MỸ
II
Ba
Cuộc Nói Chuyện Ở Thành Phố New York
1
Cuộc cách mạng bên trong
2
Tương quan
3
Kinh nghiệm tôn giáo. Thiền định.
1
CUỘC
CÁCH MẠNG BÊN TRONG
Cần
thiết phải thay đổi. Một tiến trình trong thời gian hay tức
thời ? Ý thức và vô thức ; những giấc mộng. Tiến trình
phân tích. Thấy nội dung của ý thức mà không có sự tách
biệt giữa người quan sát và cái được quan sát. Ồn ào
và kháng cự. “Khi có sự dừng dứt hoàn toàn sự phân chia
giữa người quan sát và cái được quan sát, bấy giờ ‘cái
đang là’
không
còn là cái đang là nữa.“
Những
câu hỏi : Người quan sát và cái được quan sát ; sự phân
mảnh ; kháng cự.
KRISHNAMURTI
: Chúng ta sắp cùng nhau khảo sát vấn đề cái gì được
che dấu trong ý thức, trong những tầng lớp sâu hơn của tâm
thức – nó thường được gọi là vô thức. Chúng ta quan
tâm đến việc làm cho xảy ra một cuộc cách mạng tận gốc
rễ bên trong chính chúng ta và như vậy là trong xã hội. Sự
cách mạng vật chất được cổ vũ trên khắp thế giới vào
lúc này đã không đem lại một thay đổi nền tảng nơi con
người.
Trong
một xã hội bại hoại, như ở đây, ở châu Âu, Ấn Độ
và các nơi khác, phải có những thay đổi nền tảng trong
tận cơ cấu của xã hội. Và nếu con người vẫn bại hoại
trong bản thân nó, trong hoạt động của nó, nó sẽ làm thất
bại bất cứ cơ cấu nào, dù hoàn hảo ra sao ; thế nên cấp
bách, tuyệt đối thiết yếu là nó phải thay đổi.
Có
phải sự thay đổi này xảy ra qua tiến trình thời gian, qua
thành tựu dần dà, qua sự thay đổi theo từng thứ bậc ?
Hay sự thay đổi xảy ra chỉ trong khoảnh khắc ? Đó là điều
chúng ta sắp cùng nhau khảo sát.
Người
ta thấy rằng cần phải có thay đổi trong chính mình – người
ta càng nhạy cảm, càng cảnh giác và thông minh, người ta
càng ý thức rằng phải có một sự thay đổi sâu xa, vĩnh
viễn và sống thực. Nội dung của ý thức chính là ý thức
– cả hai không tách biệt. Cái gì được gieo trồng trong
ý thức tạo thành ý thức. Và làm xảy ra một thay đổi trong
ý thức – cả trong chỗ rõ ràng và trong chỗ sâu kín –
có dựa vào phân tích, vào thời gian, vào áp lực của môi
trường ? Hay là sự thay đổi xảy ra hoàn toàn độc lập
với bất kỳ áp lực nào, bất kỳ cưỡng bách nào ?
Các
bạn biết đấy, câu hỏi này khó thâm nhập, bởi vì nó khá
phức tạp và tôi hy vọng chúng ta sẽ có thể chia xẻ với
nhau điều gì được nói ra ở đây. Trừ phi đi vào chủ đề
này một cách rất thành khẩn, thực sự thấu hiểu rắc rối,
với sự quan tâm sâu xa, với sự đam mê, e rằng người ta
sẽ không thể đi rất xa ; xa không phải theo nghĩa trong thời
gian hay không gian, mà rất sâu xa trong chính mình. Người ta
cần một đam mê lớn lao, năng lượng lớn lao và đa số chúng
ta hao phí năng lượng trong xung đột. Và khi chúng ta khảo
sát toàn bộ công việc của cuộc sống, chúng ta cần năng
lượng. Năng lượng có mặt với khả năng thay đổi ; nếu
không có khả năng thay đổi, bấy giờ năng lượng hao tán
mất.
Chúng
ta nghĩ chúng ta không thể thay đổi. Chúng ta chấp nhận những
sự việc như chúng vẫn vậy và do đó khá chán nản, thất
vọng, bất định và mê rối. Có thể thay đổi một cách
căn bản và đó là điều chúng ta khảo sát. Nếu bạn muốn
– không phải theo dõi từng chữ diễn giả đang nói, mà dùng
những lời của ông ta như một tấm gương để quan sát chính
bạn và dò hỏi với đam mê, với quan tâm, với sức sống
và một năng lượng lớn. Bấy giờ có lẽ chúng ta có thể
đến một điểm rõ ràng rằng không có bất kỳ nỗ lực
nào, không có bất kỳ loại động lực nào, sự thay đổi
căn bản cứ xảy ra.
Không
chỉ có kiến thức bề mặt của chúng ta, mà cũng có nội
dung sâu xa, dấu kín của ý thức chúng ta. Làm sao người ta
khảo sát nó, làm thế nào người ta trưng bày toàn bộ nội
dung của nó ? Nó có được làm từng mảnh một, tiệm tiến
dần dần ? – hay nó được phơi bày toàn bộ và thấu hiểu
tức thời, và nhờ vậy toàn bộ quá trình phân tích đến
chỗ chấm dứt ?
Bây
giờ chúng ta đi vào vấn đề phân tích này. Với diễn giả,
phân tích là phủ nhận hành động ; hành động luôn luôn
là trong hiện tại sống động. Hành động không có nghĩa
là “đã làm” hay “sẽ làm”, mà đang làm. Phân tích ngăn
cản hành động trong hiện tại, bởi vì trong phân tích có
đưa vào thời gian, một sự bóc vỏ dần dần, từng lớp
từng lớp. Và nếu sự phân tích không hoàn hảo, trọn vẹn,
chân thật, bấy giờ sự phân tích ấy không trọn vẹn, phải
để sót lại một kiến thức không toàn bộ. Và sự phân
tích tiếp theo nảy sinh từ cái không trọn vẹn đó.
Nào,
tôi khảo sát chính mình, phân tích chính mình và nếu sự
phân tích của tôi không trọn vẹn, bấy giờ cái tôi đã
phân tích trở thành kiến thức để chúng ta tiến hành phân
tích lớp kế tiếp. Thế nên trong tiến trình ấy mỗi phân
tích trở nên không trọn vẹn và dẫn đến xung đột tiếp
tục, và như vậy đến không hành động. Và trong phân tích
có người phân tích và cái được phân tích, dù cho người
phân tích là người chuyên nghiệp, hay như các bạn, người
thường ; vẫn có sự nhị nguyên này, người phân tích phân
tích điều gì nó nghĩ là khác với chính nó. Nhưng người
phân tích, nó là ai ? Nó là quá khứ, nó là kiến thức được
tích tập về mọi thứ nó đã phân tích. Và với kiến thức
ấy – nó là quá khứ – nó phân tích hiện tại.
Thế
nên trong tiến trình này có xung đột, có sự chiến đấu
để tuân thủ, hay để cưỡng bách cái nó phân tích. Cũng
có toàn bộ cái tiến trình giấc mộng này. Tôi không biết
bạn có tự mình đi vào tất cả cái này, hay bạn đọc những
cuốn sách của người khác, việc này rất đáng tiếc ; bởi
vì bấy giờ bạn chỉ lập lại điều người khác đã nói,
dù họ có nổi danh thế nào. Nhưng nếu bạn không đọc mọi
cuốn sách ấy – như diễn giả đã không đọc – bấy giờ
bạn phải tự mình tìm tòi, lúc ấy nó trở nên hấp dẫn
hơn nhiều, nguyên thủy hơn nhiều, trực tiếp và chân thật
hơn nhiều.
Trong
tiến trình phân tích có cái thế giới những giấc mộng này.
Chúng ta chấp nhận những giấc mộng như là tất yếu, bởi
vì những nhà chuyên môn nói, “Các bạn phải mộng, nếu
không các bạn sẽ điên”, và có một ít chân lý nào trong
đó. Chúng ta đang dò hỏi tất cả điều này bởi vì chúng
ta đang cố gắng tìm ra có thể thay đổi một cách tận gốc
hay không, khi có khá nhiều mê lầm, khá nhiều khốn khổ,
nhiều hận thù và tàn bạo trong thế giới ; không có lòng
bi. Người ta phải dò hỏi vào tất cả điều này, nếu người
ta nghiêm túc. Chúng ta đang dò hỏi không chỉ vì tiêu khiển
trí thức mà cố gắng thực sự tìm ra có thể thay đổi chăng.
Và khi chúng ta thấy sự có thể thay đổi, dù chúng ta là
ai, dù nông cạn, dù bề ngoài, lập lại, bắt chước, nếu
chúng ta thấy có khả năng thay đổi tận gốc, bấy giờ chúng
ta có năng lượng để làm việc đó. Nếu chúng ta nói không
thể đâu, thì năng lượng ấy tiêu tán.
Thế
nên chúng ta tìm hiểu vấn đề này, phân tích có phát sanh
một thay đổi căn bản nào không hay nó chỉ là một trò tiêu
khiển trí thức, một tránh né hành động. Như chúng ta nói,
phân tích là đi vào thế giới của những giấc mộng. Những
giấc mộng là gì, chúng có như thế nào ? Tôi không biết
các bạn có bao giờ đi vào thế giới này chưa ; nếu bạn
có, bạn sẽ thấy rằng những giấc mộng là sự tiếp tục
của đời sống ban ngày của chúng ta. Điều bạn làm ban ngày,
tất cả sự phiền lụy, sự hư hỏng, sự thù hận, những
lạc thú thoáng qua, tham vọng, tội lỗi và vân vân, mọi cái
đó tiếp tục trong thế giới mộng, chỉ bằng những biểu
tượng, những bức tranh, những hình ảnh. Những bức tranh
và hình ảnh này cần phải được giải thích và tạo thành
mọi thứ nhặng xị và không thực.
Người
ta không bao giờ hỏi tại sao người ta lại mộng. Người
ta chấp nhận những giấc mộng là thiết yếu, là phần của
đời sống. Bây giờ chúng ta đang tự hỏi tại sao chúng ta
đều nằm mộng. Có thể nào khi đi ngủ các bạn có một
tâm thức hoàn toàn bình lặng không ? Bởi vì chỉ trong trạng
thái bình lặng ấy mà tâm thức tự làm mới lại, tự làm
trống không mọi nội dung của nó, để nó được làm cho
tươi mới, trẻ trung, rạch ròi, không mê lầm.
Nếu
những giấc mộng là sự tiếp tục của đời sống ban ngày,
của sự ồn ào, lo âu, ham muốn an toàn, bám luyến mỗi ngày,
thì không tránh khỏi những giấc mộng trong hình thức biểu
tượng của chúng phải xảy ra. Điều đó rõ ràng chứ ? Thế
nên người ta hỏi, “Tại sao người ta cần nằm mộng ?”
Những tế bào trí óc có thể được bình lặng, không tiếp
tục mọi công việc ban ngày ?
Người
ta phải tìm ra điều đó bằng kinh nghiệm, không chấp nhận
điều diễn giả nói – và chớ bao giờ làm điều đó vì
thiện ý, vì chúng ta đang cùng nhau chia xẻ, cùng nhau tìm tòi.
Bạn có thể xét thấy điều đó bằng cách trọn vẹn tỉnh
thức suốt ngày, quan sát những tư tưởng của bạn, những
động cơ, lời nói, cách bạn đi và nói. Khi bạn tỉnh thức
như vậy, có sự gợi báo của vô thức, của những tầng
lớp sâu hơn, bởi vì bấy giờ bạn đang phơi bày, mời mọc
những động cơ, những lo lắng ẩn kín, nội dung của vô
thức mở bày ra. Thế nên khi bạn đi ngủ, bạn sẽ thấy
rằng tâm thức bạn, kể cả bộ óc, thì bình lặng tuyệt
vời. Nó thực sự yên nghỉ, bởi vì bạn đã chấm dứt điều
bạn đã làm trong ngày.
Nếu
bạn kiểm kê những gì xảy ra trong ngày khi nằm xuống giường
– bạn không làm như vậy sao ? – nói rằng, “Tôi cần làm
điều này, tôi không nên làm điều kia”, “Làm cách kia thì
tốt hơn, tôi không muốn nói điều này”, khi bạn kiểm kê
những sự việc trong ngày như vậy, lúc ấy bạn cố gắng
đem lại trật tự trước khi ngủ. Và nếu bạn không tạo
ra được trật tự trước khi ngủ, trí óc cố gắng làm điều
đó khi bạn đang ngủ. Bởi vì trí óc chỉ vận hành hoàn
hảo trong trật tự, không phải trong vô trật tự. Nó vận
hành hiệu quả nhất khi có trật tự trọn vẹn, dù trật
tự đó thì loạn thần hay có lý trí ; bởi vì trong sự loạn
thần, trong mất quân bình vẫn có trật tự, và trí óc chấp
nhận trật tự ấy.
Thế
nên, nếu bạn kiểm kê mọi sự đang xảy ra ban ngày trước
khi đi ngủ, lúc đó bạn cố gắng đem lại trật tự, và
bởi thế trí óc không phải đem lại trật tự khi bạn đang
ngủ : bạn đã làm nó trong ngày rồi. Bạn có thể đem lại
trật tự mỗi phút giây trong ngày, bạn tỉnh thức mọi sự
đang xảy ra, bên ngoài và bên trong. Bên ngoài là tỉnh thức
sự không trật tự nơi bạn, sự hung dữ, sự thản nhiên,
sự nhẫn tâm, sự dơ bẩn, những cãi lộn, những nhà chính
trị và thủ đoạn của họ – tất cả cái gì xảy ra. Và
tương quan với chồng bạn, vợ bạn, con cái bạn và bạn
bè của chúng, tỉnh thức với tất cả suốt ngày, không sửa
chữa nó, chỉ tỉnh biết nó. Giây phút bạn cố gắng sửa
chữa nó, bạn đem lại sự không trật tự. Nhưng nếu bạn
chỉ thực sự quan sát cái đang hiện tiền, thì bấy giờ,
cái đang hiện tiền là trật tự.
