THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
ĐÁNH THỨC TRÍ THÔNG MINH
J. KRISHNAMURTI
The Awakening of Intelligence, J. Krishnamurti - Harper Collins Publishers, 1987 
Nguyễn An Cư dịch NXB. Thiện Tri Thức, 2004
CHÂU ÂU
VI
Bảy cuộc Nói Chuyện ở Saanen, Thụy Sĩ
1  Cái gì là sự quan tâm hơn hết của bạn ?
2  Trật tự
3  Chúng ta có thể tự hiểu mình ?
4  Cô độc
5  Tư tưởng và cái không thể đo lường
6  Hành động của ý chí và năng lượng cần cho một thay đổi tận gốc
7  Tư tưởng, trí thông minh và cái vô lượng

1
CÁI GÌ LÀ SỰ QUAN TÂM HƠN HẾT CỦA BẠN ?

Đam mê và mãnh liệt cần thiết. Cái bên trong và bên ngoài, chúng có thể bị phân chia ?

Cái gì là quan tâm hàng đầu, ý định sâu xa, lâu dài của bạn ? Tôi nghĩ người ta cần khám phá điều đó cho chính mình. Bạn phải tìm ra nó và liên hệ nó với mọi hoạt động của đời sống hàng ngày.

Người ta có thể quan tâm đến thế giới như nó hiện là, với bạo động, hỗn loạn kinh khủng, những phân chia chính trị, và sự bại hoại – nó là cái chết, không chỉ bên ngoài mà còn bên trong. Khi tự mình khám phá sự quan tâm sâu xa của mình, người ta có thể tìm ra mối tương quan của mình với người khác, theo sự quan tâm ấy. Nếu sự quan tâm là mơ hồ, bề mặt, tùy thuộc vào quang cảnh chung quanh và ngọn gió thổi theo bất kỳ chiều nào, bấy giờ những hoạt động của chúng ta cả ngoài lẫn trong, sẽ bất chợt tình cờ, không có ý nghĩa gì. Trong những buổi nói chuyện và thảo luận này, bạn nên tìm ra cái gì là sự quan tâm chính của bạn, bạn có thực sự quan tâm đến thế giới và vị trí của bạn trong thế giới, đến tương quan với người khác, những mối tương quan chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo không ? Cái gì là quan tâm sâu xa, chính yếu của bạn trong đời sống ? Đó là kiếm tiền, uy tín, an ninh ? Xin hãy nghe cẩn thận điều này. Nếu đó là sự quan tâm đích thực, trọng yếu, dai dẳng của bạn, bấy giờ bạn phải thấy những hậu quả của một mối quan tâm như vậy. Hay sự quan tâm của bạn, khi xem xét thế giới và tương quan của bạn với nó, là không chỉ thay đổi chính bạn mà còn thay đổi thế giới quanh bạn ? Bấy giờ bạn cũng phải thấy những hàm ý của điều này. Hay bạn muốn thiết lập một tương quan cá nhân với người khác trọn vẹn, toàn thể đến độ không có xung đột : bấy giờ bạn cũng phải thấu hiểu những hậu quả của điều này. Có lẽ sự quan tâm của bạn là cái gì khó khăn hơn : cố gắng tìm ra cái gì là vị trí của tư tưởng, như cái đo lường được và cái vô lượng. Để khám phá ra sự quan tâm của chúng ta nằm trong chiều hướng nào, chúng ta phải sẵn sàng hiến mình trọn vẹn cho nó, và không chỉ chơi đùa với nó, chấp nhận hay bác bỏ nó một cách tình cờ theo hoàn cảnh, theo ảnh hưởng của môi trường và sở thích của chúng ta. Nếu chúng ta chuẩn bị đi vào điều này một cách trọn vẹn, bấy giờ chúng ta có thể thiết lập một mối tương quan giữa chúng ta với thế giới, với người lân cận và với bạn bè thân thiết của chúng ta.

Đó là điều chúng ta định làm trong suốt những tuần này, để tìm ra khả năng và quan tâm chính yếu của chúng ta nằm ở đâu, và sự quan tâm đó là đơn độc hay liên hệ với tất cả mọi người. Nếu nó là đơn độc và bạn đang tìm kiếm sự hưởng thụ riêng của bạn, sự cứu rỗi riêng của bạn, sự an toàn riêng của bạn, một địa vị tốt trong thế giới, bấy giờ trong sự cùng nhau nói chuyện này, chúng ta sẽ có thể tìm ra một quan tâm như vậy có sự vững chắc nào không, có ý nghĩa nào không. Nhưng sự quan tâm của bạn, mục tiêu sâu xa của bạn có thể là để tìm ra làm sao sống một đời sống hoàn toàn khác. Thấy những sự vật như chúng là, sự bạo lực, hung hãn, sự thù địch và thù hận, sự bại hoại và hỗn loạn cùng cực, mục đích của bạn là tìm ra tâm thức con người, tâm thức của bạn, tâm thức của mỗi chúng ta có thể nào thay đổi trọn vẹn, để cho với tư cách một con người, bạn không chỉ đem lại một cuộc cách mạng tận gốc trong bản thân bạn mà còn ở bên ngoài – mặc dù cuộc cách mạng bên ngoài và cuộc cách mạng bên trong thì không tách lìa.

Chúng ta không nói đến cuộc cách mạng vật lý : bạo lực, bom, giết người nhân danh hòa bình. Đó hoàn toàn không phải là cách mạng ; đó chỉ là sự hủy diệt nông nổi và trẻ con.

Tôi không biết bạn có quan sát bạo lực trên khắp thế giới chưa. Thế hệ trẻ ban đầu tặng hoa cho mọi người, sống trong một thế giới của “đẹp đẽ” và tưởng tượng ; khi không có điều đó, họ dùng chất kích thích, họ trở nên bạo lực, và bây giờ chúng ta sống trong một thế giới bạo lực hoàn toàn. Bạn có thể thấy điều này ở Ấn Độ, Trung đông và Mỹ.

Càng già đi những khả năng của chúng ta càng cùn lụt, thế giới cũng quá nhiều đối với chúng ta. Thế nên, cần thiết mỗi chúng ta phải tìm ra mục tiêu, ý định, quan tâm chính của mình. Một khi chúng ta đã khám phá nó, chúng ta có thể thảo luận về nó, bấy giờ chúng ta có thể cùng nhau hành trình, cho rằng sự quan tâm của bạn và của diễn giả là như nhau, bởi vì diễn giả biết chính xác ý định, ước muốn, quan tâm của nó, và nếu sự quan tâm của bạn là cái gì hoàn toàn khác, bấy giờ sự tương quan của chúng ta trở nên khó khăn. Tuy nhiên, nếu sự quan tâm của bạn là hiểu thế giới này trong đó những con người chúng ta – không phải là những kỹ thuật gia – đang sống, bấy giờ chúng ta có thể thiết lập một tương quan và cùng nhau nói hết những sự việc – cùng nhau chúng ta có thể có một cuộc đi. Nếu khác đi, những nói chuyện và bàn luận này sẽ có rất ít ý nghĩa.

Xin nhớ cho điều ấy, dù các bạn ngồi đây cho một ngày nghỉ giữa núi non, đồi và suối và sự tiêu khiển du lịch, mặc dù mọi cái đó, chúng ta có cơ hội ngồi với nhau trọn một giờ. Bạn biết đó, khá thú vị được ngồi cùng nhau trong một giờ và nói những vấn đề của chúng ta mà không làm bộ kiểu cách, không đạo đức giả, và không khoác bên ngoài một vẻ lố bịch nào. Có trọn một giờ cùng nhau thì thực sự phi thường, bởi vì hiếm khi chúng ta ngồi lại và thảo luận những vấn đề nghiêm túc với ai đó trong suốt một giờ. Bạn có thể đến chỗ làm trọn một ngày, nhưng có ý nghĩa lớn lao hơn nhiều khi dùng sáu mươi phút hay hơn để cùng nhau truy tìm, khảo sát một cách nghiêm túc những vấn nạn con người một cách lưỡng lự, thử nghiệm và với sự yêu mến lớn lao, không cố gắng đặt để một ý kiến lên người khác ; bởi vì chúng ta không làm việc bằng những ý kiến, ý tưởng hay những lý thuyết.

Chúng ta quan tâm đến việc thiết lập một tương quan với nhau, và điều ấy chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta biết những quan tâm lẫn nhau của chúng ta, và những quan tâm ấy nằm ở sâu bao nhiêu, và năng lượng nào chúng ta có để giải quyết những vấn đề chính yếu của đời sống chúng ta. Đời sống chúng ta thì không khác với phần còn lại của thế giới : chúng ta là thế giới. Tôi không nghĩ ai trong chúng ta đã thấu hiểu, một cách sâu xa và liên tục, rằng chúng ta là thế giới và thế giới là chúng ta. Điều này phải được ăn rễ sâu vào trong chúng ta. Chúng ta đã tạo ra cơ cấu xã hội này, theo tham muốn của chúng ta, theo tham vọng, ghen tỵ của chúng ta, và nếu chúng ta muốn thay đổi xã hội trước tiên chúng ta phải tự thay đổi mình ; đó vó vẻ là một cách căn bản, giản dị cho toàn bộ vấn đề. Nhưng chúng ta nghĩ rằng bằng thay đổi cơ cấu bên ngoài của xã hội, bằng cách ném bom, bằng biểu quyết chính trị và đại loại, chúng ta sẽ đều trở nên những con người hoàn hảo ; tôi e rằng chúng chẳng tác dụng. Và để thấu hiểu rằng chúng ta là thế giới, không phải như một tuyên bố lời nói hay một lý thuyết, mà để thực sự thấy nó trong lòng ta, thì thật khó, bởi vì giáo dục, văn hóa, của chúng ta đã nhấn mạnh đến hiện thể chia tách của chúng ta với thế giới ; như những cá nhân chúng ta có một trách nhiệm với chính chúng ta và không phải với thế giới còn lại, như những cá nhân chúng ta tự do làm điều chúng ta thích, trong phạm vi lý trí. Nhưng chúng ta không phải tuyệt đối là những cá nhân ; chúng ta là kết quả của văn hóa mà chúng ta sống trong đó. Một cá nhân nghĩa là một thực thể không bị phân mảnh, nó là toàn thể ; chúng ta không như vậy. Chúng ta bị bể nát, phân mảnh, trong một trạng thái mâu thuẫn ở ngay trong chúng ta, thế nên chúng ta không phải là những cá nhân. Thế thì, thấy mọi điều này, cái gì là sự quan tâm chính của chúng ta trong đời sống ?

Các bạn phải cho mình thời gian để nghĩ ra. Chúng ta hãy bình lặng ngồi cùng nhau và tìm ra. Có phải các bạn có quá nhiều vấn đề, kinh tế, xã hội, vấn đề tương quan con người và bạn muốn giải quyết chúng toàn bộ và trọn vẹn ? Có phải bạn muốn sống hòa bình trong một thế giới ồn ào, bại hoại và bạo lực ? Hay quan tâm của bạn nằm trong chiều hướng cải cách xã hội và bạn dấn thân vào chuyện đó ? Và nếu vậy, bấy giờ cái gì là sự tương quan của bạn với xã hội đó ? Hay bạn quan tâm tìm ra giới hạn của tư tưởng ? Tư tưởng thì bị giới hạn, dù cho nó có hợp lý luận, dù cho nó có khả năng ; tư tưởng cũng sáng chế và thực nghiệm, sản xuất ra những vật lạ lùng về kỹ thuật, nhưng nó vẫn giới hạn. Bạn có muốn tìm ra cái gì hơn thế nữa, cái gì vượt khỏi tư tưởng – cái đo lường được và cái không thể đo lường ? Bạn phải nhìn vào mọi vấn đề này.

Người hỏi : Ngài nói rằng chúng ta chỉ cần có một quan tâm chánh yếu ? Chẳng lẽ chúng ta không nên quan tâm đến nhiều thứ, chiến tranh, ô nhiễm và vân vân ? Chắc ngài cũng ý thức đến những điều có chứ, thưa ngài ?

KRISHNAMURTI : Thưa bạn, khi có một quan tâm chính trong đời bạn, bấy giờ bạn ý thức đến mọi sự. Khi bạn quan tâm đến trật tự, đó không chỉ là trật tự trong chính bạn mà cả trật tự trong thế giới. Bạn không muốn những cuộc chiến tranh ; bạn cảm nhận cho những người ấy bởi vì họ không có trật tự. Bạn biết điều gì đang xảy ra, bởi thế bạn rất quan tâm với nạn ô nhiễm, nghèo đói và chiến tranh.

Những cuộc chiến tranh được tạo ra bởi những quốc tịch, những chính phủ, những chính trị gia, bởi phân chia tôn giáo thành những tông phái và mọi thứ như vậy. Quan sát mọi cái đó, tôi muốn trật tự, không chỉ trong bản thân tôi, mà còn trong thế giới. Và khi muốn trật tự, tôi phải tìm ra trật tự trong mọi thứ quanh tôi, nghĩa là tôi phải làm việc cho trật tự, hiến dâng cho trật tự, đam mê trật tự. Nghĩa là tôi không có quốc tịch, bạn có theo dõi không, thưa bạn ? Vô trật tự là bạo lực, thế nên tôi phải tìm ra làm thế nào chấm dứt trọn vẹn mọi bạo lực trong tôi.

Người hỏi : Ngài có tin vào những cuộc biểu tình ?

