KỸ THUẬT
DI TRUYỀN
ĐÁNH
GÌA THEO QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO
Ron
Epstein(*)
Religion
East and West, Issue 1, June 2001, 39-47.
Một
Phật Tử trong thế giới tương lai có thể sẽ như thế nào
khi cuộc đời của bạn khởi đầu với việc cha mẹ bạn
thiết kế các tế bào di truyền của bạn? Ngoài việc thanh
lọc những bịnh tật di truyền không muốn có, cha mẹ bạn
còn lựa chọn giới tính, màu của mắt, tóc, da, và nếu cha
mẹ bạn là Phật tử, có thể họ chọn những tế bào di
truyền cho phép bạn ngồi dễ dàng trong tư thế kiết già.
Bị áp lực bởi những trào lưu xã hội hiện nay, cha mẹ
bạn có thể chọn những tế bào di truyền mà chức năng tổng
quát chưa được hiểu rõ ràng nhưng được nghe đồn là liên
hệ đến tánh tình, sự thông minh, quan niệm, và có lẽ cả
thần thông nữa (không còn có nhu cầu tìm kiếm những vị
lạt ma tái sinh - tulkus. Bây giờ họ tự nhân giống di truyền
và tái sanh trong giòng của họ). Nếu cha mẹ bạn nghèo, họ
có thể được trả tiền để thiết kế kiểu con người
cho bạn với những tế bào di truyền thay đổi phù hợp cho
một nghề nghiệp đặc biệt nào đó, cùng với một giao kèo
trước lúc sanh là sẽ có công việc làm trong tương lai. Giống
như trong phim Gattaca, bạn có lẽ thuộc về một giai cấp xã
hội được quy định rõ ràng tùy theo mức độ tăng cường
di truyền của bạn. Dĩ nhiên có thể vẫn còn một ít hành
giả kỳ lạ, không do tăng cường di truyền, mà do tự chọn
tự nhiên đang thiền định trên những ngọn núi.
Từ
những giọt sữa đầu tiên bạn uống, thực phẩm của bạn
đã bị biến đổi bằng kỹ thuật di truyền. Thế giới tự
nhiên đã hoàn toàn bị làm lại, bị xâm lấn và bóp méo
không còn nhận ra vì những cây cối, động vật, côn trùng,
vi khuẩn, siêu vi khuẩn … đã bị biến đổi di truyền, kể
cả loại theo kế hoạch dự trù và loại ngoài dự tính. Bệnh
tật cũng rất khác xa. Hầu hết bệnh tật cũ đã biến mất
hoặc đột biến thành những hình thể mới, tuy nhiên hầu
hết mọi người đều khổ sở do hậu quả của tác nhân
gây bệnh tạo ra bởi kỹ thuật di truyền, hoặc do được
dùng trong chiến tranh sinh học, hoặc do lầm lẫn thải vào
môi trường, hoặc tái kết hợp thành những hình thức độc
hại từ những sinh thể bị biến đổi bằng kỹ thuật di
truyền nguyên thủy vốn vô hại nhưng bị đột biến di truyền
nhanh chóng. Kỹ thuật di truyền thật quá phố biển, bạn
khởi sự tự làm thí nghiệm đơn giản về kỹ thuật này
khi còn ở bậc tiểu học.
Tương
lai đó có thể đánh lừa bạn hơn bạn nghĩ. Theo quan điểm
Phật Giáo, chúng ta cần phân tích những phát triển về kỹ
thuật di truyền hiện nay đang cung cấp những hạt giống ban
đầu như thế nào để sẽ ảnh hưởng đến thế giới trong
tương lai. Bởi vì kỹ thuật di truyền có tiềm năng chuyển
đổi căn bản cả thiên nhiên và bản tánh con người, nó
đem lại một sự đe dọa lớn lao hơn nhiều so với những
kỹ thuật khác.
Theo
giáo pháp Phật Giáo, thiên nhiên mà chúng ta cảm nhận chỉ
là một cái nhãn cho cọng nghiệp của các chúng sanh hữu tình
trên hành tinh này, và bản tánh con người là hỗn hợp nghiệp
báo của tư tưởng và tình cảm cần phải được chuyển
hóa trên con đường đi đến giác ngộ.
Bởi
vì nghiệp- và đau khổ - sẽ vẫn còn ở với chúng ta trong
Thế Giới Mới Can Đảm (New Brave World) này, có người đã
cho rằng kỹ thuật di truyền không quan trọng lắm đối với
Phật tử, những công việc dành cho chúng ta hiện nay sẽ chủ
yếu là không thay đổi. Nhưng có lẽ chúng ta hãy nên nhìn
sâu hơn.
Ví
dụ, quan hệ của kỹ thuật di truyền đến tiềm năng giác
ngộ và sự nhận thức của chúng ta như thế nào? Quan điểm
Phật Giáo cho rằng tình trạng của thân thể và hệ thống
thần kinh của chúng ta có ảnh hưởng đến tâm của chúng
ta và ngược lại. Đó là lý do tại sao nền đạo đức dựa
vào nền tảng nghiệp báo nhấn mạnh rằng về sự thanh tịnh
của cả tâm và thân như là điều kiện tiên quyết cho sự
tiến
bộ về tâm linh. Ví dụ như khi chúng ta ngồi thiền, những
thay đổi tâm sinh lý vi tế xảy ra bên trong thân thể chúng
ta tương ưng với mức độ tiến triển tâm linh của chúng
ta. Càng thiền định thâm sâu, càng có những chuyển hóa thân
tâm sâu xa. Giống như vậy, từ thời Đức Phật, các Phật
từ đã nhận ra rằng có những nơi chốn nào đó có những
năng lực thiên nhiên giúp thăng tiến về thiền và trực giác.
Kỹ
thuật di truyền có tiềm năng thay đổi cả thân thể chúng
ta và môi trường bằng cách làm giảm đi khả năng giúp đỡ
tiến trình chuyển hóa bản thân. Ví dụ, khi một người dùng
thuốc, sinh học cơ thể bị thay đổi làm cho việc thiền
khó khăn hơn. Tương tự như vậy, kỹ thuật di truyền có
thể ảnh hưởng cơ thể của chúng ta bằng những phương
cách chưa được biết rõ và sẽ cản trở sự tiến bộ của
chúng ta trên đường Đạo. Ngay cả nếu chỉ có một khả
năng tương đối nhỏ về việc kỹ thuật di truyền gây ảnh
hưởng sự tiến bộ trên con đường giác ngộ, đó cũng là
một nguyên nhân quan trọng cần quan tâm. Bởi vì khoa học
chỉ đối phó với thế giới vật chất, không có những thí
nghiệm khoa học có thể đánh giá được loại nguy hiểm này.