Chỉ
khi nào bạn cố gắng thay đổi “cái hiện tiền” (cái đang
là) bèn có sự không trật tự ; bởi vì bạn muốn thay đổi
theo kiến thức bạn đã thu lượm được. Kiến thức ấy
là quá khứ và bạn đang cố gắng thay đổi “cái đang là”
– nó không phải là quá khứ – theo cái bạn đã học được.
Bởi thế có một mâu thuẫn, bởi thế có một méo mó, bởi
thế có vô trật tự.
Thế
nên suốt ngày, nếu bạn tỉnh thức về những đường lối
của những tư tưởng của bạn, những động cơ bạn, sự
đạo đức giả, sự nói bóng gió – làm một đàng, nói một
nẻo, nghĩ một nẻo – cái mặt nạ bạn đeo lên, những biến
thể của lừa gạt mà người ta có sẵn trong tay, nếu bạn
ý thức tất cả cái đó suốt ngày, bạn không phải kiểm
kê gì khi bạn đi ngủ, bạn đem lại trật tự trong mỗi phút.
Thế thì khi bạn đi ngủ bạn sẽ thấy rằng những tế bào
óc của bạn, vốn đã ghi nhớ và bám giữ quá khứ, sẽ hoàn
toàn trở nên bình lặng, và bấy giờ giấc ngủ của bạn
trở nên cái gì hoàn toàn khác. Khi chúng ta dùng danh từ “tâm”,
chúng ta gồm trong đó cả bộ óc, toàn bộ cơ cấu thần kinh,
những cảm tình, tất cả cấu trúc con người ; chúng ta muốn
nói đến tất cả cái đó, chứ không phải riêng cái gì.
Trong đó bao hàm trí năng, trái tim, toàn bộ cơ cấu thần
kinh. Bấy giờ khi bạn đi ngủ, tiến trình hoàn toàn chấm
dứt, và khi thức dậy bạn thấy sự vật đúng như chúng
là, không phải sự diễn giải của bạn về chúng hay ý muốn
thay đổi chúng.
Thế
nên đối với diễn giả, phân tích ngăn cản hành động.
Và hành động thì tuyệt đối cần thiết để đem lại sự
thay đổi căn bản này. Phân tích như vậy đâu phải là lối
thoát. Xin chớ chấp nhận điều diễn giả nói, mà phải tự
mình quan sát nó, học nó, không phải từ tôi, mà học bằng
cách xem thấy những hàm ý này của phân tích : thời gian,
người phân tích và cái được phân tích – người phân tích
chính là cái được phân tích – và mỗi phân tích phải trọn
vẹn, nếu không nó làm méo mó sự phân tích tiếp theo. Do
đó thấy rằng toàn thể tiến trình phân tích, dù là phân
tích nội quan hay trí thức, đều hoàn toàn sai lầm ! Nó không
phải là lối thoát – nó có thể cần thiết cho những người
ít nhiều mất quân bình ; và có lẽ hầu hết chúng ta đều
mất quân bình.
Chúng
ta phải tìm ra một cách thức quan sát toàn bộ nội dung của
ý thức mà không có người phân tích. Thật rất thú vị nếu
bạn đi vào việc này, bởi vì bấy giờ bạn từ bỏ hoàn
toàn mọi sự người ta đã nói. Bởi vì bấy giờ bạn đứng
một mình ; khi bạn tự tìm ra, đó sẽ là đích thực, chân
thật, không nương dựa vào giáo sư nào, phân tích gia nào
hay bất kỳ cái gì đại loại.
Thế
nên người ta phải tìm ra một cách thức quan sát mà không
có phân tích. Tôi đang thâm nhập vào đó – tôi hy vọng các
bạn không bị quấy rầy vì việc làm của tôi, phải không
? Đây không phải là trị liệu tập thể ! (Cười) Đây không
phải là một buổi thú tội công khai, không phải diễn giả
phân tích bạn, hay làm cho các bạn thay đổi và trở thành
những người kỳ diệu ! Bạn phải tự mình làm việc này,
và vì phần đông chúng ta là những người rất bình thường,
rất khó mà loại bỏ hoàn toàn những gì các nhà chuyên nghiệp
hoặc tôn giáo hoặc khoa học đã áp đặt lên các bạn. Chúng
ta phải tự mình tìm ra.
Nếu
phân tích không phải là lối thoát, bấy giờ người ta khảo
sát hay quan sát toàn bộ nội dung của ý thức như thế nào
? Cái gì là nội dung của ý thức ? Xin chớ lập lại điều
gì người khác đã từng nói. Cái gì là toàn bộ nội dung
ý thức của bạn ? Bạn có bao giờ nhìn vào nó, xem xét nó
? Nếu bạn có, nó có phải là những sự kiện khác nhau được
ghi lại, đáng ưa hay không ưa, những niềm tin, truyền thống
khác nhau, những ghi nhớ và những kỷ niệm khác nhau, những
trí nhớ giống nòi và gia đình, văn hóa trong đó người ta
đã được nuôi đưỡng – tất cả đó là nội dung, có phải
thế không ? Và những sự kiện xảy ra hàng ngày, những kỷ
niệm, những khổ đau đủ loại, sự bất hạnh, những xúc
phạm, tất cả đều được ghi giữ. Và nội dung ấy là ý
thức của bạn – bạn, như là một người Công giáo, hay
Tin lành, sống trong thế giới phương Tây này với sự tìm
kiếm nhiều hơn, nhiều hơn và nhiều hơn nữa, thế giới
của lạc thú lớn lao, giải trí, thịnh vượng, ồn ào không
ngừng của truyền hình, sự tàn bạo – tất cả cái đó
là bạn, đó là nội dung của bạn.
Làm
sao phơi bày mọi cái đó ra ? – và trong sự phơi bày nó,
mỗi sự kiện, mỗi biến cố, mỗi truyền thống, mỗi vết
thương, mỗi đau đớn được khảo sát từng cái một chăng
? Hay nó được nhìn một cách toàn thể ? Nếu nó được khảo
sát từng phần nhỏ, từng cái một, bạn sẽ đi vào trong
thế giới của phân tích – và trả nhiều tiền cho những
người phân tích hộ, nếu đó là lạc thú của bạn.
Bây
giờ chúng ta đang tìm ra làm thế nào nhìn vào những mảnh
mún khác nhau này, chúng là nội dung của ý thức, một cách
toàn bộ – không phân tích gì cả. Chúng ta đang tìm ra làm
thế nào quan sát mà không có sự phân tích nào. Thế nghĩa
là, chúng ta nhìn mọi sự – cái cây, đám mây, người vợ
và người chồng, con trai và con gái – với tư cách người
quan sát và cái được quan sát. Xin hãy chú ý một chút vào
sự kiện này. Bạn đã quan sát sự giận dữ của bạn, sự
tham lam hay ghen ghét của bạn, bất cứ cái gì, với tư cách
là người quan sát nhìn sự tham lam. Người quan sát là tham
lam, nhưng bạn đã tách lìa người quan sát bởi vì tâm thức
bạn bị tiến trình phân tích quy định ; bởi thế bạn luôn
luôn nhìn cái cây, đám mây, mọi sự trong đời sống như
là một người quan sát và vật được quan sát. Bạn có nhận
ra điều đó chứ ? Bạn nhìn vợ bạn qua hình ảnh bạn có
về cô ta ; hình ảnh ấy là người quan sát, nó là quá khứ,
hình ảnh ấy đã được xây dựng qua thời gian. Và người
quan sát là thời gian, là quá khứ, là kiến thức được tích
tập của những sự kiện, biến cố, kinh nghiệm… khác nhau.
Người quan sát này là quá khứ, và nó nhìn sự vật được
quan sát như thể nó không phải là cái kia mà tách biệt với
cái kia.
Bây
giờ bạn có thể nhìn mà không có người quan sát ? Bạn có
thể nhìn cái cây mà không có quá khứ như người quan sát
? Nghĩa là, khi có người quan sát, bèn có không gian giữa người
quan sát và cái được quan sát – cái cây. Không gian ấy là
thời gian, bởi vì có một khoảng cách. Thời gian này là tính
chất của người quan sát, hắn chính là quá khứ, hắn là
kiến thức được tích tập, hắn nói, “Đây là cái cây”,
hay “Đây là hình ảnh của vợ tôi”.
Bạn
có thể nhìn, không chỉ cái cây nhưng cả vợ bạn, chồng
bạn, mà không có hình ảnh ? Bạn biết đấy, điều này đòi
hỏi kỷ luật ghê gớm. Tôi đang chỉ cho bạn điều gì đó
: kỷ luật thường hàm ý tuân theo, thường xuyên rèn luyện,
bắt chước, xung đột giữa cái đang là và cái nên là. Và
thế nên trong kỷ luật có xung đột : đè nén, chiến thắng,
sự tập luyện ý chí v.v… – mọi thứ bao hàm trong từ này.
Nhưng từ ngữ đó có nghĩa là học – không tuân thủ, không
đè nén mà là học. Và tính chất của tâm thức học thì
có trật tự riêng của nó, cái này là kỷ luật. Chúng ta
đang học quan sát thế nào mà không có người quan sát, không
có quá khứ, không có hình ảnh. Khi bạn quan sát như vậy,
“cái đang là” hiện thực, là một vật sống, không phải
là một vật gì được thấy như là chết, được nhận biết
bởi biến cố quá khứ, bởi kiến thức quá khứ.
Nào,
thưa các bạn, chúng ta hãy làm cho đơn giản hơn. Bạn nói
điều gì làm tổn thương tôi, và sự đau đớn của thương
tổn đó được ghi lại. Trí nhớ về việc đó cứ tiếp
tục và khi có đau đớn nữa, nó lại ghi nhớ tiếp. Thế
nên sự tổn thương càng nặng thêm từ thời thơ ấu. Trong
khi đó nếu tôi quan sát trọn vẹn, khi bạn nói điều gì
đau đớn cho tôi, lúc ấy nó không được ghi lại như một
tổn thương. Còn lúc bạn ghi lại nó như một tổn thương,
sự ghi này lại tiếp tục và hết cả cuộc đời còn lại
của mình bạn bị tổn thương, bởi vì bạn tiếp tục thêm
vào sự tổn thương đó. Trong khi đó, quan sát sự đau đớn
một cách trọn vẹn mà không ghi lại nó, tức là chú ý toàn
bộ vào giây phút đau đớn. Các bạn có làm như vậy không
?
Nào,
khi bạn đi ra ngoài, khi bạn đi bộ trong những con đường
này, có đủ loại tiếng ồn, đủ loại tiếng kêu, lời nói
thô tục, hung bạo, sự ồn ào này rót vào. Nó rất hủy hoại
– càng nhạy cảm bạn càng thấy nó hủy hoại, nó làm tổn
thương cơ cấu của bạn. Bạn chống cự lại sự tổn thương
này và do đó bạn xây dựng một bức tường. Và khi bạn
xây lên một bức tường thì bạn tự cô lập chính mình.
Thế nên bạn làm mạnh thêm sự cô lập, do đó bạn sẽ bị
thương tổn thêm. Trong khi nếu bạn quan sát sự ồn ào đó,
chú ý vào sự ồn ào đó, bấy giờ bạn sẽ thấy rằng cơ
cấu bạn không hề bị tổn thương.
Nếu
bạn hiểu nguyên lý căn bản này, bạn sẽ hiểu cái gì rộng
lớn bao la : nơi nào có một người quan sát tự tách lìa với
sự vật nó quan sát, nơi đó phải có xung đột. Hãy làm điều
bạn muốn, nhưng chừng nào có một phân chia giữa người
quan sát và cái được quan sát, bấy giờ phải có xung đột.
Chừng nào có sự phân chia giữa người Hồi giáo và Ấn giáo,
giữa người Công giáo và người Tin lành, giữa người da
Trắng và Đen, bấy giờ có xung đột ; bạn có thể khoan dung
lẫn nhau, nhưng đó chỉ là một che đậy trí thức sự không
khoan dung bên trong.
Bao
giờ có sự phân chia giữa bạn và vợ bạn, bấy giờ phải
có xung đột. Sự phân chia này hiện hữu một cách nền tảng,
căn bản, chừng nào có người quan sát tách lìa với cái được
quan sát. Chừng nào tôi còn nói, “Tức giận khác với tôi,
tôi phải kiểm soát tức giận, tôi phải thay đổi, tôi phải
kiểm soát những tư tưởng của tôi”, trong đó có sự phân
chia, bởi thế có xung đột. Xung đột bao hàm đè nén, tuân
thủ, bắt chước và mọi cái gồm trong đó. Nếu bạn thực
sự thấy cái đẹp của sự thật này, người quan sát là
cái được quan sát, hai cái không tách lìa, bấy giờ bạn
có thể quan sát toàn thể ý thức mà không có phân tích. Bấy
giờ bạn thấy toàn bộ nội dung ý thức một cách tức thời.
Người
quan sát là người tư tưởng. Chúng ta đã gán cho người tư
tưởng một sự quan trọng kinh khủng, phải thế không ? Chúng
ta sống bằng tư tưởng, chúng ta làm việc này việc nọ bằng
tư tưởng, hành động của chúng ta được phát động bằng
tư tưởng. Và tư tưởng được tôn thờ khắp thế giới
như là cái quan trọng phi thường nhất, nó là phần của trí
năng.
