ANH
VII
Hai buổi nói
chuyện ở Brockwood
1
Sự tương quan với tỉnh giác về tư tưởng và hình ảnh
2
Tâm thiền định và câu hỏi không thể đáp
1
SỰ
TƯƠNG QUAN VỚI TỈNH GIÁC
VỀ
TƯ TƯỞNG VÀ HÌNH ẢNH
Những
ích dụng và những giới hạn của tư tưởng. Những hình
ảnh. Những hình ảnh : quyền lực của hình ảnh. “Người
ta càng nhạy cảm, gánh nặng những hình ảnh càng lớn.“
Phân tích và những hình ảnh. Trật tự tâm lý ; những nguyên
nhân của vô trật tự : ý kiến, so sánh, những hình ảnh.
Sự tan biến có thể được của những hình ảnh. Sự thành
hình của những hình ảnh. Chú ý và không chú ý. “Chỉ khi
tâm không chú ý hình ảnh mới được tạo thành.“ Chú ý
và hài
hòa
: tâm, lòng, thân.
Tôi
nghĩ đáng nói với nhau về câu hỏi bạo lực, nó đã trở
nên tệ hơn và trải rộng khắp thế giới ; đấy thực sự
là một phần của toàn bộ sự bị điều kiện hóa của con
người. Con người có bao giờ có thể tự do đối với sự
bị điều kiện hóa bề ngoài của một văn hóa xã hội riêng
biệt, hay sự điều kiện hóa sâu hơn, nó là toàn bộ sự
buồn phiền, bạo lực, những tuyệt vọng và những hoạt
động phá hoại tập thể mà phần đông chúng ta không ý thức
? Nó giống như một đám mây người ta được thừa hưởng,
và người ta sống trong đó. Có vẻ người ta thấy vô cùng
khó khăn giải thoát mình khỏi tất cả cái đó.
Bất
cứ đi đâu, trên khắp thế giới, người ta quan sát rằng
những văn hóa bề mặt không thấm nhập rất sâu vào ý thức
con người. Nhưng những đám mây lớn của buồn phiền –
tôi không thích dùng chữ “xấu” – bạo lực, đối kháng
và những xung đột hủy hoại hình như ăn sâu gốc rễ trong
tất cả chúng ta. Người ta có thể thoát khỏi hoàn toàn cái
đó ? Nếu điều ấy là thiết yếu, thì người ta bắt đầu
như thế nào ? Bề mặt ngoài chúng ta có thể có văn hóa cao,
lịch sự, hơi thản nhiên, nhưng trong sâu tôi nghĩ hầu hết
chúng ta không biết rằng có một di sản lớn lao của sự
xung đột, thống khổ, sợ hãi phức tạp bao la này. Nếu người
ta ý thức điều đó, người ta hỏi : có thể hoàn toàn thoát
khỏi nó không, để cho tâm thức là một loại dụng cụ hoàn
toàn khác ? Tôi không biết các bạn có nghĩ về điều này
chút nào không – hay có lẽ sự bị điều kiện hóa bề mặt
thì quá quan trọng đến nỗi người ta luôn luôn chiến đấu
chống lại nó. Nếu người ta đi qua nó và tạm dẹp nó, bấy
giờ có tất cả những tầng lớp sâu mà hầu hết không ý
thức được. Người ta làm sao tỉnh giác về những cái này
? Có thể nào thoát khỏi nó một cách trọn vẹn không ?
Có
lẽ chúng ta nên thảo luận phải rõ biết như thế nào về
những cái kinh khủng này mà người ta đã thừa kế hay trau
dồi. Bất luận giải thích thế nào, sự kiện là chúng ta
bạo lực một cách sâu xa, điều đó khiến chúng ta bị vướng
mắc trong phiền muộn. Có đám mây sợ hãi này và rõ ràng
nó đem lại một phiền lụy và mê mờ lớn lao trong hành động.
Tôi nghĩ điều đó khá rõ ràng. Làm sao người ta tỉnh giác
tất cả điều này, và có thể vượt khỏi nó ?
Nếu
tôi ý thức tất cả điều đó, làm sao tôi thoát khỏi nó,
để cho tôi có một loại trí óc khác, một loại hành động
khác, một thái độ khác đối với đời sống, một cách
sống khác ? Càng thông minh, tra hỏi và ý thức đến điều
này, người ta càng trở nên nghiêm túc và cũng có đòi hỏi
tâm thức phải hoàn toàn thoát khỏi tất cả sự lộn xộn
mà con người đã tạo ra và không ngừng mang theo nó. Tôi nghĩ
rằng đó là vấn đề căn bản ; không phải không có những
vấn đề khác như bất công xã hội và nghèo đói, những
cuộc chiến tranh, bạo lực, sự phân chia giữa những quốc
gia và vân vân. Tôi cảm thấy mọi cái đó có thể được
giải quyết, khi con người thực sự hiểu toàn bộ vấn đề
hiện hữu này. Bấy giờ họ có thể giải quyết mọi mê
mờ rối rắm và chiến tranh từ một chiều kích khác.
Tâm
thức con người muốn tìm ra chiều kích ấy. Nó phải tìm
ra để giải quyết mọi thống khổ này. Nếu bạn nghiêm túc,
không chơi đùa với chữ nghĩa, suy luận hay buông thả vào
những giả định, những ý tưởng và những giả thiết, mà
thực sự đối mặt với không chỉ sự đau khổ của riêng
bạn mà còn của con người, làm sao bạn chấm dứt mọi cái
này ? Sự đòi hỏi an toàn thường trực đúng hơn là một
đòi hỏi tâm lý, nó sâu hơn an toàn sinh lý rất nhiều, đặt
mọi tư tưởng và hy vọng của bạn cho một vị thầy, một
đấng cứu độ, một đức tin nào đó. Biết tất cả điều
này, tôi làm sao để hiểu và thoát khỏi nỗ lực này, chiến
đấu và thống khổ thường trực này ?
Làm
sao chúng ta tỉnh giác về tất cả điều ấy ? Tỉnh giác
hay nhận thức này có nghĩa là gì ? Làm sao tôi biết rằng
tôi đang phiền muộn ? – không chỉ tôi, mà mọi người trong
thế giới mà tôi là phần của họ ; làm sao tôi biết rằng
có sự phiền muộn này ? Đó là một nhận biết bằng ngôn
từ hay nó là một sự chấp nhận một ý tưởng rằng có
phiền muộn mà tôi là thành phần ? Hay có một tỉnh giác
ý thức rằng phiền muộn là một sự kiện ? Khi tôi nói với
mình : có sự phiền muộn khủng khiếp trong thế giới mà
tôi là một thành phần – tôi là thế giới và thế giới
là tôi – đó là một sự kiện. Nó không phải là một ý
tưởng, không phải là một tình cảm, không phải là một
khẳng định xúc cảm ; tôi là thế giới và thế giới là
tôi là sự kiện tuyệt đối. Bởi vì chúng ta đã làm ra thế
giới này chúng ta có trách nhiệm với nó. Tất cả những
tư tưởng của tôi, những hoạt động, những sợ hãi, những
hy vọng của tôi là những hy vọng và sợ hãi của thế giới.
Không có sự phân chia giữa thế giới và tôi. Cộng đồng
là tôi, văn hóa là tôi và tôi là văn hóa ấy ; thế nên không
có phân chia. Tôi không biết bạn có thấy và cảm nhận điều
ấy ?
Biết
rằng tôi là thế giới và phải có một cuộc cách mạng tận
gốc trong thế giới – không bằng bom, việc ấy chẳng đưa
đến đâu cả – tôi thấu hiểu phải có một cuộc cách
mạng trong chính tinh thần và trong bản thân tâm thức. Để
cho người ta sống một cách khác, nghĩ một cách khác, hành
động trong một cách hoàn toàn khác. Tôi phải làm sao để
giải thoát tâm thức, cái chịu trách nhiệm về mọi điều
này ? – tâm thức là tư tưởng. Chính tư tưởng đem lại
sự phân chia giữa người ta, những cuộc chiến tranh, cơ cấu
của đức tin tôn giáo. Và tư tưởng cũng sắp xếp kỹ thuật
tạo ra sự thuận tiện của cuộc sống hàng ngày : điện,
đường sắt, kiến thức kỹ thuật cho phép con người lên
tới mặt trăng ; chính tư tưởng làm ra mọi điều này. Tư
tưởng này, nó đã gom góp rất nhiều thông tin, rất nhiều
kiến thức, nó làm sao thoát khỏi toàn bộ cơ cấu và bản
chất của phiền muộn và sợ hãi ? – và vẫn vận hành hiệu
quả, minh mẫn, trong trường của kiến thức mà không đem
đến phân chia và đối kháng giữa người và người. Bạn
thấy vấn đề chứ ?
