Trong
kinh Pháp Hoa có tất cả bảy dụ tại sao chỉ riêng phẩm
này lấy
tên là Thí Dụ, còn những phẩm khác cũng dụ mà không để
tên Thí Dụ? Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói lên bản
hoài của chư Phật ra đời, cốt làm sao cho tất cả chúng
sanh đều được khai, thị, ngộ, nhập Tri kiến Phật của
chính mình, hay nói cách khác là nhận ra và hằng sống với
Tánh giác của chính mình. Nhưng khi chư Phật ra đời không
nói thẳng bản hoài đó vì căn cơ chúng sanh chưa kham thọ
nhận, nên Phật phương tiện nói Ngũ thừa, Tam thừa, sau cùng
mới nói Phật thừa. Trong phẩm này, đức Phật đã dùng
những ví dụ để làm sáng tỏ thêm chỗ cứu kính, để hiển
bày những phương tiện mà Ngài đã dẫn dắt chỉ là tạm
thời. Nhờ vậy đã giúp cho hàng trung căn dễ dàng nhận ra
đâu là mục tiêu chính mà Phật muốn chỉ. Cho nên phẩm này
lấy tên là Thí Dụ.
CHÁNH VĂN:
1.- Lúc bấy
giờ ngài Xá-lợi-phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy
chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật
rằng:
Nay con theo
đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng hớn hở
được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp
như thế này, thấy các vị Bồ-tát được thọ ký thành Phật,
mà chúng con chẳng được dự việc đó, tự rất cảm thương
mất vô lượng Tri kiến của Như Lai.
Thế Tôn!
Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc
ngồi, hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vầy:
“Chúng ta
đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu
thừa mà tế độ cho?”
Ðó là lỗi
của chúng con chớ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu
chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác thời chắc do pháp Ðại thừa mà được
độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo
cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp, vội tin
nhận suy gẫm để chứng lấy.
Thế Tôn!
Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình,
mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa
hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được
an ổn. Ngày nay mới biết mình thiệt là Phật tử, từ miệng
Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh được pháp phần của Phật.
GIẢNG:
Ngài Xá-lợi-phất
sau khi nghe Phật nói về Trí tuệ Phật, Ngài liền tin mình
có khả năng thành Phật, hay nói một cách khác là Ngài ngộ
được Tri kiến Phật của chính mình, nên vui mừng hớn hở
đứng dậy chấp tay trình sở ngộ với Phật.
Xưa, ngài
Xá-lợi-phất nghe Phật dạy Tứ đế hay Mười hai nhân duyên,
chớ không nghe Phật nói Tri kiến Phật, chỉ riêng hàng Bồ-tát
mới được nghe và được thọ ký sẽ thành Phật, còn Ngài
thì không được dự phần. Tự thấy cảm thương mình nên
những lúc ở dưới cội cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc
kinh hành, Ngài hằng nghĩ tất cả mọi người ai cũng như
ai, tại sao người được nghe pháp Tối thượng, người chỉ
được nghe pháp Tiểu thừa? Tại sao có chỗ sai biệt như
thế? Ví dụ nhiều người tới học đạo, có người tôi
khuyên nên ăn ở hiền lành, sống làm sao cho gia đình được
hòa thuận tin yêu lẫn nhau. Có người tôi dạy quán các pháp
như huyễn để phá ngã chấp và pháp chấp, để tự mình
được giải thoát và giải thoát cho chúng sanh. Dạy như vậy
tôi có bất công không? Không. Dạy tu khế lý mà phải khế
cơ, nếu trình độ người thấp mà dạy pháp cao thì họ không
thể lãnh hội và ứng dụng tu được, nếu ứng dụng không
được thì không có lợi ích mà còn thiệt hại là khác. Vì
vậy, buộc lòng phải nói pháp ngang với trình độ người
nghe, cho họ được lợi ích thực tiễn. Còn đối với người
đã thuần thục thì nói thẳng pháp cao họ ứng dụng được,
chẳng những tự họ có lợi ích mà còn có lợi cho người
sau. Sở dĩ Phật nói pháp sai biệt giữa các môn đồ là bởi
căn cơ sai khác, với người trình độ thấp thì Ngài dùng
phương tiện nâng lên từ từ, đến khi họ kham lãnh được
pháp lớn, thì Ngài bình đẳng nói pháp Nhất thừa. Vậy,
nếu mình học pháp thấp mà người được học pháp cao, chớ
trách người dạy bất công mà phải tự biết mình chưa đủ
sức kham lãnh pháp cao, nên người hướng dẫn phải tùy thuận
theo khả năng của mình mà dạy pháp thấp. Ðó là cái khéo
của người giáo hóa.