Và
tư tưởng đã tự tách lìa như là người tư tưởng. Người
tư tưởng nói, “Những tư tưởng này không tốt”, “Những
tư tưởng này tốt hơn”, nó nói, “Lý tưởng này tốt hơn
lý tưởng kia”, “Đức tin này tốt hơn đức tin kia”. Đó
đều là sản phẩm của tư tưởng – tư tưởng tự làm tách
biệt, tự chia ra thành người tư tưởng, người kinh nghiệm.
Tư tưởng đã tự tách biệt làm cái tự ngã cao hơn và tự
ngã thấp hơn – ở Ấn Độ nó được gọi là atman, tự
ngã cao hơn. Ở đây bạn gọi nó là linh hồn, hay cái gì đại
loại. Nhưng đó vẫn là sự thao diễn của tư tưởng. Điều
đó rõ ràng, phải thế không ? Tôi muốn nói điều đó là
hợp lý, không phải là phi lý.
Bây
giờ tôi chỉ cho các bạn sự phi lý của nó. Tất cả mọi
cuốn sách của chúng ta, tất cả văn học của chúng ta, mọi
cái là tư tưởng. Và tương quan của chúng ta được đặt
nền trên tư tưởng – hãy nghĩ đến điều này ! Vợ tôi
là hình ảnh tôi đã tạo ra bằng cách tư tưởng. Việc tư
tưởng này đã được lắp ghép bởi sự lầm bầm dai dẳng,
bởi mọi thứ tiếp diễn giữa chồng và vợ – lạc thú,
tình dục, những tức giận, những loại bỏ, mọi bản năng
tách biệt. Tư tưởng của chúng ta là kết quả của mối
tương quan của chúng ta. Bây giờ tư tưởng là gì ? Bạn được
hỏi, “Tư tưởng là gì ?” Xin chớ lập lại của ai khác
– hãy tự bạn tìm ra. Chắc chắn tư tưởng là phản ứng
của trí nhớ, phải không ? – trí nhớ như là kiến thức,
trí nhớ như là kinh nghiệm được tích tập, gom chứa trong
các tế bào óc. Thế nên những tế bào óc chính là những
tế bào của trí nhớ. Nhưng nếu không nghĩ gì cả, bạn ở
trong trạng thái mất trí nhớ, bạn không thể về nhà.
Tư
tưởng là phản ứng của trí nhớ được tích tập thành
kiến thức, kinh nghiệm. Thế thì tư tưởng là phản ứng
trả lời của quá khứ, nó có thể phóng chiếu chính nó vào
tương lai, đi xuyên qua hiện tại, biến đổi nó như là tương
lai. Nhưng nó vẫn là quá khứ. Thế nên tư tưởng không bao
giờ tự do – làm sao nó có thể tự do ? Nó có thể tưởng
tượng tự do là cái gì, nó có thể lý tưởng hóa tự do
là cái gì đó, tạo ra một điều không tưởng về tự do.
Nhưng tư tưởng tự thân nó và trong chính nó, là thuộc về
quá khứ và bởi thế nó không tự do, nó luôn luôn cũ. Đây
không phải là việc bạn đồng ý với diễn giả, đây là
một sự kiện. Tư tưởng tổ chức cuộc sống chúng ta, nó
đặt nền trên quá khứ. Tư tưởng ấy dựa trên quá khứ,
phóng chiếu ra cái ngày mai và thế là có xung đột.
Từ
đó khởi lên một vấn đề, đó là với phần đông chúng
ta, tư tưởng được gán cho một lượng lớn lạc thú. Lạc
thú là một nguyên lý dẫn đường trong đời sống chúng ta.
Chúng ta không nói rằng nó sai hay đúng, chúng ta khảo sát
nó. Lạc thú là cái chúng ta thích nhất. Ở đây trong thế
giới này và trong thế giới tâm linh, trong thiên đường nếu
bạn có một thiên đường – chúng ta muốn lạc thú trong
mọi hình thức. Và lạc thú của bất kỳ biến cố nào, được
ghi lại và nghĩ lại. Thế thì tư tưởng như là lạc thú
giữ phần lớn lao trong đời sống chúng ta. Cái gì xảy ra
hôm qua là một việc đáng yêu, một biến cố rất vui vẻ,
thì được ghi lại ; tư tưởng tìm đến nó, nghiền ngẫm
nó, suy nghĩ mãi về nó và muốn nó lập lại vào ngày mai.
Thế nên tư tưởng đem lại sức sống cho một biến cố đã
chấm dứt rồi.
Tiến
trình đích thực của ghi lại là kiến thức, nó là quá khứ,
và tư tưởng là quá khứ. Thế nên, tư tưởng, như là lạc
thú, được giữ gìn. Nếu bạn đã nhận ra, lạc thú luôn
luôn là ở trong quá khứ ; hay lạc thú được tưởng tượng
của ngày mai thì vẫn là sự nhớ lại từ quá khứ được
phóng chiếu vào tương lai.
Bạn
cũng có thể quan sát rằng nơi nào có lạc thú và sự theo
đuổi lạc thú, nơi đó cũng có sự nuôi dưỡng sợ hãi.
Bạn có nhận ra điều đó không ? Sợ hãi điều tôi đã làm
hôm qua, sợ hãi sự đau đớn tôi đã có tuần trước ; suy
nghĩ về nó làm duy trì sự sợ hãi. Không có sự chấm dứt
cho nỗi đau ấy khi nó đã chấm dứt. Nó đã chấm dứt, nhưng
tôi cứ tiếp tục mang nó bằng cách suy nghĩ về nó.
Thế
nên tư tưởng duy trì và nuôi dưỡng cho lạc thú cũng như
cho sợ hãi. Tư tưởng chịu trách nhiệm về việc này. Có
sợ hãi về hiện tại, về tương lai, sợ hãi về cái chết,
về cái không biết, sợ hãi không hoàn thành, sợ không được
thương yêu – có quá nhiều sợ hãi, tất cả đều được
tạo ra bởi bộ máy của tư tưởng. Thế nên có sự hợp
lý của tư tưởng và sự vô lý của tư tưởng.
Phải
có sự tập dợt của tư tưởng trong khi làm việc. Về phương
diện kỹ thuật, ở sở làm, khi bạn nấu nướng, khi bạn
rửa chén – kiến thức phải vận hành hoàn hảo. Có sự
hợp lý, lô gic của tư tưởng trong hành động, trong việc
làm. Nhưng cũng có tư tưởng hoàn toàn vô lý khi nó duy trì
lạc thú hay sợ hãi. Nhưng tư tưởng nói, “Tôi không thể
để cho lạc thú qua mất” ; nhưng tư tưởng cũng biết, nếu
nó hoàn toàn nhạy cảm hay tỉnh thức, rằng có khổ đau đến
cùng với lạc thú.
Thế
nên hãy tỉnh giác toàn bộ cơ chế máy móc của tư tưởng,
chuyển động vi tế và rắc rối của tư tưởng ! Điều này
quả thật không hoàn toàn khó khăn khi bạn nói, “Tôi phải
tìm ra cách sống hoàn toàn khác, một lối sống không có xung
đột.” Nếu đó là đòi hỏi đích thực, kiên quyết và
đam mê của bạn – như khi bạn đòi hỏi lạc thú – để
sống một đời sống cả bên ngoài lẫn bên trong đều không
có xung đột nào cả – bấy giờ bạn sẽ thấy sự có thể
của nó. Bởi vì, như chúng ta đã giải thích, xung đột chỉ
hiện hữu khi có sự phân chia giữa “tôi” và ”không phải
tôi”. Thế thì nếu bạn thấy rằng, không phải bằng lời
nói hay bằng trí thức – bởi vì đó không phải là trực
tiếp thấy – mà khi bạn thực sự chứng nghiệm rằng không
có sự phân chia giữa người quan sát và cái được quan sát,
giữa người tư tưởng và tư tưởng, bấy giờ bạn thấy,
bấy giờ bạn quan sát thực sự “cái đang là, cái hiện
tiền”. Và khi bạn thực sự thấy ”cái đang là”, bạn
đã vượt khỏi nó. Bạn không ở lại với ”cái đang là”.
Bạn hiểu chứ ? Thế nên khi có sự chấm dứt phân chia giữa
người quan sát và cái được quan sát, bấy giờ “cái đang
là” không còn là cái đang là nữa. Tâm thức đã vượt khỏi
nó.
Người
hỏi : Làm sao tôi có thể thay đổi sự đồng hóa của người
quan sát với cái được quan sát ? Tôi chỉ có thể đồng
ý với ngài và nói, “Đúng, điều đó đúng”, nhưng chẳng
có thể làm gì được cả.
KRISHNAMURTI
: Hoàn toàn đúng. Thưa ông, không có sự đồng hóa nào cả.
Khi ông tự đồng hóa với cái được quan sát, đó vẫn còn
là khuôn khổ của tư tưởng, phải không ?
Người
hỏi : Chính xác, nhưng làm sao tôi ra khỏi nó ?
KRISHNAMURTI
: Ông không ra khỏi nó, tôi sẽ chỉ cho ông. Ông có thấy
chân lý người quan sát là cái được quan sát không ? – sự
kiện đó, lô gic đó. Ông có thấy nó không ? Hay không thấy
?
Người
hỏi : Nó vẫn chỉ là một bình giải sanh ra ; chân lý không
hiệu hữu.
KRISHNAMURTI
: Sự kiện không hiện hữu ?
Người
hỏi : Không, một bình giải được chấp nhận sanh ra.
KRISHNAMURTI
: Nhưng ông thấy sự kiện đó chứ ? Đừng chấp nhận hay
không chấp nhận, đây là một sự việc rất nghiêm túc ;
tôi muốn nói về thiền định, nhưng không phải bây giờ,
và thiền định bao gồm trong này. Thưa ông, hãy thấy sự
quan trọng của điều này. Chân lý là “tôi là tức giận”
– không phải ”tôi” là khác với tức giận. Khi tôi ghen
tỵ, tôi là ghen tỵ ; không phải “tôi” khác với ghen tỵ.
Tôi làm cho tôi khác với ghen tỵ bởi vì tôi muốn làm cái
gì về nó, duy trì nó hay thoát khỏi nó hay hợp lý hóa nó,
bất kể là cái gì. Nhưng sự kiện là, cái “tôi” là ghen
tỵ, phải không ?
Bây
giờ tôi hành động thế nào khi tôi là ghen tỵ, khi cái “tôi”
là ghen tỵ. Trước kia tôi nghĩ “tôi” có thể hành động
khi tôi tự tách mình khỏi ghen tỵ, tôi nghĩ tôi có thể làm
cái gì đó về nó, đè nén nó, hợp lý hóa nó, hay chạy khỏi
nó – làm nhiều việc khác nhau. Tôi nghĩ tôi làm điều gì.
Ở đây, tôi cảm thấy tôi không làm gì cả. Nghĩa là, khi
tôi nói, “Tôi là ghen tỵ”, tôi cảm thấy tôi không thể
chuyển động gì được. Có đúng không, thưa ông ?
Hãy
nhìn vào hai cách hoạt động khác nhau, hành động xảy ra
khi bạn khác với ghen tỵ, nó là sự không chấm dứt của
ghen tỵ. Bạn có thể chạy trốn nó, bạn có thể đè nén
nó, bạn có thể thăng hoa nó, bạn có thể trốn tránh, nhưng
nó sẽ trở lại, nó sẽ luôn luôn ở đó, bởi vì có sự
phân chia giữa bạn và ghen tỵ. Bây giờ có một loại hành
động hoàn toàn khác khi không có phân chia, bởi vì trong đó
người quan sát là cái được quan sát, anh ta không thể làm
gì với nó. Trước đó, anh ta có thể làm điều gì về nó,
bây giờ anh cảm thấy anh bất lực, anh bị thất bại, anh
không thể làm gì cả. Nếu người quan sát là cái được
quan sát, bấy giờ không nói được, “Tôi có thể hay tôi
không thể làm điều gì về nó” – anh ta là cái anh ta là.
Anh ta là ghen tỵ. Bây giờ, khi anh ta là ghen tỵ, cái gì xảy
ra ? Hãy tiếp tục, thưa bạn !
Người
hỏi : Anh ta hiểu…
KRISHNAMURTI
: Hãy nhìn thẳng vào đó. Khi tôi nghĩ tôi khác với sự ghen
tỵ, bấy giờ tôi cảm thấy tôi có thể làm điều gì về
nó và trong việc làm đó có xung đột. Ở đây ngược lại,
khi tôi thể nghiệm chân lý của sự việc, rằng tôi là ghen
tỵ, rằng “tôi”, người quan sát, là cái được quan sát,
bấy giờ cái gì xảy ra ?
Người
hỏi : Không có xung đột.
KRISHNAMURTI
: Yếu tố xung đột chấm dứt. Ở kia xung đột hiện hữu,
ở đây xung đột không hiện hữu. Thế thì xung đột là ghen
tỵ. Bạn hiểu chứ ? Bèn có hành động trọn vẹn, một hành
động trong đó không có chút nỗ lực nào, bởi thế nó trọn
vẹn, toàn thể, nó sẽ không bao giờ trở lui.
NEW
YORK CITY
18
tháng Tư 1971
2
TƯƠNG
QUAN
Tương
quan. “Bạn là thế giới.“ Cái ngã tách biệt ; bại hoại.
Thấy cái thực sự “đang là”. Cái không phải là tình thương.
“Chúng ta không có đam mê ; chúng ta có tham dục, chúng ta
có lạc thú.“ Hiểu cái chết là gì. Tình thương là sự
vĩnh cửu của chính nó.
KRISHNAMURTI
: Tôi muốn nói về tương quan, về tình thương là gì, về
đời sống con người bao gồm cuộc sống hàng ngày, những
vấn nạn, những xung đột, những lạc thú và những sợ hãi,
và cái phi thường nhất mà người ta gọi là cái chết.