Giới
cấm thứ nhì là ngăn cấm việc trộm cắp. Tuy nhiên, các
công ty kỹ thuật sinh học và ngay cả một số đại học
đều đang ăn cắp tế bào di truyền, đem đăng ký phát minh
những tế bào di truyền của những người thổ dân, của
các cây cỏ địa phương …, và sau đó tính tiền cho việc
sử dụng chúng. Đường hướng Phật giáo thì khác nhiều.
Đức Phật dạy rằng, khi giao tiếp với kẻ khác hay với
môi sinh, chúng ta phải bắt chước như ong lấy phấn từ hoa.
Sự lợi ích là hỗ tương và không có sự gây hại.
Hơn
nữa, Đạo Phật hiểu rằng vũ trụ là một hệ thống mở
rộng. Đối chiếu lại, phương pháp khoa học thông thường
được điều hành trong hệ thống nhân tạo theo giả thuyết
và khép kín, được giả dụ là có một sự tương quan có
ý nghĩa, nhưng không đầy đủ và không hoàn hảo, tương ứng
với thế giới thật. Những điều chứng minh trong phòng thí
nghiệm có thể có hoặc không có giá trị trong thế giới
thiên nhiên. Phương pháp khoa học không thể, bởi vì những
giới hạn nội tại của nó, đánh giá được toàn bộ các
hậu quả có thể có về sự biến đổi bằng kỹ thuật di
truyền đối với các sinh vật trong một thế giới là hệ
thống mở rộng.
Từ
quan điểm đạo đức Phật Giáo căn bản, những phát triển
đặc biệt trong kỹ thuật di truyền thật rắc rối và hướng
đến một tương lai đầy dẫy sự phức tạp và không rõ
ràng về mặt đạo đức. Những người thực hành theo Phật
giáo đầu tiên cần biết những gì đang thật sự diễn ra
trong lãnh vực này, trước khi họ có thể tự phân tích về
nghiệp báo về việc họ và thế giới chúng ta đang sống
sẽ bị ảnh hưởng theo những hình thức quan trọng như thế
nào đối với họ, và họ sẽ có phản ứng thích hợp như
thế nào.
Dưới
đây đơn cử tiêu biểu về một vài lãnh vực cần sự quan
tâm lớn nhất về đạo đức.
Cây
cối và thực phẩm tiếp tục trở thành đối tượng cho kỹ
thuật di truyền. Công ty Delta & Pine Land nhận được bằng
phát minh Hoa Kỳ về kỹ thuật thay đổi di truyền hạt giống
để hạt giống sẽ không nẩy mầm nếu trồng lại lần thứ
hai, như vậy hạt giống mất sinh tính trừ khi được phun
một hợp chất đã được đăng ký phát minh khác, có chứa
chủ yếu là các chất kháng sinh. Công ty Monsanto muốn dùng
Kỹ Thuật Tiêu Diệt này để ngăn không cho các nông dân thu
thập hạt giống đã được biến đổi di truyền, ép buộc
họ phải mua hạt giống mỗi năm.
Để
tránh lệ thuộc vào plastics chế tạo từ dầu hỏa, một số
khoa học gia tại Hoa Kỳ, Âu Châu và Gia Nã Đại đã dùng
kỹ thuật biến đổi di truyền thực vật để cây cối sản
sinh plastic trong cấu trúc cuống lá của chúng. Họ tuyên bố
rằng chất này sẽ phân hủy sinh học trong vòng sáu tháng.
Nếu những tế bào di truyền nầy thoát ra thiên nhiên, có
khả năng rằng những vùng thiên nhiên sẽ bị làm ô nhiễm
với những cọng lá plastic của những lá đã bị mục nát.
Là chất độc hại, plastic này còn tạo nên những nguy hiểm
thật sự bởi vì nó có tiềm năng chặn đứng hoặc giết
hại toàn bộ dây chuyền thực phẩm (food-chains). Nó có thể
bị những loài sinh vật không có xương sống ăn, loài này
sau đó lại bị loài khác ăn, và cứ tiếp tục như vậy.
Tiến Sĩ John Fagan, Giáo sư Sinh Học Phân Tử tại Đại học
Maharishi về Quản Trị và trước đây đứng đầu nhóm nghiên
cứu tại Học Viện Sức Khoẻ Quốc Gia, đã cảnh cáo rằng
những thành tố mới được sử dụng trong những plastic này
là các loại dầu có lẽ sẽ độc hại đối với loài vật.
Một
tư tưởng đáng buồn khác là tạo nên những thực vật bị
biến đổi di truyền bằng chất độc bò cạp để những
côn trùng ăn các thực vật đó sẽ bị chết. Một nhà di
truyền học nổi tiếng, Joseph Cummins, Giáo sư danh dự về
Di Truyền tai Đaị Học Western Ontario, đã cảnh cáo rằng những
tế bào di truyền như thế có thể truyền theo hàng ngang qua
những côn trùng khác, như vậy có nguy hiểm là tao nên loài
côn trùng lúc chích nọc hay cắn sẽ tiêm chất độc bò cạp
vào nạn nhân của chúng, gồm luôn cả chúng ta. Tuy nhiên,
nghiên cứu và thử nghiệm vẫn đang tiếp tục.
Nhiều
nhà khoa học tuyên bố rằng việc tiêu hóa thực phẩm có
dùng kỹ thuật di truyền là vô hại bởi vì các acid trong
bao tử sẽ phân hủy các chất đã bị kỹ thuật di truyền
biến đổi. Tuy nhiên, theo nghiên cứu, phần lớn các chấ
t này đã vào đến mạch máu và cũng đến các tế bào não.
Hơn nữa, cơ chế tự vệ tự nhiên của các tế bào có thể
không hoàn toàn hữu hiệu trong việc ngăn không cho các chất
bị biến đổi bằng kỹ thuật di truyền vào tế bào. Những
thí nghiệm gần đây cho thấy rằng các sinh thể biến đổi
bằng kỹ thuật di truyền có thể đột biến đến 30 lần
nhanh hơn những sinh thể bình thường, do đó có tiềm năng
nguy hiểm về sức khỏe rất lớn.
Việc
tạo nên xenographs (dị thú) – những thú vật bị biến
đổi di truyền và thường có chứa tế bào di truyền của
con người – là một trong những ứng dụng kinh khủng hơn
nữa của kỹ thuật này. Thông thường những thí nghiệm nầy
đưa đến kết quả là những thú vật bị biến dạng kinh
khủng và chịu những đau khổ khủng khiếp. Ngay cả khi những
thí nghiệm được thành công, mô hình khoa học là con vật
như là một nhà máy sản xuất hữu hiệu một số chất
- như thịt, sữa, hay thuốc men- cho sự tiêu thụ của con người.