Ở đây,
ngài Xá-lợi-phất tự nhận thấy lỗi mình là đã mất vô
lượng Tri kiến Như Lai. Nghĩa là Ngài có sẵn Tri kiến Như
Lai, nhưng vì căn cơ thấp kém nên Phật không nói thẳng Phật
thừa chỉ nói pháp Nhị thừa. Ngài tự cảm thương mình chớ
không trách Phật. Nếu Ngài chờ Phật nói cái nhân thành đạo
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ngay đó mà tu hành thì sẽ
được thành Phật. Nhưng vì không hiểu Phật phương tiện
tùy cơ nói pháp Nhị thừa, liền tin và tu theo pháp Nhị thừa.
Ðó là lỗi ở Ngài chớ không phải lỗi ở Phật.
Kế đó,
ngài Xá-lợi-phất tán thán pháp mà Phật nói chưa từng có
chưa từng nghe, dứt lòng nghi hối được an ổn. Ngài tự
xác nhận mình là con Phật, từ miệng Phật sanh, từ pháp
hóa sanh, được pháp phần của Phật. Sở dĩ ngài Xá-lợi-phất
tự nhận như vậy là vì người tu lấy trí tuệ làm mạng
sống, vì nhân lời Phật dạy mà được trí tuệ, đó là
từ miệng Phật sanh. Nhờ pháp Phật khiến cho trí tuệ ngày
càng tăng trưởng, đó là từ pháp hóa sanh. Ðược từng
phần giác ngộ, nên nói được pháp phần của Phật.
Ngày nay,
đa số người đi chùa tự nhận mình là Phật tử, tức là
con của đấng Giác ngộ. Nếu không giác ngộ toàn phần thì
ít ra cũng giác ngộ từng phần mới dám xưng là Phật tử,
chớ không phải vô phần giác ngộ mà tự xưng là Phật tử
được. Trong kinh Phật dạy, người học Phật phải có
đủ ba môn trí tuệ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ
tức là nghe lời Phật dạy mà khai thông trí tuệ, đó là
từ miệng Phật sanh. Tư tuệ là do tư duy pháp Phật dạy mà
trí tuệ phát sanh, đó là từ pháp hóa sanh. Tu tuệ là
do tu Thiền định mà phát sanh trí tuệ, đó là được pháp
phần của Phật. Người học Phật phải có được một trong
ba phần trí tuệ vừa nêu thì mới gọi là Phật tử, nếu
không hiểu gì về đạo lý giải thoát thì chưa xứng đáng
là Phật tử. Ðây tôi nêu đôi phần giác ngộ để quí vị
tự xét xem mình có phải là Phật tử không? Phật nói tất
cả pháp có hình tướng ở thế gian đều là vô thường.
Nếu tin mà chưa thấy rõ các pháp là vô thường thì chưa
gọi là giác. Từ lâu chúng ta mê muội thấy đời là đẹp
là thường, nhờ nghe Phật nói tất cả pháp có hình tướng
đều là vô thường mà tâm sáng lên, biết mình đã mê lầm
(Văn tuệ). Sau khi nghe rồi suy gẫm, nghiệm xét từ con người
đến cảnh vật đều trải qua những giai đoạn thành trụ
hoại không, biến dịch không ngừng, biết rõ ràng tất cả
pháp có hình tướng đều bị luật vô thường chi phối (Tư
tuệ). Sau khi xác nhận lời Phật dạy là chân lý, thì ứng
dụng vào đời sống hằng ngày, chẳng hạn tâm vừa dấy
khởi chạy theo sắc, theo danh, theo lợi... liền nhớ tới thân
vô thường, cảnh vật vô thường, có đó rồi mất đó, đuổi
theo danh lợi rồi danh lợi cũng sẽ mất, ngay đó dẹp được
lòng tham danh lợi (Tu tuệ). Người tu sống được như vậy
mới không hổ thẹn với danh xưng Phật tử.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy, ngài
Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
2.-Con nghe
tiếng pháp này
Ðược điều
chưa từng có
Lòng rất
đỗi vui mừng
Lưới nghi
đều đã trừ
Xưa nay nhờ
Phật dạy
Chẳng mất
nơi Ðại thừa
Tiếng Phật
rất ít có
Hay trừ
khổ chúng sanh
Con đã được
lậu tận
Nghe cũng
trừ lo khổ
Con ở nơi
hang núi
Hoặc dưới
cụm cây rừng
Hoặc ngồi
hoặc kinh hành
Thường
suy nghĩ việc này
Than ôi!