Tôi
nghĩ người ta cần hiểu, không phải như một lý thuyết,
không phải như một quan niệm suy luận, tiêu khiển, mà đúng
ra như một sự kiện thực tế – rằng chúng ta là thế giới
và thế giới là chúng ta. Thế giới là mỗi chúng ta ; cảm
nhận điều đó, thực sự gắn liền với nó và không có
gì khác, đem đến một cảm giác trách nhiệm lớn lao và một
hành động không phải là manh mún, mà toàn thể.
Tôi
nghĩ chúng ta dễ quên rằng xã hội chúng ta, văn hóa trong
đó chúng ta đang sống, là kết quả của nỗ lực, xung đột,
khốn khổ và khổ đau của con người. Mỗi người chúng ta
là văn hóa ấy ; cộng đồng là mỗi một chúng ta – chúng
ta không tách lìa nó. Cảm nhận điều này, không phải là
một ý niệm hay quan niệm trí thức, mà thực sự cảm nhận
thực tại của nó, người ta phải đi vào câu hỏi cái gì
là tương quan ; bởi vì đời sống chúng ta, hiện hữu chúng
ta, đặt nền trên tương quan. Đời sống là một chuyển động
trong tương quan. Nếu chúng ta không hiểu điều gì hàm ý trong
tương quan, chúng ta không tránh khỏi chỉ tự cô lập mình,
mà còn tạo một xã hội trong đó những con người bị phân
chia, không chỉ là về quốc tịch, tôn giáo, mà còn trong chính
họ và do đó họ phóng chiếu cái họ là thành thế giới
bên ngoài.
Tôi
không biết các bạn có tự mình đi vào câu hỏi này sâu xa
không, để tìm ra người ta có thể sống với người khác
trong một hòa hợp toàn diện, trong hòa điệu trọn vẹn, để
không còn hàng rào, phân biệt, mà là một cảm nhận về nhất
thể
trọn vẹn. Bởi vì tương quan là liên hệ với – không phải
trong hành động, trong dự tính nào đó, trong một ý thức
hệ – mà là hợp nhất toàn bộ theo nghĩa sự phân chia, phân
mảnh giữa những cá nhân, giữa hai con người, hoàn toàn không
có dù ở bất kỳ cấp độ nào.
Trừ
phi người ta tìm thấy mối liên hệ này, tôi thấy có vẻ
khi chúng ta cố gắng đem lại trật tự trong thế giới, một
cách lý thuyết hay kỹ thuật, chúng ta bị bó buộc không chỉ
tạo ra sự phân chia sâu xa giữa người với người, mà chúng
ta cũng sẽ không thể ngăn chặn sự hư hỏng, bại hoại.
Bại hoại bắt đầu trong sự mất tương quan ; tôi nghĩ đó
là gốc rễ của bại hoại. Tương quan như chúng ta hiểu bây
giờ là sự tiếp tục của phân chia giữa những cá nhân.
Nghĩa gốc của từ cá nhân là “không thể phân chia”. Một
con người trong bản thân nó không có phân chia, không phân
thành mảnh, thực sự là một cá nhân. Nhưng hầu hết chúng
ta không phải là cá nhân ; vậy mà chúng ta lại nghĩ như vậy,
và bởi thế có sự đối nghịch của cá nhân với cộng đồng.
Người ta cần hiểu không chỉ ý nghĩa của từ cá tính theo
tự điển, mà trong nghĩa sâu xa này, trong đó không có chút
gì là phân thành phần mảnh. Nó có nghĩa là hòa điệu hoàn
hảo giữa tâm trí, trái tim và thân thể. Chỉ bấy giờ một
cá tính mới hiện hữu.
Nếu
chúng ta khảo sát mối tương giao hiện thời của chúng ta
một cách chặt chẽ, dù nó là thân thiết hay cạn cợt, sâu
xa hay thoáng qua, chúng ta thấy nó manh mún, phần mảnh. Vợ
hay chồng, trai hay gái, mỗi người sống trong tham vọng riêng
của mình, trong những theo đuổi cá nhân và ích kỷ, trong
cái tổ kén của mình. Tất cả những cái này góp phần đem
lại một hình ảnh trong bản thân người đó và bởi thế
mối tương quan của nó với người khác phải qua hình ảnh
ấy, thế nên không có tương quan thật sự.
Tôi
không biết các bạn có ý thức cơ cấu và bản chất của
hình ảnh này mà người ta đã tạo dựng quanh chính nó và
trong chính nó hay không. Mỗi người làm điều này vào mọi
lúc, và làm sao có thể có một tương quan với người khác,
nếu mỗi chúng ta theo đuổi thành tựu của cá nhân mình,
thành công của cá nhân mình ?
Tôi
không biết người ta có ý thức chút gì về điều này không.
Chúng ta đã quá bị quy định, bị điều kiện hóa đến độ
chúng ta chấp nhận nó là tiêu chuẩn, chuẩn mực của đời
sống, đến độ mỗi người phải theo đuổi phong cách hay
khuynh hướng của riêng mình, và lại cố gắng thiết lập
một mối tương quan với người khác. Đó có phải là điều
tất cả chúng ta đang làm ? Bất cứ điều gì bạn làm trong
suốt ngày, bạn theo đuổi chuyện đó. Và vợ bạn trong nhà
của cô ta, với những phiền não của riêng cô, với những
phù phiếm của riêng cô, với mọi thứ xảy ra. Đâu là sự
liên hệ giữa hai con người ? Trong giường ư ? Trong tình dục
ư ? Một tương quan quá cạn cợt, quá giới hạn, quá bao bọc
không phải là bại hoại tự chính nó sao ?
Người
ta có thể hỏi : Vậy thì anh phải sống như thế nào, nếu
anh không đến công sở, theo đuổi tham vọng của riêng mình,
tham muốn thành tựu và sở đắc của riêng mình ? Tôi nghĩ
đó là một câu hỏi hoàn toàn sai lầm, có phải không ? Bởi
vì chúng ta quan tâm đến việc đem lại một thay đổi căn
bản trong toàn thể cơ cấu của tâm thức. Sự khủng hoảng
không phải ở trong thế giới bên ngoài, mà chính trong ý thức.
Và cho đến khi nào chúng ta hiểu sự khủng hoảng này, không
phải ở bề mặt, không phải theo triết gia nào đó, mà tự
mình hiểu thực sự sâu xa bằng cách nhìn thẳng vào nó và
khảo sát nó, còn không chúng ta sẽ không thể có một thay
đổi. Chúng ta quan tâm đến một cuộc cách mạng tâm lý và
cuộc cách mạng này chỉ có thể xảy ra khi có loại tương
quan đúng đắn giữa những con người.
Làm
sao một tương quan như vậy xảy ra ? Vấn đề thì rõ ràng,
phải thế không ? Xin hãy chia xẻ vấn đề này với tôi, các
bạn sẵn sàng chứ ? Nó là vấn đề của bạn, không phải
vấn đề của tôi ; nó là cuộc đời của bạn, không phải
cuộc đời của tôi, nó là phiền muộn của bạn, rắc rối,
lo âu, lỗi lầm của bạn. Trận chiến này là đời con người.
Nếu bạn chỉ nghe một diễn tả, bạn sẽ thấy rằng bạn
chỉ bơi trên bề mặt và không giải quyết được vấn đề
gì. Nó thực sự là vấn đề của bạn, và diễn giả chỉ
diễn tả nó – biết rằng sự diễn tả này không phải là
cái được diễn tả. Chúng ta hãy chia xẻ với nhau vấn đề
này : làm sao con người, bạn và tôi, có thể tìm thấy một
tương quan chân chính trong mọi cái ồn ào, thù hận, hủy
hoại, ô nhiễm này, và giữa những điều kinh khủng đang
diễn ra trong thế giới ?
Với
tôi hình như để tìm ra người ta phải khảo sát cái đang
xảy ra, thấy cái thực sự “đang là”. Không phải cái chúng
ta nghĩ nó nên là, hay biến đổi mối tương quan giữa chúng
ta thành một quan niệm tương lai, mà thực sự quan sát cái
bây giờ đang là. Trong khi quan sát sự kiện, sự thật, thật
thể của nó, có khả năng thay đổi nó. Như tôi đã nói hôm
trước, khi có khả năng thì có năng lượng lớn lao. Cái làm
hao tán năng lượng là ý nghĩ rằng không thể thay đổi.
Thế
nên chúng ta phải nhìn vào mối tương quan của chúng ta như
nó thực sự là lúc này, mỗi ngày ; và khi quan sát cái đang
là, chúng ta sẽ khám phá làm sao đem lại một thay đổi trong
thực thể đó. Thế nên chúng ta diễn tả cái thực sự đang
là, nó như vầy : mỗi người sống trong thế giới riêng của
nó, trong thế giới của tham vọng, tham lam, sợ hãi, ham muốn
thành công, mọi thứ như vậy, các bạn biết rồi. Nếu tôi
đã lập gia đình, tôi có những trách nhiệm, con cái, và mọi
thứ của sự việc ấy. Tôi đến chỗ làm, và chúng ta gặp
nhau, chồng và vợ, con trai và con gái, trong giường. Và đó
là cái chúng ta gọi là tình yêu, sống những cuộc đời tách
biệt, cô lập, xây dựng một bức tường kháng cự quanh chúng
ta, theo đuổi một hoạt động vị kỷ ; mỗi người tìm kiếm
an toàn về mặt tâm lý, mỗi người tùy thuộc vào người
khác để có tiện nghi, để có lạc thú, để có đồng bạn
; bởi vì mỗi người quá cô độc sâu thẳm như vậy, mỗi
người đòi hỏi được yêu thương, được chiều chuộng,
mỗi người tìm cách thống trị người khác.
Bạn
có thể thấy điều này cho chính bạn, nếu bạn quan sát chính
bạn. Có loại tương quan nào đâu ? Không có tương quan giữa
hai người, dù họ có những đứa con, một căn nhà, thực
ra họ chẳng liên hệ với nhau. Nếu họ có một dự án chung,
dự án đó giữ họ với nhau, nhưng đó không phải là tương
quan.
Hiểu
tất cả sự việc này, người ta thấy rằng nếu không có
tương quan giữa hai người, bấy giờ bại hoại bắt đầu
– không phải trong cơ cấu bên ngoài của xã hội, trong hiện
tượng nhiễm ô bên ngoài, mà nhiễm ô, hư hỏng, hủy hoại
bên trong bắt đầu, khi con người thực sự không có tương
giao, như các bạn đang không có. Bạn có thể cầm tay người
khác, hôn nhau, ngủ với nhau, nhưng thật ra, khi nhìn cho kỹ,
có chút nào tương giao trong đó ? Liên hệ không có nghĩa là
nương dựa lẫn nhau, không phải trốn tránh khỏi sự cô đơn
của bạn bằng người khác, không phải cố tìm tiện nghi,
bầu bạn bằng người khác. Khi bạn tìm kiếm tiện nghi bằng
người khác, bạn nương dựa, tùy thuộc và mọi thứ đại
loại, làm sao có thể có mối tương giao nào ? Hay bấy giờ
bạn chỉ lợi dụng lẫn nhau ?
Chúng
ta không yếm thế, mà thực sự quan sát cái gì đang hiện
hữu : đó không phải là chủ nghĩa bi quan. Thế nên để tìm
ra liên hệ thực sự với nhau có nghĩa là gì, người ta phải
hiểu vấn đề cô đơn, bởi vì phần đông chúng ta đều
cô đơn kinh khủng ; chúng ta càng lớn lên chúng ta càng trở
nên cô đơn hơn, nhất là trong xứ sở này. Bạn có nhận
thấy những người già, trông họ giống gì ? Bạn có nhận
thấy những trốn thoát của họ, những giải trí của họ
? Họ đã làm việc suốt đời và họ muốn trốn vào một
loại tiêu khiển nào đó.
Thấy
điều đó, chúng ta có thể tìm thấy một cách sống mà không
lợi dụng người khác ? – về tâm lý, về tình cảm, không
nương dựa người khác, không dùng người khác như một phương
tiện để trốn thoát khỏi những khổ sở hành hạ của riêng
mình, khỏi sự tuyệt vọng, khỏi sự cô đơn của mình.
Hiểu
điều này là hiểu cô đơn có nghĩa là gì. Bạn có từng
cô đơn ? Bạn biết nó có nghĩa là gì chứ ? – bạn không
có mối tương quan với người khác, hoàn toàn cô lập. Bạn
có thể ở với gia đình, trong một đám đông, hay trong chỗ
làm việc, bạn ở bất cứ đâu, rồi thình lình cảm thức
trọn vẹn của sự cô đơn cực độ với sự tuyệt vọng
của nó ập lên bạn. Cho đến khi nào bạn giải quyết nó
trọn vẹn, còn không thì tương quan của bạn trở thành một
phương cách trốn thoát và bởi thế nó đưa đến bại hoại,
đến khốn khổ. Người ta hiểu sự cô đơn này, cảm thức
hoàn toàn trơ trọi này thế nào ? Để hiểu nó, người ta
phải nhìn vào đời sống của chính họ. Có phải mọi hành
động của bạn là một hoạt động vị kỷ ? Bạn có thể
đôi khi từ thiện, rộng lượng, làm cái gì đó mà không
có động cơ nào – đấy là những dịp hiếm hoi. Sự thất
vọng này không bao giờ có thể tiêu tan nhờ trốn tránh, mà
bằng quan sát nó.
