Jiddu
Krishnamurti chào đời trong một gia đình Bà-la-môn trung lưu
tại ngoại ô tỉnh Madanapalle, miền nam Ấn Độ. Mẹ chết
sớm từ khi ông mới lên mười. Tuổi ấu thơ, ông thường
xuyên đau yếu, học hành thì lơ đãng, tâm hồn thường chìm
đắm trong mơ mộng và có khuynh hướng về tâm linh, về lòng
nhân ái, tình thương người, thương vật và yêu thiên nhiên.
Cha
của Krishnamurti là một viên chức của chính quyền. Khi về
nghỉ hưu, ông cụ đề nghị với bà Annie Besant, chủ tịch
hội Thông Thiên Học (The Theosophical Society), mà ông cụ là
một thành viên, xin vào làm việc cho Hội. Do đó, ông cụ
cùng bốn người con dọn về Trụ Sở chính của hội tại
Madras, vào lúc Krishnamurti mười bốn tuổi.
Hội
Thông Thiên Học do bà Helena P. Blavatsky người Nga và một cựu
đại tá Hoa Kỳ là ông Steele Olcott thành lập vào năm 1875,
là một hội có mục tiêu tìm hiểu các tôn giáo, các nguồn
tư tưởng, minh triết, các sự huyền nhiệm trên thế giới
cổ kim và các năng lực thần bí nơi con người. Khi đó, hội
đang có mục tiêu sửa soạn cho sự hạ sanh của bồ
tát Di Lặc, xuống thế để làm nhiệm vụ Thế Giới Đạo
Sư (World Teacher).
Cơ
hội gần gũi của gia đình Krishnamurti và bà Annie Besant đã
tạo nên một sự gắn bó khắng khít giữa bà và cậu bé
mười bốn tuổi yếu ớt, lại có khuynh hướng tâm linh thần
bí, và đã khiến cho bà và Bishop Leadbeater phát hiện ra cậu
bé Jiddu Krishnamurti chính là vị hóa thân mà họ đang tìm kiếm,
với những kinh nghiệm về đột biến tâm linh của cậu, khi
đó Krishnamurti mới mười lăm tuổi.
Để
chuẩn bị chu đáo cho sự xuất hiện của Thế Giới Đạo
Sư, hội Thông Thiên Học thành lập một hội đoàn tôn giáo
lấy tên là Ngôi Sao Phương Đông (The Order of the Star
in the East) và tôn Krishnamurti làm Đạo Trưởng. Nhóm này có
nhiều chục ngàn hội viên ở khắp nơi trên thế giới, với
nhiều tiền bạc, nhà cửa đất đai tại Âu Châu, Úc châu,
Ấn Độ, v.v...
Năm
1912, Khishnamurti được hội Thông Thiên Học chính thức tấn
phong làm Thế Giới Đạo Sư. Nhưng đến năm 1929, bỗng nhiên
ông giải tán hội Ngôi Sao Phương Đông, đọc bản tuyên
ngôn "Thực Tại (Chân Lý) là nơi không có lối mòn
để vào" (Truth is a Pathless Land). Làm việc này, ông
đã đương nhiên liệng bỏ những tài sản, đất đai, tiền
bạc, quyền lực và tất cả mọi vinh dự mà thế nhân
dành cho nhân vật có thẩm quyền, vị Đạo Sư.