Rất tự trách!
Sao lại
tự khi mình
Chúng ta
cũng Phật tử
Ðồng vào
pháp vô lậu
Chẳng được
ở vị lai
Nói pháp
Vô thượng đạo
Sắc vàng,
băm hai tướng
Mười lực,
các giải thoát,
Ðồng chung
trong một pháp
Mà chẳng
được việc đây
Tám mươi
tướng tốt đẹp
Mười tám
pháp bất cộng
Các công
đức như thế
Mà ta đều
đã mất.
GIẢNG:
Ngài Xá-lợi-phất
nghe Phật nói mọi người ai cũng có Tri kiến Phật, và chủ
yếu Phật ra đời là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập
Tri kiến Phật. Ngài tin chắc rằng Ngài sẽ được pháp Ðại
thừa và được thành Phật. Ngài Xá-lợi-phất nói Phật thuyết
pháp cốt là giải khổ cho chúng sanh. Rồi Ngài tự trách mình
là đệ tử của Phật, cũng được pháp vô lậu mà không
được thọ ký thành Phật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt,
thập lực, tám món giải thoát.
CHÁNH VĂN:
3.-Lúc con
kinh hành riêng
Thấy Phật
ở trong chúng
Danh đồn
khắp mười phương
Rộng lợi
ích chúng sanh
Tự nghĩ
mất lợi này
Chính con
tự khi dối
Con thường
trong ngày đêm
Hằng suy
nghĩ việc đó
Muốn đem
hỏi Thế Tôn
Là mất
hay không mất?
Con thường
thấy Thế Tôn
Khen ngợi
các Bồ-tát
Vì thế
nên ngày đêm
Suy lường
việc như vậy.
GIẢNG:
Ngài Xá-lợi-phất
khi ở chỗ vắng vẻ suy gẫm có phải mình đã tự mất giống
Phật không, muốn đem hỏi Thế Tôn mà Ngài chưa dám hỏi.
CHÁNH VĂN:
4.-Nay nghe
tiếng Phật nói
Theo cơ nghi
dạy pháp
Vô lậu
khó nghĩ bàn
Khiến chúng
đến đạo tràng
Con xưa chấp
tà kiến
Làm thầy
các Phạm chí
Thế Tôn
rõ tâm con
Trừ tà
nói Niết-bàn
Con trừ
hết tà kiến
Ðược chứng
nơi pháp không
Bấy giờ
lòng tự bảo
Ðược đến
nơi diệt độ
Mà nay mới
tự biết
Chẳng phải
thiệt diệt độ
Nếu lúc
được thành Phật
Ðủ ba mươi
hai tướng
Trời, người,
chúng dạ-xoa
Rồng, thần
đều cung kính
Bây giờ
mới được nói
Dứt hẳn
hết không thừa
Phật ở
trong đại chúng
Nói con sẽ
thành Phật
Nghe tiếng
pháp như vậy
Lòng nghi
hối đã trừ.
GIẢNG:
Ngài Xá-lợi-phất
nói thuở xưa Ngài là thầy của ngoại đạo Phạm chí, Phật
biết tâm của Ngài nên giáo hóa Ngài trừ hết các tà kiến,
chứng được pháp Không, tức Niết-bàn của Nhị thừa.