Bây
giờ như thế nào tư tưởng ngăn ngừa sự phân chia này ?
Bởi vì nơi nào có phân chia nơi đó có xung đột, không chỉ
bên ngoài mà còn bên trong. Tôi đặt vấn đề có rõ không
? – nó là vấn đề của các bạn, nó là vấn đề của nhân
loại. Người ta thấy tư tưởng đã làm được gì, xảo quyệt
ra sao, khả năng phi thường, nó đã gom góp kiến thức kỹ
thuật không thể bỏ qua ; tư tưởng phải được vận dụng.
Và tuy nhiên tư tưởng đã đem lại bạo lực, và tư tưởng
không phải là thương yêu. Thế nên người ta phải có sự
sáng tỏ của tư tưởng khi vận hành, nhưng cũng biết rõ
rằng tư tưởng nuôi dưỡng mọi thống khổ trong thế giới.
Chúng ta có thể nào biết toàn bộ hàm ý của tư tưởng –
nó là cái đo lường được – và cũng biết một chiều kích
trong đó tư tưởng như là cái đo lường được thì hoàn
toàn không hiện hữu ? Thứ nhất, có rõ được điều tư
tưởng đã làm trong thế giới, vừa lợi ích vừa phá hoại
? Làm thế nào tư tưởng vận hành hiệu quả, lành mạnh và
không tạo ra phân chia giữa con người ?
Tư
tưởng là sự đáp ứng của trí nhớ tập thể của con người,
nó là quá khứ. Nó có thể phóng chiếu thành tương lai, nhưng
nó vẫn có gốc rễ trong quá khứ và từ quá khứ đó nó
vận hành. Chúng ta thấy điều đó trong thao tác của nó và
chúng ta nói điều đó là cần thiết. Nhưng tại sao tư tưởng
phân chia con người ? Tại sao tôi bị điều kiện hóa như
là một người tôn giáo này và bạn bị điều kiện hóa như
là một người vô thần, cũng là một kết quả của tư tưởng
? Một số người nghĩ ra rằng chỉ có bạo lực mới đem
lại một thay đổi xã hội, và những người khác nói : đó
không phải là phương cách. Thế nên tư tưởng luôn luôn tạo
ra những phân chia và nơi nào có phân chia nơi đó có xung đột.
Thế thì cái gì là chức năng của tư tưởng ?
Biết
rằng tư tưởng chỉ có thể vận hành trong trường của kiến
thức, tư tưởng có thể sáng chế hay gặp gỡ một chiều
kích khác trong đó không có phân chia do tư tưởng tạo ra không
? Cá nhân tôi, tôi rất quan tâm đến điều này, bởi vì tôi
đã thấy trên khắp thế giới tư tưởng đã tạo ra những
sự vật kỳ diệu những cũng đem lại thống khổ, mê mờ,
một khối khổng lồ phiền muộn. Tư tưởng có thể hoạt
động trọn vẹn trong một chiều hướng và hoàn toàn im lặng
trong một chiều hướng khác, để cho nó không tạo ra phân
chia ? Sau khi đặt câu hỏi này cho chính tôi – và tôi hy vọng
các bạn cũng đặt nó ra cho chính các bạn – tư tưởng có
thể nói, “Tôi sẽ không vượt khỏi thế giới kỹ thuật,
kiến thức và cuộc sống hàng ngày”, và không đi vào chiều
kích không có phân chia kia không ? Tư tưởng có thể tự tách
khỏi chính nó như vậy hay chúng ta đặt một câu hỏi hoàn
toàn sai ? Tư tưởng có thể thấy những giới hạn của chính
nó và đem lại một trí thông minh khác ? Nếu tư tưởng thấy
những giới hạn của chính nó, thì không có một loại trí
thông minh khác đang hoạt động sao ? Bấy giờ không có một
sự thức dậy của trí thông minh ở trên và vượt khỏi tư
tưởng sao ?
Người
hỏi : Khi tư tưởng đang thấy chính nó, cái ấy không phải
là đang tư tưởng.
KRISHNAMURTI
: Tôi không biết, thưa bạn.
Người
hỏi : Tư tưởng không tìm thấy những hệ thống để hủy
diệt chính nó ?
KRISHNAMURTI
: Trước hết hãy thấy sự khó khăn của chúng ta, chúng ta
chớ tìm một sự trả lời dễ dàng, hãy thấy những hàm
ý lớn lao trong điều này. Con người đã sống bằng tư tưởng.
Chúng ta sử dụng tư tưởng mỗi ngày, mỗi phút. Chúng ta
phải có tư tưởng ; không có nó không có hành động, bạn
không thể sống. Bạn không thể hủy diệt tư tưởng. Hủy
diệt tư tưởng hàm ý một tư tưởng cao hơn, nói rằng “Ta
phải hủy diệt những tư tưởng thấp hơn của ta” – đấy
đều ở trong trường xứ của tư tưởng. Đây là điều những
người Ấn Độ đã làm. Họ nói : tư tưởng là rất giới
hạn, có một tư tưởng cao hơn, Atman, Brahman, cái ở trên
; hãy giữ tư tưởng yên lặng và rồi cái kia sẽ hoạt động.
Sự khẳng định duy nhất của điều ấy là tư tưởng, phải
không ? Ở đây bạn nói “linh hồn” – nó vẫn là phần
của
tư tưởng. Thế thì tư tưởng đã sinh ra thế giới phi thường
này của kỹ thuật, mà tư tưởng đã dùng cho sự tiện lợi
của con người và cho sự hủy diệt của họ. Chính tư tưởng
đã sáng chế ra những bậc cứu độ, những huyền thoại,
những thần linh ; chính tư tưởng đã sản xuất ra bạo lực,
nó trở thành ghen tỵ, lo âu, sợ hãi.
Thế
thì có chăng một trường tư tưởng không đo lường được
? Trường đó có thể vận hành, hoạt động trong trường
của tư tưởng, không có tư tưởng phân tán thành những phần
mảnh ? Nếu tư tưởng hoạt động mọi lúc, bấy giờ tâm
thức vận hành với kiến thức, cái này là quá khứ. Kiến
thức là quá khứ – tôi không thể có kiến thức về ngày
mai, và kiến thức là tư tưởng. Nếu cách duy nhất để sống
là luôn luôn ở trong trường của tư tưởng, bấy giờ tâm
không bao giờ có thể tự do và con người luôn luôn sống
trong phiền muộn, sợ hãi, phân chia, bởi thế trong xung đột.
Nhận thức điều này, con người nói phải có một tác nhân
ở ngoài – như Thượng Đế – vị ấy sẽ giúp tôi chiến
thắng tất cả sự phân mảnh của tư tưởng này. Nhưng Thượng
Đế ấy, Atman ấy – hay những hình thức khác của hy vọng
– vẫn là sự sáng chế của tư tưởng không tìm thấy an
toàn trong thế giới này, nó sáng chế hay tin tưởng hay phóng
chiếu một ý tưởng mà nó gọi là Thượng Đế, đó là cái
an toàn. Tôi thấy điều này. Nếu tư tưởng là trường duy
nhất trong đó con người có thể sống, bấy giờ họ phải
thất bại. Đây không phải là sáng chế của tôi, đây là
cái thực sự xảy ra và tiếp tục.
Tôi
đã làm rõ vấn đề chứ ? Tâm con người đòi hỏi tự do
với mặc cảm tội lỗi, khổ đau, mê mờ của những cuộc
chiến tranh không dứt và bạo lực này, và tư tưởng không
thể sanh ra tự do. Thế nên tâm con người phải tìm ra câu
trả lời. Nó chỉ có thể làm điều đó khi nó đã hiểu
bản chất của tư tưởng và đã thấy khả năng của nó và
đã tìm thấy một trạng thái của cái không thể đo lường
trong đó tư tưởng không vận hành chút nào. Đây là cái gọi
là thiền định. Người ta đã làm cái gì đó ; nhưng thiền
định của họ lại thêm phần thúc đẩy tư tưởng. Họ nói
“Tôi phải ngồi cho bình lặng, những tư tưởng của tôi
phải được kiểm soát.” Biết giới hạn của tư tưởng,
họ nói “Tôi phải trị nó”, “Tôi phải kiểm soát nó,
không để cho nó lang thang.” Họ tự rèn luyện mình dữ dội,
nhưng họ không có cái chiều kích kia, bởi vì tư tưởng không
thể đi vào đó.