Những
điều người Phật tử cần lưu ý ở đây là các mức độ
nghiệp xấu. Việc giết hại loài vật để lấy thịt là
vi phạm giới luật ngăn cấm giết hại. Việc sản xuất chăn
nuôi công nghiệp đã đem thêm những khổ sở không tưởng
tượng nỗi cho cuộc đời các thú vật trước khi chúng bị
giết. Việc tạo nên xenographs là sự vi phạm sâu xa hơn nữa
vào đời sống loài vật. Dù những tế bào di truyền được
đưa vào để tạo nên loài vật mới có phải là tế bào
di truyền từ con người hay không, xenographs được tạo nên
cho sự sử dụng của con người và được cấp bằng phát
minh vì lợi nhuận của các công ty mà không cần quan tâm về
sự đau khổ của những con vật này, về cảm nhận, tư tưởng,
nếp sống thiên nhiên, hoặc tiềm năng giác ngộ của chúng.
Những
ví dụ gần đây về loại kỹ thuật di truyền này như đưa
tế bào di truyền của con người vào trong cá và làm chúng
lớn nhanh hơn. Công ty PPL Therapeutics, trụ sở tại Edinburgh,
Tô Cách Lan, các công ty sinh học Nextran va Alxion tại Hoa Kỳ,
và các công ty khác, đang chạy đua để đưa tế bào di truyền
của người vào heo để làm phù hợp về di truyền theo từng
cá nhân con người. Nói một cách khác, bạn có thể có một
con heo có những bộ phận có thể ghép cho bạn với những
tế bào di truyền của bạn được cấy vào. Khi một trong
các bộ phận của bạn bị hư, bạn có thể dùng bộ phận
của con heo đó.
Dĩ
nhiên, nhiều người sẽ nói rằng thà hy sinh con heo để họ
hoặc những người thân yêu của họ được sống, mặc dầu
những tư tưởng và hành động như vậy không phù hợp với
lý tưởng Bồ tát. Tuy nhiên, còn có những giải pháp nhân
đạo hơn. Ví dụ, tại một số quốc gia ở Âu Châu, mọi
người đều được xem là có tiềm năng cho đi bộ phận cơ
thể của mình trừ khi họ có nộp đơn yêu cầu rõ ràng với
chính phủ là họ không muốn như vậy. Do đó không có sự
thiếu hụt cơ phận để ghép và không cần sự hy sinh của
những con heo bị biến đổi di truyền.
Khi
càng lúc càng nhiều tế bào di truyền của con người được
đưa vào những sinh thể không phải là con người để tạo
nên những hình thức sống mới mẻ có một phần di truyền
là của con người, các câu hỏi về đạo đức lại được
đặt ra. Tỷ lệ tế bào di truyền của con người trong cơ
thể một sinh thể phải là bao nhiêu phần trăm thì được
xem đó là con người? Ví dụ, phải có bao nhiêu tế bào di
truyền của con người trong một trái ớt xanh thì bạn sẽ
cảm thấy ghê tởm khi ăn nó? Đây không chỉ là câu hỏi
giả thuyết. Người Trung Hoa tại Đại Học Bắc Kinh bây giờ
đang đưa tế bào di truyền của loài người vào trong cà chua
và ớt để chúng lớn nhanh hơn. Đối với người ăn thịt,
câu hỏi giống như vậy có thể được đặt ra về việc
ăn thịt heo có chứa tế bào di truyền của con người. Và
đối với những con chuột đã được biến đổi di truyền
để sản sinh tinh trùng của con người thì như thế nào?
Còn
về con người thì như thế nào? Vài năm trước công ty Granada
Biosciences của Texas đã nộp đơn với Văn Phòng Bằng Phát
Minh Âu Châu (European Patent Office) để xin văn bằng phát minh
về một cái gọi là “pharm-woman” (thuốc từ phụ nữ),
tư tưởng ở đây là dùng kỹ thuật di truyền áp dụng vào
người phụ nữ để sữa của họ sẽ chứa những loại thuốc
đặc biệt. Công việc cũng đang tiến hành là dùng kỹ thuật
di truyền để làm mọc lên những bộ ngực người phụ nữ
trong phòng thí nghiệm. Không những chúng sẽ được dùng để
ghép ngực cho những người bị giải phẫu ngực vì ung thư,
mà còn có thể dễ dàng tăng cường nhu cầu thương mại mạnh
mẽ bởi những phụ nữ đang tìm kiếm bộ ngực “hoàn hảo”.
Nhà di truyền học Jonathan Slack của Đại Học Bath tại nước
Anh, mới đây đã đề nghị tạo nên những con người không
có đầu bằng kỹ thuật di truyền để dùng lấy bộ phận
cơ thể. Một số nhà di truyền học nổi tiếng, như Lewis
Wolpert, Giáo sư Sinh học Áp Dụng Y Khoa tại Đại Học College
London, đã ủng hộ ý kiến của ông [Slack].
Điều
trị bằng gen để thay thế các tế bào di truyền (genes) bi
khiếm khuyết có liên hệ đến nguy cơ mắc bệnh do cố ý
đưa những tế bào di truyền mới vào cơ thể để tìm cách
biến đổi cấu trúc di truyền của cơ thể. Bởi vì tế bào
di truyền (genes) di chuyển dễ dàng từ một sinh thể này sang
một sinh thể khác, đưa vào một tế bào di truyền mới có
thể có những hậu quả không lường được. Thêm nữa, điều
trị bằng gen còn tùy thuộc vào con dốc trơn trượt nhắm
đến những tế bào di truyền kiểu mẫu. Một chỉ dấu cho
thấy con dốc đó càng trơn trượt hơn là việc quản trị
thí nghiệm về kích thích tố tăng trưởng được dùng kỹ
thuật di truyền áp dụng cho những trẻ em khỏe mạnh nhưng
chỉ có hơi thấp hơn trung bình mà cha mẹ các em lại muốn
các em cao hơn.
Khi
cứu xét về tiềm năng của kỹ thuật di truyền trong việc
chữa bệnh, chúng ta cần nhớ rằng, theo Phật pháp, chúng
ta bị bệnh vì một trong hai lý do chính. Bốn yếu tố (tứ
đại) của chúng ta có thể bị mất quân bình, có thể diễn
dịch một cách thô thiển theo ngôn ngữ hiện đại là “chúng
ta thiểu năng lực và khả năng đề kháng với mầm bệnh
thấp.” Và bệnh tật hoặc đời sống ngắn ngủi có thể
trong vài trường hợp là do nghiệp báo giết hại sanh mang.