Nghĩa là Ngài quán sát thấy thân này do năm uẩn giả hợp
mà thành, Tự tánh nó là Không nên nói là vô ngã. Người
đạt được lý đó thì chứng quả A-la-hán. Ngài tưởng chứng
quả A-la-hán là Niết-bàn thật. Bây giờ nghe Phật nói pháp
Ðại thừa mới biết đó là Niết-bàn tạm, chớ không phải
Niết-bàn thật. Tu bao giờ công đức viên mãn thành Phật
mới là Niết-bàn thật, Ngài không nghi ngờ nữa.
CHÁNH VĂN:
5.-Khi mới
nghe Phật nói
Trong lòng
rất sợ nghi
Phải chăng
ma giả Phật
Não loạn
lòng ta ư?
Phật dùng
các món duyên
Thí dụ
khéo nói phô
Lòng kia
an như biển
Con nghe,
lưới nghi dứt
Phật nói
thuở quá khứ
Vô lượng
Phật diệt độ
An trụ trong
phương tiện
Cũng đều
nói pháp đó
Phật hiện
tại, vị lai
Số nhiều
cũng vô lượng
Cũng dùng
các phương tiện
Diễn nói
pháp như thế
Như Thế
Tôn ngày nay
Từ sanh
đến xuất gia
Ðuọc đạo
chuyển pháp luân
Cũng dùng
phương tiện nói
Thế Tôn
nói đạo thật
Ba-tuần
không nói được.
Vì thế
con định biết
Không phải
ma giả Phật
Con sa vào
lưới nghi
Cho là ma
làm ra
Nghe tiếng
Phật êm dịu
Sâu xa rất
nhiệm mầu
Nói suốt
pháp thanh tịnh
Tâm con rất
vui mừng
Nghi hối
đã hết hẳn
An trụ trong
thiệt trí
Con quyết
sẽ thành Phật
Ðược trời,
người cung kính
Chuyển pháp
luân vô thượng
Giáo hóa
các Bồ-tát.
GIẢNG:
Khi mới nghe
Phật nói những vị A-la-hán, Duyên giác tuy chứng Niết-bàn,
nhưng không phải thật, ngài Xá-lợi-phất tưởng chừng như
ma hóa ra Phật nói. Vì ngày xưa Phật dạy pháp Tứ đế là
lý chân thật, ngày nay lại nói Diệt đế chưa phải là cứu
kính, chưa phải là Niết-bàn nên Ngài nghi. Nhưng Ngài nghe
Thế Tôn giảng chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai khi ra
đời giáo hóa đều dùng phương tiện như nhau, trước nói
ba thừa rồi sau nói Phật thừa, nhờ vậy mà Ngài tin chắc
đó là lời Phật nói không phải là ma. Nên Ngài nói rằng
nay nghe tiếng Phật rất êm dịu, sâu xa nhiệm mầu thanh tịnh,
Ngài vui mừng hết nghi, tin chắc sẽ thành Phật, nói pháp
Ðại thừa giáo hóa Bồ-tát. Tới đây ngài Xá-lợi-phất
có lòng tin bất thoái chuyển không còn lui sụt nữa, quyết
định sẽ tiến tới quả Phật, vì vậy mà sau này được
thọ ký thành Phật.
Chúng ta nghe
Phật nói, có đủ lòng tin mình có sẵn Tri kiến Phật, khởi
tâm tu thì sẽ thành Phật không? Tri kiến Phật là cái nhân,
là hạt giống Phật, nếu đã tiến tu không thoái chuyển thì
nhất định sẽ thành Phật không nghi. Và được thọ ký vô
lượng kiếp về sau sẽ thành Phật, không cố định thời
gian dài ngắn, quyết định sẽ thành Phật. Ðó là then chốt
mà người tụng hay trì kinh Pháp Hoa phải nắm vững. Nếu
trì kinh Pháp Hoa mà còn mong cầu cho có phước, giàu sang, vui
tươi, mát mẻ... thì chưa đúng tinh thần trì kinh Pháp Hoa.
CHÁNH VĂN:
6.- Lúc bấy
giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:
Ta nay ở
trong hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn mà nói. Ta xưa từng
ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo Vô thượng nên thường
giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương
tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta.
Xá-lợi-phất!
Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều
quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn
khiến ông nghĩ nhớ bổn nguyện cùng đạo đã làm, mà vì
các Thanh văn nói kinh Ðại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa
Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.
GIẢNG:
Ðức Phật
Thích-ca mới thành Phật trong đời này, tại sao ở đây lại
nói đức Phật đã từng ở hai muôn ức Phật, vì đạo Vô
thượng thường giáo hóa ngài Xá-lợi-phất, ngài Xá-lợi-phất
cũng đã từ lâu theo Phật thọ học, và được Phật phương
tiện dẫn dắt cho vào pháp Phật? Phật lâu xa đó là chỉ
cho Phật pháp thân, còn Phật thành đạo ở Ấn Ðộ là Phật
hóa thân. Ðứng về mặt Pháp thân thì ai cũng có Pháp thân
Phật, nên nói Phật từng giáo hóa từ xa xưa, và đã từng
dạy cho ngài Xá-lợi-phất tu với chí nguyện thành Phật,
nhưng vì ngài Xá-lợi-phất quên đi. Khi nghe pháp Nhị thừa,
Ngài tu được diệt độ bèn cho là đã đủ. Vì vậy mà đức
Phật đã nhắc lại hạnh nguyện xưa của ngài Xá-lợi-phất,
rồi mới vì hàng Thanh văn nói kinh Pháp Hoa, để thấy tất
cả mọi người ai cũng có bản nguyện thành Phật. Bản nguyện
đó chính là Phật tánh sẵn có nơi mỗi người, nhưng vì
quên, nên khi nghe pháp nhỏ liền chấp nhận và tu rồi tự
hài lòng nơi đó. Bây giờ Phật nhắc ai cũng sẵn có Tri kiến
Phật và ai tu cũng sẽ thành Phật, chừng đó mới chợt nhận
ra tu là phải thành Phật, chớ từng bậc quả vị chỉ là
tạm thời thôi.
CHÁNH VĂN:
7.- Xá-lợi-phất!
Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư
nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng
trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát sẽ thành
Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Nước tên
Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng, thanh tịnh đẹp đẽ, an ổn,
giàu vui, trời, người đông đảo. Lưu-ly làm đất, có tám
đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường,
mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có bông
trái. Ðức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng
sanh.
Xá-lợi-phất!
Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bổn
nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là Ðại Bửu Trang
Nghiêm. Vì sao gọi là Ðại Bửu Trang Nghiêm?
Vì trong
cõi đó dùng Bồ-tát làm “Ðại Bửu” vậy. Các
Bồ-tát
đó số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể
hay thí dụ đều không kịp đến được, chẳng phải sức
trí tuệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn
đi thì có bông đỡ chân.
Các vị
Bồ-tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng
cội đức từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức
Phật, tịnh tu phạm hạnh, hằng được các Phật ngợi khen.
Thường tu trí tuệ của Phật, đủ sức thần thông lớn,
khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí
niệm bền vững, bậc Bồ-tát như thế, khắp đầy nước
đó.
Xá-lợi-phất!
Ðức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ lúc còn
làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám
tiểu kiếp. Ðức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp
thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn
Bồ-tát mà bảo các Tỳ-kheo: Ông Kiên Mãn Bồ-tát này kế
đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như
đây.
Xá-lợi-phất!
Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong
đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ trong đời cũng
ba mươi hai tiểu kiếp.
Lúc ấy,
đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
8.-Xá-lợi-phất
đời sau
Thành đấng
Phật trí khắp
Hiệu rằng:
Phật Hoa Quang
Sẽ độ
vô lượng chúng
Cúng dường
vô số Phật
Ðầy đủ
hạnh Bồ-tát
Các công
đức thập lực
Chứng đặng
đạo Vô thượng
Quá vô lượng
kiếp rồi
Kiếp tên
Ðại Bửu Nghiêm
Cõi nước
tên Ly Cấu
Trong sạch
không vết nhơ
Dùng lưu-ly
làm đất
Dây vàng
giăng đường sá
Cây bảy
báu sắc đẹp
Thường
có hoa cùng trái
Bồ-tát
trong cõi đó
Chí niệm
thường bền vững
Thần thông,
Ba-la-mật
Ðều đã
trọn đầy đủ
Nơi vô số
đức Phật
Khéo học
đạo Bồ-tát
Những Ðại
sĩ như thế
Phật Hoa
Quang hóa độ
Lúc Phật
làm vương tử
Rời nước
bỏ vinh hoa
Nơi thân
cuối rốt sau
Xuất gia
thành Phật đạo.