KRISHNAMURTI : Bạn đi lên và đi xuống đường phố với một nhóm người biểu lộ phản đối chiến tranh Việt Nam. Bạn muốn chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam hay bạn muốn chấm dứt tất cả những cuộc chiến tranh ? Bạn có thể biểu tình để chấm dứt tất cả những cuộc chiến tranh hay bạn chỉ có thể biểu tình để chấm dứt riêng một cuộc chiến tranh ? Hãy nghĩ về điều này, đặt tất cả lòng bạn vào đó. Tôi có thể biểu tình chống một cuộc chiến riêng biệt, nhưng khi tôi quan tâm tới sự chấm dứt một cuộc chiến, không chỉ bên ngoài mà cả ở trong tôi, làm sao tôi có thể biểu tình với một nhóm người ? Bạn cũng muốn chấm dứt mọi cuộc chiến tranh như tôi chứ ? Bạn có hiểu không ? Nghĩa là không có quốc tịch, không có biên giới, không có những khác biệt ngôn ngữ, không có những phân chia tôn giáo – mọi thứ đó. Không, thưa bạn, bạn không thể biểu tình, bạn phải sống nó. Và khi bạn sống nó, bản thân điều đó là một sự biểu tình.

Người hỏi : Thương yêu và chân lý không đem lại trật tự sao ?

KRISHNAMURTI : Nhưng bạn có biết thương yêu là gì, thưa bạn ? Bạn có biết chân lý là gì ? Bạn có thể thương yêu nếu bạn ghen tỵ, tham lam, tham vọng ? Và chân lý phải chăng là cái gì chấp chặt, cứng đọng, hay nó là cái gì sống, sinh khí, chuyển động, không có con đường nào để vào. Bạn phải tìm ra mọi điều này cho chính bạn.

SAANEN
18 tháng Bảy 1971


2
TRẬT TỰ

Chỉ tâm thức biết sự vô trật tự. Trạng thái “không biết”. Tự ngã là phần của văn hóa, nó là vô trật tự.

Chúng ta đang nói về trật tự. Trong một thế giới quá rối bời và phân chia, trong một thế giới quá bạo lực và tàn nhẫn, giá như người ta nghĩ rằng quan tâm chính của chúng ta là đem lại trật tự này, không chỉ trong chúng ta mà cả ở bên ngoài.

Trật tự không phải là thói quen ; thói quen trở nên tự động và mất mọi sức sống của nó khi con người chỉ trở nên trật tự theo cách máy móc. Trật tự, như chúng ta nói đây, không chỉ bao trùm đời sống riêng biệt của chúng ta mà còn mọi đời sống quanh chúng ta, bên ngoài, trong thế giới, và sâu xa bên trong. Bây giờ ý thức sự vô trật tự này, sự mê mờ rối rắm này, làm thế nào người ta đem lại trật tự trong chính mình mà không có bất kỳ xung đột nào và không trở nên quen thuộc, một lề thói, máy móc và loạn thần ? Người ta đã quan sát những người rất trật tự kia ; họ có một sự cứng cỏi nào đó, họ không có sự mềm dẻo ; họ không nhanh nhẹn và trở nên cứng rắn, ích kỷ, bởi vì họ theo một khuôn mẫu riêng biệt mà họ cho là trật tự ; và dần dần điều đó trở thành một trạng thái loạn thần. Thế nên ý thức rằng loại trật tự này (thực chất là vô trật tự) sẽ trở nên máy móc và dẫn đến loạn thần, tuy nhiên người ta cũng cảm thấy phải có trật tự trong đời sống của mình. Bấy giờ làm thế nào nó xảy đến ? Đó là điều chúng ta sắp cùng nhau xem xét sáng nay.

Người ta phải có trật tự vật lý. Thiết yếu phải có một thân thể có kỷ luật tốt, nhạy cảm, cảnh giác, bởi vì điều đó phản ứng trên tâm thức. Và làm sao người ta có một cơ thể nhạy cảm cao độ, nó không trở nên khô cứng, bị ép buộc vào trong một khuôn mẫu đặc thù – cái mà tâm thức nghĩ là trật tự và ép thân thể tuân thủ. Đây là một trong những vấn đề.

Bấy giờ phải có trật tự trong toàn bộ tâm thức, trí óc. Tâm thức là khả năng hiểu, quan sát một cách hợp luận lý, lành mạnh, khả năng vận hành toàn bộ, vẹn toàn, không manh mún, không vướng mắc trong những tham muốn, những mục tiêu và những ý định mâu thuẫn. Làm thế nào toàn bộ tính cách này của tâm thức có trật tự toàn diện, trật tự thân tâm mà không tuân thủ, gò ép theo một kỷ luật do tư tưởng chế tạo ra ?

Trước tiên hãy thấy sự khó khăn của chúng ta, cái gì bao gồm trong tất cả điều này. Người ta phải có trật tự ; điều này tuyệt đối căn bản. Có trật tự của thế hệ trước, nó thực sự là vô trật tự toàn diện khi người ta quan sát những hoạt động của nó ở khắp thế giới, trong kinh doanh, trong tôn giáo, trong trường kinh tế, giữa những quốc gia và khắp nơi ; có vô trật tự toàn diện.

Phản ứng với cái đó có xã hội bi quan, thế hệ trẻ, làm gần như ngược với thế hệ già, nó cũng là vô trật tự – phải thế không ? Một phản ứng là vô trật tự. Và làm thế nào tâm thức, với tất cả tinh tế của tư tưởng, với tất cả những hình ảnh do tư tưởng tạo ra, những hình ảnh nó đã xây lên về người khác và những hình ảnh về chính nó, những hình ảnh của “cái đang là” và “cái nên là” (bởi thế mà sống trong một trạng thái mâu thuẫn), làm thế nào một tâm thức như vậy có trật tự trọn vẹn, toàn thể bên trong chính nó, để cho không có manh mún, không có phản ứng với một khuôn khổ và không có mâu thuẫn của những đối nghịch mà từ đó sẽ sanh ra bạo lực ? Bây giờ, thấy mọi điều này, làm sao tâm thức của bạn có trật tự trọn vẹn, toàn thể trong hành động và trong tư tưởng, trong mỗi chuyển động tâm lý và sinh lý ?

Những người tôn giáo đã nói rằng bạn chỉ có thể có trật tự bằng niềm tin vào một đời sống cao hơn, bằng niềm tin vào Thượng Đế, tin vào cái gì bên ngoài và bạn phải tuân thủ, chỉnh hợp, bắt chước làm theo niềm tin đó ; rằng nhờ kỷ luật bạn phải cưỡng bách toàn bộ bản chất của bạn và thay đổi cơ cấu của tinh thần cũng như trạng thái sinh lý của bạn. Và có một nhóm các nhà tính tình học nói rằng môi trường bắt buộc bạn cư xử ; nếu bạn cư xử không thích hợp thì nó sẽ hủy hoại bạn. Và người ta sống theo cách đó, theo niềm tin riêng biệt của họ, dù là niềm tin tôn giáo hay xã hội, kinh tế.

Mặc dù sự phân chia này trong thế giới, mâu thuẫn trong chúng ta cũng như trong xã hội, người ta đều nói phải có trật tự trong thế giới ; nhà quân sự nói vậy và những tu sĩ cũng nói vậy. Và trật tự có phải là máy móc ? Trật tự có thể được đem lại bằng kỷ luật ? Trật tự có thể được đem lại bằng tuân thủ, bắt chước và kiềm chế ? Hay, có một trật tự chẳng ăn nhằm gì đến kỷ luật, đến kiềm chế như chúng ta biết, chẳng ăn nhằm gì với tuân thủ, chỉnh hợp, và vân vân ?

Chúng ta hãy nhìn vào toàn bộ ý tưởng kiểm soát, kiềm chế này và tìm ra nó có đem đến trật tự hay không (nó không có nghĩa là chúng ta nói để chống lại sự kiềm chế). Chúng ta đang cố hiểu ; và nếu chúng ta hiểu, chúng ta có thể khám phá cái gì hoàn toàn khác. Tôi hy vọng các bạn đều theo dõi điều này và các bạn cũng quan tâm và đam mê cũng như tôi. Rốt cuộc là vô ích nếu chỉ nghe một cách ngẫu nhiên ý tưởng lý thuyết nào đó ; chúng ta không bàn luận những lý thuyết hay giả thuyết ; chúng ta đang quan sát thực tế cái đang diễn tiến, thấy cái gì sai. Chính nhận thức của việc thấy cái gì là sai, đó là chân lý. Bạn có hiểu không ?

Bây giờ cái gì bao hàm trong kiểm soát, kiềm chế ? Tất cả văn hóa, tất cả giáo dục của chúng ta và sự nuôi dưỡng trẻ em của chúng ta đặt nền trên đó ; và trong chúng ta có sự thôi thúc phải kiềm chế. Bây giờ cái gì bao hàm trong đó ? Chúng ta không bao giờ tự hỏi tại sao chúng ta cần kiềm chế ? Bây giờ chúng ta hãy đi vào câu hỏi này. Kiềm chế bao gồm một người kiềm chế và cái được kiềm chế. Xin bạn hãy chú ý điều này. Tôi tức giận và tôi phải kiềm chế sự tức giận của tôi ; và nơi nào có kiềm chế, nơi đó có xung đột ; “tôi phải” và “tôi không phải”. Và xung đột hiển nhiên làm méo mó tâm thức. Một tâm thức mạnh khỏe khi nó không có chút nào xung đột ; bấy giờ nó có thể vận hành không có bất kỳ ma sát nào và một tâm thức như vậy là một tâm thức lành mạnh, trong sáng, nhưng kiềm chế khước từ điều đó, bởi vì trong kiềm chế có xung đột và mâu thuẫn, có tham muốn bắt chước và tuân thủ một khuôn khổ – việc bạn nghĩ bạn phải làm. Rõ chứ ?

Thế nên kiềm chế không phải là trật tự. Hiểu điều này thì rất quan trọng. Người ta không bao giờ có thể có trật tự bằng kiềm chế, bởi vì trật tự hàm ý vận hành sáng tỏ, thấy toàn bộ, không méo mó ; nhưng ở đâu có xung đột, ở đó phải có méo mó. Kiềm chế cũng bao gồm đè nén, tuân thủ, chỉnh hợp và phân chia giữa người quan sát và cái được quan sát. Chúng ta sắp tìm ra cái gì hành động hay đem lại trật tự mà không có kiềm chế. Không phải chúng ta từ chối toàn bộ cơ cấu kiềm chế, nhưng chúng ta thấy sự sai lầm của nó và bởi thế, từ đó chân lý của trật tự hiện bày. Chúng ta có theo nhau, không phải trên lời nói mà thực sự làm nó khi chúng ta tiếp tục đi, bởi vì chúng ta đang cố gắng sáng tạo một thế giới hoàn toàn khác, một văn hóa khác, để đem lại một con người sống mà không có ma sát. Chỉ một tâm thức như vậy, có thể sống không méo mó mới biết thương yêu là gì. Và kiềm chế trong bất kỳ hình thức nào cũng nuôi dưỡng méo mó, xung đột và một tâm thức không khỏe mạnh.

Văn hóa cổ đã nói rằng bạn phải có kỷ luật, và kỷ luật này bắt đầu khi còn nhỏ ở nhà, rồi ở trường trung học và đại học và suốt cả đời sống. Bây giờ từ “kỷ luật” nghĩa là học ; nó không có nghĩa là rèn luyện, tuân thủ, đè nén vân vân. Và một tâm thức học vào mọi lúc, thực sự ở trong một trạng thái trật tự, nhưng một tâm thức không học, nó nói “Tôi đã học rồi”, một tâm thức như vậy đem lại vô trật tự. Bản thân tâm thức chống lại bị rèn luyện, trở nên máy móc, tuân thủ và đàn áp, mọi cái này hàm ý kỷ luật. Và tuy nhiên chúng ta nói phải có trật tự. Như thế nào trật tự này hiện diện mà không có kỷ luật theo nghĩa thường chấp nhận của từ này ?

Thấy vấn đề, nó rất phức tạp, đâu là sự trả lời của chúng ta ? Nếu bạn vận dụng tâm thức bạn, nếu bạn thực sự quan tâm sâu xa vào vấn đề của câu hỏi này, không chỉ bên trong bạn mà còn bên ngoài, đâu là sự đáp ứng của bạn ? Làm sao bạn tìm thấy một sự trả lời cho sự thúc bách cần có trật tự này, cái ấy không tùy thuộc vào kiềm chế, vào kỷ luật, vào tuân thủ và nó hoàn toàn từ khước mọi thẩm quyền – nó là tự do, phải không ? Nếu có hình thức thẩm quyền nào, bấy giờ trong sự chấp nhận thẩm quyền ấy, bèn có tuân thủ, có đi theo ; và điều đó nuôi dưỡng mâu thuẫn và do đó vô trật tự.

Thế nên, không kiềm chế, theo nghĩa thường dùng của từ “kỷ luật”, và một sự từ khước toàn bộ cơ cấu và bản chất của quyền uy, cái này phủ nhận tự do. Và tuy nhiên phải có trật tự ; hãy thấy sự phức tạp của điều này. Có quyền uy của luật pháp, của cảnh sát, quyền công dân của mỗi người ; nhưng phải có tự do đối với quyền uy của những bậc trưởng lão với đức tin của họ, và quyền uy của những đòi hỏi của chính mình, kinh nghiệm, kiến thức của mình ; bởi vì tất cả những cái đó bác bỏ tự do.