Thế
nên chúng ta phải trở lại câu hỏi này, đó là : làm sao
quan sát ? Làm sao quan sát chính các bạn mà trong sự quan sát
đó không có xung đột chút nào ? Bởi vì xung đột là bại
hoại, là hao phí năng lượng, nó là sự chiến đấu của
đời sống chúng ta, từ giây phút sanh đến lúc chết. Có
thể nào sống mà không có dù chỉ một khoảnh khắc xung đột
? Để làm điều đó, để tìm ra cho chính mình, người ta
phải học làm thế nào quan sát toàn bộ chuyển động của
chúng ta. Có sự quan sát mà trở nên hòa hợp, nó là chân
thật, khi ấy người quan sát không hiện hữu, mà thuần túy
chỉ có quán sát. Chúng ta đã đi vào đó ngày hôm trước.
Khi
không có tương quan thì có thể thương yêu không ? Chúng ta
nói về nó, và thương yêu, như chúng ta biết, thì liên hệ
với tình dục và lạc thú, phải thế không ? Một số các
bạn nói “Không”. Khi các bạn nói “Không”, bấy giờ
các bạn phải không tham vọng, bấy giờ phải không cạnh
tranh, không phân chia – bạn và tôi, chúng ta và họ. Phải
không có phân chia quốc tịch, hay phân chia do đức tin, do kiến
thức. Chỉ bấy giờ bạn mới có thể nói bạn thương yêu.
Nhưng với hầu hết, thương yêu liên hệ với tình dục và
lạc thú và mọi thứ khác đi theo : ghen tuông, tham lam, xung
khắc, bạn biết cái gì xảy ra giữa đàn ông và đàn bà.
Khi tương quan ấy không chân thật, đích thật, sâu xa, hoàn
toàn hài hòa, thì làm thế nào bạn có thể có hòa bình trong
thế giới ? Làm thế nào có sự chấm dứt chiến tranh ?
Thế
nên tương quan, liên hệ là một trong những, hay hơn nữa,
là điều quan trọng nhất trong đời. Thế nghĩa là người
ta phải hiểu thương yêu là gì. Chắc chắn, người ta gặp
nó, thật lạ lùng, mà không tìm kiếm nó. Khi bạn tìm ra cái
gì không phải là thương yêu, bấy giờ bạn biết cái gì
là thương yêu – không lý thuyết, không ngôn ngữ lý luận
– mà khi bạn thấu hiểu thật sự cái gì không phải là
nó, đó là : không phải có một tâm thức tranh đua, tham vọng,
một tâm thức nỗ lực, so sánh, bắt chước ; một tâm thức
như vậy không thể thương yêu.
Thế
thì bạn có thể, trong thế giới này, sống hoàn toàn không
có tham vọng, hoàn toàn không hề tự so sánh mình với người
khác chăng ? Bởi vì giây phút bạn so sánh, ngay lúc ấy có
xung đột, có ghen ghét, có tham muốn hoàn thành, vượt hơn
người khác.
Một
tâm trí và một tấm lòng nhớ lại những tổn thương, những
xúc phạm, những sự việc làm cho nó mất nhạy cảm và đờ
đẫn – một tâm trí và một tấm lòng như vậy có thể nào
biết được yêu thương là gì ? Yêu thương là lạc thú chăng
? Vậy mà đó là cái chúng ta đang theo đuổi, một cách ý
thức hay không ý thức. Những thần linh của chúng ta là kết
quả của lạc thú của chúng ta. Những đức tin, cấu trúc
xã hội, đạo đức xã hội – căn bản nó là vô đạo đức
– là kết quả của sự theo đuổi lạc thú của chúng ta.
Và khi bạn nói, “Tôi yêu người nào”, đó có phải là
thương yêu ? Đó có nghĩa là không chia tách, không thống trị,
không hoạt động vị kỷ. Để tìm ra nó là gì, người ta
phải phủ nhận mọi cái ấy – phủ nhận nó theo nghĩa thấy
sự giả trá của nó. Một khi bạn thấy cái gì là giả –
mà bạn đã chấp nhận là chân thật, là tự nhiên, là nhân
bản – bấy giờ bạn không bao giờ có thể trở lại với
nó ; khi bạn thấy một con rắn độc, một con thú nguy hiểm,
bạn không bao giờ chơi với nó, không đến gần nó. Tương
tự, khi bạn thực sự thấy rằng yêu thương không phải là
cái nào trong những cái đó, cảm nhận điều đó, quan sát
nó, nghiền ngẫm nó, sống với nó, hoàn toàn dấn thân với
nó, bấy giờ bạn sẽ biết yêu thương là gì, lòng bi (compassion)
là cái gì – nó có nghĩa là đam mê (passion) đối với tất
cả mọi người.
Chúng
ta không có đam mê ; chúng ta có tham dục, chúng ta có lạc
thú. Nghĩa gốc của từ đam mê (passion) là buồn rầu. Chúng
ta đều có buồn rầu theo loại nào đó, mất người nào,
buồn rầu của tự thương hại, buồn rầu của loài người,
cả tập thể lẫn cá thể. Chúng ta biết buồn rầu là gì,
cái chết của một người thân yêu. Khi chúng ta hoàn toàn
ở với nỗi buồn rầu đó, không cố gắng hợp lý hóa nó,
không cố gắng trốn thoát khỏi nó bằng bất kỳ hình thức
nào qua ngôn ngữ hay hành động, khi ấy bạn ở lại với
nó một cách trọn vẹn, không có bất kỳ chuyển động nào
của tư tưởng, bấy giờ bạn sẽ thấy, từ nỗi buồn rầu
ấy mà đam mê xuất hiện. Đam mê ấy có tính chất yêu thương,
và yêu thương thì không có buồn rầu.
Người
ta cần hiểu toàn bộ vấn đề này của cuộc đời, những
xung đột, những chiến đấu : bạn biết đời sống người
ta đang sống thì quá trống rỗng, quá vô nghĩa. Những người
trí thức cố gắng đặt cho nó một ý nghĩa và chúng ta cũng
muốn tìm ra ý nghĩa cho đời sống, bởi vì đời sống hiện
thời chẳng có ý nghĩa. Nó có không ? Tranh đấu thường trực,
công việc không ngừng, thống khổ, khổ đau, mọi thứ ấy
thực sự không có ý nghĩa – chúng ta đi qua cuộc đời như
một thói quen. Nhưng để tìm ra ý nghĩa là gì, người ta cũng
phải hiểu ý nghĩa của cái chết ; bởi vì sống và chết
đi chung, chúng không phải là hai vật riêng rẽ.
Thế
nên người ta phải hỏi chết có nghĩa là gì, bởi vì nó
là phần đời sống của chúng ta. Không phải là cái gì trong
tương lai cách xa, để tránh né, chỉ đối mặt khi bệnh hoạn
đã đến mức tuyệt vọng, khi tuổi già hay trong một tai nạn
hay trên chiến trường. Vì nó là phần của đời sống hàng
ngày để sống mà không có một hơi hướng nhỏ của xung
đột, thế nên nó là phần của đời sống chúng ta để tìm
ra cái gì là thương yêu. Nó cũng là phần của hiện hữu
chúng ta, và người ta phải hiểu nó.
Làm
thế nào chúng ta hiểu cái chết là gì ? Khi bạn chết, vào
giây phút cuối cùng, bạn có thể hiểu bạn đã sống theo
cách nào ? – những căng thẳng, những tình cảm chiến đấu,
những tham vọng, ham muốn ; chắc bạn không ý thức và điều
ấy khiến bạn không thể tri giác rõ ràng. Bấy giờ có sự
mất định hướng của tâm thức lúc tuổi già và mọi thứ
từ đó. Thế nên người ta phải hiểu cái chết là gì ngay
bây giờ, không phải ngày mai. Như bạn quan sát, tư tưởng
không muốn nghĩ về chuyện đó. Nó nghĩ về mọi thứ nó
sẽ làm ngày mai – làm sao để tạo ra những sáng chế mới,
những phòng tắm tốt hơn, mọi thứ mà tư tưởng có thể
nghĩ. Nhưng nó không muốn nghĩ về cái chết, bởi vì nó không
biết cái chết có nghĩa gì.
Ý
nghĩa của cái chết có thể được tìm thấy qua tư tưởng
không ? Xin hãy chia xẻ điều này. Khi chúng ta chia xẻ nó,
lúc đó chúng ta bắt đầu thấy vẻ đẹp của tất cả điều
này, nhưng nếu các bạn ngồi đó và để diễn giả tiến
tới, chỉ nghe những lời của ông ta, bấy giờ chúng ta không
chia xẻ với nhau. Chia xẻ với nhau bao gồm một tính chất
nào đó của chăm chút, chú ý, thương yêu. Chết là một vấn
đề lớn lao. Người trẻ có thể nói : tại sao ông bận tâm
về nó ? Nhưng nó là phần của cuộc sống của họ, như độc
thân là phần của cuộc sống của họ. Chớ nói rằng, “Tại
sao ông nói về sự độc thân, cái đó để cho những người
già thủ cựu, cái đó dành cho những thầy tu.” Độc thân
nghĩa là gì cũng là một vấn đề cho con người, nó cũng
là phần của đời sống.
Tâm
thức có thể hoàn toàn trinh bạch không ? Không phải là để
có thể tìm ra làm sao để sống một đời trinh bạch, người
ta phải thệ nguyện độc thân và trải qua những khổ hình.
Đó không phải là độc thân. Độc thân là cái gì hoàn toàn
khác. Đó là có một tâm thức thoát khỏi mọi hình ảnh,
mọi kiến thức ; nó nghĩa là hiểu toàn bộ tiến trình của
lạc thú và sợ hãi.
Tương
tự, người ta phải hiểu sự việc gọi là chết này. Làm
thế nào bạn tiến hành hiểu cái mà bạn sợ hãi khủng khiếp.
Chẳng phải chúng ta sợ hãi cái chết sao ? Hay chúng ta nói,
“Cám ơn Trời tôi sắp chết, tôi đã sống quá đủ cuộc
đời này với mọi thứ thống khổ của nó, sự mê lầm,
phẩm chất tồi tệ, sự hung bạo, những sự việc máy móc
người ta bị vướng mắc vào, cám ơn Trời mọi thứ này
sẽ chấm dứt !” Đó không phải là một sự trả lời ;
cũng không cần hợp lý hóa cái chết, hay cứ tin vào tái sanh,
như toàn thể thế giới Á châu đang làm. Để tìm ra tái sanh
trong tương lai nghĩa là gì, bạn phải tìm ra bạn là gì bây
giờ đã. Nếu bạn tin vào tái sanh, thì bây giờ bạn là cái
gì ? – một số ngôn từ, một số kinh nghiệm, kiến thức
; bạn đã bị điều kiện hóa bởi những văn hóa khác nhau,
các bạn là tất cả những đồng hóa của cuộc đời các
bạn, đồ đạc, nhà cửa, ngân khoản, những kinh nghiệm lạc
thú và khổ đau. Đó là cái bạn hiện là, phải thế không
? Sự nhớ lại những thất bại, những hy vọng, những tuyệt
vọng, bạn là tất cả những cái ấy, và những cái ấy sắp
tái sanh vào cuộc đời sắp tới – một ý tưởng đáng yêu,
phải không ?
Hay
bạn nghĩ có một linh hồn trường cửu, một thực thể thường
còn. Có cái gì là thường còn trong bạn ? Khoảnh khắc bạn
nói có một linh hồn trường cửu, một thực thể thường
hằng, thì thực thể đó là kết quả của suy nghĩ của bạn,
hay kết quả của những hy vọng của bạn, bởi vì có quá
nhiều không an toàn, mọi sự thì thoáng qua, trong một cao trào,
trong một chuyển động. Thế nên khi bạn nói có cái gì thường
còn, sự thường còn đó là kết quả của suy nghĩ của bạn.
Và tư tưởng thì thuộc về quá khứ, tư tưởng không bao
giờ tự do – nó có thể sáng chế mọi thứ nó thích !
Thế
nên nếu bạn tin vào một sự sanh ra trong tương lai, bạn phải
biết rằng tương lai bị quy định bởi cách bạn đang sống
bây giờ, cái bạn làm bây giờ, cái bạn nghĩ, cái bạn hành
động, những đạo đức của bạn. Thế nên cái bạn là bây
giờ, cái bạn làm bây giờ, thì hệ trọng kinh khủng. Nhưng
những người ấy tin vào một sự sanh ra trong tương lai thì
không chú ý chút nào cái đang xảy ra bây giờ, đó chỉ là
chuyện để tin.
Thế
thì, làm sao bạn tìm ra chết nghĩa là gì, khi bạn đang sống
với sinh khí, với năng lực, đầy sức khỏe ? Không phải
khi bạn mất quân bình hay bệnh tật, không phải đến giây
phút cuối cùng, nhưng bây giờ, khi biết rằng cơ thể không
tránh khỏi phải hao mòn, như mọi thứ máy móc. Không may chúng
ta đã dùng bộ máy của chúng ta quá coi thường, phải thế
không ? Biết cơ thể đang đi đến chỗ dừng, bạn có bao
giờ nghĩ đến chết có nghĩa là gì ? Bạn không thể nghĩ
về nó. Bạn có bao giờ thử tìm ra chết có nghĩa là gì về
mặt tâm lý, mặt bên trong ? – không phải làm sao tìm kiếm
bất tử, bởi vì vĩnh cửu, cái không có thời gian, là bây
giờ, không ở tương lai cách xa nào cả. Để dò hỏi vào
đó, người ta phải hiểu toàn bộ vấn đề thời gian ; không
phải thời gian theo niên đại bởi đồng hồ, mà thời gian
do tư tưởng đã sáng chế ra như một tiến trình thay đổi
dần dà.
