rất hay, những câu có thể rơi nước mắt người ngoài
và chính đương sự. Như vậy tức là thiện nghiệp chứ gì.
Nhưng nói chuyện một hồi thì những hạt giống xa xưa của
khổ đau, của giận hờn ở trong tâm thức dần dần nổI
dậy. Và miệng của cô thiếu nữ cũng như miệng của bà
mẹ đã trở thành hai cái miệng của núi lửa. Hỏa Diệm
sơn là gì? Hỏa Diệm sơn là một trái núi phun lửa. Mà lửa
ở đâu? Lửa nằm trong lòng đất. Những lúc bình thường
thì miệng núi lửa rất là mát, có sương và mây bao phủ.
Nhưng khi núi sắp phun lửa thì có những chấn động ở bên
trong. Khi lửa được phun ra thì tất cả những cây cối trên
sườn núi bị đốt cháy. Nham thạch chảy xuống và tiêu diệt
tất cả những làng mạc ở dưới chân núi.
Như
vậy có phải là lỗi của miệng núi hay không? Phải. Miệng
núi có trách nhiệm thật, nhưng nếu trong lòng đất không
có những khối lửa vĩ đại thì làm sao cái miệng ấy có
thể phun ra biết bao nhiêu lửa đốt cháy tất cả cây cối
trên sườn núi và nhà cửa dưới chân núi? Cho nên chúng ta
không thể nói rằng khẩu nghiệp ở đây là căn bản vì khẩu
nghiệp. Ta nói ra những điều làm cho mất tình , mất nghĩa,
ta nói ra những điều gây ra những khổ đau và khối nội
kết trong lòng người kia và chính trong lòng mình. Nhưng khẩu
nghiệp có liên hệ tới ý nghiệp. Mà ý nghiệp đây không
phải chỉ là tâm ý phần trên mà là tâm ý phần dưới, tức
là tàng thức, hoặc a-lại-gia.
Trong
thiền viện, người tu học phải rất ý thức về cái tai
hại khi nói năng không có chánh niệm. Nếu ta nói năng không
có chánh niệm, nếu ta không nắm vững khẩu nghiệp thì ta
gây sự đổ vở, không phải ở xung quanh ta mà thôi mà còn
chính ở trong lòng ta. Cho nên ta mới có câu chân ngôn để
giúp cho thanh tịnh khẩu nghiệp, gọi là tịnh khẩu nghiệp
chân ngôn. Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, tát bà ha.
Quý vị nào thực tập câu chân ngôn đó nhiều thì hãy báo
cáo coi thử nó có thể làm thanh tịnh khẩu nghiệp mình hay
không? Tôi nghĩ khẩu nghiệp của mình không thể nào trở
thành thanh tịnh được nếu thân nghiệp và ý nghiệp của
mình không thanh tịnh. Vì vậy cho nên lại có một câu chân
ngôn, nhắc tới làm thanh tịnh không những chỉ là khẩu nghiệp,
mà cả thân nghiệp và ý nghiệp nữa. ٮ ta phạ bà phạ truật
đà ta phạ đạt ma ta phạ bà phạ truật độ hám.
Riêng
tôi, tôi chỉ thực tập làm thanh tịnh tam nghiệp bằng các
phương pháp quán niệm hơi thở, thiền hành thiền tọa, những
phương
pháp mà quý vị đã học được ở Làng Hồng. Tại Việt
Nam, chúng ta có một pháp môn rất hay để thực tập thanh
tịnh khẩu nghiệp và đồng thời cũng có thể làm thanh tịnh
ý nghiệp. Đó là phương pháp Tịnh Khẩu. Tịnh Khẩu tức
là không nói nữa. I vow not to speak any more. Không nói thì có
an ninh hơn nhiều. Ở trên núi Madona gần tu viện Kim Sơn, có
một trung tâm tu học mà ngườI chủ trương là một thầy
Ấn Độ. Vị thầy này thực tập tịnh khẩu suốt đời.
Hiện bây giờ ông vẫn còn ở đó. Nếu quý vị lên thăm
trung tâm thì tuy không nói chuyện với ông nhưng quý vị có
thể gặp, có thể thấy mặt, và có thể được ông tiếp
trà. Thỉnh thoảng,muốn nói cái gì thì ông viết ra một câu
rồi ông đưa cho mình đọc. Ông không bao giờ mở miệng nói.
Đó là một người lập nguyện tịnh khẩu suốt đời.