Thấy hiện trạng của thế giới như nó đang là, quan sát hệ thống văn hóa, xã hội, kinh tế, tôn giáo và giáo dục của chúng ta và tương quan trong gia đình của chúng ta, chúng ta nhận ra rằng tất cả đều đặt nền trên quyền uy, thẩm quyền này. Và nó đã gây ra sự mê mờ toàn bộ, khổ đau lớn lao, những cuộc chiến tranh và sự phân mảnh của thế giới cũng như sự chia rẽ của con người. Quan sát điều này, người ta cần phải đem lại trật tự như thế nào ? Đó là vấn đề của các bạn – các bạn có hiểu không ? Bạn sẽ trả lời câu hỏi này thế nào nếu bạn thực sự quan tâm sâu xa và nồng nhiệt khi cố gắng đem lại trật tự cho đời sống bạn, cũng như ở bên ngoài ? Bạn sẽ hướng về ai – những quyển sách, những tu sĩ, những triết gia, những guru – để tìm ra làm sao sống một đời sống hoàn toàn trật tự, từ chối mọi tuân thủ, mọi quyền uy, mọi kỷ luật và kiềm chế ? Bạn phải trả lời câu hỏi này. Chúng ta đi đến vấn đề một cách tươi mới, tươi mới theo nghĩa chúng ta không biết làm sao đem lại trật tự từ sự hỗn độn này. Nếu bạn nói, trật tự phải thế này thế nọ, bấy giờ bạn phản ứng lại “cái đang là”, bạn tuyên bố điều gì chống lại “cái đang là”, một phản ứng không có gì vững chắc. Thế nên chúng ta tiếp cận vấn đề một cách mới mẻ ; chúng ta đã chỉ khảo sát sự kiện thật của cái đang tiếp diễn trong thế giới và trong chúng ta, sự kiện thật. Bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau tìm ra trật tự là gì. Bạn đừng chấp nhận điều gì diễn giả nói, chớ hoàn toàn chắc chắn về điều này, bởi vì nếu bạn làm như vậy thì sự tương quan của chúng ta sẽ hoàn toàn thay đổi. Nhưng nếu chúng ta cùng nhau khảo sát, hoàn toàn chú tâm vào chủ đề, đó là, khi hiểu trạng thái mê mờ rối loạn trong thế giới và thấy sự vô minh trong chính chúng ta, trong mọi cuộc đời chúng ta, chúng lòe loẹt tạp sắc thế nào, thấu hiểu sự kiện thực của điều này, bấy giờ chúng ta cần sự mãnh liệt và đam mê để khám phá cái gì là trật tự.

Chúng ta đang tìm ra, trước hết, cái gì có nghĩa là học bằng cách quan sát “cái đang là” và học từ cái đó. Học ở đây là phân từ hiện tại, nghĩa là một chuyển động thường trực của việc học, không phải đã học và rồi áp dụng kiến thức ấy, nó hoàn toàn khác với cái đang học mọi lúc. Bạn có thấy sự khác nhau ? Chúng ta đang cùng nhau học ; chúng ta không chứa chấp kiến thức và rồi hành động theo kiến thức đó ; trong việc này có mâu thuẫn và do đó có kiềm chế, trong khi một tâm thức đang học thường trực thì không có quyền uy, không có mâu thuẫn, không có kỷ luật, mà chính bản thân việc học đòi hỏi trật tự. Xin hãy quan sát chính bạn. Bạn có ở trong một trạng thái học – hay chờ đợi được nói cho trật tự là gì ? Hãy xem chính bạn. Nếu bạn đang chờ đợi tìm ra từ người khác trật tự là gì, bấy giờ bạn lệ thuộc vào nhân vật ấy, cuốn sách ấy, tu sĩ ấy, cơ cấu ấy và vân vân. Trạng thái tâm thức bạn thế nào, bạn có hiểu kiềm chế và mọi hàm ý của nó, hiểu ý nghĩa đầy đủ của kỷ luật và bạn cũng trọn vẹn ý thức quyền uy sẽ kéo theo những gì ? Nếu bạn đã hiểu, bấy giờ bạn tự do ; nếu khác đi, bạn không thể học. Học nghĩa là một tâm thức tò mò, không biết, nó khao khát tìm ra, quan tâm thích thú. Tâm thức của bạn có như vậy, quan tâm thích thú ? Bạn có nói tôi không biết trật tự là gì nhưng tôi sắp tìm ra ? Tâm thức bạn có rất tò mò, đam mê và quan tâm sâu xa, và do đó sẵn sàng học, không từ người khác mà học cho chính bạn bằng hành động quan sát ? Kiềm chế và quyền uy, điều với bạn có nghĩa là kỷ luật, thì ngăn cản quan sát. Bạn có thấy điều này không ? Một tâm thức chỉ có thể học khi nó tự do, khi nó không biết, khác đi thì bạn không thể học.

Thế thì, tâm thức bạn có tự do để quan sát thế giới và quan sát chính bạn ? Bạn không thể quan sát nếu bạn nói “Cái này đúng” và “Cái kia sai”, “Tôi phải kiểm soát”, “Tôi phải đè nén”, “Tôi phải vâng lời”, “Tôi phải không vâng lời” – bạn theo dõi chứ ? Và nếu bạn nói rằng tôi phải sống một cuộc sống được chấp nhận thì bạn không thể học ; nếu bạn tuân thủ, bạn không tự do để học. Bạn có tuân thủ khi để tóc dài ? Tôi có đang tuân thủ khi tôi mặc một áo thun và quần dài ? Xin hãy tìm ra. Tuân thủ không chỉ ở khuôn khổ quốc gia, cơ cấu riêng biệt của xã hội hay ở đức tin, mà còn có sự tuân thủ trong những việc nhỏ. Và một tâm thức như vậy không có khả năng học, bởi vì đàng sau sự tuân thủ này có một cảm giác sợ hãi lớn lao ; người trẻ cũng như người già đều có nó và đó là tại sao họ tuân thủ. Nếu tất cả cái này tiếp tục, bạn không tự do để học.

Và phải có trật tự, cái gì sống động và đẹp đẽ, không phải là một vật máy móc – trật tự của vũ trụ, trật tự hiện hữu trong toán học, trật tự trong thiên nhiên, trong tương quan giữa những loài vật, một trật tự mà con người đã hoàn toàn từ khước, bởi vì trong bản thân chúng ta đang ở trong vô trật tự, nghĩa là chúng ta đang phần mảnh, mâu thuẫn, sợ hãi và mọi thứ như vậy.

Bây giờ tôi tự hỏi, và bạn tự hỏi, tâm thức có thể học được chăng, bởi vì nó không biết trật tự là gì. Nó biết phản ứng với vô trật tự, nhưng tâm thức phải khám phá nó thực sự có thể tự do để quan sát. Nói cách khác, tâm thức của bạn đang có ý thức kiềm chế, kỷ luật, thẩm quyền và sự đáp ứng thường trực của phản ứng – bạn có ý thức toàn bộ cơ cấu ấy ? Bạn có rõ mọi thứ này trong chính bạn khi bạn sống ngày này sang ngày khác ? Hay bạn chỉ rõ biết khi nó được chỉ ra cho bạn ? Xin hãy thấy sự khác biệt. Nếu bạn rõ biết toàn bộ vấn đề mê lầm, kỷ luật, kiềm chế và đè nén, nó là tuân thủ, bởi vì bạn đã và đang quan sát, sống, và xem, bấy giờ nó là của bạn ; cái kia chỉ là loại second-hand (đồ vật cũ đã xài rồi được mua lại). Bây giờ nó là gì ?

Với phần đông chúng ta, nó là loại secod-hand, bởi vì chúng ta là người thuộc loại second-hand, phải không ? Tất cả kiến thức của chúng ta là second-hand, tất cả những truyền thống của chúng ta là second-hand. Vậy thì chúng ta có ý thức rằng nó chính là tri giác trực tiếp của chúng ta, chứ không phải cái kiến thức second-hand được học từ người khác ? Bây giờ, nếu nó được học từ người khác, người ta phải lìa bỏ nó hoàn toàn, phải không ? Bạn phải lìa bỏ mọi cái đã được diễn giả nói về những hàm ý của kiềm chế, kỷ luật, quyền uy và vân vân ; bấy giờ bạn biết rằng cái đã được chỉ ra cho bạn phải được loại bỏ hoàn toàn để học. Nếu bạn đã loại bỏ điều những người khác, kể cả diễn giả, đã nói, bấy giờ bạn đang thực sự học, phải vậy không ?

Bây giờ, chúng ta hãy cùng tìm ra trật tự nghĩa là gì. Làm sao bạn tìm ra trật tự nghĩa là gì khi bạn không biết gì về nó ? Bạn chỉ có thể làm điều này bằng cách tra hỏi trạng thái của tâm thức đang cố gắng tìm ra trật tự là gì. Tôi chỉ biết cái gì là vô trật tự, tôi quen thuộc đầy đủ với nó, toàn bộ văn hóa của vô trật tự trong xã hội hiện nay ; tôi biết nó rất rõ. Nhưng tôi không biết trật tự là gì ; tôi có thể lý thuyết hóa về nó, nhưng những lý thuyết, tưởng tượng, suy diễn không phải là trật tự ; bởi thế tôi lìa bỏ chúng. Thế nên tôi thực sự không biết trật tự là gì.

Tâm thức tôi biết rõ vô trật tự là gì, nó xảy đến như thế nào, qua văn hóa và sự điều kiện hóa của văn hóa đó và của con người ; tôi biết tất cả cái đó là vô trật tự toàn bộ. Bây giờ, tôi thực sự không biết trật tự là gì, thế thì cái gì là trạng thái của tâm thức nói tôi không biết ? Cái gì là trạng thái của tâm thức khi nó nói, “Tôi thực sự không biết ?” Đó có phải là trạng thái của tâm thức chờ đợi một sự trả lời, chờ đợi được nói cho nghe, hy vọng tìm thấy trật tự ? Nếu nó chờ đợi, mong được nói, bấy giờ đó không phải là trạng thái chúng ta đang nói đây, trạng thái không biết. Trạng thái “không biết” không chờ đợi được nói cho, nó không hy vọng một sự trả lời ; nó cực kỳ sống động, nhưng nó không biết ; nó biết vô trật tự là gì và bởi thế nó khước từ trọn vẹn. Khi một tâm thức như vậy nói, “Tôi không biết”, bấy giờ nó hoàn toàn tự do. Nó đã bác bỏ sự vô trật tự và bởi vì nó tự do, nó đã tìm thấy trật tự. Bạn có hiểu điều này không ? Thật sự kỳ diệu nếu bạn đi vào nó cho chính bạn.

Tôi không biết trật tự là gì và tôi không chờ đợi bất kỳ ai nói cho tôi. Và bởi vì tâm thức tôi đã khước từ mọi sự vô trật tự, một cách toàn bộ, không nắm lại một vật gì, đã làm trống không nội dung một cách trọn vẹn, nó là tự do ; thế nên nó có khả năng học. Và khi tâm thức hoàn toàn tự do, nghĩa là không phân mảnh, bấy giờ nó ở trong một trạng thái trật tự. Bạn có hiểu điều này không ?

Bây giờ, tâm bạn có ở trong trật tự toàn thể, nếu không chớ đi xa hơn. Không ai cả, thầy, guru, bậc cứu độ, triết gia, không ai có thể dạy bạn trật tự là gì ; trong khi khước từ toàn bộ mọi thẩm quyền, bạn thoát khỏi sợ hãi, và do đó bạn có thể tìm ra trật tự là gì. Bây giờ, bạn có rõ biết tâm thức bạn, chính bạn, đời sống bạn, rõ biết đời sống hàng ngày của bạn, cuộc sống gia đình bạn, tương quan của các bạn với nhau ? Và trong đời sống ấy bạn rõ biết lề thói hàng ngày, sự đơn điệu, mệt mỏi chán nản của việc đến chỗ làm ? Bạn có ý thức những cãi lộn, những hung bạo, bạo lực, của mọi sự, chúng là kết quả của một một văn hóa vô trật tự toàn diện, đó là cuộc đời của bạn ? Bạn không thể chọn nhặt ra từ sự vô trật tự ấy cái gì bạn nghĩ là trật tự. Bạn có ý thức rằng đời bạn là vô trật tự và nếu bạn không có quan tâm, đam mê, nồng nhiệt, ngọn lửa để tìm thấy trật tự, bấy giờ bạn sẽ chọn nhặt ra cái bạn nghĩ là trật tự từ mớ vô trật tự ấy. Bạn có thể quan sát chính mình với sự thành thật lớn lao, không đạo đức giả hay nói bóng gió, tự chính mình biết rằng đời bạn là vô trật tự, và bạn có thể gạt tất cả qua một bên để tìm ra trật tự là cái gì ? Bạn biết đó, gạt qua một bên sự vô trật tự thì không quá khó khăn ; chúng ta làm to chuyện nó, quan trọng hóa nó. Nhưng khi bạn thấy cái gì rất nguy hiểm, một vực thẳm, một con thú dữ, một người với khẩu súng, bạn tránh nó tức thì, phải không ? Không biện luận, không ngần ngại, không trì hỗn, có hành động trực tiếp tức thời. Cũng như vậy, khi bạn thấy sự nguy hiểm của vô trật tự, có hành động tức khắc, nó là sự bác bỏ toàn bộ văn hóa đã đem lại vô trật tự, cái vô trật tự đó là chính bạn.