Làm
sao người ta tìm ra sự việc lạ lùng này mà tất cả chúng
ta đều phải gặp một ngày nào đó ? Bạn có thể chết một
cách tâm lý vào hôm nay, chết với mọi sự bạn đã biết
hay không ? Chẳng hạn : chết đối với lạc thú của bạn,
với sự bám luyến của bạn, sự lệ thuộc của bạn, chấm
dứt nó mà không biện luận, không hợp lý hóa, không cố
gắng tìm cách tránh nó. Bạn có biết chết nghĩa là gì, không
phải về thể chất, mà về tâm lý, về bên trong ? Nó có
nghĩa là chấm dứt cái có tương tục ; chấm dứt cho tham
vọng của bạn, bởi vì đó là cái xảy ra khi bạn chết,
có phải không ? Bạn không thể trì hỗn nó và ngồi bên cạnh
Thượng Đế ! (Cười) Khi bạn thực sự chết, bạn phải
chấm dứt nhiều cái mà không biện luận gì. Bạn không thể
nói với cái chết, “Hãy để tôi làm xong công việc của
tôi, để tôi hoàn thành cuốn sách của tôi, mọi cái tôi
chưa làm xong, hãy để tôi chữa lành những tổn thương tôi
đã làm cho những người khác” – bạn không có thì giờ.
Thế
nên bạn có thể tìm ra làm sao sống một đời sống bây giờ,
hôm nay, trong đó luôn luôn có một chấm dứt cho mọi sự
bạn đã bắt đầu ? Dĩ nhiên không phải với công sở của
bạn, mà chấm dứt bên trong mọi kiến thức bạn đã gom nhặt
– kiến thức là những kinh nghiệm của bạn, những trí nhớ
của bạn, những tổn thương, cách sống so đo, luôn luôn so
sánh mình với người khác. Chấm dứt tất cả các thứ đó
mỗi ngày, để cho ngày hôm sau tâm thức bạn tươi mới và
trẻ trung. Một tâm thức như vậy không bao giờ có thể bị
làm thương tổn, và đó là sự vô tội, ngây thơ.
Người
ta phải tìm ra cho chính mình chết nghĩa là sao ; bấy giờ
không có sợ hãi, bởi thế mỗi ngày là một ngày mới –
và tôi thực sự muốn nói điều này, người ta có thể làm
điều này – để cho tâm thức bạn và đôi mắt bạn thấy
đời sống là cái gì hoàn toàn mới. Đó là vĩnh cửu. Đó
là tính chất của tâm thức khi tâm thức bắt gặp trạng
thái không có thời gian này, bởi vì nó đã biết cái có nghĩa
là chết mỗi ngày với mọi sự nó đã tích tập suốt ngày.
Chắc hẳn, trong đó có tình yêu thương. Yêu thương là cái
gì hoàn toàn mới mỗi ngày, nhưng lạc thú thì không, lạc
thú thì có tương tục. Yêu thương thì luôn luôn mới và bởi
thế nó là sự vĩnh cửu của chính nó.
Người
hỏi : Vừa rồi ngài đã nói cho chúng tôi rằng nếu người
nào có một kinh nghiệm khổ đau và y không đối diện với
nó toàn triệt, nó sẽ vào trong vô thức như một phần mảnh.
Chúng ta làm thế nào tự giải thoát khỏi những phần mảnh
của những kinh nghiệm khổ đau và sợ hãi này, để cho quá
khứ không giam cầm chúng ta ?
KRISHNAMURTI
: Vâng, thưa ông, đó là điều kiện hóa, bị quy định. Làm
sao người ta thoát khỏi sự quy định này ? Trước hết, tôi
phải ý thức tôi đang bị quy định – không phải ai khác
nói cho tôi rằng tôi đang bị quy định. Ông hiểu sự khác
biệt chứ ? Nếu có ai nói với tôi tôi đang đói, điều đó
khác với việc tôi đang đói. Thế nên tôi phải ý thức sự
bị điều kiện hóa của tôi, nghĩa là không phải chỉ ở
bên ngoài mà tận sâu thẳm. Tôi phải ý thức toàn vẹn. Ý
thức như vậy, nghĩa là tôi không cố gắng vượt khỏi sự
bị điều kiện hóa, không cố gắng thoát khỏi sự bị điều
kiện hóa. Tôi phải thấy nó như nó thực sự là, không đưa
vào một yếu tố khác, như : muốn thoát khỏi nó, vì như
vậy là trốn thoát khỏi cái thực. Tôi phải ý thức. Thế
nghĩa là sao ? Ý thức tình trạng bị điều kiện hóa của
tôi một cách hoàn toàn, không từng phần, nghĩa là tâm thức
tôi phải nhạy cảm tột độ, phải không ? Nếu không tôi
không thể tỉnh giác. Nhạy cảm nghĩa là quan sát mọi sự
rất, rất kỹ càng, mọi sự vật quanh tôi. Tôi cũng phải
ý thức cái thực sự không có một chọn lựa nào. Ông có
thể làm điều đó không ? – không cố gắng giải thích nó,
không cố gắng biến đổi nó, không cố gắng vượt khỏi
nó hay thoát khỏi nó – chỉ ý thức trọn vẹn nó.
Khi
ông quan sát một cái cây, giữa ông và cái cây có thời gian
và không gian, phải thế không ? Và cũng có kiến thức thực
vật về nó, khoảng cách giữa ông và cái cây – nó là thời
gian – và sự phân cách xảy ra qua kiến thức về cái cây.
Nhìn cái cây mà không có kiến thức, không có tính chất thời
gian, không có nghĩa là ông tự đồng hóa với cái cây, mà
là quan sát cái cây rất mực chăm chú, đến độ những biên
giới của thời gian không len vào nó ; những biên giới của
thời gian chỉ len vào khi ông có kiến thức về cái cây. Ông
có thể nhìn thẳng vào vợ ông, bạn ông, hay bất cứ hình
ảnh nào chứ ? Hình ảnh là quá khứ, nó được lắp ghép
bởi tư tưởng, như nghiền ngẫm, bắt ép, chế ngự, như
lạc thú, kết bạn bè và mọi thứ ấy. Chính hình ảnh làm
phân cách, chia rẽ ; chính hình ảnh tạo khoảng cách và thời
gian. Hãy nhìn cái cây này, hay hoa, mây, hay người vợ hoặc
người chồng, mà không có hình ảnh !
Nếu
ông có thể làm thế, bấy giờ ông có thể quan sát sự bị
điều kiện hóa của ông một cách toàn triệt ; bấy giờ
ông có thể nhìn nó với một tâm thức không bị lốm đốm
bởi quá khứ, và do đó bản thân tâm thức thoát khỏi điều
kiện hóa. Nhìn chính tôi – như chúng ta thường làm – tôi
nhìn như một người quan sát nhìn cái được quan sát : chính
tôi là cái được quan sát và cũng là người quan sát nhìn
nó. Người quan sát là kiến thức, là quá khứ, là thời gian,
những kinh nghiệm đã tích tập – nó tự tách lìa với vật
được quan sát.
Bây
giờ, nhìn mà không có người quan sát ! Ông làm điều này
khi ông chú ý trọn vẹn. Ông có biết chú ý là gì không ?
Chớ đến trường học để học chú ý ! Chú ý là nghe mà
không diễn giải, không phê phán – chỉ thuần túy nghe. Khi
ông đang lắng nghe như vậy, không có biên giới, không có
“ông” đang nghe. Chỉ có trạng thái lắng nghe. Thế thì
khi ông quan sát sự bị điều kiện hóa của ông, sự bị
điều kiện hóa chỉ hiện hữu trong người quan sát, không
phải trong cái được quan sát. Khi ông nhìn mà không có người
quan sát, không có cái “tôi” – những sợ hãi, những lo
âu và mọi thứ đó – bấy giờ ông sẽ thấy, ông đi vào
một chiều kích hoàn toàn khác.
NEW
YORK CITY
24
tháng Tư 1971
3
KINH
NGHIỆM TÔN GIÁO. THIỀN ĐỊNH
Có
một kinh nghiệm tôn giáo không ? Tìm cầu chân lý ; ý nghĩa
của sự tìm cầu. “Cái gì là một tâm tôn giáo ?“ “Cái
gì là tính chất của tâm không kinh nghiệm nữa ?” Kỷ luật
; đức hạnh ; trật tự. Thiền định không phải là trốn
thoát. Chức năng của kiến thức và tự do khỏi cái biết.
“Thiền định là tìm ra liệu có một trường xứ đã không
nhiễm ô bởi cái biết.” “Bước đầu tiên là bước cuối
cùng.”
KRISHNAMURTI
: Chúng ta đã nói rằng chúng ta sẽ bàn với nhau một vấn
đề rất phức tạp, đó là : có một kinh nghiệm tôn giáo
không, và cái gì là những hàm ý của thiền định ? Nếu
người ta quan sát thì sẽ thấy rằng trên khắp thế giới
con người luôn luôn tìm kiếm cái gì vượt khỏi cái chết
của nó, vượt khỏi những vấn nạn của nó, cái gì thường
còn, chân thật và không có thời gian. Nó gọi đó là Thượng
Đế, đặt cho nhiều tên ; và hầu hết chúng ta tin vào cái
gì loại đó, mà không bao giờ thực sự kinh nghiệm nó.
Những
tôn giáo khác nhau đã hứa hẹn rằng nếu các bạn tin vào
một số hình thức những nghi thức, giáo điều, những bậc
cứu thế, sống theo một cách nào đó, các bạn sẽ gặp sự
thể lạ lùng này, dù bất cứ tên nào người ta muốn gán
cho nó. Và những người trực tiếp kinh nghiệm nó, đã hoàn
thành nó theo sự quy định của họ, theo đức tin, theo những
ảnh hưởng môi trường và văn hóa của họ.
Rõ
ràng tôn giáo đã mất đi ý nghĩa của nó, vì có những chiến
tranh tôn giáo ; tôn giáo không trả lời cho tất cả những
vấn nạn của chúng ta, những tôn giáo chia lìa con người.
Chúng đã đem lại loại ảnh hưởng văn minh nào đó, nhưng
chúng không thay đổi tận gốc con người. Khi người ta bắt
đầu hỏi liệu có hay không một sự việc là kinh nghiệm
tôn giáo và kinh nghiệm ấy là gì, tại sao người ta gọi
nó là “tôn giáo”, rõ ràng trước hết người ta phải rất
thành thật. Không phải thành thật theo một nguyên lý hay đức
tin, hay hình thức cam kết nào đó, mà thành thật thấy những
sự việc đúng như chúng là, không méo mó, không chỉ bên
ngoài mà còn bên trong : không bao giờ tự lừa dối mình. Vì
lừa dối thì khá dễ dàng nếu người ta khao khát loại kinh
nghiệm nào đó, gọi là tôn giáo hay cái gì khác – nếu người
ta dùng thuốc gợi ảo giác và vân vân. Bấy giờ bạn vướng
mắc vào một loại ảo tưởng.
Người
ta phải tìm ra cho chính mình kinh nghiệm tôn giáo là cái gì.
Người ta cần một cảm thức khiêm hạ và thành thật lớn
lao, nghĩa là không bao giờ đòi có kinh nghiệm, không bao giờ
yêu cầu cho mình một thực tại hay một thành tựu. Thế nên
người ta phải nhìn kỹ càng vào những tham muốn, những bám
luyến và những sợ hãi của chính mình và hiểu chúng một
cách toàn bộ, để cho tâm thức không bị méo mó, để cho
không còn ảo tưởng, không còn lừa gạt. Và người ta cũng
phải hỏi : cái gì nghĩa là kinh nghiệm ?
Tôi
không biết các bạn đã từng đi vào câu hỏi này phần nào
chưa. Phần đông chúng ta chán ngán những kinh nghiệm thường
có hàng ngày. Chúng ta mệt mỏi về chúng, và người ta càng
tế nhị, trí thức, người ta càng muốn sống chỉ trong hiện
tại – dù nó có nghĩa là gì – và sáng chế ra một triết
lý của hiện tại. Danh từ kinh nghiệm nghĩa là đi xuyên qua,
đi đến tới cùng và chấm dứt với nó. Nhưng không may với
phần đông chúng ta, mỗi kinh nghiệm để lại một vết sẹo,
một kỷ niệm, vui thích hay không vui thích, và chúng ta chỉ
muốn giữ lại những cái vui thích. Khi chúng ta đòi có loại
kinh nghiệm tâm linh, tôn giáo hay siêu việt nào, chúng ta phải
tìm ra trước hết có một kinh nghiệm như vậy không, và hơn
nữa bản thân kinh nghiệm có nghĩa là gì. Nếu bạn kinh nghiệm
điều gì và bạn không thể nhận biết nó, bấy giờ kinh
nghiệm ấy thôi hiện hữu. Một trong những ý nghĩa căn bản
của kinh nghiệm là nhận biết. Và khi có nhận biết, nó đã
được biết, đã được kinh nghiệm, nếu khác đi thì bạn
không thể nhận biết nó.
Thế
thì khi người ta nói về kinh nghiệm tôn giáo, tâm linh hay
siêu việt – từ này khá bị lạm dụng – bạn phải đã
biết nó, có thể biết rằng bạn đang kinh nghiệm cái gì
khác với một kinh nghiệm bình thường. Có vẻ hợp lý và
đúng thật rằng tâm thức có thể nhận biết kinh nghiệm,
và sự nhận biết bao hàm cái gì bạn đã biết, bởi thế
nó không mới.
Khi
bạn muốn kinh nghiệm trong lãnh vực tôn giáo, bạn muốn nó
bởi vì bạn đã không giải quyết những vấn nạn của bạn,
những lo âu, thất vọng, sợ hãi và buồn phiền của bạn,
thế nên bạn muốn cái gì hơn nữa. Trong đòi hỏi hơn nữa
ấy có sự lừa dối. Điều ấy khá hợp lý và đúng thật,
tôi nghĩ thế. Không phải lý luận luôn luôn đúng, nhưng khi
người ta dùng lý luận và lý trí một cách lành mạnh, người
ta biết những giới hạn của lý trí. Đòi hỏi những kinh
nghiệm lớn hơn, sâu hơn, nền tảng hơn chỉ dẫn đến một
mở rộng thêm nữa đường lối của cái biết. Tôi nghĩ điều
này thì rõ ràng, và tôi hy vọng chúng ta giao thông, chia xẻ
với nhau.