Là người Phật tử, chúng ta đặc biệt nên nhạy cảm về
việc những nhà di truyền làm suy đồi ý nghĩa con người
là gì. Chúng ta có muốn “chữa” với bất cứ giá nào?
Chúng ta có thể muốn tự hỏi là nghiệp gây hại sanh mạng
liên quan đến việc phát triển và ứng dụng kỹ thuật trị
liệu bằng tế bào di truyền sẽ gây cho chúng ta những vấn
đề nghiệp quả nặng nề hơn về sau không? Hoặc cơ phận
động vật đã đổi tế bào di truyền ghép vào trong cơ thể
chúng ta sẽ ảnh hưởng lên phẩm chất con người trong ý
thức hàng ngày của chúng ta như thế nào?
Si
êu vi khuẩn đưa ra những nguy hiểm đặc biệt khi tương tác
với những sinh thể bị biến đổi di truyền. Thực vật,
động vật, và siêu vi khuẩn đóng một vai trò lớn trong hệ
sinh thái tạo nên sinh quyển và được một số người xem
là một trong những yếu tố chính trong sự thay đổi tiến
hóa. Siêu vi khuẩn có khả năng đi vào những chất liệu di
truyền của sinh vật chủ, phân giải, và sau đó tại kết
hợp với chất liệu di truyền của sinh vật chủ để tạo
nên những siêu vi khuẩn mới. Những siêu vi khuẩn mới này
sau đó làm nhiễm bệnh những sinh vật chủ mới, truyền chất
liệu di truyền mới đến sinh vật chủ mới. Khi sinh vật
chủ sanh sản, sự thay đổi di truyền xảy ra. Chúng ta có
thể giả sử rằng những siêu vi khuẩn thông thường, dù
có độc hại đến đâu đi nữa, nếu sanh sản một cách tự
nhiên, đều có đóng một vai trò trong hệ sinh thái và được
điều hành bởi hệ sinh thái đó.
Nếu
các tế bào bị biến đổi di truyền bằng kỹ thuật, lúc
đó khi siêu vi khuẩn đi vào các tế bào – dầu là loài người,
loài vật hay thực vật – những chất liệu này cũng có thể
được truyền đến những siêu vi khuẩn mới được tạo
nên và lan đến những sinh vật chủ mới của các siêu vi
khuẩn. Bởi vì siêu vi khuẩn với những chất liệu được
biến đổi di truyền bằng kỹ thuật có thể không bao giờ
tự nảy sanh ra một cách tự nhiên trong hệ sinh thái, không
có gì bảo đảm rằng là có cách tự vệ tự nhiên để chống
lại chúng. Chỉ riêng vấn đề này có thể đưa đến sự
chết chóc lan rộng của loài người, loài vật hoặc thực
vật, do đó tạm thời hoặc có thể vĩnh viễn làm hư hại
hệ sinh thái. Sự chết trụi lan rộng của những chủng loại
thực vật có thể ảnh hưởng toàn bộ hệ sinh thái, và khả
năng chết lan rộng của loài người cần được sự quan tâm
của chúng ta. Khái niệm cho rằng hệ sinh thái cuối cùng đều
có thể đối phó được với bất cứ đe dọa nào, dù tệ
hại đến đâu đi nữa, là không có cơ sở khoa học.
Chưa
có bằng cớ hiện hữu nào là sự sống và an sinh của loài
người là ưu tiên hơn trong những hệ thống tự tổ chức.
Cũng không có bằng cớ nào cho thấy rằng trong những hệ
thống đó được trang bị để đối phó với những đe dọa
do những sinh vật bị biến đổi đi truyền bằng kỹ thuật
có thể đem đến.
Kỹ
thuật di truyền còn có thể ảnh hưởng toàn thể thiên nhiên.
Trong thuật ngữ Phật giáo, “thiên nhiên” liên hệ đến
các hình thức nhân quả phản ảnh nghiệp của chúng sanh sống
trên hành tinh. Về việc tôn trọng sự sống, đó là nền
tảng của tất cả các hành trì Phật giáo, thiên nhiên có
thể được hiểu là tổng số tất cả các hệ sinh thái giúp
cho sự sống; nó là điều kiện chính yếu để bảo vệ chúng
sanh không bị hại. Con người, loài vật, và các chúng sanh
hữu tình khác đều tuỳ thuộc vào một môi trường nguyên
vẹn để có đời sống lành mạnh. Gây hại cho môi trường
này sẽ làm các chúng sanh đau khổ và cuối cùng là chết
non. Gây hại năng lực sống, ngay cả trên mức độ vi sinh,
có thể có ảnh hưởng tác hại trên những sinh thể phức
tạp hơn bởi vì các sự sống đều hỗ tương liên hệ lẫn
nhau.
Hơn
nữa, thiên nhiên như những chỗ hoang vu cung cấp chốn thiền
định hữu hiệu, một nơi có thể đạt được những tiến
bộ nhanh chóng. Trong việc tự tu tập, hài hòa với thiên nhiên
bao gồm khả năng tìm được một chỗ tu tập nơi đó nặng
lực thiên nhiên tốt lành. Thiên nhiên tác động như tấm
kiếng để phản ảnh thấy những vận hành sâu xa của thân
và tâm chúng ta. Khi chúng ta chỉ một mình trong cảnh hoang
dã, những phiền não thế gian rõ nét của những người khác
đã vắng bặt, do đó không thể làm tăng thêm phiền não của
chính chúng ta. Hãy thử tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy
ra nếu chúng ta tự biến đổi di truyền của mình để chúng
ta không cọng hưởng được với chu kỳ tự nhiên của thiên
nhiên. Đây không phải là những loại quan tâm có thể giải
đáp bằng bất cứ những dữ kiện khoa học nào.
Chiến
tranh sinh học di truyền là một đe dọa ngắn hạn nghiêm trọng
nhất của kỹ thuật di truyền đối với đời sống con người.
Bởi vì Phật Giáo là một truyền thống căn bản yêu chuộng
hòa bình, nên cần phải quan tâm sâu xa đối với việc sử
dụng kỹ thuật di truyền trong chiến tranh như là những phương
tiện hữu hiệu để gây ra đau khổ và chết chóc lan rộng.
Những người khủng bố quốc tế đã bắt đầu cứu xét
nghiêm túc việc phát tán những siêu vi khuẩn bị biến đổi
di truyền. Việc sử dụng này hầu như không thể nào kiểm
soát được bởi vì cùng máy móc trang bị và kỹ thuật thường
được dùng trong thương mại có thể chuyển đổi dễ dàng
thành những ứng dụng quân sự. Suốt thời kỳ cuối thập
niên 80, Liên Bang Sô Viết cũ đã có 60 ngàn người làm việc
về chiến tranh sinh học, gồm cả các tác nhân gây bệnh bị
biến đổi bằng kỹ thuật di truyền. Một trong những kế
hoạch đáng sợ hơn nữa của họ là họ đã cố gắng kết
hợp siêu vi khuẩn gây bệnh đậu mùa với siêu vi khuẩn Ebola.