Từ
đó cho đến tận những ngày cuối cùng của cuộc đời ở
tuổi 91, ông đáp ứng lời mời từ khắp nơi trên thế giới,
thân hành tới ngồi chung trên thảm cỏ, trong nhà hội, trong
phòng họp, đến bất cứ nơi nào có người quan tâm để
thảo luận với họ những vấn đề về tự do, về sự
tự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi tiềm ẩn từ trong tiềm
thức, về sự tự gỡ bỏ gông cùm của những lề thói trói
buộc con người, gỡ bỏ sự sợ hãi về các loại địa ngục
do các tổ chức thần quyền tạo ra để khống chế tín đồ,
về tình yêu thuần khiết, về lòng từ bi thương xót, kêu
gọi mỗi người phải là nguồn ánh sáng của bản thân,
v.v... Những lời thuyết giảng của ông không phải là những
kiến giải trong sách vở, nhưng là từ kinh nghiệm nội
tâm. Ông không "thuyết lý", nhưng ôn tồn tâm tình với thính
giả về những điều mà tất cả chúng ta quan tâm trong đời
sống hằng ngày, nói về những trăn trở, băn khoăn của con
người thời đại mới với sự suy sụp tinh thần và bạo
lực, nói với từng cá nhân đi tìm sự an lạc, nói với người
đang bồn chồn tìm cách giải thoát ra khỏi cái chướng ngại
của sự giận dữ , thù hận, sợ hãi, đau khổ đang ám ảnh
trong nội tâm anh ta. Ông luôn luôn tha thiết với việc
gỡ con người ra khỏi sự sợ hãi, một hành động "vô úy
thí" cao quý.
Điểm
then chốt đặc biệt của ông là, ngay như khi đang nói về
các vấn đề xã hội, chính trị, hoặc kinh tế đang xẩy
ra, lời giải đáp của ông cũng từ cái nhìn tận gốc rễ
và vượt thời gian. Ông chỉ ra cái nguyên nhân tạo vấn đề
nó nằm phía sau như thế nào, và nguồn gốc của mâu thuẫn
và bạo lực đã tiềm ẩn trong tâm con người ra sao. Ông không
tặng chúng ta một cách giải quyết kiểu "mì ăn liền"
cho những vấn đề của thời đại, mà là ông nhìn rõ được
rằng những vấn đề này chỉ là triệu chứng của
một chứng bệnh thâm căn cố đế, nằm sâu trong tâm não
của mỗi người trong chúng ta. Luôn luôn, ông nhắc mọi người
về sức mạnh tinh thần của chính bản thân họ, luôn nhắc
mọi người nhìn vào nội tâm, tự giải thoát ra khỏi những
xiềng xích tư tưởng rập khuôn của người khác. Ông
nhắc nhở mọi người đừng tự làm nô lệ cho bất cứ
loại tư tưởng nào của bất cứ ai, dù đó là những "thẩm
quyền (authority), không những thế , nên tự thanh lọc những
ô nhiễm do bị những loại "thẩm quyền" nhồi nhét vào tâm
não từ vô thủy. Ngay cả đến những lời nói của ông,
ông cũng yêu cầu mọi người hãy chỉ coi đó là những lời
trò chuyện tâm tình giữa những người bạn với nhau, đừng
coi như là những lời của bậc thầy, vì chỉ riêng sự coi
ai là bậc thầy thì chính cái hào quang tiềm ẩn trong cái
ý nghĩ về bậc thầy đã gián tiếp tước đoạt tự do của
chính mình, đã làm cho chính mình nhắm bớt mắt trên con đường
đi tìm chân lý rồi.
Đối
với ông, mọi người không cần đạo sư, mà cần tự thức
tỉnh. Bởi vì mỗi người đều có khả năng vô biên về
sự tự thức tỉnh này, nếu họ không bị những xiềng
xích của truyền thống về sự sợ hãi, không bị những "đạo
sư" che mất ánh sáng của chính họ tự chiếu. (This
Light in Oneself). Ánh sáng này không ai có thể "cho" người
khác, không thể nhận được từ người khác truyền qua như
truyền lửa từ ngọn nến này qua ngọn nến khác. Nếu
ánh sáng mà có được nhờ sự từ người khác truyền
qua thì chỉ là ánh sáng của ngọn nến, nó sẽ tắt. Chính
sự
tĩnh lặng, quán chiếu thâm sâu nội tâm, người ta sẽ
thức tỉnh, sẽ xuất hiện ánh sáng của chính bản thân.
Dù
được cả Đông Phương và Tây Phương nhìn nhận như là một
trong những đạo sư uy tín nhất, bản thân ông không
tùy thuộc vào tôn giáo, môn phái hay quốc gia nào, đồng thời,
cũng không tham dự vào bất cứ một trường phái chính trị
hoặc ý thức hệ nào. Ngược lại, ông cho rằng chính những
hình thức tổ chức ấy đã chia rẽ con người, đã là nguồn
gốc của chiến tranh.