Phật Hoa
Quang trụ thế
Thọ mười
hai tiểu kiếp
Chúng nhân
dân nước đó
Sống lâu
tám tiểu kiếp
Sau khi Phật
diệt độ
Chánh pháp
trụ ở đời
Ba mươi
hai tiểu kiếp
Rộng độ
các chúng sanh
Chánh pháp
diệt hết rồi
Tượng pháp
cũng băm hai
Xá-lợi
rộng truyền khắp
Trời, người
khắp cúng dường
Phật Hoa
Quang chỗ làm
Việc đó
đều như thế
Ðấng Lưỡng
Túc Tôn kia
Rất hơn
không ai bằng
Phật tức
là thân ông
Nên phải
tự vui mừng.
GIẢNG:
Phật thọ
ký cho ngài Xá-lợi-phất trong đời vị lai, vô lượng vô
biên bất khả tư nghì kiếp, cúng dường ngàn ức Phật, hộ
trì chánh pháp đầy đủ đạo hạnh của Bồ-tát, sẽ thành
Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai. Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất
vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp sẽ thành Phật.
Thời gian thành Phật quá xa mà ngài Xá-lợi-phất vui mừng
cho rằng “Ðược việc chưa từng có”. Nếu chúng ta thời
nay được Phật thọ ký với thời gian lâu xa như vậy sẽ
thành Phật, chắc là không mừng, vì tu lâu quá nên ngán. Thọ
ký khoảng năm mười năm thành Phật thì khả dĩ vui mừng
và lo tu hành cho mau được kết quả. Có phải chúng ta sốt
sắng mong mau thành Phật hơn ngài Xá-lợi-phất không?
Như trước
đã nói Tri kiến Phật là cái không hạn cuộc ở không gian
và thời gian. Vì nó là cái chưa từng sanh cũng như chưa từng
diệt, nên nói bao nhiêu kiếp cũng là vô nghĩa. Chỉ biết
mình có Phật tánh và tin mình tu sẽ thành Phật là đủ rồi.
Chúng ta vì còn kẹt trên thời gian, chưa nhận ra Tri kiến
Phật, chỉ nhận cái thân tứ đại là mình, sống khoảng
năm sáu chục năm là chết. Nên nghe nói vô lượng vô biên
bất khả tư nghì kiếp, thấy quá xa không tin mình có thể
thực hiện được. Ðâu ngờ chính Tri kiến Phật mới thật
là mình. Ngài Xá-lợi-phất đã nhận ra Tri kiến Phật chính
là mình, biết có Phật nhân chắc chắn Phật quả không mất
phần, nên dầu có bỏ bao nhiêu cái thân tứ đại duyên hợp
tạm bợ này cũng không đáng kể. Chỉ cần Phật ấn chứng
là an lòng, là mãn nguyện rồi.
Ngày nay
chúng ta nghe nói tu khoảng một tỷ kiếp mới thành Phật thì
buồn, thấy lâu xa quá không đủ kiên nhẫn để tu, nên xao
lãng thối chí. Ðó là do tâm sanh diệt nhỏ hẹp lệ thuộc
thời gian, nên nghe Phật nói đến thời gian lâu xa không thể
nghĩ lường thì hoảng sợ không đủ lòng tin. Có nhiều người
tu hạn định trong khoảng thời gian ba năm hoặc năm năm phải
đạt đạo. Thoạt nghe thì dường như người ấy có ý chí
dõng mãnh đáng khen. Nhưng nếu tu ba năm, năm năm không đạt
đạo thì sao? Thoái Bồ-đề tâm, đó là cái bệnh. Người
tu mà nôn nóng mong mau thành đạo là người ý chí dõng mãnh
hay người tham lam lười nhác? Ví dụ người chân yếu nghe
nói cảnh đẹp nhưng đường dài, thì ngao ngán không muốn
đi. Với người chân khoẻ, đường dài thì mặc đường dài,
cứ nhắm đích mà thẳng tiến, không do dự không ngại ngùng,
đó là người dõng mãnh gan dạ, bền chí.