Người
thực sự nghiêm túc đã tra hỏi sâu vào việc này. Nhưng tư
tưởng đã là dụng cụ chánh yếu của họ và bởi thế họ
không bao giờ giải quyết được vấn đề này. Họ đã sáng
chế ra nhiều thứ, họ đã suy diễn. Và những người khờ
dại khốn khổ như chúng ta chấp nhận những suy luận này,
những triết lý, những vị thầy, toàn bộ cung bậc của nó.
Rõ ràng phải có một loại thiền định khác, một loại tri
giác khác, nó thấy và không đánh giá. Thấy những hoạt động
của tư tưởng, tất cả chuyển động của nó bên trong và
bên ngoài mà không cho nó theo chiều hướng nào hay bắt buộc
nó theo cách nào, chỉ quan sát nó trọn vẹn mà không chọn
lựa, đó là một loại tri giác khác. Chúng ta thấy, nhưng
chúng ta luôn luôn cho nó một chiều hướng. Chúng ta nói “Điều
này phải không có”, “Điều này cần có”, “Tôi sẽ thắng
nó”. Tất cả cái đó là cách thế đáp ứng cũ kỹ đối
với hành động, cảm nhận hay ý tưởng. Nhưng quan sát mà
không có chiều hướng nào, không có méo mó nào – điều
đó hoàn toàn có thể chứ ? Nếu tôi có thể thấy chính mình
như tôi là mà không có bất kỳ kết án nào hay nói “Tôi
sẽ giữ cái này và tôi sẽ bỏ cái kia”, bấy giờ tri giác
có một tính chất khác. Bấy giờ nó trở thành một vật
sống, không phải là khuôn khổ lập lại của quá khứ.
Thế
nên ngay trong hành động nghe, như bạn đang làm đây, bạn
thấy chân lý rằng tri giác thực sự thì phải không có chỉ
thị hay khuyến dụ hay cưỡng bách. Trong sự quan sát này,
bạn sẽ thấy rằng tư tưởng không lọt vào tí nào cả.
Thế có nghĩa là, trong tri giác này, trong cái thấy này, có
chú ý trọn vẹn. Nơi không có chú ý thì có một sự méo
mó. Bây giờ khi bạn đang nghe điều này, nếu bạn thấy chân
lý của nó, thì nó hành động.
Người
hỏi : Tư tưởng luôn luôn đi vào nơi nào có thích thú, sợ
hãi và lo âu.
KRISHNAMURTI
: Chúng ta trở lại vấn đề này. Tư tưởng đã làm sanh ra
sợ hãi, không có thắc mắc gì về chuyện đó. Tư tưởng
đã sanh ra sự cô đơn đau đớn trong bản thân, tư tưởng
đã nói “Tôi phải thành tựu, tôi phải là, tôi đang nhỏ,
tôi phải lớn.” Tư tưởng đã đem lại ghen tỵ, lo âu, mặc
cảm phạm tội. Tư tưởng là mặc cảm tội lỗi này. Không
phải : tư tưởng làm ra mặc cảm tội lỗi, tư tưởng là
mặc cảm tội lỗi. Làm thế nào tôi tự quan sát mình và
thế giới mà tôi là thành phần, nhưng không có bất kỳ can
thiệp nào của tư tưởng trong sự quan sát đó, để từ sự
quan sát có một hành động khác không phát sanh sợ hãi, tiếc
nuối và mọi thứ như vậy. Thế nên tôi phải học quan sát
chính mình và thế giới và những hành động của tôi một
cách hoàn toàn khác. Phải có một sự học quan sát trong đó
tư tưởng không can thiệp chút nào bởi vì vào khoảnh khắc
tư tưởng can thiệp bèn dẫn đến méo mó, nó trở nên thiên
vị. Tri giác là trong hiện tại ; bạn không thể tri giác vào
ngày mai. Bạn tri giác, thấy biết bây giờ, và khi tư tưởng
can thiệp vào tri giác này – tư tưởng là sự đáp ứng của
quá khứ – nó phải làm méo mó hiện tại ; điều này là
hợp lý.
Người
hỏi : Chắc chắn, để tỉnh giác chúng ta phải suy nghĩ.
KRISHNAMURTI
: Nào, hãy nhìn vào nó. Tỉnh giác, rõ biết có nghĩa là gì
? Tôi tỉnh giác rằng bạn đang ngồi kia và tôi đang ngồi
ở trên đây, tôi tỉnh giác rằng tôi đang ngồi trên một
cái ghế… Rồi tư tưởng nói “Tôi là người tốt hơn những
người ngồi dưới, bởi vì tôi đang nói.” Tư tưởng cho
tôi uy tín – bạn theo dõi chứ ? Đó là tỉnh giác, hay đó
chỉ là chuyển động tiếp tục của tư tưởng ? Bạn có
thể thấy một cái cây mà không có sự vận động của tư
tưởng, không có hình ảnh của cái cây không ? – hình ảnh
là tư tưởng, nó nói rằng, đây là một cây sồi.
Trong
việc quan sát một cái cây, điều gì xảy ra ? Có không gian
giữa người quan sát và cái cây, có khoảng cách ; rồi có
kiến thức thực vật, sự thích hay không thích cái cây ấy.
Tôi có một hình ảnh một cái cây và hình ảnh ấy nhìn vào
cái cây ; có một tri giác không có hình ảnh chăng ? Hình ảnh
là tư tưởng ; tư tưởng là kiến thức về cái cây ấy.
Khi có tri giác với một hình ảnh, thì không có tri giác trực
tiếp về cái cây. Có thể nhìn cái cây mà không có hình ảnh
chăng ? Điều đó khá giản dị, nhưng nó trở nên phức tạp
hơn nhiều khi tôi nhìn chính tôi mà không có hình ảnh về
chính tôi. Có thể có một quan sát về chính tôi mà không
có hình ảnh nào cả ? Tôi thì đầy những hình ảnh của
tôi. Tôi thế này, tôi không thế kia, tôi nên thế này, tôi
không nên thế kia, tôi phải trở nên, tôi không phải trở
nên – bạn theo dõi chứ ? Đấy là tất cả những hình ảnh
và tôi nhìn chính tôi với một trong những hình ảnh – không
phải với toàn bộ những hình ảnh.
Vậy
thì cái gì đang nhìn ? Nếu không có hình ảnh bấy giờ cái
gì đang nhìn ? Nếu tôi không có hình ảnh nào cả về chính
tôi – điều người ta phải đi vào rất sâu – bấy giờ
cái gì để thấy ? Tuyệt đối không có gì để thấy, và
người ta kinh hãi về điều đó. Đó là : người ta tuyệt
đối không là gì cả. Nhưng chúng ta không thể đối mặt
với nó, thế nên chúng ta có những hình ảnh về chính mình.
Tâm
con người đòi hỏi tự do. Tự do là thiết yếu, thậm chí
nó được đòi hỏi về mặt chính trị, nhưng bạn không đòi
hỏi tự do khỏi mọi hình ảnh. Tư tưởng đã tạo ra những
hình ảnh này cho những lý do xã hội, kinh tế và văn hóa.
Những hình ảnh này thì đo lường được : cái lớn hơn,
cái kém hơn. Người ta hỏi : tư tưởng có thể quan sát mà
không có méo mó ? Rõ ràng là không thể. Có một yếu tố
làm méo mó trong tư tưởng, bởi vì tư tưởng là sự đáp
ứng của quá khứ. Có chăng một sự quan sát mà không có
sự can thiệp của tư tưởng – nghĩa là không có sự can
thiệp của bất kỳ hình ảnh nào. Bạn có thể tìm ra cái
này ; nó không phải là một vấn đề chỉ chấp nhận hay
tin. Bạn có thể nhìn vợ bạn, chồng bạn, cái cây, đám
mây, hay người ngồi cạnh bạn mà không có hình ảnh nào
cả.