Không ai biết rõ hầu hết những nhà kỹ thuật đó đã đi
đâu, hoặc họ đã mang theo những gì.
Vào
tháng 6 năm 1977, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ là ông William
Cohen đã cảnh bảo về “một vài loại tác nhân gây bệnh
sẽ được nhắm chuyên biệt vào loại chủng tộc để có
thể tiêu diệt những nhóm chủng tộc nào đó.” Nhiều quốc
gia đã bị báo cáo là đã biến đổi di truyền các siêu vi
khuẩn để nhắm chuyện biệt vào những nhóm chủng tộc nào
đó.
Mặc
dầu các ích lợi của kỹ thuật di truyền được báo chí
cổ võ – chủ yếu là để sửa nhưng khuyết điểm di truyền,
trị bệnh, và gia tăng sự sản xuất thực phẩm – trong rất
nhiều trường hợp, tôi tin rằng cái giá phải trả thật
quá cao. Để bảo đảm lợi nhuận khổng lồ cho các đại
công ty đa quốc gia trong thế kỷ tới, chúng ta phải thế
nợ sinh quyển, phải chịu nhân nhượng quan trọng đời sống
trên hành tinh, và có thể là hư hại tiềm năng giác ngộ
của chúng ta. Kỹ thuật di truyền đưa ra những nguy hiểm
trầm trọng đối với sức khỏe của con người và môi sinh.
Nó đặt ra những câu hỏi đạo đức quan trọng về quyền
của con người đối với việc thay đổi đời sống trên
hành tinh, cả chúng sanh hữu tình và vô tình, để chỉ đem
lại ích lợi cho một thiếu số.
Những
điều làm cho kỹ thuật di truyền được đặc biệt là quyền
năng của nó và sự không đảo ngược lại được. Khả năng
của nó có thể gây hại cho con người, loài vật và đời
sống thực vật … là một bước nhảy vọt lớn hơn hầu
hết các kỹ thuật khác và không thể để xảy ra những sai
lầm. Những hậu quả do khiếm khuyết trong kỹ thuật này
không thể vãn hồi và sửa chữa được, mà trở thành di
sản xấu cho vô số thế hệ trong tương lai.
Nếu
có vài lãnh vực về kỹ thuật di truyền có thể làm ích
lợi một cách an toàn cho nhân loại và đồng thời tôn trọng
các hình thức sống khác, thì cần có những cố gắng để
tăng gấp đôi không những trong lãnh vực đánh giá khoa học
về sự nguy hiểm và sử dụng nguyên tắc thận trọng, mà
còn cần phát triển những hướng dẫn đạo đức rộng lớn.
Bởi vì các cơ sở khoa học nhận biết nhu cầu góp ý của
dân chúng, do đó có một cửa sổ cơ hội để giới thiệu
quan điểm đạo đức Phật giáo đối với những vấn đề
đạo đức hiện nay về những đề nghị nghiên cứu trong
kỹ thuật di truyền. Cũng là điều quan trọng là dân chúng
yêu cầu sự kiểm soát nghiêm ngặt và điều hành mối quan
hệ cánh cửa quay của kỹ nghệ này với các đại học và
chính phủ.
Chúng
ta có thể thật sự có ảnh hưởng được không? Ngay cả
làm chậm lại những tiến bộ không mủi lòng của các trào
lưu hiện nay cũng rất khó khăn. Tuy nhiên vẫn còn hy vọng.
May mắn thay, một tiếng nói nhỏ của những khoa học gia được
huấn luyện thuần thục trong lãnh vực này, như các giáo sư
Stuart Newman của Ủy ban Di Truyền có Trách Nhiệm, Giáo sư
Strohman của Đại học Berkeley, Tiến sĩ Mae-Wan Ho của Đại
học Open, các Tiến sĩ Margaret Mellon và Jane Rissler của Hiệp
Hội Khoa Học Gia có Quan tâm, đó chỉ liệt kê một ít, họ
đã thấy những nguy hiểm đang xảy ra và đủ can đảm để
nói lên tiếng nói ý thức của họ.
Rõ
ràng chìa khoá để mở ra là giáo dục quần chúng về những
điều đang xảy ra. Chúng ta cần có sự tin cậy rằng những
công dân bình thường cùng làm việc với nhau có thể xây
dựng một nền móng trí tuệ tập thể có thể chỉ đường
cho chúng ta đi xuyên qua mê lộ phức tạp không thể tưởng
tượng nỗi của những vấn đề chung quanh kỹ thuật di truyền.
Chúng ta có thể làm cho các vấn để biến mất được không?
Có lẽ không làm được. Nhưng sự thành công là điều có
thể: Hệ Thông Thế Giới Thứ ba, dưới sự lãnh đạo của
Giáo Sư Vandana Shiva, đã động viên Ấn Độ và các quốc
gia chậm phát triển khác để chống lại các đại công ty
đa quốc gia trong việc tìm lợi nhuận di truyền. Tai Âu Châu,
nâng cao sự hiểu biết của quần chúng về nguy hiểm của
các thực phẩm dùng kỹ thuật di truyền mới đây đã buộc
các công ty lớn tham gia phải từ bỏ các kế hoạch giới
thiệu mở rộng tại đây. Ở đây tại Hoa Kỳ, việc vận
động cho thực phẩm hữu cơ, tổ chức Những Người Mẹ
Đòi Hỏi Luật Thiên Nhiên, và những tổ chức khác đã phối
hợp một cuộc vận động giáo dục quần chúng về nguy hiểm
của những loại thực phẩm như vậy, nhờ vậy những cố
gắng gộp chung thực phẩm bị biến đổi di truyền vào loại
hữu cơ theo Điều Lệ Tiêu Chuẩn Hữu Cơ quốc Gia đã không
thành công.
Từ
quan điểm Phật giáo, các vấn đề về kỹ thuật di truyền
về nguyên tắc không khác biệt với hầu hết những vấn
để khác chúng ta đối diện hàng ngày. Tất cả đều là
kết quả của kiết sử – dục vọng, nóng giận, vô minh,
v.v…dieu làm cho tình trạng kỹ thuật di truyền được đặc
biệt là sự khác biệt về mức độ thiệt hại có thể ảnh
hưởng đến đời sống trên hành tinh này và sự không đảo
ngược lại được những ảnh hưởng lên chúng ta và môi
sinh. Có lẽ không có một câu trả lời cho câu hỏi là những
người phật tử nên làm gì về những vấn đề này. Có những
người có thể quyết định làm việc tích cực với nhiều
đoàn thể để cố gắng nâng cao sự hiểu biết của quần
chúng và ngăn chặn những nguy hiểm tệ hại nhất. Những
người khác có thể thích làm việc trực tiếp ngay trên tấm
địa của mình để sản sinh trí tuệ và từ bi nhằm chuyển
hóa tâm hồn của tất cả chúng sanh đi về hướng giác ngộ.