Rồi
cũng trong tra hỏi tôn giáo này người ta tìm kiếm khám phá
chân lý là gì, có chăng một thực tại, có chăng một sự
vật gì như là một trạng thái của tâm thức vượt khỏi
thời gian. Tìm kiếm lại bao hàm một người tìm kiếm, phải
thế không ? Và người đang tìm kiếm là cái gì ? Làm thế
nào nó sẽ biết cái nó tìm ra là thật ? Lại nữa, nếu nó
tìm thấy cái thật – ít ra cái nó nghĩ là thật – điều
đó tùy thuộc vào sự bị điều kiện hóa của nó, vào kiến
thức của nó, những kinh nghiệm quá khứ của nó ; bấy giờ
tìm kiếm chỉ trở thành một phóng chiếu thêm nữa những
hy vọng, sợ hãi và mong ước quá khứ của chính nó.
Một
tâm thức tra hỏi – không tìm kiếm – phải hoàn toàn thoát
khỏi hai cái này, đó là đòi hỏi kinh nghiệm và tìm kiếm
chân lý. Người ta có thể thấy tại sao, bởi vì bạn tìm
kiếm, bạn đến những vị thầy khác nhau, đọc nhiều sách
khác nhau, chấp nhận nhiều thờ phụng khác nhau, theo những
guru khác nhau, và mọi thể cách như vậy, như ô kính bày hàng.
Một tìm kiếm như vậy chẳng có ý nghĩa gì cả.
Thế
nên khi bạn tra hỏi, “Cái gì là tâm thức tôn giáo, và cái
gì là tính chất của tâm thức không kinh nghiệm bất cứ
điều gì nữa ?” – bạn phải tìm ra liệu tâm thức có
thể giải thoát khỏi đòi hỏi kinh nghiệm và hoàn toàn có
thể chấm dứt mọi tìm cầu. Người ta phải tra cứu mà không
có động cơ, không có ý định, đấy là những yếu tố của
thời gian và có hay không một trạng thái không có thời gian.
Tra hỏi điều đó nghĩa là phải không có tín điều, không
cam kết với tôn giáo nào, với tổ chức gọi là tâm linh
nào, không theo vị guru nào, và bởi thế phải không có thẩm
quyền nào – nhất là thẩm quyền của diễn giả nữa. Bởi
vì bạn rất dễ bị ảnh hưởng, bạn cả tin kinh khủng,
dù bạn có thể tinh tế, có thể biết nhiều ; nhưng bạn
luôn luôn hăm hở, luôn luôn tham muốn, và bởi thế cả tin.
Vậy
thì một tâm thức đi vào câu hỏi tôn giáo là gì, phải hoàn
toàn thoát khỏi bất cứ hình thức đức tin nào, bất cứ
hình thức sợ hãi nào ; bởi vì sợ hãi, như chúng ta đã
giải thích hôm trước, là một yếu tố làm méo mó, đem đến
bạo động và hiếu chiến. Bởi thế tâm thức tra hỏi tính
chất của trạng thái và chuyển động tôn giáo, phải thoát
khỏi điều này. Việc ấy đòi hỏi thành thật lớn lao và
một cảm thức khiêm hạ bao la.
Với
phần đông chúng ta, tự phụ là một trong những chướng ngại
chính. Vì chúng ta nghĩ mình biết, vì chúng ta đã đọc nhiều,
vì chúng ta dấn thân cam kết, đã thực hành hệ thống này
nọ, theo guru nào rao giảng triết học của ông, chúng ta nghĩ
mình biết, ít nhất là một chút gì, và đó là bắt đầu
của tự phụ kiêu căng. Khi bạn tra hỏi vào một vấn đề
phi thường như vậy, phải có sự tự do của việc thực sự
không biết một điều gì về nó. Bạn thực sự không biết,
phải không ? Bạn không biết chân lý là gì, Thượng Đế
là gì – nếu có một sự như vậy – hay một tâm thức thực
sự tôn giáo là gì. Bạn đã đọc về nó, người ta đã nói
về nó hàng ngàn năm nay, đã xây những tu viện, nhưng thật
ra họ đã sống trên kiến thức, kinh nghiệm và tuyên truyền
của người khác. Để tìm ra, chắc chắn người ta phải bỏ
qua một bên mọi cái ấy, và do đó sự tra hỏi vào mọi cái
này là một việc rất trọng đại. Nếu bạn muốn chơi với
nó, có đủ loại tiêu khiển gọi là tâm linh, tôn giáo, nhưng
chúng không có giá trị bao nhiêu với một tâm thức nghiêm
cẩn.
Tra
hỏi vào một tâm thức tôn giáo là gì, chúng ta phải thoát
khỏi sự bị điều kiện hóa của chúng ta, khỏi Thiên Chúa
giáo Phật giáo của chúng ta, với sự tuyên truyền của hàng
ngàn năm, để cho tâm thức thực sự tự do mà quan sát. Điều
đó rất khó bởi vì chúng ta sợ một mình, đứng một mình.
Chúng ta muốn an toàn, cả bên trong và bên ngoài ; thế nên
chúng ta dựa vào người khác, họ nói : “Tôi đã kinh nghiệm,
vì thế tôi biết.” Người ta phải đứng hoàn toàn một
mình – không phải là tách biệt. Có sự khác biệt bao la
giữa tách biệt và hoàn toàn một mình. Tách biệt là một
trạng thái tâm thức trong đó liên hệ chấm dứt, khi trong
đời sống và hoạt động hàng ngày bạn đã xây dựng một
bức tường quanh bạn để không bị tổn thương. Sự tách
biệt rõ ràng ngăn cản mọi hình thức tương giao. Một mình
hàm ý một tâm thức không nương dựa người khác về mặt
tâm lý, không dính dáng với người nào ; nó không có nghĩa
là không có thương yêu – thương yêu thì không bám dính.
Một mình hàm ý một tâm thức không có cảm thức sợ hãi
nào trong sâu xa và do đó không có xung đột.
Nếu
bạn đi xa như vậy, bấy giờ bạn có thể tiến hành tìm
ra kỷ luật có nghĩa là gì. Với phần đông chúng ta kỷ luật
là một hình thức rèn luyện, lập lại ; hoặc thắng một
trở ngại, hay cưỡng chống hay đè nén, kiểm soát, định
hình, tuân thủ… Nghĩa gốc của từ ấy là học ; một tâm
sẵn sàng học – không phải tuân thủ – phải tò mò, quan
tâm lớn lao, và một tâm đã biết thì không thể học. Thế
nên kỷ luật nghĩa là học tại sao người ta kiểm soát, tại
sao người ta trừ dẹp, tại sao có sợ hãi, tại sao người
ta tuân thủ, so sánh, và bởi thế nằm trong xung đột. Chính
sự học sâu xa này đem lại trật tự ; không phải trật tự
theo một phác họa hay khuôn khổ, nhưng trong sự tra hỏi sâu
xa vào cái mơ hồ, rối rắm, vào sự không trật tự, chính
trong đó có cái trật tự. Hầu hết chúng ta mù mờ vì cả
tá lý do, chúng ta không cần đi sâu vào những điều đó vào
lúc này. Người ta phải học về sự mơ hồ rối rắm, về
đời sống không trật tự mình đang sống ; không phải cố
gắng đem đến trật tự vào sự mờ rối, hay vào sự không
trật tự, mà học về nó. Bấy giờ, khi bạn học, trật tự
bèn có mặt.
Trật
tự là một vật sống động, không máy móc, và trật tự
chắc chắn là đức hạnh. Một tâm thức mờ rối, tuân thủ,
bắt chước thì không trật tự – nó đang ở trong xung đột.
Và một tâm thức ở trong xung đột thì không trật tự và
bởi thế một tâm thức như vậy không có đức hạnh. Từ
tra hỏi, từ học hỏi, bèn có trật tự, và trật tự là
đức hạnh. Xin hãy quan sát nó nơi chính bạn, hãy thấy sự
không trật tự trong đời sống của mình như thế nào, quá
mờ rối, quá máy móc. Trong trạng thái này người ta cố gắng
tìm thấy một cách sống đạo đức, có trật tự và lành
mạnh. Làm sao một tâm thức mê mờ rối loạn, tuân thủ,
bắt chước, có thể có loại trật tự nào, loại đức hạnh
nào ? Đạo đức xã hội, như bạn thấy, thì hoàn toàn vô
đạo đức ; nó có thể ra vẻ đứng đắn, nhưng cái làm
vẻ đứng đắn thì thường không trật tự.
Trật
tự là cần thiết, bởi vì từ trật tự có thể có một
hành động toàn bộ và hành động là đời sống. Nhưng hành
động của chúng ta đem đến không trật tự ; có hành động
chính trị, hành động tôn giáo, hành động kinh doanh, hành
động gia đình – chúng là những hành động manh mún. Và
đương nhiên hành động như vậy là mâu thuẫn. Bạn là một
người kinh doanh và ở nhà bạn là một người tốt – ít
nhất bạn cho là như vậy ; có sự mâu thuẫn và bởi thế
không có trật tự. Một tâm thức lộn xộn không thể hiểu
đức hạnh là cái gì. Và ngày nay, khi có sự bi quan đủ mọi
loại, đức hạnh và trật tự đã bị phủ nhận. Tâm thức
tôn giáo phải có trật tự này, không phải trật tự theo
một khuôn khổ nào do bạn hay người khác đặt ra. Nhưng sự
trật tự đó, cảm thức về chính trực đạo đức, chỉ
đến khi bạn hiểu sự không trật tự, sự mê mờ rối loạn,
tình trạng lộn xộn dơ bẩn trong đó người ta đang sống.
Bây
giờ mọi điều này là để đặt nền móng cho thiền định.
Nếu bạn không đặt những nền móng, thiền định trở thành
một trốn thoát. Bạn có thể chơi đùa với loại thiền định
đó một cách không cùng. Và đây là điều hầu hết người
đang làm – sống một đời sống tầm thường, mờ rối,
lộn xộn và tìm một góc để có một tâm bình lặng. Và
có những người hứa hẹn cho bạn một tâm bình lặng, dù
nó có nghĩa ra sao.
Thế
nên với một tâm thức nghiêm cẩn, người ta phải có sự
tự do này thoát khỏi mọi đức tin, mọi cam kết, bởi vì
người ta cam kết với toàn bộ đời sống, không phải với
một phần mảnh của nó. Phần đông chúng ta cam kết với
một cuộc đổi mới chính trị hay vật chất, hay với một
hoạt động tôn giáo, một đời sống tu viện vân vân. Những
cái ấy đều là những cam kết phần mảnh. Chúng ta đang nói
về tự do, để cho bạn có thể cam kết toàn bộ hiện thể
bạn, toàn bộ năng lượng, sức sống và đam mê của bạn
với toàn bộ đời sống, chứ không phải một phần của
nó. Bấy giờ chúng ta có thể tiến hành tìm ra thiền định
có nghĩa là gì.
Tôi
không biết các bạn đã đi vào điều này thực sự chưa.
Hẳn là một số các bạn đã chơi với nó, đã cố gắng
kiểm soát những tư tưởng của các bạn, theo những hệ thống
khác nhau, nhưng đó không phải là thiền định. Người ta
phải đi vào vấn đề những hệ thống, những phương pháp
này, và tôi hy vọng các bạn sẽ làm việc đó ; chúng ta đang
chia xẻ cùng nhau vấn đề này.
Khi
bạn có một hệ thống để theo, cái gì xảy ra với tâm thức
? Những hệ thống và phương pháp hàm ý cái gì – một guru
? Tôi không biết tại sao họ tự gọi mình là guru – tôi
không thể tìm ra một từ đủ mạnh để phủ nhận toàn bộ
thế giới những guru ấy, thẩm quyền của họ, bởi vì họ
nghĩ rằng họ biết. Một người nói, “Tôi biết”, một
người như vậy thì không biết. Hay nếu một người nói,
“Tôi đã kinh nghiệm chân lý”, hãy ngờ vực nó. Đấy là
những người ban cho những hệ thống. Một hệ thống bao hàm
thực hành, đi theo, lập lại, biến đổi “cái thực sự
đang là” và bởi thế làm tăng thêm xung đột của bạn.
Những hệ thống khiến tâm thức máy móc, chúng không cho bạn
tự do, chúng hứa hẹn tự do ở lúc sau chót, nhưng tự do
thì ở lúc bắt đầu, không ở lúc sau chót. Tra hỏi vào sự
thật của bất kỳ hệ thống nào, nếu bạn không có tự
do vào lúc bắt đầu, bấy giờ bạn buộc phải chết cứng
trong một hệ thống và bởi thế trong một tâm thức không
thể nhạy cảm, nhẹ nhàng và tinh tế. Thế nên người ta
có thể bỏ đi hoàn toàn mọi hệ thống.
Điều
quan trọng là không kiểm soát tư tưởng, mà hiểu nó, hiểu
nguồn gốc, sự bắt đầu của tư tưởng trong bản thân bạn.
Nghĩa là, bộ óc chứa những trí nhớ – bạn có thể tự
mình quan sát điều này, không cần phải đọc sách về nó.
Nếu nó không cất chứa những trí nhớ nó không thể tư tưởng
gì cả. Trí nhớ này là kết quả của kinh nghiệm, của kiến
thức – của bạn, của cộng đồng, của gia đình, giòng
giống vân vân. Tư tưởng nảy sinh từ kho chứa trí nhớ này.