Người
hỏi : Krishnaji, chừng nào người ta còn cố gắng để tỉnh
giác, người ta cứ tạo ra những sự vật để tỉnh giác.
KRISHNAMURTI
: Đó là điều tôi đang nói. Bạn không thể cố gắng tỉnh
giác, bạn không thể quyết tâm tỉnh giác ; tỉnh giác không
phải là kết quả của thi hành ý chí. Hoặc bạn thấy hoặc
bạn không thấy, hoặc bạn nghe điều chúng ta đang nói đây
hay bạn không nghe. Nhưng nếu bạn nghe với hình ảnh của
bạn, bấy giờ dĩ nhiên bạn không nghe chút nào.
Câu
hỏi thực rất đáng quan tâm. Tôi có thể hiểu những hình
ảnh ý thức, kiến thức nông cạn bề ngoài mà tôi có, điều
ấy khá đơn giản và rõ ràng. Nhưng như thế nào tôi tỉnh
giác những hình ảnh sâu xa, khuất kín, chúng có một ảnh
hưởng mạnh mẽ trên toàn bộ cuộc sống ?
Người
hỏi : Chúng ta tìm ra bằng cách nào chúng ta cư xử, bằng
cách nào những hình ảnh ấy xảy đến, đôi khi trong giấc
ngủ.
KRISHNAMURTI
: Thế nghĩa là : qua sự cư xử của chúng ta, tôi bắt đầu
khám phá những hình ảnh vô thức đã được gom chứa –
một hình ảnh này sau một cái khác, bạn theo dõi chứ ? Tôi
cư xử với bạn khác với người khác, bởi vì bạn có quyền
thế hơn, có uy tín hơn người kia. Thế nên hình ảnh của
tôi về bạn thì lớn hơn và tôi coi thường người khác ;
thế nghĩa là đi đến một hình ảnh sau một hình ảnh khác.
Liệu có một yếu tố trung tâm nó tạo ra những hình ảnh
này một cách có ý thức cũng như sâu xa ? Nếu tôi có thể
tìm ra nó, bấy giờ tôi không phải đi từ hình ảnh này đến
hình ảnh khác, hay khám phá những hình ảnh qua những giấc
mơ.
Qua
sự cư xử của tôi, tôi khám phá những hình ảnh vô thức
của tôi ; đó là một loại phân tích, phải không ? Phân tích
sẽ giải quyết những hình ảnh ? Những hình ảnh ấy do tư
tưởng tạo ra, và phân tích là tư tưởng. Qua tư tưởng tôi
hy vọng tiêu hủy những hình ảnh do tư tưởng tạo ra, thế
thì tôi bị vướng mắc vào một vòng lẩn quẩn. Làm sao tôi
đối xử với điều này ? Những hình ảnh của bạn phát
lộ qua những giấc mơ ư ? Đấy không phải là một hình thức
phân tích khác sao ? Tại sao bạn cần nằm mơ ? Những giấc
mơ là một sự hoạt động tiếp tục hàng ngày của tôi,
phải không ? Tôi sống một đời sống khá rối rắm – không
chắc chắn, khốn khổ, cô đơn, sợ hãi, tự so sánh với
ai khác đẹp hơn, thông minh hơn ; đó là cuộc đời tôi lúc
thức và khi tôi ngủ, mọi thứ vẫn tiếp tục. Tôi mơ mọi
thứ tôi đã trải qua ; nó là sự tiếp tục của việc tôi
đã sống ban ngày như thế nào. Nếu có sự phát lộ của
chính tôi qua những giấc mơ, đó là một hình thức phân tích.
Thế nên tôi dựa vào những giấc mơ để phát hiện những
hình ảnh che dấu, và sự nương dựa vào những giấc mơ làm
cho tôi càng ít tỉnh giác hơn trong những giờ thức – phải
không ?
Người
hỏi : Tư tưởng có thể hoàn toàn im lặng ?
KRISHNAMURTI
: Tư tưởng tự hỏi nó có thể hoàn toàn im lặng.
Nó
sẽ tìm ra thế nào ? Nó có thể làm gì để im lặng ? Tư
tưởng có thể tự nói : tôi phải bình lặng ? Đó không phải
là bình lặng ! Cái gì là im lặng mà không phải là sản phẩm
của tư tưởng ? Nghĩa là, tư tưởng có thể tự chấm dứt,
mà không đòi hỏi phải đi đến chấm dứt ? Đó không phải
là cái bao hàm khi bạn lắng nghe điều gì, khi bạn thấy rõ
? Khi bạn chú ý trọn vẹn, trong sự chú ý đó có im lặng,
phải không ? Chú ý trọn vẹn nghĩa là thân thể bạn, thần
kinh bạn, mọi sự đều chú ý. Bấy giờ trong chú ý ấy người
quan sát như là tư tưởng không còn hiện hữu.
Người
hỏi : Tôi có thể nói rằng sự im lặng xảy ra từ bên trong.
KRISHNAMURTI
: Nó xảy ra thế nào ? Người ta có thể vận hành từ im lặng
– bạn theo dõi chứ ? Xin hãy đặt câu hỏi này : trước
hết, cái gì là im lặng ? Nó đến như thế nào ? Có chăng
một sự vận hành, nó là sống đời sống hàng ngày từ im
lặng ? Tôi không thể khẳng định có một tỉnh giác mọi
lúc, tôi không biết, bạn không biết.
Người
hỏi : Nhưng hình như nó ở đây, nó chỉ thay đổi mọi lúc.
KRISHNAMURTI
: Chúng ta chỉ biết một điều : tư tưởng thường hằng
hoạt động. Và khi tư tưởng hoạt động thì không có im
lặng, không có tỉnh giác, như chúng ta đã chỉ ra. Tỉnh giác,
hay tri giác, hàm ý một trạng thái thấy trong đó không có
hình ảnh nào cả. Trừ phi tôi tìm ra rằng có thấy mà không
có hình ảnh, tôi không thể xác định gì khác. Tôi không
thể xác định có một tỉnh giác, có một sự im lặng đời
sống hàng ngày, tôi có thể quan sát vợ tôi, con tôi, mọi
sự quanh tôi mà không có một bóng mờ của một hình ảnh
nào ? Hãy tìm ra. Bấy giờ từ chú ý ấy có im lặng. Sự
chú ý ấy là im lặng. Và nó không phải là kết quả của
thực hành, cái này vẫn lại là tư tưởng.
BROCKWOOD
PARK
4
tháng Chín 1971
2
TÂM
THIỀN ĐỊNH VÀ CÂU HỎI
KHÔNG
THỂ ĐÁP
“Thiền
định là sự giải phóng toàn bộ năng lượng.” Thế giới
phương Tây xây dựng trên đo lường, nó là maya theo phương
Đông. Sự vô ích của những phái thiền định. Năng lượng
dựa vào tự tri. Vấn đề tự quan sát. Nhìn “không có đôi
mắt của quá khứ”. Đặt tên. Cái che dấu trong chính mình.
Những chất kích thích. Nội dung che dấu và câu hỏi không
thể đáp. “Thiền định là một cách để qua một bên tất
cả những gì con người đã hình dung về chính nó và thế
giới.“ Một cuộc cách mạng tận gốc trong đó người ta
ảnh hưởng toàn bộ thế giới. Cái gì xảy ra khi tâm bình
lặng ? “Thiền định là… thấy sự đo lường và vượt
khỏi sự đo lường.”
Hòa
điệu và một “đời sống hoàn toàn khác”.
Khi
du hành trên thế giới và quan sát những hoàn cảnh nghèo nàn
và xấu xí của tương quan giữa người với người, đã rõ
ràng cần phải có một cuộc cách mạng toàn diện. Một loại
văn hóa khác phải hiện hữu. Văn hóa cũ hầu như đã chết
nhưng chúng ta vẫn bám vào nó. Những người trẻ nổi loạn
chống lại nó, nhưng không may họ không tìm thấy một cách
thức để chuyển hóa tính chất căn bản của con người,
tức là tâm thức. Trừ phi có một cuộc cách mạng tâm lý
sâu xa, chứ chỉ cải cách mặt ngoài sẽ ít có hiệu quả.
Cuộc cách mạng tâm lý này – mà tôi nghĩ là cuộc cách mạng
duy nhất – thì có thể qua thiền định.