SAANEN
20 tháng Bảy 1971


3
CHÚNG TA CÓ THỂ TỰ HIỂU MÌNH ?

Vấn đề tự-hiểu biết là vấn đề nhìn. Nhìn không có phân mảnh, không có cái “tôi”. Phân tích, những giấc mộng và giấc ngủ. Vấn đề của “người quan sát” và của thời gian. “Khi bạn nhìn vào chính bạn mà không có đôi mắt của thời gian, ai ở đó để nhìn ?“

Hầu hết chúng ta sống một đời sống bề ngoài và nông cạn, và bằng lòng tiếp tục một đời sống như vậy, chạm mặt tất cả những vấn đề của chúng ta một cách cạn cợt và do đó làm chúng trầm trọng thêm, bởi vì những vấn đề của chúng ta thì cực kỳ phức tạp, rất vi tế và cần thâm nhập và thấu hiểu sâu xa. Hầu hết chúng ta thích xử sự với những vấn đề của chúng ta ở một cấp độ bề ngoài theo truyền thống cũ, hay chúng ta cố gắng tự phù hợp với một khuynh hướng mới, thế nên chúng ta không bao giờ giải quyết toàn bộ và trọn vẹn vấn đề nào, như chiến tranh, xung đột, bạo lực và vân vân. Chúng ta cũng có khuynh hướng chỉ nhìn trên bề mặt, không biết thâm nhập vào trong chính chúng ta ; hoặc chúng ta quan sát mình với một chán ghét nào đó, với một kết luận có trước nào đó, hay chúng ta nhìn mình với hy vọng thay đổi cái chúng ta thấy.

Tôi nghĩ điều quan trọng là chúng ta cần hiểu chính mình một cách toàn triệt, trọn vẹn, bởi vì như chúng ta đã nói hôm trước, chúng ta là thế giới và thế giới là chúng ta. Đây là một sự kiện tuyệt đối ; nó không phải chỉ là một phát biểu ngôn từ hay một lý thuyết, mà là cái gì người ta cảm nhận một cách sâu xa, với tất cả sự đau đớn của nó, sự khổ đau, tàn nhẫn, sự phân mảnh, sự phân chia quốc tịch và tôn giáo. Và người ta không bao giờ có thể giải quyết vấn đề nào nếu không thực sự thấu hiểu chính mình, bởi vì thế giới là chính mình ; và nếu tôi hiểu chính mình thì có một cuộc sống ở một chiều kích hoàn toàn khác. Mỗi chúng ta có thể hiểu chính mình, không phải chỉ ở cấp độ bề mặt của tâm thức chúng ta, mà còn đi sâu vào những cấp độ sâu của hiện thể chúng ta không ? Đó là điều chúng ta sắp nói chuyện với nhau sáng nay ; khi chúng ta nói chúng ta sắp nói chuyện ấy với nhau, đó không có nghĩa là tôi nói và các bạn nghe – chúng ta đang cùng nhau chia xẻ điều đó.

Người ta nhìn chính mình như thế nào ? Liệu có thể nhìn chính mình trọn vẹn mà không có sự phân chia của ý thức và những tầng lớp sâu hơn của thức, những tầng lớp mà có lẽ chúng ta không biết trọn vẹn ? Có thể nào quan sát, thấy toàn bộ chuyển động của cái “tôi”, cái tự ngã, “cái tôi là”, với một tâm thức không phân tích, để cho trong chính bản thân sự quan sát bèn tức thời có một thấu hiểu toàn bộ ? Đó là điều chúng ta sắp nghiên cứu ; nó là một vấn đề rất quan trọng ; khám phá xem người ta có thể vượt lên chính mình và tìm thấy thực tại, gặp gỡ cái gì tâm thức không thể đo lường, sống không có bất kỳ ảo tưởng nào. Điều này đã là mục tiêu chính của mọi tôn giáo trên khắp thế giới ; và trong tiến trình tìm kiếm sự vượt khỏi chính mình, chúng đã bị mắc vào nhiều huyền thoại, huyền thoại Thiên Chúa giáo, huyền thoại Ấn giáo, toàn bộ văn hóa huyền thoại không cần thiết và hoàn toàn không thích hợp.
Bây giờ có thể nhìn chúng ta một cách không phân tích và do đó quan sát mà không có “tôi” quan sát ? Tôi muốn hiểu chính mình và tôi biết cái “tôi” thì rất phức tạp ; nó là một vật sống, không phải là cái gì chết ; nó là một vật sinh động, nó không chỉ là một tích tập những trí nhớ, những kinh nghiệm và kiến thức. Nó là một vật sống động như xã hội là một vật sống động, bởi vì chúng ta đã tạo ra nó. Bây giờ, có thể nhìn mà không có người quan sát đang nhìn vào sự vật được gọi là cái được quan sát không ? Nếu có người quan sát đang nhìn, bấy giờ chúng ta phải nhìn qua sự phân mảnh, qua phân chia và nơi nào có sự phân chia, cả trong tôi lẫn bên ngoài, nơi đó phải có xung đột. Bên ngoài, những xung đột quốc gia, những xung đột tôn giáo, những xung đột kinh tế, và bên trong có trường bao la này, không chỉ mặt bề ngoài mà một vùng rộng rãi mà chúng ta hầu như không biết gì cả. Thế nên, trong khi nhìn mà có sự phân chia cái “tôi” và cái “không phải tôi”, người quan sát và cái được quan sát, người tư tưởng và tư tưởng, người trải nghiệm và kinh nghiệm, bấy giờ phải có xung đột.

Người ta hỏi liệu có thể – tôi không nói có, hay không có ; chúng ta đang tìm ra cho chúng ta – quan sát chính mình mà không có sự phân chia này. Và để tìm ra, chúng ta hy vọng đi đến trạng thái tri giác kia, nó không có phân chia, nhưng không qua phân tích – khi không có sự phân chia giữa người phân tích và vật được phân tích. Quan sát chính tôi, có sự kiện thực của sự phân chia này. Khi tôi quan sát chính tôi, tôi nói, “Cái này tốt, cái này xấu”, “Cái này đúng, cái này sai”, “Cái này có giá trị, cái này không có giá trị”, “Cái này hợp và cái kia không”. Thế nên, khi tôi quan sát chính tôi, người quan sát bị điều kiện hóa bởi văn hóa tôi đang sống ; thế nên người quan sát là trí nhớ ; người quan sát là thực thể bị điều kiện hóa – cái “tôi”. Tùy theo cái nền tảng bị điều kiện hóa ấy của cái “tôi”, tôi phán đoán, tôi đánh giá ; tôi quan sát chính mình theo văn hóa đó, và tùy theo sự bị điều kiện hóa của tôi, tôi hy vọng đem lại một thay đổi trong cái được quan sát. Đây là điều chúng ta đang làm trong mọi lúc : hy vọng thay đổi cái được quan sát bằng phân tích, bằng kiểm soát, bằng cải cách vân vân. Đó là một sự kiện.

Bây giờ tôi có thể phân tích tâm thức trên bề mặt, hoạt động bề mặt hàng ngày của nó, nhưng làm thế nào tôi hiểu, nghiên cứu những tầng lớp sâu hơn, bởi vì tôi muốn hiểu chính mình một cách toàn bộ và trực tiếp ? Tôi không muốn để lại bất kỳ góc nào hay bất kỳ chỗ tối nào không được khảo sát ; tôi muốn phân tích mọi sự, để cho không có cái gì sót lại mà tâm thức chưa hiểu trọn vẹn. Nếu có một góc chưa được khảo sát, bấy giờ góc ấy làm méo mó mọi tư tưởng, mọi hành động. Nhưng phân tích hàm ý trì hỗn hành động. Khi tôi phân tích chính mình, tôi không hành động ; tôi đợi cho đến khoa học phân tích xong, có lẽ bấy giờ tôi mới hành động đúng ; thế nên phân tích là từ chối hành động. Hành động nghĩa là bây giờ, không phải ngày mai. Thấy tất cả điều này, làm sao tâm thức có thể hiểu những tầng lớp sâu kín của nó một cách trọn vẹn ? Tất cả điều này bao gồm trong hiểu chính mình.

Hiểu có thể đến qua những giấc mơ không ? Nghĩa là, có thể trong khi ngủ những giấc mơ phát lộ những tầng lớp sâu của vô thức, hay sự vật gì còn dấu kín ? Những chuyên gia nói rằng bạn phải mơ, và nếu không mơ, điều đó chỉ ra một loại loạn thần kinh nào đó. Họ cũng nói rằng những giấc mơ giúp bạn hiểu mọi hoạt động của phần tâm thức còn che dấu. Thế nên người ta phải tra hỏi những nghĩa những giấc mơ và chúng ta cần nằm mơ. Hay những giấc mơ chỉ là một hình thức tượng trưng của sự tiếp tục đời sống hàng ngày của chúng ta ?

Suốt ngày tâm thức chúng ta bận rộn với mọi thứ lăng nhăng của đời sống hàng ngày – công việc ở sở, việc nhà, những cãi cọ và những giận bực của tương quan, hình ảnh đánh nhau với hình ảnh, và vân vân. Bấy giờ, trước khi bạn đi ngủ, có một sự kiểm tra mọi sự đã xảy ra trong ngày. Điều này có xảy ra cho bạn trước khi bạn ngủ ? Bạn làm sống lại mọi cái : “Lẽ ra bạn đáng làm điều này, bạn phải nói điều đó…” ; bạn đi hết chu kỳ trong ngày, mọi tư tưởng của bạn, mọi hoạt động của bạn, bạn tức giận ra sao, ghen tỵ thế nào…

Bây giờ, tại sao tâm thức làm điều này ? Tại sao nó kiểm điểm những sự cố trong ngày ? Có phải vì tâm thức muốn thiết lập trật tự ? Tâm thức kiểm điểm những hoạt động trong ngày bởi vì nó muốn đưa mọi thứ vào trật tự ; nếu không thì khi bạn ngủ, trí óc tiếp tục làm việc và cố gắng lập trật tự trong bản thân nó, bởi vì bộ óc chỉ có thể vận hành bình thường, khỏe mạnh trong trật tự đầy đủ. Thế nên nếu không có trật tự trong ngày, bộ óc cố gắng thiết lập trật tự khi thân thể yên lặng, đang ngủ, và sự thiết lập trật tự ấy là phần của những giấc mơ. Các bạn có chấp nhận tất cả điều diễn giả đang nói ?

Thính giả : Không.

KRISHNAMURTI : Không ư ? Tôi rất thích thú. (Cười) Chớ đồng ý hay không đồng ý. Hãy tìm ra cho chính bạn, không phải theo triết gia nào, phân tích gia nào, tâm lý gia nào, mà tự tìm ra cho chính mình. Chừng nào có vô trật tự trong đời sống hàng ngày của bạn, trí óc phải thiết lập trật tự, nếu không nó không thể làm việc khỏe mạnh, bình thường và có hiệu quả. Và khi có vô trật tự, những giấc mơ là cần thiết để đem lại trật tự dù ở sâu hay ở cấp độ bề mặt.

Khảo sát mọi điều này người ta hỏi có cần thiết nằm mơ không bởi vì rất quan trọng nếu không mơ ; rất quan trọng có một tâm thức hoàn toàn bình lặng khi bạn ngủ, bấy giờ toàn bộ tâm thức, toàn bộ trí não, toàn bộ thân thể có thể tự làm trẻ lại. Nhưng nếu trí óc tiếp tục làm việc, làm việc khi bạn ngủ, thì nó trở nên kiệt sức, do đó mà có loạn thần, căng thẳng và mọi thứ như vậy. Thế thì có thể không mơ gì hết chăng ?

Tôi đang hỏi mọi câu hỏi này bởi vì tôi muốn hiểu chính mình : nó là phần của việc hiểu chính tôi. Chúng ta không chỉ nghiên cứu những giấc mơ, xác nhận sự quan trọng hay không quan trọng của giấc mơ. Trừ phi có một cái hiểu sâu xa về chính mình, mọi hoạt động trở nên bề mặt, nông cạn và mâu thuẫn và càng ngày càng tạo ra những vấn đề nữa.

Truyền thống cũ nói rằng để hiểu chính mình tôi phải phân tích, nội quan ; nhưng tôi thấy sự giả dối sai lầm của tất cả điều này. Tôi bác bỏ nó bởi vì nó sai dù hầu hết những nhà tâm lý học nói ngược lại. Và trong khi quan sát chính mình người ta hỏi : tạo sao người ta mộng và tâm thức có thể hoàn toàn bình lặng khi người ta ngủ ? Tôi không hỏi câu hỏi này, mà các bạn hỏi. Tôi chỉ gợi ý cho bạn ; chính bạn phải tìm ra. Bây giờ, bạn tìm ra như thế nào ?

Tôi hiểu rằng khi cơ cấu bình lặng, hoàn toàn yên nghỉ, thân thể có thể gom năng lượng và vận hành hiệu lực hơn. Khi thân thể không nghỉ ngơi, chạy suốt từ sáng đến tối không ngừng, nó sớm hao mòn, hư rã ; nhưng nếu thân thể có thể nghỉ ngơi mười hai phút ban ngày, thì nó có nhiều năng lượng hơn. Tâm thức rất hoạt động, xem coi, quan sát, phê phán, đánh giá, chiến đấu, mọi thứ như vậy. Và khi nó ngủ, đà như cũ vẫn tiếp tục. Thế nên tôi tự hỏi khi ngủ tâm thức có thể nào tuyệt đối bình lặng chăng. Hãy thấy cái đẹp của câu hỏi, chưa trả lời vội. Trừ phi tâm thức yên nghỉ phi thường, không một chuyển động nào, không cử động hay co giật nào, và mọi sự bạn làm, trừ phi nó tuyệt đối bình lặng (không phải bắt phải bình lặng) và buông xả, nó không thể hồi phục, không thể gom năng lượng.