Ông
luôn luôn nhắc nhở sự tĩnh tâm, tự thanh lọc những
kiến chấp đã tích lũy trong tâm trí qua thời gian, để
tự giải thoát.
Trải
dài khoảng sáu chục năm đi khắp đó đây, ông được coi
như là người nói nhiều nhất trong thời đại thâu âm.
Phần lớn các buổi thuyết giảng, thính chúng lên tới hàng
ngàn người, thường ngồi ngoài trời, nhất là tại các thành
phố lớn.
Ông
cũng thường có những buổi thảo luận riêng với các nhân
vật danh tiếng thế giới như ba vị thủ tướng Ấn
Độ là Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi và Rajiv Gandhi, nhà tôn giáo
học Huston Smith, Walpola Rahula, Chogyam Trungpa Rinpoche, nhà vật
lý học Dr David Bohm, nhà văn Aldous Huxley, v.v...
Hầu
hết các buổi thảo luận này đều có ghi âm, thâu hình, và
sau đó được in ra thành sách.
Thật
là sai lầm đáng tiếc nếu cho rằng những lời thuyết giảng
của Krishnamurti chỉ dành cho người lớn tuổi hoặc giới
trí thức uyên bác. Trái lại, đó là những điều rất dễ
thẩm thấu vào giới trẻ mà ta có thể cảm nhận được
sự sống động nơi thính chúng trong video và trong các cuộc
thảo luận với học sinh còn được lưu giữ trong nhiều trường
học. Là một bậc thầy cao cả, ông tìm cách tạo nên tại
những trường này một bầu không khí thoải mái, không sợ
hãi và kèn cựa lẫn nhau, khuyến khích các em tự tìm về
nội tâm, tìm hiểu chính bản thân mình, thức tỉnh cảm quan
của họ về cái đẹp của thiên nhiên, về sự cảm thông
, bi mẫn với nỗi thống khổ của kiếp người, khuyến khích
họ đi vào những đề tài sinh động, ngay cả đến vấn đề
phức tạp nhất như là hoạt động của tâm não con người.
Ông kiên trì, tận tụy với lý tưởng "để cho mọi người
được tự do, giải thoát vô điều kiện".
Cho
đến cuối đời ông, vào lúc thế hệ mới của thời đại
kỹ thuật tân tiến nở rộ, nhiều người trẻ đã tìm về
ông như là tới ngồi dưới một tàng cổ thụ rủ bóng để
ươm tẩm phần tâm hồn.
Mặc
dầu Krishnamurti nói và viết bằng Anh ngữ, các tác phẩm của
ông đã được dịch sang gần năm chục thứ tiếng và ấn
hành tại nhiều nước. Trên ba triệu ấn bản đã lưu hành
khắp thế giới. Các tuyển tập của ông bao gồm trên một
trăm ngàn trang viết tay, 2.500 audiotapes và 600 videotapes.
Đó
là nói về di sản nhìn thấy được. Nhưng đáng kể phải
là phần di sản sống động tiềm ẩn trong trái tim và khối
óc của biết bao nhiêu con người đã có dịp thấm nhuần
tư tưởng uyên áo và tấm lòng trắc ẩn của ông đối với
muôn loài
Xin
ghi lại một vài cảm nhận về ông:
* Đức
Đạt Lai Lạt Ma:
--Krishnamurti
là một trong những tư tưởng gia vĩ đại nhất của thời
đại.
*
Deepak Chopra:
--
Krishnamurti
đã ảnh hưởng sâu sắc vào chính cuộc đời tôi, đã giúp
tôi vượt qua được sự tự trói buộc đã kiềm chế
tôi trên con đường tới tự do, giải thoát.
*
Anne Morrow Lindbergh :
--
Nghe
và đọc sách của ông (Krishnamurti) là tự quán chiếu chính
mình và thế giới trong một sự tươi mát chan hòa.
Xin
giới thiệu website có những tài liệu về các bài thuyết
giảng của Krishnamurti:
http://www.krishnamurti.org