Thiền
định là sự giải phóng toàn bộ năng lượng, và đó là
điều chúng ta sắp nói cùng nhau sáng nay. Nghĩa gốc của từ
(meditate có nghĩa là suy nghĩ, trù tính – chú thích của dịch
giả) này là đo lường. Toàn thể thế giới phương Tây đặt
nền trên ý tưởng đo lường, nhưng ở phương Đông người
ta nói, “Đo lường là maya, huyễn hóa, thế nên người ta
phải tìm ra cái không thể đo lường.” Thế nên hai thế
giới đó tách xa nhau, về mặt văn hóa, xã hội, trí thức
và tôn giáo.
Thiền
định là một vấn đề khá phức tạp. Chúng ta phải đi vào
nó một cách từ từ và tiếp cận nó từ nhiều góc độ,
luôn luôn nhớ rằng một cuộc cách mạng tâm lý là tuyệt
đối cần thiết cho một loại thế giới khác, một loại
xã hội khác có thể hiện hữu. Tôi không biết các bạn cảm
nhận điều này mạnh mẽ thế nào. Có lẽ phần lớn chúng
ta, thị dân trưởng giả, tiện nghi với số thu nhập nhỏ
bé của chúng ta, gia đình chúng ta vân vân, sẽ thích ở yên
như mình đang sống và không muốn bị quấy rầy. Nhưng những
biến cố, nền kỹ thuật, và mọi điều này đang xảy ra
trong thế giới, đang tạo ra những biến đổi lớn lao bên
ngoài. Vậy mà bên trong hầu hết chúng ta nhiều hay ít vẫn
như cũ trong hàng thế kỷ. Cuộc cách mạng ấy chỉ có thể
xảy ra ở trung tâm của hiện thể chúng ta và đòi hỏi một
sự dồi dào năng lượng ; thiền định là sự giải phóng
toàn bộ năng lượng ấy và chúng ta sắp nói về nó.
Chúng
ta có rất nhiều ý tưởng về thiền định là gì và nó nên
như thế nào ; chúng ta nhập khẩu nó từ phương Đông, hay
giải thích nó theo khuynh hướng tôn giáo riêng của chúng ta,
như tham thiền, thuận lòng, cầu nguyện, giữ cho tâm yên tĩnh
hay mở rộng – chúng ta có đủ ý tưởng kỳ lạ về nó.
Và nhất là sau này, người ta đã từ Ấn Độ đến để
truyền bá những thiền định đủ loại.
Trước
hết, người ta có phẩm tính năng lượng không hề có sự
ma sát này như thế nào ? Chúng ta biết năng lượng cơ khí,
nó là sự ma sát trong máy móc, và sự ma sát trong chúng ta,
nó sản sanh năng lượng bằng xung đột, bằng kháng cự, bằng
kiểm soát và mọi thứ ấy. Thế nên có một loại năng lượng
gây ra bởi sự ma sát cơ khí. Có một loại năng lượng khác
không có ma sát nào và bởi thế trọn vẹn tự do và vô lượng
không ? Tôi nghĩ thiền định là sự khám phá điều đó. Trừ
phi người ta có năng lượng dồi dào, không chỉ về vật
lý mà còn nhiều hơn về tâm lý, nếu không hành động của
chúng ta sẽ không bao giờ trọn vẹn, nó sẽ luôn luôn sanh
ra ma sát, xung đột và chiến đấu. Có nhiều loại thiền
định, Zen, Yoga đem đến từ Ấn Độ, và những nhóm tham
thiền khác nhau và vân vân, trong tất cả cái đó, có ý tưởng
kiểm soát, thuận theo một hệ thống, thực hành sự lập
lại những từ, được gọi là mantra (thần chú), và nhiều
hình thức thở, hatha yoga và vân vân. Tôi cho rằng các bạn
biết tất cả cái đó.
Thế
nên trước hết chúng ta hãy bỏ chúng bằng cách truy tầm.
Không chấp nhận điều chúng nói, mà nghiên cứu tìm tòi nó,
thấy chân lý và sự sai giả của nó. Có sự lập lại những
từ, những câu, thần chú, một số câu do một guru ban cho,
được nhập môn, trả tiền để học một câu kỳ lạ và
bạn lầm thầm bí mật lập lại. Chắc chắn một số bạn
đã làm việc đó và bạn biết khá nhiều về nó. Đó gọi
là mantra yoga, được đem đến từ Ấn Độ. Tôi không biết
tại sao các bạn lại trả chỉ một xu để lập lại một
số chữ từ một người nào đó nói, “Nếu bạn làm điều
này bạn sẽ hoàn thành giác ngộ, bạn sẽ có một tâm bình
lặng.” Khi bạn thường trực lập lại một nhóm từ ngữ,
dù là Ave Maria hay những từ Sanskrit nào đó, rõ ràng tâm thức
bạn trở nên cùn nhụt hơn và bạn có một cảm giác kỳ
lạ của hợp nhất, của bình lặng, và bạn nghĩ rằng điều
đó sẽ giúp bạn đem lại sáng tỏ. Bạn có thể thấy sự
vô lý của điều đó, bởi vì tại sao bạn chấp nhận điều
người nào đó nói về những việc này – kể cả tôi nữa
? Tại sao bạn chấp nhận thẩm quyền về chuyển động bên
trong của đời sống ? Chúng ta từ chối thẩm quyền bên ngoài
; nếu bạn rõ biết và quan sát bạn từ chối những điều
như vậy. Nhưng chúng ta có vẻ chấp nhận thẩm quyền của
người nào nói, “Tôi biết tôi đã hoàn thành, tôi đã chứng
ngộ.” Người nào nói mình biết thì người đó không biết.
Giây phút bạn nói bạn biết thì bạn không biết. Bạn biết
cái gì ? Kinh nghiệm nào đó bạn có, loại thị kiến nào
đó, loại giác ngộ nào đó ? Tôi không thích dùng từ “giác
ngộ” này. Một khi bạn đã kinh nghiệm cái đó, bạn nghĩ
bạn đã đạt đến trạng thái phi thường nào đó ; nhưng
cái đó là quá khứ, bạn chỉ có thể biết cái gì đã xong
và bởi thế đã chết. Khi những người ấy đến và nói
họ đã chứng ngộ, “Hãy làm điều này” hay “Hãy làm
điều kia” vì tiền, điều này rõ ràng vô lý. Thế nên chúng
ta có thể bỏ qua điều ấy.
Chúng
ta cũng có thể bỏ qua toàn bộ ý tưởng thực hành một hệ
thống, một phương pháp. Khi bạn thực hành một phương pháp
để hoàn thành giác ngộ hay an lạc, hay để có một tâm bình
lặng, hay thành tựu một trạng thái thanh tĩnh, bất cứ cái
gì, rõ ràng nó làm cho tâm thức máy móc, bạn lập lại hoài.
Điều này không chỉ bao hàm sự đè nén áp bức chuyển động
và cái hiểu của riêng bạn, mà còn sự tuân thủ và xung
đột không dứt nằm trong sự thực hành một hệ thống riêng
biệt. Tâm thích tuân thủ một hệ thống bởi vì bấy giờ
nó kết tinh và nó dễ sống theo cách ấy. Thế nên bây giờ
chúng ta có thể bỏ đi mọi hệ thống thiền định ? Nhưng
bạn không muốn, bởi vì toàn bộ cơ cấu thói quen của chúng
ta được đặt nền trên đòi hỏi phải tìm ra một phương
pháp, để cho chúng ta có thể chỉ biết theo và sống một
đời sống lề thói đơn điệu và cùn lụt ; không bị quấy
rầy, đó là điều chúng ta muốn, thế nên chúng ta chấp nhận
thẩm quyền, quyền uy.
Người
ta phải tìm ra cho chính mình, không nhờ ai. Chúng ta đã có
thẩm quyền của giáo sĩ qua hàng thế kỷ, thẩm quyền của
những vị thầy, những bậc cứu độ và những đạo sư.