Thế nên tôi muốn tìm ra tâm thức có thể bình lặng tuyệt đối chăng khi nó ngủ ban đêm ; và tôi thấy nó chỉ có thể bình lặng nếu mỗi sự việc xảy ra trong ngày được thấu hiểu tức thời, không mang theo nữa. Nếu tôi mang theo một vấn đề từ ngày này sang ngày khác, tâm thức vẫn tiếp tục bận rộn ; nhưng nếu tâm thức có thể giải quyết vấn đề một cách tức thời, hôm nay, bấy giờ nó được chấm dứt. Thức có thể hoàn toàn tỏ biết mỗi ngày đến độ những vấn đề không còn nữa chăng ? Buổi tối các bạn có một bảng đá đen sạch sẽ, trong sáng. Nếu bạn làm điều này, không chơi đùa với nó, mà thật sự làm việc nơi nó, bạn sẽ thấy rằng khi trí óc cần nghỉ, nó trở nên rất bình lặng, hoàn toàn yên nghỉ ; dù mười phút yên nghỉ là đủ rồi. Và nếu bạn theo đuổi điều này một cách rất sâu, bạn sẽ thấy rằng những giấc mơ hoàn toàn không cần thiết bởi vì không có gì cả để mơ ; bạn không quan tâm đến tương lai của bạn, dù bạn sắp là một bác sĩ vĩ đại, một nhà khoa học vĩ đại hay một nhà văn sáng chói, hay dù bạn sắp giác ngộ ngày mốt, bạn không quan tâm gì đến tương lai cả. Tôi e rằng bạn không thấy cái đẹp của tất cả điều này ! Tâm thức không phóng chiếu điều gì nữa trong thời gian.

Bây giờ, đã nhận thức tất cả điều đó, liệu tâm thức, nó thực sự là người quan sát (không chỉ là người quan sát bằng mắt, đôi mắt và vân vân), tâm thức có thể quan sát mà không có phân chia ? Bạn có hiểu câu hỏi không ? Tâm thức có thể quan sát mà không có phân chia giữa người quan sát và cái được quan sát, bởi vì chỉ có cái được quan sát, không có người quan sát.

Chúng ta hãy xem người quan sát là gì. Chắc hẳn người quan sát là quá khứ, dù đó là quá khứ của vài giây trước, của hôm qua, hay của nhiều năm trước, đang sống như một thực thể bị điều kiện hóa trong một văn hóa riêng biệt. Người quan sát là tổng thể của những kinh nghiệm quá khứ. Người quan sát cũng là kiến thức. Người quan sát ở trong lãnh vực của thời gian. Khi nó nói tôi sẽ là “cái kia”, nó đã phóng chiếu “cái kia” từ kiến thức quá khứ của nó – có thể là lạc thú, đau đớn, khổ đau, sợ hãi, thích thú vân vân – nó nói tôi phải trở thành cái kia. Bởi thế quá khứ đi qua hiện tại nó được biến đổi và đó là cái chúng ta gọi là tương lai, nhưng nó thực sự chỉ là một phóng chiếu của quá khứ : thế nên người quan sát là quá khứ. Bạn sống trong quá khứ, phải không ? Hãy nghĩ đúng về nó. Bạn là quá khứ, bạn sống trong quá khứ và đó là cuộc đời bạn. Những trí nhớ quá khứ, những thú vị quá khứ, những hồi tưởng quá khứ, những sự việc cho bạn lạc thú hay bất mãn, những thất bại, thất vọng, không mãn nguyện và thống khổ, mọi sự ở trong quá khứ. Và qua con mắt của người quan sát bạn phê phán hiện tại, nó là cái sống động chứ không phải là một cái tĩnh đọng, chết cứng.

Khi tôi nhìn chính tôi, tôi đang nhìn với đôi mắt quá khứ ; thế là tôi kết án, phê phán, đánh giá đúng sai, tốt xấu theo văn hóa và truyền thống riêng biệt của tôi ; theo kiến thức và kinh nghiệm tôi đã thu góp. Bởi thế nó ngăn cản sự quan sát cái sống động, cái ấy là cái “tôi”. Và cái “tôi” ấy không phải là cái “tôi” chút nào, bởi vì tôi chỉ biết cái “tôi” như là quá khứ. Khi người nào nói tôi là người thuộc tôn giáo, đảng phái… nào, nó là quá khứ, bị quy định bởi văn hóa trong đó nó đã được nuôi dưỡng.

Thế nên khi chúng ta nói về sống, chúng ta đang nói về sống trong quá khứ ; và có xung đột giữa quá khứ và hiện tại, bởi vì tôi bị điều kiện hóa. Tôi không thể gặp hiện tại sống trừ phi tôi phá sập sự bị điều kiện hóa của tôi, và sự bị điều kiện hóa của tôi được chủ ý lưu truyền từ cha mẹ, ông bà của tôi, giữ tôi trong lằn ranh chật hẹp của đức tin, truyền thống của họ, để tiếp tục lỗi lầm và thống khổ của họ. Chúng ta làm điều đó mọi lúc ; chúng ta sống trong quá khứ, không chỉ bằng sự bị điều kiện hóa của chúng ta, bằng văn hóa trong đó chúng ta đang sống, mà cũng bằng mọi kinh nghiệm, sự việc xảy ra trong cuộc đời chúng ta. Tôi thấy một hoàng hôn đẹp đẽ và tôi nghĩ nó kỳ diệu biết bao với ánh sáng, những bóng mờ, những tia sáng trên những ngọn đồi xa, và nó đã được cất chứa làm trí nhớ và ngày mai tôi nói tôi phải thấy lại hoàng hôn đó và vẻ đẹp của nó. Bấy giờ tôi chiến đấu để tìm thấy nó, và khi tôi không thể, tôi đến một viện bảo tàng và toàn bộ màn xiếc bắt đầu.

Bây giờ, tôi có thể nhìn chính mình với đôi mắt chưa hề bị thời gian chạm đến không ? Thời gian bao hàm phân tích, thời gian bao hàm sự bám nắm quá khứ, thời gian bao hàm toàn bộ tiến trình nằm mơ, nhớ lại, gom góp quá khứ này và bám giữ nó, mọi cái đó. Tôi có thể nhìn chính tôi mà không có đôi mắt của thời gian ? Hãy đặt câu hỏi đó cho chính bạn. Chớ nói bạn có thể hay không thể. Bạn không biết. Và khi bạn nhìn chính bạn mà không có con mắt thời gian, có cái gì hay ai ở đó để nhìn ? Xin chớ trả lời tôi. Bạn có hiểu câu hỏi của tôi không ? Tôi đã nhìn chính mình với tính chất, bản chất và cơ cấu của thời gian, cái quá khứ. Tôi đã nhìn chính tôi qua đôi mắt của quá khứ ; tôi không có đôi mắt nào khác để nhìn. Tôi đã nhìn chính tôi như là người Thiên Chúa giáo hay cái gì khác, nó là quá khứ, thế nên đôi mắt của tôi không thể nhìn “cái đang là” mà không có thời gian, nó là quá khứ.

Bây giờ tôi đang hỏi một câu hỏi, đó là : đôi mắt có thể quan sát mà không có quá khứ chăng ?

Hãy để tôi đặt câu hỏi theo cách khác. Tôi có một hình ảnh về chính tôi, được tạo ra và áp đặt lên tôi bởi văn hóa trong đó tôi sống ; tôi cũng có hình ảnh riêng của tôi về chính tôi, cái tôi nên là và cái tôi không nên là. Thật ra, tôi có rất nhiều hình ảnh ; tôi có một hình ảnh về các bạn, về vợ tôi, các con tôi, vị lãnh đạo chính trị của tôi, vị tu sĩ của tôi và vân vân ; thế nên tôi có hàng tá hình ảnh. Các bạn có như vậy chăng ?

Người hỏi : Vâng.

KRISHNAMURTI : Bây giờ, làm thế nào bạn có thể nhìn mà không có hình ảnh, bởi vì bạn nhìn với một hình ảnh, thì rõ ràng đó là một méo mó ? Bạn tức giận với tôi hôm qua, thế nên tôi đã tạo ra một hình ảnh về bạn, rằng bạn không phải là bạn bè của tôi nữa, rằng bạn là xấu xa và mọi thứ như vậy. Nếu tôi nhìn bạn với hình ảnh ấy trong lần tới tôi gặp bạn, hình ảnh ấy sẽ làm méo mó tri giác nhận thức của tôi. Hình ảnh ấy là quá khứ, như tất cả mọi hình ảnh của tôi, và tôi không dám lìa khỏi hình ảnh nào bởi vì tôi không biết cái gì nhìn mà không có một hình ảnh, thế nên tôi bám vào những hình ảnh. Tâm thức nương tựa vào một hình ảnh để nó có thể tồn tại. Tôi tự hỏi không biết bạn có theo dõi tất cả điều này chăng. Thế nên tâm thức có thể quan sát không có hình ảnh nào hết, không có hình ảnh của cái cây, đám mây, những ngọn đồi, không có hình ảnh của vợ tôi, các con tôi, chồng tôi ? Tâm thức có thể không có hình ảnh nào cả trong tương quan không ?

Chính hình ảnh đem lại xung đột trong tương quan. Tôi không thể sống hòa thuận với vợ tôi bởi vì cô ta làm tổn thương tôi ; hình ảnh đó đã được xây dựng lên, ngày sang ngày, và nó ngăn cản mọi tương quan ; chúng tôi có thể ngủ chung nhưng điều đó không thích hợp ; thế nên có xung đột. Tâm thức có thể nhìn, quan sát mà không có bất kỳ hình ảnh nào được lắp ghép bởi thời gian ? Nghĩa là, tâm thức có thể quan sát mà không có người quan sát, người đó là quá khứ, là cái “tôi” ? Tôi có thể nhìn bạn mà không có sự can thiệp của thực thể bị điều kiện hóa là cái “tôi” chăng ?

Ông nói gì thế ? “Không thể được !” Làm thế nào bạn biết là không thể được ? Giây phút bạn nói nó không thể, bấy giờ bạn đã tự đóng chặn bạn lại và nếu bạn nói nó có thể, nó cũng đóng chặn bạn ; nhưng nếu bạn nói chúng ta hãy tìm ra, chúng ta hãy khảo sát, chúng ta hãy thâm nhập nó, bấy giờ bạn sẽ khám phá tâm thức có thể quan sát mà không có đôi mắt của thời gian. Và khi nó quan sát như thế, bấy giờ có cái gì ở đó để được quan sát ?

Tôi bắt đầu học về chính tôi ; tôi đã thám hiểm mọi khả năng của phân tích, và tôi thấy người quan sát là quá khứ. Người quan sát thì phức tạp hơn nhiều ; người ta có thể đi sâu hơn vào nó. Tôi thấy rằng người quan sát là quá khứ, và tâm thức sống trong quá khứ, và tâm thức sống trong quá khứ bởi vì bộ óc đã tiến hóa qua thời gian, mà thời gian là quá khứ. Và trong quá khứ có sự an toàn – nhà tôi, vợ tôi, đức tin của tôi, địa vị của tôi, danh tiếng của tôi, cái tự ngã bé nhỏ luộm thuộm của tôi ; trong đó có sự chắc chắn, an toàn lớn lao. Thế nên tôi đang hỏi liệu tâm thức có thể quan sát mà không có cái nào như vậy, và nếu nó có thể, có cái gì ở đó để thấy ngoại trừ những ngọn đồi, những đóa hoa, những màu sắc, những con người – bạn theo dõi chứ ? Có cái gì nơi tôi để được quan sát ? Thế nên, tâm thức hoàn toàn tự do.

Bạn có thể hỏi cái gì là đặc điểm của tâm thức tự do. Đặc điểm là một tâm thức như vậy thì không có xung đột, một tâm thức như vậy thì hoàn toàn tịch lặng và bình an, không bạo động, và chỉ tính chất này của tâm thức mới có thể sáng tạo một văn hóa mới ; một văn hóa mới không phải là một văn hóa đối nghịch với cái cũ, một cái gì hoàn toàn khác trong đó chúng ta không có chút xung đột nào. Người đã khám phá tất cả điều này, không phải như một lý thuyết, không phải như một tuyên bố ngôn từ, mà người đã thấy sự kiện thực này trong chính mình, rằng tâm thức có thể quan sát hoàn toàn không có đôi mắt của quá khứ ; bấy giờ tâm thức là cái gì trọn vẹn mới, hoàn toàn khác.

Người hỏi : Tôi nghĩ chúng ta đều thấy sự nguy hiểm của những hình ảnh này, nhưng chắc chắn vào những thời điểm nào đó, một số hình ảnh là cần thiết. Chẳng hạn, nếu có ai đổ xô vào ngài với một con dao, hình ảnh ngài có sẽ giúp ngài cứu mạng. Làm sao chúng ta có thể chọn lựa giữa những hình ảnh hữu dụng và vô dụng ?