Tuy nhiên còn có những người khác sẽ không hoài nghi gì cả,
họ tự vùi đầu vào trong cát và cứ để nghiệp dẫn dắt.
(Source: http://www.dharmasite.net/KyThuatDiTruyen.htm)
Xem
thêm: Ethical Questions about Genetic Engineering http://verewig.blog-city.com/ethical_questions_about_genetic_engineering.htm
Genetic
Engineering: A Buddhist Assessment
Ron
Epstein
Religion
East and West, Issue 1, June 2001, 39-47.
http://online.sfsu.edu/~rone/GEessays/GEBuddhism.html
What
might it be like to be a Buddhist in a future world where your life started
with your parents designing your genes? In addition to screening for unwanted
genetic diseases, they would have selected your genes for sex; height;
eye, hair, and skin color; and, if your parents are Buddhists, maybe even
for genes that allow you to sit easily in the full lotus position. Pressured
by current social fads, they may also have chosen genes whose overall functions
are not clearly understood but are rumored to be connected with temperament,
intelligence, mindfulness, and perhaps psychic powers. (There is no longer
any need to search for reincarnated lamas. They now clone themselves and
get reborn in their own clones.) If your parents are poor, they may
have been paid to design you with genes tailored for a particular occupation,
together with a pre-birth contract for future employment. As in the film
Gattaca, you probably belong to a clearly defined social class according
to the degree of your genetic enhancement. Of course there may still be
a few weird, unenhanced naturals-by-choice meditating in the mountains.
In
this future world, from the very first milk you suckle, your food is genetically
engineered. The natural world is completely made over, invaded and distorted
beyond recognition by genetically engineered trees, plants, animals, insects,
bacteria, and viruses—some planned, some running amok. Illnesses are
very different too. Most of the old diseases are gone or mutated into new
forms, yet now people are suffering from the onslaught of genetically engineered
pathogens that were either used in biowarfare, or mistakenly released into
the environment, or recombined in toxic form from originally harmless but
rapidly mutating engineered organisms. Genetic engineering is so commonplace,
you started your own simple experiments with it in elementary school.
That
future is more plausible than you might think. From a Buddhist perspective,
we need to analyze how current developments in genetic engineering are
providing the causal seeds that will influence the worlds of the future.
Because genetic engineering has the potential to radically transform both
nature and human nature, it poses a much greater threat than other technologies.
According
to Buddhist teachings, nature as we experience it is a label for the shared
karma of sentient beings on the planet, and human nature is a karmic mixture
of thought and emotion that has to be transformed on the path to enlightenment.
Since karma—and suffering—will still be with us in the Brave New World,
some have suggested that genetic engineering is not a big deal for Buddhists,
that the work cut out for us now will, essentially, not change. But maybe
we should take a deeper look.
What,
for instance, is the relation of genetic engineering to our potential for
enlightenment and its realization? The Buddhist view is that the condition
of our bodies and nervous systems affects our minds and vice versa. That
is why karmic-based ethics insists on purity of both mind and body as a
prerequisite for spiritual progress. For example, when we meditate, subtle
physiological changes take place in our bodies that resonate with our level
of spiritual progress. The deeper our meditation, the more profound the
body-mind transformation. Likewise, from the time of the Buddha, Buddhists
have recognized that certain geographical locations have special natural
energies that enhance progress in meditation and insight.
Genetic
engineering has the potential for altering both our bodies and environments
in ways that lessen their ability to support the process of personal transformation.
For instance, when a person takes drugs, the bodily physiology becomes
altered in a way that makes meditation more difficult; similarly, genetic
engineering may impact our bodies in ways as yet unknown that will impede
our progress on the Path. Even if there is only a relatively small possibility
of genetic engineering affecting progress on the path to enlightenment,
it is a serious cause for concern. Because science deals only with the
physical realm, no scientific experiment can possibly assess this kind
of risk.
Another
key concept, which Buddhism cherishes and science ignores, is the first
moral precept: the principle of non-harming and respect for all sentient
life and for its potential for enlightenment. (Sentient beings have central
nervous systems, so they are aware of pain. Plants are not considered sentient.)
Important corollaries are the alleviation of suffering and the notion of
selfless compassion as a guiding principle in our actions.
Buddhism,
then, condemns any instrumental use of human or non-human sentient life
by geneticists, or anyone else. That means Buddhists shouldn’t treat
sentient beings as objects or tools to be used without regard for their
own wishes or aspirations. Thus, the Buddhist approach to genetic engineering
begins with analyzing its effect on life, how it creates or alleviates
suffering, and how it aids or cripples the efforts of sentient beings to
realize their potential for enlightenment.
Some
geneticists are well intentioned in their desire to use genetic engineering
in altruistic ways. For example, in agriculture they are trying to increase
yields and resistance to harmful insects. In the field of medicine they
are trying to develop new genetic cures for cancer and inherited genetic
diseases. Yet many get caught up in their own desires for profit, power,
and fame.
Even
well-intentioned efforts often look dubious from a Buddhist viewpoint.
Animals are transformed genetically in ways that are often cruel, and humans
are being treated as guinea pigs to test genetically engineered food. The
basic health of ecosystems and the long-term health of life on the planet
are also disregarded.
The
second moral precept is the prohibition against stealing. Yet, biotech
corporations and even some universities are stealing our genes, the genes
of indigenous peoples and of native herbs and plants, patenting them, and
then charging for their use. The Buddhist approach is much different. The
Buddha taught that, in interacting with others and with the environment,
we should emulate the honey bee as it takes pollen from flowers. The advantage
is mutual and there is no harm.
Furthermore,
Buddhism understands the cosmos as an open system. In contradistinction,
the scientific method usually operates within hypothesized artificial and
closed systems that are assumed to have some meaningful, but incomplete
and imperfect, correspondence with the “real” world. What seems to
be the case in the laboratory may or may not be valid in the natural world.
Scientific methodology cannot, because of its inherent limitations, assess
the full extent of the possible effects of genetically engineered alterations
on living creatures in a world that is an open system.