Nếu các bạn thực sự muốn tìm ra thiền định là gì, các
bạn phải để qua trọn vẹn một bên mọi quyền uy ; không
phải quyền uy của luật lệ, của cảnh sát – luật lệ,
hợp pháp, bạn sẽ hiểu sau, khi tâm bạn được trật tự
và trong sáng. Bây giờ cái gì là thiền định ? Nó là sự
kiểm soát tư tưởng chăng ? Chính bản thân tư tưởng, phải
không ? Toàn bộ văn hóa của chúng ta, cả ở phương Đông
và phương Tây, được đặt nền trên tư tưởng và sự tập
trung, trong đó chỉ có một tư tưởng có thể được theo
đuổi cho đến chấm dứt. Tại sao người ta cần kiểm soát
? Kiểm soát bao hàm bắt chước, tuân thủ, nó hàm ý chấp
nhận một khuôn khổ như là thẩm quyền, theo đó bạn cố
gắng sống. Khuôn khổ đó do xã hội, văn hóa, do người nào
bạn nghĩ là có hiểu biết, giác ngộ vân vân đặt ra. Theo
khuôn khổ đó người ta cố gắng sống, đè nén tất cả
những cảm nhận và ý tưởng của mình, cố gắng tuân thủ.
Trong việc đó có xung đột, và xung đột vốn là một hao
phí năng lượng.
Thế
nên tập trung, mà nhiều người cổ súy khi thiền định, thì
hoàn toàn sai lầm. Bạn có chấp nhận tất cả điều này,
hay bạn chỉ nghe từ sự mệt mỏi, chán nản ? Bởi vì chúng
ta phải đi vào câu hỏi này, tư tưởng có thể vận hành
nơi nào cần thiết, không có bất kỳ hình thức kiểm soát
nào chăng ? Tư tưởng có thể vận hành khi cần thiết như
là kiến thức trong hành động và hoàn toàn yên lặng vào
những lúc khác không ? Đó là vấn đề đích thực. Tâm thức
phủ đầy nhiều hoạt động của tư tưởng thế nên nó bất
định, cố gắng tìm thấy sự sáng tỏ trong cái mê mờ rối
rắm ấy, tự buộc mình phải kiểm soát, tuân thủ mọi ý
tưởng ; bởi thế nó đem lại càng nhiều mê mờ rối rắm
trong bản thân nó. Tôi muốn tìm ra liệu tâm thức có thể
bình lặng và chỉ hoạt động khi cần thiết hay không.
Kiểm
soát, bởi vì nó hàm ý xung đột, là một sự hao phí lớn
lao năng lượng ; đó là điều quan trọng cần hiểu, bởi
vì tôi cảm thấy thiền định phải là một giải phóng năng
lượng trong đó không có chút ma sát nào. Một tâm thức làm
điều này thế nào ? Làm sao nó có năng lượng như vậy trong
đó mọi hình thức ma sát chấm dứt ? Khi tra hỏi vào điều
này, người ta phải hiểu chính mình một cách trọn vẹn,
phải có tự biết mình toàn bộ – không theo nhà tâm lý,
nhà triết học hay vị thầy nào, hay khuôn khổ văn hóa nào
– mà biết mình thấu suốt, cả ở cấp độ ý thức cũng
như những cấp độ sâu hơn, điều này có thể không ? Khi
có sự thấu hiểu trọn vẹn về chính mình, bấy giờ có
sự chấm dứt xung đột – và đó là thiền định.
Bây
giờ làm sao tôi biết chính mình ? Tôi chỉ có thể biết mình
trong tương quan ; sự quan sát chính mình chỉ xảy ra khi có
đáp ứng và phản ứng trong tương quan ; không có cái gì là
biệt lập. Tâm tự biệt lập mọi lúc trong mọi hoạt động
của nó, xây một bức tường quanh bản thân nó để không
bị tổn thương, không có bất tiện, bất hạnh hay xáo trộn
; nó tự biệt lập vào mọi lúc trong hoạt động quy ngã của
nó. Tôi muốn biết “chính tôi” như tôi muốn biết làm
sao đi từ đây đến một thành phố nào đó ; nghĩa là, một
cách rõ ràng, xem coi mọi sự ở trong chính tôi, những cảm
nhận, những tư tưởng, những động cơ của tôi, ý thức
được hay không ý thức được. Điều này có thể chăng ?
Những người Hy Lạp, những người Ấn Độ, những người
Phật giáo đã nói : hãy biết chính bạn. Nhưng hình như đó
là một trong những điều khó làm nhất. Sáng nay chúng ta sắp
tìm ra làm sao để nhìn vào chính mình ; bởi vì khi bạn biết
chính mình một cách trọn vẹn, điều đó sẽ loại bỏ mọi
ma sát, và bởi thế từ đó tính chất này của năng lượng
sẽ xảy ra một cách hoàn toàn khác. Thế nên để tìm ra làm
sao quan sát chính mình, người ta phải hiểu quan sát là gì.
Khi
chúng ta quan sát những sự vật khách quan như những cái cây,
những đám mây, những sự vật bên ngoài chúng ta, không chỉ
có không gian giữa người quan sát và cái được quan sát –
không gian vật lý – mà còn có không gian của thời gian. Khi
chúng ta nhìn một cái cây không chỉ có khoảng cách vật lý,
mà còn có khoảng cách tâm lý. Có khoảng cách giữa bạn và
cái cây, khoảng cách tạo ra bởi hình ảnh như là kiến thức
: đó là một cây sồi, hay một cây du. Hình ảnh ấy giữa
bạn và cái cây làm tách biệt bạn ra.
Nhưng
khi tính chất của tâm của người quan sát không có hình ảnh
tưởng tượng, bấy giờ có một tương quan hoàn toàn khác
giữa người quan sát và cái được quan sát. Bạn có bao giờ
nhìn một cái cây mà không có lời nào thích hay không thích,
không có một hình ảnh nào ? Bạn có nhận xét cái gì xảy
ra ? Bấy giờ, lần đầu tiên bạn thấy cái cây như nó là
và bạn thấy cái đẹp của nó, màu sắc, chiều sâu, sự
sống động của nó. Một cái cây hay thậm chí người khác,
thì khá dễ quan sát ; nhưng quan sát chính mình theo kiểu ấy
– quan sát không có người quan sát – thì khó hơn nhiều.
Thế nên người ta phải tìm ra ai là người quan sát.
Tôi
muốn coi xem chính tôi, tôi muốn biết chính tôi sâu xa đến
mức có thể được. Cái gì là bản chất, cơ cấu của người
quan sát đang xem coi ấy ? Người quan sát ấy là quá khứ,
phải không ? – kiến thức quá khứ mà nó đã tích tập và
chứa đựng ; quá khứ là văn hóa, là cái quy định. Chính
người quan sát nói, “Cái này đúng, cái này sai, cái này
phải như vầy, cái này phải không như vầy, cái này tốt,
cái này xấu.” Thế nên người quan sát là quá khứ và với
đôi mắt ấy của quá khứ chúng ta thấy chúng ta là gì. Rồi
chúng ta nói, “Tôi thích giống như vầy, tôi xấu xí”, hay
“Tôi sẽ giữ cái này”. Tất cả những phân biệt và những
kết án này xảy ra. Tôi có thể nhìn chính tôi mà không có
đôi mắt của quá khứ không ? Tôi có thể coi xem chính tôi
trong hành động, nó hiện hữu trong tương quan, mà không có
bất kỳ chuyển động nào của quá khứ ? Bạn có bao giờ
cố gắng thử làm điều này ? (Tôi không giả định bạn
đã làm.)
Khi
không có người quan sát bấy giờ chỉ có cái được quan
sát. Xin hãy thấy điều này : Tôi thèm khát, hay tôi ăn nhiều,
khi tôi tham lam. Phản ứng bình thường là, “Tôi phải không
ăn nhiều”, “Tôi phải không tham lam”, “Tôi phải đè
nén”, bạn biết tất cả những cái đi theo đó. Trong đó
có người quan sát cố gắng kiểm soát sự tham lam, thèm muốn
của nó. Bây giờ khi có một tỉnh giác, rõ biết về tham
lam mà không có người quan sát, cái gì xảy ra ? Tôi có thể
quan sát sự tham lam ấy mà không đặt cho nó một cái tên,
như “tham lam” không ? Giây phút tôi đặt tên cho nó tôi
đã cố định nó như là tham lam trong trí nhớ tôi, trí nhớ
đó nói : Tôi phải thanh toán nó, tôi phải kiểm soát nó.
Thế nên có một quan sát tham lam mà không có lời nói, không
có biện minh nó, không có kết án nó ? Nghĩa là, tôi có thể
quan sát cái được gọi là tham lam này mà không có bất kỳ
phản ứng nào cả ?