Nhưng
chúng ta gặp rất nhiều thầy, nhiều sư cô và nhiều người
Phật tử phát nguyện tịnh khẩu trong vòng ba tháng, hay sáu
tháng, hay mười lăm ngày. Phương pháp đó là một phương
pháp rất hay. Nếu muốn thử thì xin quý vị hãy thử. Mình
thử thực tập độ chừng một tiếng đồng hồ là đã thấy
có kết quả rồi. Nếu quý vị thử được bảy ngày thì
kết quả ấy có thể trông thấy rất rõ ràng. Thực tập
cho sâu sắc thì quý vị có thể đạt được kết quả rất
mau chóng. Pháp môn tịnh khẩu chuyển hóa không những khẩu
nghiệp, mà còn chuyển hóa cả thân nghiệp và ý nghiệp nữa.
Sống trong một đoàn thể như trong một gia đình hay trong một
tăng thân tu học thì trước khi khởi sự thực tập tịnh
khẩu, quý vị phải báo cho người ta biết. Nếu không người
ta có thể tưởng quý vị đang giận người ta, người ta cho
rằng chính mình khinh người ta. Mình báo cho những người
ở trong nhà mình biết và yêu cầu những người trong nhà
yểm trợ mình trong thời gian mình tịnh khẩu. Những lúc cần
thiết, ta có thể dùng ngôn ngữ của hai bàn tay để truyền
thông. Nếu cần ta cũng có thể ta dùng chữ viết. Dùng hai
bàn tay và chữ viết thì có an ninh nhiều hơn, vì trong khi
viết, ta có thì giờ để quán chiếu những cái ta đang viết
xuống. Còn trong khi nói ta có thể có nhiều rủi ro hơn.
Người
tu chánh niệm vững chãi có thể có ý thức và quán chiếu
về những điếu mình đang nói. Những người mà chánh niệm
chưa vững chãi dễ bị cái nói của mình kéo mình theo. Ta
nói những điều mà chính ta không muốn nói. Lúc ban đầu
ta quyết tâm không nói những điều đó. Lúc ta bắt đầu
nói, ta cũng quyết tâm không nói những điều kia. Nhưng không
biết vì ma xui quỷ khiến như thế nào mà càng nói ta càng
đánh mất chủ quyền, và chính ta bị những lực lượng rất
ma quái kéo đi. Những lực lượng ma quái đó là những lực
lượng nào? Đó là những khối đau ở trong tiềm thức của
mình. Nó là những nội kết có sẵn. Những cái đó mạnh
hơn mình. Cela est plus fort que moi.
Nếu
muốn thực tập tịnh khẩu ta phải biết rằng thực tập
tịnh khẩu có lợi cho mình. Tịnh khẩu là làm thanh tịnh
khẩu nghiệp. Nó có ích lợi cho mình và có ích lợi cho những
người xung quanh mình. Nó tránh sự gây đỗ vỡ. Trong thời
gian tập tịnh khẩu đó, ta nhắm tới sự chuyển hóa. Không
phải ta thực tập tịnh khẩu trong ba tháng để chỉ có an
ninh trong ba tháng. Không, ta muốn có an ninh nhiều hơn trong
ba tháng. Vì vậy cho nên trong ba tháng tịnh khẩu, ta phải
thực tập chuyển hóa để sau khi ta chấm dứt tịnh khẩu
thì an ninh đó có thể kéo dài.
Muốn
như vậy, ta phải có phương pháp. Trước hết ta thấy được
nhu cầu muốn tịnh khẩu của mình. Ta biết rằng trong một
tăng thân tu học, trong một gia đình tin Phật, sự phát nguyện
tịnh khẩu ba ngày, năm ngày, mười ngày, mười lăm ngày được
coi như là một phương pháp tu học đứng đắn rất đáng
được khuyến khích. Cho nên ta không ngần ngại nói với những
người trong gia đình của ta hay trong tăng thân của ta là ta
muốn xin phép được tịnh khẩu trong vòng bao nhiêu ngày đó.
Trong những ngày ấy, nếu có người gọi điện thoại tới
cho mình thì một người trong gia đình hoặc trong tăng thân
nói: "em nó đang tịnh khẩu, có muốn nhắn gì thì nhắn đi,
tôi sẽ viết lại trên một mảnh giấy và sẽ đưa lại cho
em." Vì vậy ta cần sự yểm trợ của những người trong gia
đình hay trong tăng thân của ta khi thực tập tịnh khẩu. ʮ
cơm có canh, tu hành có bạn. Trong những ngày đầu của thời
gian tịnh khẩu ta có thể sẽ thấy hơi khó chịu. Hơi khó
chịu là vì ta ngứa miệng. Ta nghe và thấy những điều khiến
ta muốn nói. Khó chịu vì ta cưỡng lại cái tập khí ưa nói.
Nhưng tịnh khẩu càng lâu thì ta càng có hạnh phúc. Miệng
mình tuy không nói nhưng có thể cười. Và cuời thì hay hơn
nói nhiều lắm.