From
the viewpoint of basic Buddhist morality, specific developments in genetic
engineering are troubling and point to a future riddled with ethical uncertainty
and complexity. Buddhist practitioners first need to know what is actually
going on in the field, before they can do their own karmic analyses of
how they and the world we all live in will be affected in ways that are
important to them and what their appropriate responses might be. The following
is a representative sampling of some of the areas of greatest ethical concern.
Plants
and food continue to be subjects for genetic engineering. The Delta &
Pine Land Company received a U.S. patent on a technique that genetically
alters seed so that it will not germinate if replanted a second time. The
seeds lose their viability unless sprayed with a patented formula, which
contains primarily antibiotics. Monsanto Corporation wants to use this
“Terminator Technology” to keep farmers from collecting genetically
engineered seed, forcing them to buy it every year.
To
avoid dependency on petroleum-based plastics, some scientists in the United
States, Europe, and Canada have genetically engineered plants that produce
plastic within their stem structures. They claim that it biodegrades in
about six months. If the genes escape into the wild, we might find natural
areas littered with the plastic spines of decayed leaves. Aesthetically
repugnant, the plastic also poses a real danger since it has the potential
for disrupting or killing entire food chains. It can be eaten by invertebrates,
which in turn are eaten, and so forth. Dr. John Fagan, Professor of Molecular
Biology at the Maharishi University of Management and formerly research
group leader at the National Institutes of Health, has warned that the
new constituents used in these plastics are oils that are probably toxic
to animals.
Another
distressing idea is to genetically engineer plants with scorpion toxin
that would kill any insects feeding on the plants. The prominent geneticist
Joseph Cummins, Professor Emeritus of Genetics at the University of Western
Ontario, warned that such genes could be horizontally transferred to the
insects themselves, thereby risking the creation of insects whose stings
or bites would inject scorpion toxin into their victims, including us.
Nonetheless, research and field-testing continue.
Many
scientists have claimed that the ingestion of genetically engineered food
is harmless because stomach acids break down the engineered substances.
According to research, however, significant portions reach the bloodstream
and also the brain cells. Furthermore, the natural defense mechanisms of
the body’s cells are not entirely effective in keeping the genetically
engineered substances out of the cells. Recent experiments show that genetically
engineered organisms can mutate up to thirty times faster than normal ones,
so they are a serious potential health hazard.
The
creation of xenographs—genetically altered animals which often contain
human genes—is one of the more horrendous uses of this technology. Often
experiments result in horribly deformed animals that have to undergo terrible
suffering. Even when experiments are “successful,” the scientific model
is that of the animal as a factory which efficiently produces some substance—meat,
milk, or pharmaceuticals—for human consumption.
What
Buddhists need to pay attention to here are the degrees of negative karma.
The killing of animals for meat violates the precept against killing. Factory
farming adds incredible suffering to the lives of animals before they are
killed. The creation of xenographs is an even more fundamental violation
of the animals’ lives. Whether or not the genes inserted to create new
animals are human ones, xenographs are created for human use and patented
for corporate profit without regard for the suffering of the animals, their
feelings, thoughts, natural life-patterns, or potential for enlightenment.
Recent
examples of this type of genetic engineering include putting human genes
into fish to make them grow faster. PPL Therapeutics, based in Edinburgh,
Scotland; the Biotech companies Nextran and Alxion in the United States;
and others are racing to place human genes into pigs in order to genetically
match them to human individuals. In other words, you can have your own
personal organ donor pig with your genes implanted. When one of your organs
gives out, you can use the pig’s.
Of
course, many would say that it is better to sacrifice the pig so that they
or their loved ones can live, even though such thoughts and actions are
not in accord with the ideal of the Bodhisattva. Yet, other more humane
solutions are available. For instance, in some Western European nations,
everyone is considered a potential organ donor unless they specifically
file with the government not to be, so there is no shortage of organs for
transplant there and no need for sacrificing genetically engineered pigs.
As
more and more human genes are being inserted into non-human organisms to
create novel forms of life that are genetically partly human, new ethical
questions arise. What percent of human genes does an organism have to contain
before it is considered human? For instance, how many human genes would
a green pepper have to contain before you would have qualms about eating
it? This is not merely a hypothetical query. The Chinese at Beijing University
are now putting human genes into tomatoes and peppers to make them grow
faster. For meat-eaters, the same question could be posed about eating
pork with human genes. And what about the mice that have been genetically
engineered to produce human sperm?
What
about humans, themselves? A few years ago Granada Biosciences of Texas
applied to the European Patent Office for a patent on a so-called “pharm-woman,”
the idea being to genetically engineer human females so that their breast
milk would contain specialized pharmaceuticals. Work is also ongoing to
use genetic engineering to grow human breasts in the laboratory. Not only
would they be used for breast replacement needed due to cancer surgery,
but could easily foster a vigorous commercial demand by women in search
of the “perfect” breasts. Geneticist Jonathan Slack of England’s
Bath University has recently proposed genetically engineering headless
humans to be used for body parts. Some prominent geneticists, such as Lewis
Wolpert, Professor of Biology as Applied to Medicine at University College
London, have supported his idea.
Gene
therapy for replacement of “defective” human genes that are associated
with the risk of contracting diseases involves the intentional introduction
of new genes into the body in an attempt to modify the genetic structure
of the body. Since genes easily move from one organism to another, introduction
of a new gene can have unforeseen effects. Gene therapy is also subject
to the slippery slope that leads to “designer genes.” One indication
that the slope is becoming more slippery is the experimental administration
of genetically engineered growth hormone to healthy children who are simply
shorter than average but whose parents would like them to be taller.
When
considering the potential of genetic engineering for curing illness, we
should remember that, according to Buddhist teachings, we get sick for
one of two main reasons. Our “four elements” may become imbalanced,
which may be roughly interpreted in modern terms as “we are run-down
and our resistance to pathogens is low.” And sickness or a shortened
lifespan may in some instances be karmic retribution for the taking of
life. As Buddhists, we should be especially sensitive to geneticists’
degradation of what it means to be a human being. Do we want a “cure”
at any price? We may want to ask ourselves whether the karma from the harming
of life involved in the development and application of the gene therapy
is going to cause us even heavier karmic problems down the road. Or how
are transgenic animal body parts in our bodies going to affect the human
quality of our everyday awareness?
Viruses
pose special dangers when they interact with genetically engineered organisms.
Plant, animal, and human viruses play a major role in the ecosystems that
comprise the biosphere and are thought to be one of the primary factors
in evolutionary change. Viruses have the ability to enter the genetic material
of their hosts, to break apart, and then to recombine with the genetic
material of the host to create new viruses. Those new viruses then infect
new hosts, transferring new genetic material to the new host. When the
host reproduces, genetic change has occurred. We can presume that ordinary
viruses, no matter how deadly, if naturally produced, have a role to play
in an ecosystem and are regulated by that ecosystem.