KRISHNAMURTI : Tất cả chúng ta đều sống với những hình ảnh, người hỏi nói, và một số có ích, cần thiết và che chở ; những cái khác thì không. Hình ảnh một con cọp khi bạn ở trong rừng thì giúp đỡ, nhưng hình ảnh bạn có về vợ bạn, chồng bạn hay bất cứ gì khác, hình ảnh ấy hủy hoại tương quan. Người hỏi hỏi rằng làm sao để chọn lựa giữa những hình ảnh để giữ và những hình ảnh để bỏ.

Trước hết, tại sao bạn chọn lựa ? Xin hãy nghe câu hỏi của tôi. Tại sao chúng ta chọn lựa ? Cái gì là cơ cấu, bản chất của chọn lựa ? Tôi chỉ chọn lựa, phải thế không, khi tôi không chắc chắn. Khi có sự không chắc chắn, khi ấy có mờ rối. Nếu không có sáng tỏ, bấy giờ tôi chọn lựa, tôi nói rằng tôi không biết làm gì, có lẽ tôi sẽ làm cái này hay cái kia. Khi bạn thấy cái gì rất rõ, có cần chọn lựa nào không ? Chắc chắn, chỉ có một tâm thức mờ rối mới chọn lựa. Và chúng ta biến sự chọn lựa thành một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Chúng ta nói về tự do chọn lựa, chọn lựa cái này hay cái kia, chọn đảng phái của chúng ta, những chính trị gia của chúng ta. Thế nên tôi tự hỏi, tại sao tôi chọn lựa ? Tôi chọn màu của chất liệu, nhưng đó không phải là chuyện chúng ta đang nói. Chúng ta đang nói về chọn lựa là kết quả của sự không chắc chắn, của mờ rối, nơi không sáng tỏ ; bấy giờ tôi phải chọn lựa, nhưng một tâm thức rất rõ ràng thì không chọn lựa. Bây giờ, tâm thức bạn có mê mờ, rối rắm không ? (Tôi đang đi đến câu hỏi, thưa bạn.) Rõ ràng là tâm thức bạn mờ rối, nếu không các bạn đâu có ngồi ở đây. Và từ sự mờ rối ấy bạn chọn lựa và làm tăng thêm mờ rối.

Bạn có rất nhiều hình ảnh, một số thì giúp đỡ, những cái khác thì không cần thiết. Có sự chọn lựa nào ? Hãy nghe cẩn thận. Có cần sự chọn lựa nào không ? Tôi có nhiều, rất nhiều hình ảnh về mọi sự, cũng như những ý kiến, phê phán và đánh giá ; tôi càng có nhiều ý kiến, tôi càng nghĩ tâm thức tôi trong sáng, rõ ràng. Và từ mọi hình ảnh ấy tôi cố gắng quyết định cái gì là quan trọng và thích hợp và cái gì là không. Bây giờ tại sao tôi phải chọn lựa ? Bởi vì tôi không chắc chắn những hình ảnh nên giữ và những hình ảnh nào nên bỏ. Bây giờ ai là thực thể đang chọn lựa ? Chắc chắn là kiến thức, và kiến thức là quá khứ – quá khứ, nó đã tạo ra những hình ảnh này, nó chọn lựa những cái nên giữ và những cái nên bỏ. Thế nên bạn chọn lựa theo quá khứ và như thế sự chọn lựa của bạn luôn luôn lầm lạc ; thế nên, chớ chọn lựa ! Nào ! Hãy thấy nó ! Nếu bạn không chọn lựa thì cái gì xảy ra ? Rõ ràng bạn sẽ không để xe buýt đè. Nhưng chính sự chọn lựa, sự đang chọn lựa, nó duy trì những hình ảnh.

SAANEN
22 tháng Bảy 1971


4
CÔ ĐỘC

Lo nghĩ về chính mình. Tương quan. Hành động trong tương quan và đời sống hàng ngày. Những hình ảnh làm cô lập : hiểu sự xây dựng hình ảnh. “Quan tâm đến chính mình là hình ảnh chính của tôi.“ Tương quan không có xung đột nghĩa là thương yêu.

Hầu hết chúng ta thể nghiệm, khi chúng ta dám nhìn, rằng chúng ta là những con người cô đơn, cô độc kinh khủng. Dù chúng ta có ý thức hay không về nó, chúng ta muốn trốn thoát khỏi nó, bởi vì chúng ta không biết cái gì nằm đàng sau và ở trên nó ; kinh sợ, chúng ta chạy trốn nó bằng tham luyến, bằng hoạt động và mọi hình thức tôn giáo hoặc tiêu khiển trong đời. Điều này khá rõ ràng khi người ta quán sát nó trong bản thân nó. Chúng ta tự làm mình cô độc bằng những hoạt động hàng ngày, bằng thái độ và cách suy nghĩ của chúng ta ; dù chúng ta có thể có một tương quan thân mật với ai đó, chúng ta luôn luôn nghĩ về mình. Kết quả của điều này là cô độc hơn, tách biệt hơn, một sự lệ thuộc lớn lao hơn vào những sự vật bên ngoài, những tham luyến lớn hơn và khổ đau phát sanh từ đó. Tôi không biết các bạn có ý thức về tất cả điều này chăng.

Có lẽ khi chúng ta ngồi ở đây, chúng ta có thể trở nên biết rõ sự việc này, cái được gọi là cô độc, biết rõ sự biệt lập cô đơn, sự nương dựa tùy thuộc và khổ đau nó mang lại. Nó tiếp diễn trong chúng ta mọi lúc. Nếu có quan sát người ta có thể thấy rằng toàn bộ hoạt động của chúng ta là quy về mình. Chúng ta nghĩ về mình không dứt : về sức khỏe của chúng ta, cái chúng ta phải suy gẫm, cái chúng ta phải thay đổi ; chúng ta muốn một công việc tốt hơn nhiều tiền hơn, một mối tương quan tốt hơn. “Tôi muốn đạt đến giác ngộ“ ; “Tôi phải làm cái gì trong đời này” – “tôi” và “cuộc đời của tôi”, những lo toan của tôi, những vấn đề của tôi.

Sự bận rộn vĩnh viễn với chính mình này tiếp tục trong mọi lúc ; chúng ta cống hiến cho chính chúng ta. Đó là một sự kiện rõ ràng. Và dù chúng ta đi đến công sở hay đến một xí nghiệp, làm việc xã hội hay quan tâm đến hạnh phúc của thế giới, sự tự quan tâm điều động mọi hoạt động của chúng ta ; luôn luôn “tôi” là trước hết. Sự lo nghĩ về chính mình này vận hành trong đời sống hàng ngày và trong tương quan dẫn đến cô đơn tách biệt. Điều này cũng rõ ràng, và nếu người ta thâm nhập nó rất sâu người ta sẽ khám phá rằng sự cô lập này là một cảm thức hoàn toàn đơn độc, cắt đứt, không có một tương quan liên hệ với ai hay cái gì. Bạn có thể ở giữa đám đông, hay ngồi với một người bạn, rồi thình lình cảm thức cô đơn cùng cực này, bị cắt đứt hoàn toàn với mọi người này xảy ra nơi bạn. Khi chúng ta ý thức nỗi cô đơn này, chúng ta cố gắng trốn thoát bằng sự bận rộn trong công việc gia đình, hay những hình thức tiêu khiển, bằng cố gắng thiền định và vân vân.

Chắc hẳn mọi điều này chỉ ra rằng tâm thức, dù cạn hay sâu, bề mặt hay chỉ vướng mắc vào kiến thức kỹ thuật, phải cắt đứt chính nó khỏi mọi hình thức tương quan nếu nó thường trực bận bịu với chính nó. Tương quan là điều quan trọng nhất trong đời sống, bởi vì nếu bạn không có một tương quan đúng với một người, thì bạn không thể có nó với bất kỳ người nào khác. Bạn có thể tưởng tượng rằng bạn sẽ có một tương quan tốt với người khác, nhưng nó chỉ ở cấp độ ngôn từ và do đó là ảo tưởng. Nếu bạn hiểu tương quan giữa hai con người cũng cùng là một tương quan với thế giới còn lại, bấy giờ biệt lập, cô đơn có một nghĩa hoàn toàn khác.

Thế thì cái gì là tương quan ? Chúng ta đang cố tìm ra tại sao con người quá đỗi cô đơn một cách tuyệt vọng như vậy. Không có thương yêu, nhưng muốn được thương yêu, họ cắt đứt họ, tự tách lìa họ, một cách vật lý và tâm lý và do đó trở nên loạn thần. Hầu hết người ta là loạn thần, mất cân bằng, vướng mắc trong loại phong cách riêng nào đó. Nếu bạn khảo sát nó cặn kẽ, có vẻ rằng tất cả mọi điều này sanh ra từ sự thiếu vắng hoàn toàn tương quan. Thế nên trước khi chúng ta có thể hiểu làm sao chấm dứt sự đơn độc và khổ đau này, nỗi đau và phiền muộn của cuộc sống con người này, trước tiên chúng ta phải đi vào câu hỏi này về tương quan – tương quan, liên hệ có nghĩa là gì.

Chúng ta có tương quan liên hệ chút nào với người khác ? Tư tưởng khẳng định rằng chúng ta có tương quan, có liên hệ, nhưng thật sự chúng ta không có, cho dù một người có một tương quan thân mật, thậm chí một tương quan tình dục với người khác. Trừ phi người ta thấu hiểu sâu xa chân lý về tương quan, có vẻ con người không tránh khỏi phải kết thúc trong buồn rầu, mờ rối và xung đột. Họ có thể chấp nhận những hình thức đức tin khác nhau, hay làm việc xã hội, nhưng mọi cái đó không có giá trị, trừ phi họ đã thiết lập được một tương quan giữa họ, trong đó không có xung đột nào cả. Có thể như vậy không ? Bạn và tôi có thể tương quan liên hệ ? Có lẽ bạn có một tương quan rất rất tốt đẹp với tôi, bởi vì tôi sẽ sớm rời khỏi đây và rồi nó chấm dứt. Có thể có một tương quan giữa hai người nếu mỗi người cứ bận bịu với chính nó ? – nếu mỗi người cứ quan tâm vào những tham vọng và bận rộn của nó, sự đối nghịch của nó trong thế giới và tất cả điều vô lý xuẩn ngốc mà con người đang trải qua ? Khi một người bị bắt giam vào cái lưới đó, nó có thể nào có tương quan gì với người khác ?

Xin hãy theo dõi tất cả điều này. Có thể có tương quan không giữa một người đàn ông và một người đàn bà khi người này là người Thiên Chúa giáo và người kia là người Tin Lành, khi một người là Ấn giáo và người kia là Phật giáo ?

Bấy giờ cái gì là tương quan ? Với tôi đó có vẻ là một trong những điều quan trọng nhất trong đời, vì sống là tương quan. Nếu không có tương quan, thì không làm gì có sống ; bấy giờ đời sống chỉ trở thành một mớ những xung đột, chấm dứt bằng chia ly hay ly dị, trong cô đơn, với mọi sợ hãi, lo buồn, những vấn đề từ bám luyến, và mọi cái bao gồm trong cảm thức cô đơn này. Tôi chắc các bạn đều hiểu nó. Người ta quan sát tương quan sống động phi thường biết bao nhiêu trong đời sống, và có ít người biết bao nhiêu đã phá sập hàng rào chắn giữa họ và người khác. Phá sập hàng rào chắn này với mọi hàm ý của nó – không chỉ là hàng rào vật lý – người ta phải đi sâu vào câu hỏi về hành động.

Hành động là gì ? Hành động không phải là hành động tương lai hay quá khứ, mà đang hành động. Nó có phải là kết quả của một kết luận và hành động theo kết luận đó ? Hay nó được đặt nền trên đức tin nào đó và hành động theo đức tin ? Nó có đặt nền trên kinh nghiệm nào đó và hành động theo kinh nghiệm ấy hay kiến thức ấy ? Nếu nó như vậy, bấy giờ hành động luôn luôn là quá khứ, tương quan của chúng ta luôn luôn ở trong quá khứ, không bao giờ trong hiện tại.

Nếu tôi có một tương quan với một người khác – và rõ ràng tương quan là hành động – suốt những ngày, những tháng hay những năm tôi đã xây dựng một hình ảnh và hành động theo hình ảnh ấy, và người kia hành động theo hình ảnh anh ta có ; thế nên tương quan không là giữa chúng tôi mà là giữa hai hình ảnh. Xin hãy quan sát tâm của chính bạn, hoạt động của chính bạn trong tương quan, và bạn sẽ sớm tìm ra chân lý và sự vững chắc của nhận xét này. Tương quan của chúng ta đặt nền trên những hình ảnh, và làm sao có thể có một tương quan với người khác, nếu nó chỉ là tương quan của những hình ảnh ấy ?

Tôi đang quan tâm với việc có một tương quan trong đó không có chút nào xung đột, trong đó tôi không sử dụng hay khai thác người khác, dù về mặt tình dục, vì lạc thú hay vì mối tương quan. Tôi thấy rất rõ ràng rằng xung đột phá hủy mọi hình thức tương quan, thế nên tôi phải giải quyết xung đột ấy từ chính trung tâm chứ không phải ở ngoại vi. Và tôi chỉ có thể chấm dứt xung đột bằng cách thấu hiểu hành động, không chỉ trong tương quan mà còn trong đời sống hàng ngày. Tôi muốn tìm ra tất cả những hoạt động của tôi có biệt lập cô đơn không, theo nghĩa tôi đã xây dựng một bức tường quanh tôi ; bức tường là chính tôi quan tâm vào chính tôi, với tương lai của tôi, hạnh phúc của tôi, Thượng Đế của tôi, với đức tin của tôi, thành công của tôi, thống khổ của tôi – bạn theo dõi chứ ? Tự ngã tôi là trung tâm, và tất cả những hoạt động quan tâm đến hạnh phúc tôi, sự thỏa mãn của tôi, vinh quang của tôi phải khiến cho biệt lập cô đơn. Nơi nào có sự biệt lập thì phải có bám luyến và nương dựa tùy thuộc ; khi có sự không chắc chắn trong bám luyến và tùy thuộc bấy giờ có khổ đau, và khổ đau bao hàm biệt lập trong bất kỳ tương quan nào. Tôi thấy tất cả điều này rất rõ ràng, không bằng ngôn ngữ mà hiện thực – nó là một sự kiện.