Thế nên tư tưởng không bao giờ tự do, nó luôn luôn cũ,
không có cái gì gọi là tự do của tư tưởng. Tư tưởng
không bao giờ có thể tự do trong chính nó, nó có thể nói
về tự do, nhưng bản thân nó là kết quả của những trí
nhớ, kinh nghiệm và kiến thức quá khứ ; thế nên nó già
cũ. Tuy nhiên người ta phải có sự tích tập này, nếu không
người ta không thể làm việc, nói đến người khác, đi về
nhà… Kiến thức là cần thiết.
Trong
thiền định người ta phải tìm ra liệu có chăng một chấm
dứt cho kiến thức và như vậy thoát khỏi, tự do với cái
biết. Nếu thiền định là một sự tiếp tục của kiến
thức, là sự tiếp tục của mọi cái người ta đã tích tập,
bấy giờ không có tự do. Chỉ có tự do khi có một thấu
hiểu chức năng của kiến thức và do đó thoát khỏi cái
biết.
Chúng
ta đang tra hỏi vào lãnh vực của kiến thức, trong đó nó
có sự vận hành và nó trở thành một chướng ngại cho sự
tra hỏi sâu hơn. Khi bộ óc tiếp tục vận động, nó chỉ
vận động trong lãnh vực của kiến thức. Đó chỉ là việc
duy nhất trí óc có thể làm, vận hành trong trường kinh nghiệm,
kiến thức, trong trường của thời gian – nó là quá khứ.
Thiền định là tìm ra có chăng một trường xứ không hề
bị nhiễm ô bởi cái biết.
Nếu
tôi thiền định và tiếp tục với cái tôi đã học, với
cái tôi đã biết, bấy giờ tôi vẫn sống trong quá khứ,
trong lãnh vực của sự bị điều kiện hóa của tôi. Trong
đó không có tự do. Tôi có thể trang hoàng cho ngục tù trong
đó tôi đang sống, tôi có thể làm đủ thứ trong ngục tù
ấy, nhưng vẫn có một giới hạn, một hàng rào. Thế thì
tâm thức phải tìm ra liệu những tế bào óc đã phát triển
qua hàng ngàn năm có thể nào hoàn toàn bình lặng và đáp
ứng với một chiều kích chúng chưa từng biết ? Như vậy
có nghĩa là, tâm thức có thể hoàn toàn bình lặng không ?
Điều
này đã là một vấn nạn của mọi người tôn giáo qua hàng
thế kỷ ; họ hiểu rằng bạn phải có một tâm thức hoàn
toàn bình lặng, bởi vì chỉ lúc ấy bạn mới có thể thấy.
Nếu bạn cứ huyên thuyên, nếu tâm thức bạn thường xuyên
động, chạy khắp mọi nơi, rõ ràng nó không thể nhìn không
thể nghe trọn vẹn. Thế nên họ nói, “Hãy kiểm soát nó,
nắm giữ nó, nhốt nó vào một nhà tù” ; họ không tìm ra
cách để có một tâm thức bình lặng và rốt ráo. Họ nói,
“Chớ chạy theo tham muốn nào, chớ nhìn vào một phụ nữ,
chớ nhìn những ngọn đồi đẹp, những cây cối và vẻ đẹp
của trái đất, bởi vì nếu anh làm thế, nó sẽ làm anh nhớ
lại một người đàn bà hay một người đàn ông. Bởi thế
hãy kiểm soát, nắm giữ và tập trung.” Khi bạn làm tất
cả điều đó, bạn ở trong xung đột, bởi thế phải có
thêm kiểm soát, thêm chế ngự. Điều này đã tiếp tục hàng
ngàn năm, bởi vì họ thấy họ phải có một tâm thức bình
lặng. Bây giờ, làm sao tâm thức trở nên bình lặng ? –
không có nỗ lực, không có kiểm soát, không tạo cho nó một
biên giới ? Giây phút bạn hỏi “làm sao, thế nào” là bạn
đang đi vào một hệ thống. Bởi thế không có “thế nào”
cả.
Tâm
thức có thể trở nên bình lặng ? Tôi không biết bạn đang
làm gì về việc này khi bạn thấy vấn đề, khi bạn thấy
sự cần thiết, sự thật của sự kiện có cái tâm thức
tinh tế tuyệt đối bình lặng này. Điều đó xảy ra thế
nào ? Đây là vấn đề thiền định, bởi vì chỉ có một
tâm thức như vậy mới là một tâm thức tôn giáo. Chỉ một
tâm thức như vậy mới thấy toàn bộ đời sống như một
đơn vị, như một chuyển động nhất thể, không phân mảnh.
Bởi thế một tâm thức như vậy hành động một cách toàn
thể, không phân mảnh, bởi vì nó hành động từ tĩnh lặng
hoàn toàn.
Nền
tảng là một đời sống tương quan trọn vẹn, một đời
sống giản dị phi thường ở bên trong, và bởi thế khổ
hạnh hoàn toàn – sự khổ hạnh của giản dị sâu xa, nó
có nghĩa là tâm thức không xung đột. Khi bạn đặt nền tảng
này, dễ dàng không nỗ lực – bởi vì khoảnh khắc đem nỗ
lực vào là có xung đột – bạn thấy chân lý của nó. Thế
nên nó là tri giác, nhận thức “cái đang là”. Và chính
tri giác hay nhận thức này đem lại một thay đổi từ gốc
rễ.
Chỉ
tâm thức tĩnh lặng mới hiểu rằng trong một tâm thức bình
lặng có một chuyển động hoàn toàn khác, nó thuộc về một
chiều kích khác, một tính chất khác. Điều đó có thể không
bao giờ nói được thành lời, bởi vì nó không thể diễn
tả được. Cái có thể diễn tả được chỉ có thể đạt
đến điểm này, tức là điểm khi bạn đặt nền móng và
thấy sự cần thiết, sự thật và cái đẹp của một tâm
thức tĩnh lặng.
Với
hầu hết chúng ta, đẹp thì ở trong cái gì đó, trong một
buyn đinh, trong một đám mây, trong hình dáng một cái cây,
trong một khuôn mặt đẹp. Có phải cái đẹp ở ngoài kia
hay nó là một tính chất của tâm, mà tâm này không có hoạt
động vị kỷ ? Bởi vì như niềm vui, sự thấu hiểu cái
đẹp thì thiết yếu trong thiền định. Đẹp là thực sự
buông bỏ hoàn toàn cái tôi, và những con mắt đã buông bỏ
cái tôi thì có thể thấy cái cây, vẻ đẹp của tất cả
cái đó, và sự đáng yêu của đám mây ; điều đó xảy ra
khi không có trung tâm là cái tôi. Nó xảy ra cho mỗi người
chúng ta, phải không ? – khi bạn thấy một ngọn núi đáng
yêu, khi bạn gặp nó một cách thình lình, nó ở đó ! Mọi
sự bị dạt qua một bên chỉ trừ sự uy nghiêm của ngọn
đồi ấy. Ngọn núi đó, cái cây đó thu hút bạn trọn vẹn.
Thế
nên đẹp nghĩa là nhạy cảm – một thân thể nhạy cảm
nghĩa là chế độ ăn uống đúng đắn, sống đúng đắn,
và bạn có tất cả điều này, nếu bạn có đời sống đúng
đắn. Tôi hy vọng bạn sẽ, hay đang như vậy lúc này ; bấy
giờ tâm sẽ trở nên bình lặng một cách tự nhiên, không
tránh khỏi. Bạn không thể làm cho tâm thức bình lặng, bởi
vì bạn là người tạo ra lộn xộn, quấy nhiễu, lo âu –
làm thế nào bạn có thể khiến tâm thức bình lặng ? Nhưng
khi bạn thấu hiểu bình lặng là gì, khi bạn hiểu mù mờ
rối rắm là gì, phiền muộn là gì và phiền muộn có thể
chấm dứt chăng, và khi bạn hiểu lạc thú, bấy giờ từ
đó xảy đến một tâm thức bình lặng phi thường ; bạn
không phải tìm kiếm nó. Bạn phải bắt đầu ở chỗ bắt
đầu và bước đầu tiên chính là bước cuối cùng, và đây
là thiền định.
Người
hỏi : Khi ngài lấy thí dụ giống nhau ngọn núi, những ngọn
đồi, bầu trời đẹp đẽ – điều đó là sai lầm đối
với những người này, nó không phải là sự giống nhau đối
với họ – sự giống nhau là thứ dơ bẩn.
KRISHNAMURTI
: Đúng, hãy xem – sự giống nhau của những đường phố
của New York, sự giống nhau của tình trạng bẩn thỉu, nghèo
nàn, những khu nhà ổ chuột, những cuộc chiến tranh mà mỗi
chúng ta đã góp phần. Bạn không cảm thấy cách ấy, bởi
vì bạn tự tách biệt, bạn tự cô lập ; bởi thế, không
có tương quan với người khác, bạn trở nên bại hoại và
để cho bại hoại lan tràn trên thế giới. Đó là tại sao
sự bại hoại này, sự ô nhiễm này, những cuộc chiến tranh
này, không thể nhờ một hệ thống chính trị hay tôn giáo
hay bởi bất cứ tổ chức nào mà ngưng được. Bạn phải
thay đổi. Bạn không thấy điều này sao ? Bạn phải chấm
dứt hoàn toàn cái mà bạn đang là. Không phải bằng ý chí
– thiền định là làm trống không cái tâm thức của ý chí
; bấy giờ một hành động hoàn toàn khác xảy ra.
Người
hỏi : Nếu người ta có đặc ân trở nên hoàn toàn tỉnh
giác, bấy giờ chúng ta làm sao có thể giúp đỡ những người
bị quy định, bị điều kiện hóa, họ đang có sự oán hận
sâu xa trong lòng ?
KRISHNAMURTI
: Tại sao, nếu tôi có thể hỏi, bạn dùng từ đặc ân ?
Có cái gì thiêng liêng hay đặc ân trong tỉnh giác chứ ? Nếu
bạn tỉnh giác về sự bị điều kiện hóa của chính bạn,
về sự ồn ào, dơ bẩn, chiến tranh, hận thù, nếu bạn tỉnh
giác về mọi cái đó, bạn sẽ thiết lập một tương quan
với người khác rất trọn vẹn, đến độ bạn liên quan,
liên hệ với mỗi người khác trong thế giới. Bạn hiểu
điều này không ? Nếu tôi liên hệ với người nào một cách
trọn vẹn, hoàn toàn – không phải như một ý niệm hoặc
hình ảnh – bấy giờ tôi liên hệ với mọi người trong
thế giới. Bấy giờ tôi sẽ thấy tôi không làm thương tổn
người khác – họ đang làm thương tổn chính họ. Bấy giờ
hãy đi, hãy thuyết pháp, hãy nói về nó – không phải với
ước muốn giúp đỡ người khác, bạn hiểu chứ ? – thật
là điều kinh khủng nhất khi nói, “Tôi muốn giúp đỡ người
khác.” Bạn là ai để giúp đỡ người khác ? – kể cả
diễn giả.
Thưa
bạn, hãy nhìn, cái đẹp của cây hay hoa không muốn giúp đỡ
bạn, nó ở đó ; nó để cho bạn nhìn vào sự bẩn thỉu
hay vào cái đẹp, và nếu bạn không thể nhìn vào nó, thì
hãy tìm ra tại sao bạn đã trở nên quá thờ ơ, quá chai cứng,
quá nông cạn và trống rỗng. Nếu bạn tìm ra điều đó,
bấy giờ bạn ở trong một trạng thái nơi đó những dòng
nước của đời sống chảy trôi, bạn không phải làm gì
cả.
Người
hỏi : Đâu là mối liên hệ giữa thấy những sự vật đúng
như chúng là và ý thức ?
KRISHNAMURTI
: Bạn chỉ biết ý thức qua nội dung của nó và nội dung
của nó là cái đang xảy ra trong thế giới và bạn là một
phần của nó. Làm trống không tất cả những cái này không
phải là không có ý thức, mà là một chiều kích hoàn toàn
khác. Bạn không thể suy luận về chiều kích này – hãy để
việc đó cho những nhà khoa học, những triết gia. Điều chúng
ta có thể làm là tìm ra liệu có thể vô điều kiện hóa
tâm thức bằng cách trở nên tỉnh giác, trở nên hoàn toàn
chú ý hay không.
Người
hỏi : Tôi không biết yêu thương là gì hay chân lý là gì,
ngài có thể giải nghĩa ?
KRISHNAMURTI
: Bạn chỉ có thể tìm ra yêu thương là gì bằng cách biết
nó không phải là cái gì. Không phải biết một cách trí thức,
mà thực sự trong đời sống khi bỏ qua một bên cái gì không
phải là nó – ghen ghét, tham vọng, mọi thứ phân chia đang
tiếp diễn trong đời sống, cái tôi và cái anh, chúng ta và
họ, đen và trắng. Không may, bạn không tìm biết vì nó cần
năng lượng, và năng lượng chỉ đến khi bạn thực sự quan
sát cái đang là, bấy giờ trong sự quan sát nó, bạn có năng
lượng để vượt khỏi nó. Bạn không thể vượt khỏi nó
nếu bạn cố gắng trốn tránh nó, diễn dịch nó hay chiến
thắng nó. Chỉ thực sự quan sát cái đang là, bấy giờ bạn
có dồi dào năng lượng, bấy giờ bạn có thể tìm ra yêu
thương là gì. Yêu thương không có nghĩa là lạc thú, và thực
sự tìm ra nó, ở bên trong, cho chính bạn, bạn có biết điều
đó có nghĩa gì không ? Nó có nghĩa không có sợ hãi, không
có bám luyến, lệ thuộc mà là một tương quan trong đó không
có phân chia.
Người
hỏi : Thưa ông, ông có thể đi vào thời gian tâm lý ?
KRISHNAMURTI
: Thời gian là tuổi già, thời gian là buồn phiền, thời gian
không lưu ý đ