If
cells are genetically engineered, then when viruses enter cells—whether
human, animal, or plant—this material can also be transferred to the
newly created viruses and spread to the viruses’ new hosts. Since viruses
with genetically engineered material could never naturally arise in an
ecosystem, there is no guarantee of natural defenses against them. This
alone might lead to widespread death of humans, animals, or plants, thereby
temporarily or even permanently damaging the ecosystem. Widespread die-off
of a plant species can affect its whole ecosystem, and the possibility
of widespread die-off of human beings should command our attention.
The
notion that ecosystems can ultimately deal with any threat, however extreme,
is without scientific basis. No evidence exists that the life and welfare
of human beings have priority in those self-organizing systems. Nor is
there any evidence that anything in those systems is equipped to deal with
all the threats that genetically engineered organisms may pose.
Genetic
engineering can affect the whole of nature, as well. In Buddhist terms,
“nature” refers to the patterns of causes and conditions that reflect
the karma of sentient beings. In terms of respect for life, which is the
foundation of all Buddhist practice, nature can also be understood as the
sum total of ecosystems that support life; it is the essential condition
for preserving living beings from harm. Humans, animals, and other sentient
beings are dependent upon a wholesome environment for a healthy life. Harming
that environment causes those sentient beings to suffer, and, ultimately,
to die prematurely. Harming life energy itself, even on the level of microorganisms,
can have deleterious effects on more complex organisms because of the interconnectedness
of all life.
Furthermore,
nature as wilderness provides an effective place for meditation, one where
rapid progress can be made. In self-cultivation, harmony with nature involves
the ability to find a place for practice where the natural energy is auspicious.
Nature acts as a mirror for seeing the deep workings of our own body-minds.
When we are alone in the wilderness, the distinctly human afflictions of
others are absent, and so cannot reinforce our own afflictions. Imagine
what would happen if we genetically engineered ourselves so that we could
no longer resonate with the natural patterns of nature. These are not the
kinds of concerns that can be laid to rest by any scientific data.
Biogenetic
warfare is the most serious short-term threat of genetic engineering to
human life. Because Buddhism is a fundamentally pacifist tradition, it
should be gravely concerned with the use of genetic engineering in warfare
as an efficient means for causing widespread suffering and death. International
terrorists have already begun seriously considering the deployment of genetically
engineered viruses. This use is almost impossible to regulate because the
same equipment and technology that are used commercially can easily be
transferred to military application. During the late 1980s, the former
Soviet Union had 60,000 people working on biowarfare, including genetically
engineered pathogens. In one of their more frightening projects, they attempted
to combine smallpox virus with Ebola virus. No one knows for sure where
most of the scientists have gone, or what they have taken with them.
In
June, 1997, U.S. Secretary of Defense William Cohen warned about “certain
types of pathogens that would be ethnic specific so that they could eliminate
certain ethnic groups.” Several countries have reportedly already been
genetically engineering viruses that target specific ethnic groups.
Despite
the benefits of genetic engineering trumpeted in the media—primarily
to repair genetic flaws, cure disease, and increase food production—in
the overwhelming number of cases, I believe the price is too high to pay.
To insure megaprofits for multinational corporations well into the next
century, we will have to mortgage the biosphere, seriously compromise life
on the planet, and maybe even harm our potential for enlightenment. Genetic
engineering poses serious risks to human health and to the environment.
It raises serious ethical questions about the right of human beings to
alter life on the planet, both sentient and non-sentient, for the benefit
of a few.
What
makes genetic engineering special is both its power and its irreversibility.
Its ability to harm human, animal, and plant life is a quantum leap greater
than most other technologies and does not leave room for mistakes. Results
of flaws in this technology cannot be recalled and fixed, but become the
negative heritage to countless future generations.
If
there are some areas of genetic engineering that can safely benefit humanity
while respecting other forms of life, then efforts need to be redoubled
not only in the area of scientific risk assessment and use of the precautionary
principle, but also in developing broad ethical guidelines. Since the scientific
establishment is acknowledging the need for public input, there is a window
of opportunity for introducing the perspective of Buddhist ethics to current
moral questions about proposed research in genetic engineering. It is also
important for the public to demand scrutiny and regulation of the industry’s
revolving-door relations with academia and government.
Can
we really have an influence? Even slowing the inexorable progress of the
current trends will be extremely difficult. Yet there is hope. Fortunately,
a vocal minority of well-trained scientists in the field, such as Prof.
Stuart Newman of the Council for Responsible Genetics, Prof. Richard Strohmann
of the University of California at Berkeley, Dr. Mae-Wan Ho of Open University,
Drs. Margaret Mellon and Jane Rissler of the Union of Concerned Scientists,
to name just a few, see the dangers of what is occurring and are brave
enough to voice their consciences.
Clearly
the key is educating the public about what is happening. We need to have
confidence that ordinary citizens working together can build a foundation
of collective wisdom that can show us the way through the incredibly complicated
maze of issues surrounding genetic engineering. Can we make the problems
go away? Probably not. But successes are possible: The Third World Network,
under the leadership of Prof. Vandana Shiva, has mobilized India and other
underdeveloped nations to resist multinational corporations in search of
genetic profit. In Europe, heightened public awareness of the dangers of
genetically engineered foods has recently forced the major corporate players
to back off from plans for their widespread introduction there. Here in
the United States, the organic food lobby, the Mothers for Natural Law,
and others have orchestrated a public education campaign about the dangers
of such food, so that attempts to include genetically engineered food as
organic under the National Organic Standards Rule have not succeeded.
From
a Buddhist perspective, the problems with genetic engineering are no different
in principle from most other problems we face in our daily life. They are
all the result of afflictions—desire, anger, ignorance, and so forth.
What makes the situation with genetic engineering unique is the difference
in the degree of damage it can do to life on the planet and the irreversibility
of its effect on us and on the environment. There is probably not a single
answer to the question of what Buddhists should do about these problems.
Some may decide to work actively with the many groups trying to raise public
awareness and stop the most blatant dangers. Others may prefer to work
directly on the mind ground and try to generate the wisdom and compassion
that transforms the minds of all sentient beings toward awakening. Yet
others will undoubtedly put their heads in the sand and let the karma fall
where it may.
http://www.dharmasite.net/KyThuatDiTruyen.htm
(*)
Ron Epstein has a Ph.D. in Buddhist Studies from the University of California
at Berkeley. He is a research professor at the Institute for World Religions
in Berkeley and a lecturer at San Francisco State University, and has been
a practicing Buddhist for over thirty years. His website, Genetic Engineering
and Its Dangers <http://online.sfsu.edu/~rone/GEessays/gedanger.htm>,
provides further information.