Quan
sát như vậy là một hình thức kỷ luật, phải không ? Không
áp đặt bất kỳ khuôn khổ riêng biệt nào, cái có nghĩa
là tuân thủ, áp bức và mọi thứ như vậy, mà quan sát toàn
bộ những hành động mà không kết án, biện minh hay đặt
tên – chỉ quan sát. Bấy giờ bạn sẽ thấy tâm không hao
phí năng lượng nữa. Bấy giờ đó là tỉnh giác và bởi
thế nó có năng lượng để xử sự với cái nó đang quan
sát.
Người
hỏi : Tôi xin hỏi, thưa ngài, cái “tôi” quan sát cái “tôi”
mà không đặt tên nó như là cái “tôi”, thì có giống như
quan sát quá khứ mà cũng không đặt tên nó như là quá khứ
?
KRISHNAMURTI
: Hoàn toàn đúng, thưa ông, nó là vậy đó. Nhưng một khi
ông đã hiểu toàn bộ cơ chế thì nó không trở nên khó khăn.
Một khi ông thấy sự thật của nó, bấy giờ sự thật ấy,
chân lý ấy, sự kiện ấy là hành động. Người ta có thể
làm điều đó ở cấp độ ý thức. Có một số lớn những
đáp ứng, những động cơ, những khuynh hướng, những cấm
đoán và những sợ hãi vô thức. Làm thế nào để xử sự
với tất cả những cái đó ? Người ta phải đi xuyên qua
bằng cách phân tích từng tầng lớp những tích tập dấu
kín, phơi bày tất cả chúng qua những giấc mơ ? Làm thế
nào để tất cả cái đó được phơi bày khiến cho biết
chính mình trở nên trọn vẹn ?
Rõ
ràng tâm ý thức không thể làm được. Tôi không thể tìm
tòi một cách ý thức cái vô thức, cái bị che dấu. Bạn
có thể chăng ? Chớ nói “không” – hãy thấy sự khó khăn
của nó, bởi vì tôi không biết cái gì bị che dấu, và cái
bị che dấu có thể báo cho biết qua những giấc mơ, nhưng
những giấc mơ cần phải được giải thích và điều đó
sẽ cần một số thời gian, phải không ?
Người
hỏi : Tôi nghĩ có thể nhờ một số chất kích thích để
biết chính mình – như vậy không có xung đột.
KRISHNAMURTI
: Bạn thấy kết quả những người khác đã thử rồi đó,
chỉ thêm hỗn loạn, mất quân bình và vô trách nhiệm.
Chúng
ta đang hỏi : như thế nào người ta phơi bày toàn bộ nội
dung che dấu trong một cái nhìn ? Không qua một loạt những
giấc mơ, không qua phân tích, mọi cái đó hàm ý thời gian
và hao phí năng lượng. Đây là một câu hỏi quan trọng bởi
vì tôi muốn hiểu chính tôi – chính tôi là tất cả quá
khứ của tôi, những kinh nghiệm, những tổn thương, những
lo âu, mặc cảm tội lỗi, những sợ hãi khác nhau. Làm sao
tôi hiểu tất cả cái đó một cách tức khắc cho ta năng
lượng bao la. Bây giờ làm sao bạn làm điều đó ? Đó là
một điều không thể chăng ? Chúng ta phải hỏi câu hỏi không
thể để tìm ra đường lối từ nó. Trừ phi chúng ta hỏi
câu hỏi không thể đáp nhất còn không chúng ta sẽ luôn luôn
giao thiệp với cái có thể, và cái có thể thì rất nhỏ
bé. Thế nên tôi đang hỏi câu hỏi không thể đáp nhất,
đó là : toàn bộ nội dung này của thức được phơi bày
và hiểu nó, thấy nó một cách toàn thể, mà không có thời
gian – nghĩa là không có phân tích, thám hiểm và thấy từng
lớp một, đó là một tiêu phí thời gian. Làm thế nào tâm
quan sát toàn bộ nội dung này với một cái nhìn ?
Nếu
câu hỏi ấy được đặt ra cho bạn, như nó đang được đặt
ra bây giờ, nếu bạn thực sự nghe câu hỏi ấy, sự trả
lời của bạn là gì ? Rõ ràng bạn nói “Tôi không thể làm
điều đó.” Bạn thực sự không biết làm thế nào. Bạn
chờ người nào nói cho bạn ? Nếu tôi nói với mình, “Tôi
không biết”, tôi có chờ ai thông báo cho tôi – tôi có chờ
một câu trả lời ? Khi tôi chờ một sự trả lời, bấy giờ
tôi đã biết rồi. Bạn có theo dõi sự việc này chăng ? Khi
tôi nói, “Tôi không biết, tôi thực sự không biết” –
tôi không chờ ai nói cho tôi cả, tôi không chờ đợi điều
gì bởi vì không ai có thể trả lời nó. Thế nên tôi thực
sự không biết. Trạng thái của tâm khi nó nói “Tôi thực
sự không biết” là gì ? Tôi không thể tìm thấy nó trong
sách, tôi không thể hỏi ai. Khi tâm nói “Tôi không biết”,
trạng thái của tâm là gì ? Xin chớ trả lời tôi. Hãy nhìn
vào nó, bởi vì chúng ta luôn luôn nói chúng ta biết. Tôi biết
vợ tôi, tôi biết toán học, tôi biết cái này, tôi biết
cái kia. Chúng ta không bao giờ nói, “Tôi thực sự không biết.”
Tôi đang hỏi : cái gì là trạng thái của tâm khi nó thành
thật nói, “Tôi không biết” ? Chớ biến thành ngôn từ
ngay liền. Khi tôi thực sự muốn nói tôi không biết, tâm
không có sự trả lời. Nó không chờ đợi bất kỳ điều
gì từ ai cả. Nó không chờ đợi, không hy vọng. Thế thì
cái gì xảy ra ? Có phải nó không trọn vẹn một mình ? Nó
không biệt lập – biệt lập và một mình là hai điều khác
nhau. Trong tính chất một mình ấy không có ảnh hưởng, không
có đề kháng, nó tách lìa khỏi tất cả quá khứ, nó nói,
“Tôi thực sự không biết.” Thế nên tâm thức đã tự
làm trống không khỏi tất cả nội dung của nó. Bạn có hiểu
điều này không ?
Tôi
đã hỏi câu hỏi không thể và tôi đã nói, “Tôi không biết.”
Bởi thế tâm tự trống không khỏi mọi sự, khỏi mọi gợi
ý, mọi ước định, mọi khả thể ; thế nên tâm trọn vẹn
sống động và trống không tất cả quá khứ – cái này là
thời gian, phân tích, thẩm quyền của ai. Thế nên nó phơi
bày tất cả nội dung của chính nó bằng cách phủ nhận nội
dung. Bây giờ bạn có hiểu không ? Như chúng ta đã nói, thiền
định chỉ có thể bắt đầu với sự thấu hiểu toàn bộ
về chính tôi ; đó là phần bắt đầu của thiền định.
Không hiểu chính mình tâm có thể lừa dối chính nó, nó có
thể có những ảo tưởng theo sự quy định riêng của nó.
Khi bạn biết sự bị quy định của bạn và thoát khỏi nó,
bấy giờ không có khả năng cho bất kỳ ảo tưởng nào, và
điều đó tuyệt đối thiết yếu bởi vì chúng ta rất có
thể dễ dàng tự lừa dối mình. Thế nên khi tôi tìm tòi
vào chính tôi, tôi thấy rằng ý thức tự biết chính nó,
không bằng cách phủ nhận, từ chối điều gì, mà bằng cách
thấu hiểu toàn bộ nội dung ; điều đó đem lại năng lượng
lớn lao cần thiết, bởi vì năng lượng ấy chuyển hóa trọn
vẹn mọi hoạt động của tôi. Nó không quy ngã nữa và bởi
thế không là nguyên nhân của ma sát nữa.