Trong nhiều năm tôi đã xây dựng những hình ảnh về chính tôi và người khác ; tôi đã cô lập mình bằng những hoạt động của tôi, bằng những đức tin và vân vân. Thế nên câu hỏi đầu tiên của tôi là – làm thế nào tôi giải thoát khỏi những hình ảnh này ? – những hình ảnh về Thượng Đế của tôi, sự bị điều kiện hóa của tôi, rằng tôi phải thành đạt danh tiếng hoặc giác ngộ (chúng là như nhau), rằng tôi phải thành đạt thành công và như vậy tôi sợ thất bại. Tôi có rất nhiều hình ảnh về chính tôi và về các bạn. Làm sao tôi thoát khỏi chúng ? Tôi có thể chấm dứt sự xây dựng những hình ảnh này bằng một tiến trình phân tích không ? Rõ ràng là không.

Vậy tôi phải làm gì ? Nó là một vấn đề và tôi phải chấm dứt nó, không mang nó qua ngày sau. Nếu tôi không thể chấm dứt nó hôm nay, bấy giờ vấn đề tạo ra vô trật tự, một quấy rầy, và trí óc cần trật tự để vận hành khỏe mạnh, bình thường, không loạn thần. Tôi phải thiết lập một trật tự mới bây giờ, trong ngày, nếu không tâm thức sẽ bận rộn lo toan về nó và có những giấc mơ và không thể tươi mới vào sáng hôm sau ; thế nên tôi phải chấm dứt vấn đề này.

Làm thế nào tôi ngăn chặn sự xây dựng những hình ảnh này ? Bằng cách không tạo ra một siêu-hình ảnh – thật rõ ràng. Tôi có nhiều hình ảnh và không thể thoát ra khỏi chúng nên tâm thức không may sáng chế ra một siêu-hình ảnh, một bản ngã cao hơn, cái Atman ; hay nó đưa vào tác nhân ngoại lai nào đó, hoặc tâm linh hay “Người Anh Em Vĩ Đại” của thế giới chính trị. Thế nên không tạo ra một hình ảnh cao hơn, cao cả hơn, phải có sự chấm dứt của mọi hình ảnh tôi đã tạo ra. Tôi thấy rằng nếu tôi chỉ có dù một hình ảnh thôi, thì không có khả năng cho bất kỳ tương quan nào, bởi vì những hình ảnh làm tách biệt và nơi nào có tách biệt bèn phải có xung đột, không chỉ giữa những quốc gia mà còn giữa những con người ; điều ấy hẳn rõ ràng. Bấy giờ làm thế nào tôi thoát khỏi mọi hình ảnh tôi đã góp chứa, để tâm thức trọn vẹn tự do, tươi mới và trẻ trung, để nó có thể quan sát một cách mới mẻ toàn bộ chuyển động của đời sống ?

Trước hết, tôi phải tìm ra mà không phân tích những hình ảnh có mặt như thế nào. Nghĩa là tôi phải học quan sát. Quan sát có đặt nền trên phân tích không ? Tôi quan sát, tôi thấy – nó có là kết quả của phân tích, của thực hành, của thời gian không ? Hay nó là một hành vi ngoài thời gian ? Con người đã luôn luôn cố gắng vượt khỏi thời gian bằng nhiều trò bịp và đều thất bại. Ngờ rằng có lẽ nó không thể thoát khỏi vô số hình ảnh ấy, nó đã tạo ra một siêu-hình ảnh và nó trở nên một nô lệ cho hình ảnh ấy, do đó nó không tự do. Dù siêu-hình ảnh ấy có là linh hồn, tự ngã cao siêu, quốc gia hay cái gì khác, nó vẫn không phải là tự do : nó vẫn là một hình ảnh khác. Thế nên tôi chú ý hết lòng vào việc chấm dứt mọi hình ảnh, bởi vì chỉ bấy giờ mới có một khả năng có một tương quan với người khác ; sự quan tâm của tôi là tìm ra liệu có khả năng nào chấm dứt những hình ảnh một cách tức thời, không phải đuổi đi một hình ảnh này rồi đến một cái khác. Điều đó rõ ràng chẳng tới đâu.

Thế nên tôi phải tìm ra tôi có thể nào bẻ gãy cơ chế của tâm thức cứ xây dựng những hình ảnh và đồng thời đi vào câu hỏi tỉnh giác là gì ; bởi vì cái ấy có thể giải quyết vấn đề của tôi là chấm dứt mọi hình ảnh. Cái ấy cho tự do, và khi có tự do chỉ bấy giờ mới có khả năng có một tương quan chân thật trong đó mọi hình thức xung đột chấm dứt.

Tỉnh giác này có nghĩa là gì ? Nó hàm ý một chú ý trong đó không có bất kỳ sự chọn lựa nào. Tôi không thể chọn một hình ảnh này thay vì hình ảnh khác, bấy giờ không có sự chấm dứt cho hình ảnh đó. Thế nên tôi phải tìm ra tỉnh giác là cái gì, trong đó không có sự chọn lựa gì cả, mà chỉ có quan sát thuần túy, thấy thuần túy.

Bây giờ, cái gì là thấy ? Như thế nào tôi nhìn một cái cây, hay một ngọn núi, những ngọn đồi, mặt trăng, nước chảy ? Không chỉ có sự quan sát bằng mắt, mà tâm thức cũng có một hình ảnh về cái cây, mây và sông. Dòng sông kia có một cái tên ; nó tạo ra một âm thanh thích thú hay khó chịu. Tôi luôn luôn quan sát, ý thức những sự vật, thích và không thích, theo so sánh. Có thể quan sát, lắng nghe dòng sông này mà không có bất kỳ chọn lựa nào, bất kỳ kháng cự và bám luyến nào, không có bất kỳ diễn đạt bằng ngôn ngữ nào ? Xin hãy làm điều này khi chúng ta đang nói – đó là thực tập buổi sáng của các bạn !

Tôi có thể nghe dòng sông này mà không có bất kỳ cảm thức nào của quá khứ ? Tôi có thể quan sát những hình ảnh khác nhau này mà không có chọn lựa nào ? – nghĩa là không có kết án cái nào, hay bị dính bám vào chúng, nhưng chỉ quan sát không có thiên vị này kia. Bạn không thể làm việc này sao ? Tại sao không ? Có phải bởi vì tâm thức tôi đã quá quen với những thành kiến và những thiên vị ? Có phải nó lười biếng và không đủ năng lượng ? Hay tâm thức tôi không thực sự muốn giải thoát khỏi những hình ảnh và muốn bám vào một hình ảnh đặc biệt ? Thế nghĩa là tâm thức từ chối thấy sự kiện rằng tất cả hiện hữu là tương quan, và khi có xung đột trong tương quan ấy, bấy giờ đời sống trở nên một nỗi khốn khổ và cô đơn và mê rối kèm theo. Tâm thức có thấy không qua ngôn từ chân lý rằng nơi nào có xung đột thì không có tương quan ?

Người ta có thể thoát khỏi những hình ảnh người ta đã có như thế nào ? Trước hết tôi phải tìm ra những hình ảnh ấy thành hình như thế nào, cái gì là bộ máy tạo ra chúng. Bạn có thể thấy rằng vào khoảnh khắc tương quan thực sự, nghĩa là khi bạn nói, khi có những biện bác chứng minh, khi có những xúc phạm và hung bạo, nếu bạn không hoàn toàn chú ý vào lúc đó, bấy giờ bộ máy xây dựng hình ảnh bắt đầu chạy. Nghĩa là, khi tâm thức không trọn vẹn chú ý vào khoảnh khắc của hành động, bấy giờ bộ máy xây dựng hình ảnh được vận hành. Khi bạn nói điều gì với tôi mà tôi không thích – hay tôi thích – nếu ngay khoảnh khắc ấy tôi không chú ý trọn vẹn, thì bộ máy bắt đầu chạy. Nếu tôi chú ý, tỉnh giác, bấy giờ không có sự tạo lập hình ảnh. Khi tâm thức hoàn toàn tỉnh thức ở khoảnh khắc hiện thời, không xao lãng, không sợ hãi, không từ chối cái được nói, bấy giờ không có khả năng tạo dựng hình ảnh. Hãy thử điều này – hãy làm nó suốt ngày.

Thế nên tôi tìm ra làm thế nào để ngăn chặn sự xây dựng những hình ảnh ; nhưng điều gì đã xảy ra với những hình ảnh tôi đã tích chứa ? Bạn có theo dõi vấn đề không ? Hình như đây không phải là vấn đề của bạn, vì nếu nó là vấn đề đích thực, sâu xa, trọng yếu trong đời bạn, bạn đã giải quyết nó cho chính bạn thay vì ngồi đây chờ tôi tìm ra câu trả lời cho bạn. Bây giờ, điều gì xảy ra cho tất cả những hình ảnh bạn đã sưu tập ? Bạn có biết bạn có nhiều hình ảnh được dấu kín trong cái tủ của tâm thức bạn ? Bạn có thể giải quyết tất cả chúng, từng miếng một, hay điều đó đòi hỏi một thời gian vô cùng ? Khi bạn làm tiêu tan một hình ảnh, bạn đã tạo ra những hình ảnh khác, thế nên tiến trình tiệm tiến thoát khỏi từng hình ảnh sẽ không cùng. Thế thì bạn đã khám phá ra một chân lý, đó là bạn không thể thoát khỏi những hình ảnh từng cái một ; bởi thế tâm thức thật sự thấy chân lý của điều này thì tỉnh thức trọn vẹn khi nó tạo ra một hình ảnh. Trong chú ý ấy tất cả những hình ảnh khác biến mất. Tôi tự hỏi bạn có thấy điều này không.

Những hình ảnh được thành hình khi tâm thức không chú ý như vậy ; và tâm thức của hầu hết chúng ta thì không chú ý. Thỉnh thoảng chúng ta chú ý, nhưng tất cả thời gian còn lại chúng ta không chú ý. Khi bạn rõ biết một hình ảnh một cách chú ý, và bạn cũng rõ biết một cách chú ý toàn bộ cơ cấu của việc xây dựng những hình ảnh và nó vận hành thế nào, bấy giờ trong chú ý ấy sự xây dựng những hình ảnh đến chỗ kết thúc ; dù chúng thuộc về quá khứ, hiện tại hay tương lai. Điều quan trọng là trạng thái của chú ý, chứ không phải những hình ảnh bạn có nhiều đến bao nhiêu. Xin hãy cố gắng và hiểu điều này, bởi vì nó là quan trọng nhất. Nếu bạn thực sự hiểu thấu điều này, bấy giờ bạn đã hiểu thấu trọn vẹn tất cả bộ máy của tâm thức.

Rất tiếc, hầu hết chúng ta đã không thể giải quyết được những vấn đề của chúng ta ; chúng ta không biết làm sao đối xử với chúng, thế nên chúng ta sống với chúng, chúng trở thành thói quen của chúng ta và chúng giống như bộ giáp không thể xâm nhập. Nếu bạn có một vấn đề chưa được giải quyết, bạn không có năng lượng ; năng lượng bạn có bị vấn đề ấy chiếm cứ, phủ chụp ; nếu bạn không có năng lượng, điều đó cũng trở thành một thói quen. Thế nên nếu bạn rất nghiêm túc, nếu bạn thực sự muốn sống một đời sống trong đó không có chút gì xung đột, bấy giờ bạn phải tìm ra làm sao chấm dứt một vấn đề con người một cách tức khắc, trực tiếp ; nó có nghĩa là bạn chú ý trọn vẹn vào vấn đề và bạn không tìm một trả lời cho nó. Bởi vì nếu bạn cố gắng tìm một trả lời, bấy giờ bạn nhìn vượt khỏi vấn đề, trong khi nếu bạn ở lại với vấn đề và chú ý trọn vẹn, bấy giờ trong bản thân vấn đề – không phải ở trên nó – là sự trả lời.

Hãy để tôi nêu ra theo cách khác. Tất cả chúng ta đều biết đau khổ là gì, cả thân thể và tâm lý, nghĩa là bên trong. Người ta có thể đối xử với đau đớn thân thể bằng nhiều loại thuốc và cũng bằng cách không để cho trí nhớ về cái đau ấy lưu lại. Nếu bạn ý thức, rõ biết cái đau đớn, và trong chính tỉnh giác ấy bạn thấy trí nhớ của quá khứ, bấy giờ cái đau biến mất ; do đó bạn có năng lượng cho cái đau lần tới, khi nó đến. Chúng ta đều khổ đau về tâm lý theo nhiều cách khác nhau, hoặc với cường độ lớn hay ở cấp độ nhỏ. Khi chúng ta khổ đau, một cách bản năng chúng ta muốn chạy trốn khỏi nó – bằng tôn giáo, bằng giải trí, đọc sách, bằng bất cứ cái gì thoát xa được khổ.