Cũng vậy,
chư Bồ-tát Thanh văn trong pháp hội lòng tin và ý chí đã
vững, tuy Phật thọ ký trong khoảng thời gian lâu xa như vậy
mà các ngài hoan hỉ vui mừng, tâm không chao động thoái lui.
Chúng ta ngày nay lòng tin không vững, thiếu nghị lực, tu muốn
cho mau đạt đạo nên dễ bị gạt, rơi vào đường tà, rẽ
ngã này tẽ ngã kia, rốt cuộc rồi không đến đích. Ðó
là bệnh chung của đa số người tu Phật hiện nay. Với người
tu chân chánh một phen nghe Phật dạy, biết rõ tu là để giác
ngộ thành Phật, lúc nào cũng thấy rõ lẽ thật hư của các
pháp, không lầm, không mong dễ, không mong mau, không ham hào
nhoáng hấp dẫn, cứ như thế mà sống cho đến khi hoàn toàn
triệt ngộ là đến đích thành Phật. Những cái hào nhoáng
hấp dẫn thu hút là cái quảng cáo dối gạt người tu. Lý
đạo chân thật thì thậm thâm vi diệu, lặng lẽ, không nổi
bật, không phô trương màu mè để thu hút người. Nếu người
tu Phật càng chạy theo những cái phô trương hấp dẫn là
càng xa với đạo.
Phật thọ
ký ngài Xá-lợi-phất thành Phật, nước tên Ly Cấu, kiếp
tên Ðại Bửu. Cõi nước Ta-bà ngũ trược của đức Phật
Thích-ca, chúng sanh nhiều nghiệp ác nên Phật mới phương
tiện dùng Ngũ thừa hoặc Tam thừa để giáo hóa. Tại sao
cõi nước Ly Cấu là cõi nước thanh tịnh, Phật cũng dùng
ba thừa để giáo hóa? Ðây là bản nguyện của tất cả chư
Phật mười phương đều dùng phương tiện nói ba thừa. Sở
dĩ gọi kiếp tên Ðại Bửu Trang Nghiêm là vì kiếp đó có
vô số Bồ-tát tu hành thanh tịnh, là những bậc cao minh trang
nghiêm cõi Phật, chớ không phải cõi đó trang nghiêm bằng
châu báu vàng bạc.
Qua dữ kiện
này, chúng ta thấy chùa nào Tăng Ni tu hành chân chánh thanh
tịnh thì chùa đó được người đời quí trọng. Nếu chùa
nào Tăng Ni phạm trai phá giới, tu hành lôi thôi thì người
đời xem thường. Như vậy người đời quí kính là quí kính
tâm người cao đẹp thanh tịnh, nếu tâm người ô uế bất
tịnh thì không quí. Vậy, chư Tăng Ni đừng quan niệm rằng
cất chùa cho thật to, thỉnh Phật cho thật lớn, trang hoàng
cho thật lộng lẫy là người đời quí trọng chùa mình. Người
đời quí kính là quí kính người tu chân chánh cầu đạo
giải thoát, chớ không phải trọng cảnh đẹp. Cho nên người
tu ngộ đạo dù cho vị đó mặc áo vá, ăn cơm hẩm, ở hang
đá hay am tranh, người ta vẫn tìm đến lễ bái cúng dường.
Ðạo lý là ở nơi con người, người thanh tịnh mới đáng
tôn kính quí trọng. Như vậy, người tu đừng có tâm mơ mộng
tạo chùa cảnh cho đẹp để mai kia mình trụ trì, mà phải
cố gắng nỗ lực tu, chính mình tu chân chánh mới dạy được
người tu đàng hoàng, đó là trang nghiêm chùa cảnh.
Muốn cõi
Phật mình được trang nghiêm thì phải thực hiện đủ hai
môn phước và tuệ. Về phần tuệ tự mình phải nỗ lực
tu tỉnh để được giác ngộ viên mãn, về phần phước thì
phải giáo hóa chúng sanh. Khi đã giáo hóa chúng sanh viên mãn
thì thành Phật. Giả sử đời này chúng ta ngộ đạo là đã
có trí tuệ, nhưng chưa giáo hóa chúng sanh làm sao có phước?