Thiền
định là cách để qua một bên mọi thứ gì con người đã
quan niệm ra về chính nó và về thế giới. Thế nên nó có
một loại tâm hoàn toàn khác. Thiền định cũng có nghĩa là
tỉnh giác, rõ biết, cả thế giới và toàn thể chuyển động
của chính mình, thấy chính xác cái đang là, không chọn lựa,
không méo mó nào. Méo mó xảy ra vào khoảnh khắc bạn đưa
tư tưởng vào. Tuy nhiên tư tưởng cần vận hành, nhưng khi
có một quan sát và tư tưởng can thiệp vào sự quan sát ấy
như là hình ảnh, bấy giờ có méo mó và ảo tưởng. Thế
nên quan sát cái đích thực đang là, trong chính mình và trong
thế giới, mà không có méo mó, thì một tâm bình lặng, rất
yên tĩnh là cần thiết. Người ta biết rằng cần thiết có
một tâm bình lặng, bởi thế có nhiều hệ thống giúp bạn
kiểm soát nó, và tất cả những cái đó có nghĩa là ma sát.
Nếu bạn muốn quan sát một cách đam mê, với sự mãnh liệt,
tâm ắt trở nên bình lặng. Bạn không phải bắt buộc nó
– giây phút bạn bắt buộc nó, nó không bình lặng, nó chết.
Bạn có thể thấy chân lý này, rằng để tri giác bất kỳ
cái gì bạn phải nhìn ? – và nếu bạn nhìn với thành kiến
thì bạn không thể thấy. Nếu bạn thấy cái đó, tâm bạn
bình lặng.
Bây
giờ cái gì xảy ra trong một tâm bình lặng ? Chúng ta đang
tra hỏi không chỉ vào tính chất của năng lượng trong đó
không có sự ma sát, mà còn vào chỗ làm sao đem lại một
thay đổi căn bản trong chính mình. Chính mình là thế giới
và thế giới là chính mình – thế giới không phải là kết
quả tách lìa khỏi tôi : tôi là thế giới. Đây không chỉ
là một ý tưởng, mà là một sự kiện thật rằng tôi là
thế giới và thế giới là “tôi”. Thế nên có một cuộc
cách mạng căn bản, một thay đổi trong tôi chắc chắn sẽ
ảnh hưởng thế giới, bởi vì tôi là một phần của thế
giới.
Trong
sự tra hỏi thiền định là gì, tôi thấy rằng hao phí năng
lượng là do ma sát trong tương quan của tôi với cái khác.
Có thể có một tương quan với cái khác trong đó không có
ma sát nào cả ? Điều đó chỉ có thể khi tôi hiểu thương
yêu là gì, và sự thấu hiểu thương yêu là gì, là sự phủ
nhận cái gì không phải là thương yêu. Ghen ghét, tham vọng,
tham muốn, hoạt động quy ngã, rõ ràng mọi cái đó không
phải là thương yêu. Khi trong sự thấu hiểu chính tôi có
sự bỏ qua một bên tất cả những gì không phải là thương
yêu, bấy giờ thương yêu hiện hữu. Sự quan sát xảy ra trong
một giây, sự giải thích và diễn tả cần thời gian dài,
nhưng hành động quan sát thì tức thời.
Trong
quan sát này tôi tìm thấy không có hệ thống, không có thẩm
quyền, không có hoạt động quy ngã, bởi thế không có tuân
thủ, so sánh tôi với người khác ; quan sát tất cả cái này
tâm phải bình lặng phi thường. Nếu bạn muốn nghe cái đang
được nói ngay giờ đây, bạn phải chú ý, phải không ? Bạn
không thể nghe nếu bạn nghĩ điều gì khác. Nếu bạn mệt
mỏi với điều này, tôi có thể đứng lên và đi, nhưng bắt
bạn nghe là vô lý. Nếu bạn thực sự quan tâm một cách đam
mê, mãnh liệt, bấy giờ bạn nghe trọn vẹn, và để nghe
trọn vẹn tâm phải bình lặng – điều này rất đơn giản.
Tất cả cái này là thiền định ; không phải chỉ ngồi năm
phút, khoanh chân, thở đúng – đó không phải là thiền định,
đó là tự thôi miên.
Tôi
muốn tìm ra cái gì là tính chất của tâm, nó trọn vẹn yên
tĩnh và cũng cái gì xảy ra khi nó yên tĩnh. Tôi đã quan sát,
tôi đã ghi nhớ, tôi đã hiểu và tôi đã chấm dứt với
điều đó. Nhưng có một tra hỏi khác : cái gì là trạng thái
của tâm, của chính những tế bào óc ? Những tế bào óc
chứa giữ những trí nhớ hữu ích, cần thiết cho sự tự
bảo vệ của chúng, những trí nhớ về chuyện có thể dẫn
đến nguy hiểm. Bạn có nhận thấy điều này. Tôi nghĩ rằng
bạn đã đọc một số sách ? Cá nhân tôi thì không, bởi
thế tôi có thể nhìn vào chính tôi và tìm ra, coi xem chính
tôi, không theo ai cả – chỉ coi xem mà thôi. Tôi đang tự
hỏi cái gì là tính chất của một tâm như vậy, cái gì xảy
ra cho trí óc ? Trí óc ghi nhớ, đó là chức năng của nó,
nếu không nó không thể vận hành. Bộ óc có thể tìm thấy
an toàn trong chứng loạn thần nào đó ; nó đã tìm thấy an
toàn trong chủ nghĩa quốc gia, trong một niềm tin vào gia đình,
trong việc có tài sản, chúng đều là những hình thức khác
nhau của loạn thần. Bộ óc phải được an toàn để vận
hành và nó có thể chọn lựa để tìm thấy an toàn ấy trong
điều gì sai giả, không thực, ảo ảnh, loạn thần.
Khi
tôi đã tự khảo sát một cách thấu triệt, tất cả điều
này biến mất. Không có loạn thần, không có đức tin, không
có quốc tịch, không có tham muốn làm tổn thương ai, cũng
không nhớ lại những tổn thương. Thế nên bộ óc bấy giờ
là một dụng cụ ghi nhớ, không có tư tưởng sử dụng nó
như là cái “tôi” trong hoạt động. Thế nên thiền định
hàm ý không chỉ thân yên tĩnh mà tâm cũng bình lặng. Bạn
có bao giờ xem coi bộ óc của bạn khi hoạt động ? Tại sao
bạn nghĩ những sự việc nào đó. Tại sao bạn phản ứng
với những người khác, tại sao bạn cảm thấy cô độc,
không được thương yêu, không có gì để nương dựa, không
hy vọng – bạn biết cảm thức cô độc ghê gớm này chứ
? Dù bạn có thể lập gia đình, có những đứa con và sống
trong một tập thể, vẫn có cảm giác trống rỗng trọn vẹn
này. Thấy nó, người ta cố gắng trốn thoát nó, nhưng nếu
bạn ở lại với nó, không trốn thoát nó, chỉ nhìn nó một
cách trọn vẹn mà không kết án hay cố gắng chiến thắng
nó, nhưng quan sát nó thực sự như nó là, bấy giờ bạn sẽ
thấy rằng cái bạn cho là cô độc sẽ dừng dứt.
Thế
nên những tế bào óc ghi nhớ, và tư tưởng như là cái “tôi”
– những tham vọng của tôi, tham lam, những mục tiêu, sự
thỏa nguyện của tôi – đến chỗ chấm dứt. Bởi thế bộ
óc và tâm trở nên bình lặng phi thường và chỉ vận hành
khi cần thiết. Bởi thế bộ óc bạn, tâm bạn, đi vào một
chiều kích hoàn toàn khác của cái không có diễn tả. Điều
chúng ta đã làm sáng nay là diễn tả, giải thích, nhưng lời
nói không phải là sự vật, khi người ta thấu hiểu cái đó
bấy giờ người ta thoát khỏi lời nói. Tâm bình lặng bấy
giờ thâm nhập cái vô lượng.
Tất
cả đời sống chúng ta đặt nền trên tư tưởng, nó là cái
đo lường được. Nó đo lường Thượng Đế, nó đo lường
tương quan của nó với người khác qua hình ảnh. Nó cố gắng
tự cải thiện theo cái nó nghĩ nên như vậy. Thế nên một
cách quá đáng chúng ta sống trong một thế giới của sự
đo lường, và với thế giới đó chúng ta muốn đi vào một
thế giới trong đó không có đo lường nào cả. Thiền định
là thấy cái đang là và vượt khỏi nó – thấy sự đo lường
và vượt khỏi đo lường. Điều gì xảy ra khi bộ óc, tâm
và thân thực sự bình lặng và hài hòa – khi tâm, thân và
lòng trọn vẹn là một ? Bấy giờ người ta sống một loại
đời sống hoàn toàn khác.
BROCKWOOD
PARK
12
tháng Chín 1971