Bây giờ nếu tâm thức chú ý và không lìa khỏi khổ đau gì cả, bấy giờ bạn sẽ thấy rằng từ chú ý trọn vẹn thì không chỉ năng lượng – nó nghĩa là đam mê – có mặt mà khổ đau ấy cũng đến chỗ chấm dứt. Trong cùng cách ấy, mọi hình ảnh có thể chấm dứt tức khắc khi không có sự thiên vị, ưa chuộng bất cứ hình ảnh nào ; điều này rất quan trọng. Khi bạn không có ưa chuộng, bạn không có thành kiến. Bấy giờ bạn chú ý, bấy giờ bạn có thể nhìn. Trong sự quan sát này không chỉ có sự thấu hiểu việc xây dựng những hình ảnh, mà còn có sự chấm dứt mọi hình ảnh.

Thế nên tôi thấy sự quan trọng của tương quan, và có thể có một tương quan không có bất kỳ xung đột nào, nó nghĩa là thương yêu. Thương yêu không phải là một hình ảnh ; nó không phải là lạc thú ; nó không phải là tham muốn. Thương yêu không phải là cái gì có thể trau dồi, rèn luyện ; nó không dựa vào trí nhớ. Tôi có thể sống một đời sống hàng ngày mà không có loại tự-quan tâm nào, bởi vì sự tự-quan tâm có phải là hình ảnh chính yếu của tôi ? Tôi có thể sống mà không có hình ảnh chính yếu ấy ? Bấy giờ hành động không đem lại cô đơn, đơn độc và khổ đau.

Người hỏi : Khi người ta nhìn vào bên trong và hình như kinh nghiệm một đam mê hiểu biết không lay chuyển sâu thẳm, với một ít ngay thẳng người ta thấy rằng cảm nhận này thực sự là một mong muốn kinh nghiệm thực tại. Tự ngã, cái tất cả chúng ta đều biết, có thể nào có sự đam mê không lay chuyển này và thấy sự khác biệt căn bản giữa hai cảm nhận ?

KRISHNAMURTI : Trước hết, cái gì là tự ngã, cái “tôi” ? Chắc chắn, cái “tôi” ấy là kết quả của sự giáo dục của chúng ta, của những xung đột của chúng ta, của văn hóa chúng ta, của tương quan chúng ta với thế giới còn lại ; cái “tôi” ấy là kết quả của tuyên truyền chúng ta đã lệ thuộc năm ngàn năm nay. Chính cái “tôi” này bám luyến vào đồ đạc của chúng ta, vợ chồng của chúng ta và vân vân. Chính cái “tôi” này nói, “Tôi muốn hạnh phúc. Tôi phải thành công, tôi phải thành tựu.” Chính cái “tôi” này nói tôi là một người Thiên Chúa giáo hay một người Ấn giáo hay người đảng phái này nọ. Có tất cả những sự phân chia kinh khủng này – cái “tôi” là tất cả các thứ đó, phải không ?

Cái “tôi” ấy, nó là tách biệt cô đơn, cơ cấu và bản chất giới hạn và do đó tạo ra phân chia, cái “tôi” ấy có thể có đam mê nào không ? Rõ ràng không. Nó có thể có đam mê lạc thú, là cái gì hoàn toàn khác với đam mê chúng ta đang nói đây. Chỉ với sự chấm dứt của cái “tôi” mới có đam mê ; chỉ một tâm thức thoát khỏi mọi thành kiến, ý kiến, phê phán và mọi điều kiện hóa mới có thể có đam mê, năng lượng và mãnh liệt, bởi vì nó có thể thấy “cái đang là”. Bạn đồng ý và nói “Vâng.” Có phải đó chỉ là một phát biểu ngôn từ ngoài miệng, hay bạn thực sự thấy chân lý của nó và tự do ?

Người hỏi : Có phải những hình ảnh chúng ta có làm hao tán năng lượng của chúng ta ?

KRISHNAMURTI : Rõ ràng thế, phải không ? Nếu tôi có một hình ảnh về chính tôi và cái ấy nghịch lại với hình ảnh của bạn, thì phải có xung đột, do đó phải hao phí năng lượng, không phải sao ?

SAANEN
25 tháng Bảy 1971


5
TƯ TƯỞNG VÀ CÁI KHÔNG THỂ 
ĐO LƯỜNG

Tư tưởng có thể giải quyết những vấn đề của chúng ta ? Chức năng của tư tưởng. Trường của tư tưởng và những phóng chiếu của nó. Tâm thức có thể đi vào cái không thể đo lường ? Cái gì là nhân tố của ảo tưởng ? Sợ hãi thuộc thân thể và thuộc tâm trí và những trốn chạy. Tâm thức
học hỏi thường trực.

Một số chúng ta cảm thấy rằng thế giới hỗn độn đến độ nếu nó được tổ chức bởi một người điên thì nó không thể tệ hơn như nó vào lúc này. Nhiều người cảm thấy rằng phải có những thay đổi về môi trường, kinh tế, chính trị để làm dừng lại những cuộc chiến tranh, sự ô nhiễm không khí, và chấm dứt sự bất bình đẳng vật chất giữa người rất giàu và người rất nghèo. Nhiều người cho rằng những việc này phải được thay đổi trước tiên, rằng nếu có một chuyển hóa môi trường, chung quanh thì con người sẽ có thể cư xử với chính nó hợp lý hơn và không ngoan hơn.

Tôi nghĩ vấn đề nằm sâu hơn nhiều, phức tạp hơn, và chỉ thay đổi những sự vật bên ngoài thì sẽ có ít hiệu quả. Đã quan sát những sự cố trong thế giới, xã hội bi quan của người trẻ và sự đạo đức giả kinh khủng của người già, một tâm thức có giáo dục và trưởng thành thì biết rõ rằng vấn đề là sâu xa và đòi hỏi một cách xử sự hoàn toàn khác.

Người ta cũng quan sát hầu hết đều tin rằng tất cả nỗ lực con người có thể được tư tưởng làm hoàn thành, dù bên ngoài đi đến mặt trăng, hay bên trong chuyển hóa tâm thức và trái tim. Chúng ta đã gắn tầm quan trọng lớn lao cho tác dụng của tư tưởng. Tư tưởng, dù là hợp lý luận và khách quan, hay phi lý và loạn thần, luôn luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng suốt những thời đại. Tư tưởng là sự đo lường ; và khi tìm cách đem lại trật tự và thay đổi trong xã hội tư tưởng tự bày lộ là rất giới hạn. Hình như nó không thành công – nó có thể làm ở bề ngoài nhưng không ở trong nền tảng. Toàn thể bộ máy của tư tưởng chịu trách nhiệm đối với tình trạng hiện nay của thế giới ; không thể phủ nhận điều đó. Chúng ta nghĩ rằng tư tưởng có thể thay đổi không chỉ những sự cố bên ngoài – ô nhiễm, bạo động và các thứ như vậy – mà còn có thể chuyển hóa sự bị điều kiện hóa của con người, cách hành động và cách sống của chúng ta bằng sự sử dụng nó một cách thận trọng và khôn khéo.

Rõ ràng tư tưởng có tổ chức là cần thiết ; cần có tư tưởng được tổ chức, áp dụng một cách khách quan và lành mạnh, để thay đổi môi trường ô nhiễm và chiến thắng đói nghèo. Toàn bộ thế giới kỹ thuật trong đó chúng ta đang sống thì đặt nền trên tư tưởng với sự đo đạc đo lường của nó ; và tư tưởng chỉ có thể tác dụng khi có không gian. Tư tưởng tạo ra không gian riêng của nó, như thời gian, khoảng cách từ đây đến kia. Trên tư tưởng toàn bộ thế giới hiện đại được xây dựng.

Đo lường, với không gian của nó, không gian này là bản chất đích thực của sự suy nghĩ, thì rõ ràng là giới hạn, bởi vì tư tưởng thì bị điều kiện hóa. Tư tưởng là sự đáp ứng của trí nhớ, nó là quá khứ. Và tư tưởng rõ ràng đã không chấm dứt được những cuộc chiến tranh ; ngược lại, tư tưởng đã tạo ra những cuộc chiến tranh, nó nuôi dưỡng sự chia rẽ – tôn giáo, kinh tế, xã hội và vân vân. Tự bản thân tư tưởng cũng là nguyên nhân của sự phân mảnh.

Thế nên người ta hỏi : cái gì là tác dụng, chức năng của tư tưởng, nó là sự đáp ứng của kiến thức ? Kiến thức luôn luôn cắm rễ trong quá khứ và từ đó tư tưởng phóng chiếu ra tương lai, nó thực ra là một biến dạng của những hoạt động của hiện tại. Như thế qua kiến thức của nó, tư tưởng có thể phóng chiếu ra tương lai, cái mà thế giới “nên là” ; nhưng rõ ràng cái “nên là” chẳng bao giờ thực hiện được. Mỗi triết gia, mỗi người được gọi là vị thầy tôn giáo, đã phóng chiếu ra một thế giới của tương lai đặt nền trên kiến thức của quá khứ ; người ấy đã phóng chiếu ra cái nghịch lại, hay cái gì là một phản ứng đối với quá khứ. Thế nên tư tưởng không bao giờ hợp nhất con người. Thật vậy, tư tưởng đã chia biệt con người, bởi vì nó chỉ vận hành trong kiến thức và kiến thức thì hữu hạn, có thể đo lường. Thế nên tư tưởng không bao giờ có thể đem đến một tương quan chân thật giữa con người với nhau.

Bởi thế, tôi đang hỏi : cái gì là chức năng của kiến thức, nó là cái đã biết, cái quá khứ ? Cái gì là chức năng của sự đáp ứng với quá khứ ấy, nó là tư tưởng, trong đời sống hàng ngày ? Bạn có bao giờ đặt câu hỏi ấy cho chính bạn ? Người ta sống và hành động bằng tư tưởng ; mọi sự tính toán, tương quan, thái độ của chúng ta đều đặt nền trên tư tưởng, trên kiến thức. Kiến thức ấy thì nhiều hay ít có thể đo lường được ; và kiến thức luôn luôn ở trong trường của cái đã biết. Thế nên bạn và tôi có thể thấu hiểu sự quan trọng của kiến thức nhưng thấy những giới hạn của nó và vượt khỏi nó ? Đây là điều tôi muốn tìm ra.

Tôi thấy rằng nếu bạn luôn luôn vận hành trong trường của kiến thức, bạn sẽ luôn luôn là một người tù ; bạn sẽ luôn luôn bị giới hạn trong những ranh giới rộng hay hẹp chúng có thể đo lường được. Thế nên tâm thức sẽ bị cầm giữ trong những biên giới của kiến thức. Tôi tự hỏi có thể nào kiến thức, nó là kinh nghiệm, góp chứa trong vài ngày vừa qua hay qua nhiều thế kỷ, giải thoát được cho con người để nó có thể vận hành toàn bộ, khác hẳn, để nó không luôn luôn sống trong quá khứ, nghĩa là trong kiến thức. Câu hỏi này đã được nhiều người nghiêm túc đặt ra một cách khác, đặc biệt trong thế giới tôn giáo ; những học giả, những pháp sư và những guru đã từng nói chuyện với tôi đều luôn luôn hỏi liệu con người có thể vượt khỏi thời gian không. Hành động nằm trong trường kiến thức thì đo lường được, thế nên trừ phi con người thoát khỏi trường ấy, nếu không nó vẫn luôn luôn là nô lệ. Nó có thể làm mọi loại thứ ở trong trường ấy, nhưng nó vẫn luôn luôn ở trong những giới hạn thời gian, đo lường và kiến thức.

Xin hãy đặt câu hỏi này cho chính bạn. Con người phải luôn luôn bị ràng buộc vào quá khứ chăng ? Nếu nó là vậy, thì nó không bao giờ có thể tự do ; nó sẽ luôn luôn bị điều kiện hóa. Nó có thể phóng chiếu một ý tưởng về giải thoát, về thiên đường, và trốn thoát khỏi sự kiện thật bằng cách phóng chiếu một đức tin, một quan niệm, hay trốn thoát vào một ảo tưởng – nhưng đấy vẫn là một ảo tưởng.

Thế nên tôi muốn tìm ra liệu con người có thể thoát khỏi thời gian nhưng vẫn vận hành trong thế giới này. Rõ ràng là có thời gian tuần tự – hôm nay, ngày mai, năm tới và vân vân. Nếu không có thời gian tuần tự theo đồng hồ ấy tôi sẽ trễ tàu, thế nên tôi hiểu rằng phải có thời gian để vận hành, nhưng thời gian ấy luôn luôn đo được. Hành động của thời gian, nó là kiến thức, thì tuyệt đối cần thiết. Nhưng nếu đó là cách duy nhất trong đó tôi có thể sống và vận hành thì tôi hoàn toàn bị trói buộc, tôi là một nô lệ. Tâm thức tôi quan sát, nhìn, đòi hỏi và muốn tìm ra nó có thể nào giải thoát nó khỏi những trói buộc của thời gian. Tâm thức nổi loạn chống lại ý tưởng cứ làm một nô lệ cho thời gian ; bị bắt nhốt trong cái bẫy này, nó nổi loạn chống lại ý tưởng phải sống trong một văn hóa đặt nền trên tư tưởng, thời gian và kiến thức.

Bây giờ tâm thức muốn tìm ra nó có thể vượt khỏi thời gian hay không. Nó có thể đi vào cái không thể đo l