Sở dĩ Bồ-tát khi thành Phật có vô số đồ đệ Thanh văn
Bồ-tát, là những bậc tu phạm hạnh, tu Trí tuệ Phật, có
sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, tâm ngay
thật, chí bền vững, là do thời gian hành Bồ-tát đạo giáo
hóa chúng sanh lâu dài, nên mới có quyến thuộc đông như
vậy, và có phước tròn đầy nên mới được tôn xưng là
Lưỡng Túc Tôn. Ngày nay, chúng ta tu muốn năm năm bảy năm
thành Phật, trong khi chưa độ sanh làm sao được phước tuệ
viên mãn? Vậy nếu được Phật thọ ký khoảng thời gian
lâu dài sẽ thành Phật, chúng ta có buồn ngán không? Thời
gian tu tập lâu dài thì việc lợi sanh cũng nhiều, phước
đức thêm lớn. Khi việc tự giác giác tha đã viên mãn thì
mới đủ phước và tuệ để thành Phật, quyến thuộc mới
đông nhiều để trang nghiêm cõi Phật đúng như hạnh nguyện.
Tu chỉ muốn năm năm, bảy năm thành Phật, làm sao có đủ
phước tuệ để thành Phật? Dù muốn thành cũng không thể
thành.
Ðoạn này
có hai điểm đáng lưu ý. Kiếp chót của đức Thích-ca
thành Phật
sanh làm vương tử, ở đây Phật thọ ký cho ngài
Xá-lợi-phất
kiếp chót thành Phật cũng làm vương tử và các
đức Phật
cũng đều như vậy. Tại sao đời chót của chư Phật đều
sanh làm
vương tử mà không sanh trong gia đình bần cùng? Vì khi Bồ-tát
tu tới quả vị Nhất sanh bổ xứ thì phước đức vô lượng
vô biên, nên sanh làm vương tử mà không sanh vào chỗ xấu
ác. Hơn nữa, vương tử bỏ ngôi đi tu, để cho mọi người
thấy rằng Ngài đang ở trong ngũ dục lạc sung mãn, mà gan
dạ từ bỏ ngũ dục lạc, khiến cho mọi người ngưỡng mộ
kính phục để giáo hóa họ. Và một vương tử có đủ quyền
thế mà còn từ bỏ, trong khi mọi người là những kẻ không
có chút quyền hành, sao không gan dạ xả bỏ để tu?
Phần trùng
tụng lặp lại ý trên nên tôi không giảng, tuy nhiên bốn
câu chót: Ðấng Lưỡng Túc Tôn kia, rất hơn không ai bằng,
Phật tức là thân ông, nên phải tự vui mừng. Tại sao nói
“Phật tức là thân ông”? Vì ngài Xá-lợi-phất nhận ra
Tri kiến Phật của chính mình, nên Ngài tin chắc sẽ thành
Phật, và Ngài cũng được Phật thọ ký thành Phật. Bởi
ngay nơi thân năm uẩn phàm phu này có sẵn Phật nhân nên nói
Phật tức là thân này. Trong Chứng Ðạo Ca của Thiền sư
Vĩnh Gia Huyền Giác, đoạn mở đầu có câu “Huyễn hóa không
thân tức Pháp thân” nghĩa là ngay nơi thân năm uẩn duyên
hợp huyễn hóa này tức là Pháp thân; Pháp thân không rời
thân năm uẩn này mà có. Ngay thân năm uẩn của mỗi người
ai cũng có sẵn Pháp thân, nhưng vì không dám nhận nên tự
thấy mình là kẻ phàm phu vô phần, nếu đủ lòng tin dám
nhận thì thấy mình có phần, sẽ thành Phật. Vậy không cần
tìm kiếm Phật ở đâu xa, chỉ khéo nhận Pháp thân chân thật
ngay nơi thân năm uẩn huyễn hóa này, và hằng sống với Pháp
thân chân thật thì được an vui tự tại. Nên nói: Phật tức
là thân ông, nên phải tự vui mừng.
x
Xem Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh Dịch
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa