THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
PHẨM  2:
PHẨM  3:
PHẨM  4:
PHẨM  5: 
PHẨM  6:
PHẨM  7:
PHẨM  8: 
PHẨM  9: 
PHẨM  10:
PHẨM  11: 
PHẨM  12:
PHẨM  13: 
PHẨM  14: 
PHẨM  15:
PHẨM  16: 
PHẨM  17: 
PHẨM  18: 
PHẨM  19: 
PHẨM  20: 
PHẨM  21: 
PHẨM  22: 
PHẨM  23:
PHẨM  24: 
PHẨM  25: 
PHẨM  26: 
PHẨM  27: 
PHẨM  28: 
c
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
GIẢNG GIẢI
Hòa Thượng Thích Thanh Từ 
2C
PHẨM 2 PHƯƠNG TIỆN 
CHÁNH VĂN:

            21.- Xá-lợi-phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A-la-hán cùng Duyên giác, mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Duyên giác.

            Lại nữa Xá-lợi-phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni đó tự cho mình đã được A-la-hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết-bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ-kheo thiệt chứng quả A-la-hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ, hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ.

            Xá-lợi-phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.

GIẢNG:

Phật xác nhận một cách quyết liệt, dù là A-la-hán, Duyên giác ngang đó mà tự mãn cho là đủ thì người đó không phải là đệ tử của Phật. Người tu chúng ta hiện tại, đa số mắc phải chứng bệnh tự mãn, tu một thời gian tự thấy rằng mình đã đủ, nên mặc nhiên an hưởng tứ sự cúng dường một cách sung mãn, mà không lo nghĩ đến sự tu tiến. Nên tôi thường nói khẳng định rằng: Nếu chưa thành Phật thì không lúc nào chúng ta ngừng nghỉ tu hành, nếu ngừng nghỉ không tu là rơi vào lỗi tự mãn, đó là tăng thượng mạn. Dù là Bồ-tát cũng vẫn cố gắng tu hành, đến khi thành Phật mới thôi. Ai được chút ít cho là đủ, người đó chỉ là hạt lép, là lá vàng úa, gió thổi qua rơi rụng hết. Nếu là hạt chắc, là thứ thật thì tu cho đến khi thành Phật mới rồi trách nhiệm của mình, chưa thành Phật thì lúc nào cũng phải cố gắng nỗ lực tu chớ không tự mãn. Nhưng mà nhìn lại thì người tu bây giờ tự mãn không phải ít. Họ nghĩ rằng đời này tu gieo giống lành, kiếp sau tu nữa, hoặc già yếu rồi nghỉ ngơi cho thảnh thơi đôi chút, chẳng lẽ suốt đời cặm cụi tu hoài... Nghĩ như vậy là trái với tinh thần của Phật dạy, nên chưa phải là đệ tử Phật.

Ðức Phật đối với những chúng sanh tu mà không muốn thành Phật, chỉ muốn đời sau sanh ra làm người tốt, có đủ duyên phước thì Phật dạy giữ Năm giới, đó là Nhân thừa. Lại có người tu không muốn thành Phật, muốn được sung sướng hưởng phước báo đầy đủ, Phật dạy tu Thập thiện, đó là Thiên thừa. Người không muốn sanh lên cõi trời cũng không muốn trở lại làm người, Phật dạy tu Tứ đế để chứng Niết-bàn không còn tái sanh lại nữa, đó là Thanh văn thừa. Ðến hàng Duyên giác thì Phật nói Mười hai nhân duyên, hàng Bồ-tát thì nói Sáu pháp ba-la-mật, hướng dẫn từ thấp dần dần lên. Tới đây Phật mới nói bản hoài của chư Phật ra đời là dạy người tu để thành Phật chớ không dạy điều gì khác.

Cũng vậy, hiện tại tôi hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử tu, là phải biết rõ nơi mình có "cái chân thật" mà tôi tạm gọi là "Ông chủ" hay "Bản lai diện mục", còn ý niệm nghĩ suy là vọng tưởng không thật. Biết được như vậy rồi thì đi đứng nằm ngồi, hằng sống với Ông chủ, không chạy theo vọng tưởng hư giả. Ðó là bản hoài mà tôi nhắm. Nhưng người tới học đạo có nhiều trình độ. Người già đến thì tôi dạy niệm Phật cho tâm bớt loạn, để khi nhắm mắt theo Phật về cõi Phật. Nếu là người trẻ mới vào đạo chưa rõ gì về Thiền tông, mà tâm quá loạn động thì tôi dạy đếm hơi thở, nhờ đếm hơi thở mà tâm bớt loạn... Ðó là những phương tiện tôi đã dùng làm lợi ích cho người tùy theo trình độ căn cơ của họ. Chưa nói được mục đích mà tôi nhắm thì phải nói phương tiện, làm sao cho người đến học đều được lợi ích.

CHÁNH VĂN:

Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

22.-Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni

Cưu lòng tăng thượng mạn

Cận sự nam ngã mạn

Cận sự nữ chẳng tin,

Hàng bốn chúng như thế

Số kia có năm nghìn

Chẳng tự thấy lỗi mình

Nơi giới có thiếu sót

Tiếc giữ tội quấy mình

Trí nhỏ đó đã ra

Bọn cám tấm trong chúng

Oai đức Phật phải đi

Gã đó kém phước đức

Chẳng kham lãnh pháp này

Chúng nay không cành lá

Chỉ có những hột chắc.

GIẢNG:

Ðức Phật nói những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ trong tứ chúng, có khoảng năm ngàn người là những kẻ kém duyên phước, trí nhỏ hẹp, thuộc hàng tăng thượng mạn, họ không kham nhận pháp Phật nên bỏ đi. Sau khi họ bỏ đi, Phật mới nói: Bây giờ trong chúng không còn cám tấm, cành lá úa, chỉ còn hạt chắc thôi.

CHÁNH VĂN:

23.-   Xá-lợi-phất khéo nghe!

Pháp của các Phật được

Vô lượng sức phương tiện

Mà vì chúng sanh nói.

Tâm của chúng sanh nghĩ

Các món đạo ra làm

Bao nhiêu những tánh dục

Nghiệp lành dữ đời trước,

Phật biết hết thế rồi

Dùng các duyên thí dụ

Lời lẽ sức phương tiện

Khiến tất cả vui mừng,

Hoặc là nói Khế kinh,

Cô khởi cùng Bổn sự,

Bổn sanh, Vị tằng hữu,

Cũng nói những Nhân duyên,

Thí dụ và Trùng tụng

Luận nghị cọng chín kinh.

Căn độn ưa pháp nhỏ

Tham chấp nơi sanh tử

Nơi vô lượng đức Phật 

Chẳng tu đạo sâu mầu

Bị các khổ não loạn

đó nói Niết-bàn,

Ta bày phương tiện đó

Khiến đều vào huệ Phật.

Chưa từng nói các ông

Sẽ được thành Phật đạo

Sở dĩ chưa từng nói

giờ nói chưa đến,

Nay chính là đến giờ

Quyết định nói Ðại thừa.

GIẢNG:

Phật nói cho tất cả hội chúng biết rằng pháp mà Phật được, có sức phương tiện vô cùng, biết tường tận nhân duyên quả báo của sáu loài chúng sanh. Ngài nói pháp dùng những phương tiện như:

- Khế kinh: Lời dạy của Phật hợp với căn cơ chúng sanh, bằng thể văn xuôi, còn gọi là Trường hàng.

- Trùng tụng: Một thể văn thuyết pháp của Phật lặp lại ý của đoạn văn Trường hàng bằng kệ tụng.

- Bản sự: Những việc làm, những kiến văn ở đời trước của Phật do Phật thuật lại.

- Bản sanh: Phật nhắc lại tiền kiếp của Ngài hay của đệ tử.

- Vị tằng hữu: Việc chưa từng có, khó hiểu, khó tin.

- Nhân duyên: Phật giải về căn bản của quả báo từ gốc tới ngọn.

- Thí dụ: Dùng một mẩu chuyện để so sánh cho dễ hiểu.

- Cô khởi: Thi văn tự mình xướng lên lúc thuyết pháp.

- Luận nghị: Biện luận sâu rộng, khúc chiết, mạch lạc cho dễ hiểu.

Ðó là những thể tài thuyết pháp mà Phật đã dùng hoặc đủ chín phần hoặc không đủ chín phần trong mỗi bộ kinh. Phật tùy thời tùy cơ mà nói, dẫn dụ chúng sanh đi từ thấp đến cao, cuối cùng đưa đến Phật thừa là chỗ cứu kính.

CHÁNH VĂN:

24.-Chín bộ pháp của ta

Thuận theo chúng sanh nói

Vào Ðại thừa làm gốc

                     Nên mới nói kinh này

Có Phật tử tâm tịnh

Êm dịu cùng căn lợi

Nơi vô lượng các Phật 

Mà tu đạo sâu mầu,

Vì hàng Phật tử này

Nói kinh Ðại thừa đây

Ta ghi cho người đó

Ðời sau thành Phật đạo

Bởi thâm tâm niệm Phật

Tu trì tịnh giới vậy

Hạng này nghe thành Phật

Rất mừng đầy khắp mình,

Phật biết tâm của kia

Nên vì nói Ðại thừa,

Thanh văn hoặc Bồ-tát

Nghe ta nói pháp ra

Nhẫn đến một bài kệ

Ðều thành Phật không nghi.

GIẢNG:

Sở dĩ Phật nói chín bộ pháp đó là vì thuận theo căn cơ của chúng sanh mà nói, chớ bản hoài của Phật là chỉ cho chúng sanh một Phật thừa mà thôi. Nếu ai nghe Phật thừa này, đem lòng tin và nói cho người khác nghe thì được Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật. Vì tâm họ nhớ nghĩ Phật rất sâu xa, không tự mãn ở những cấp bậc thấp, quyết định họ sẽ thành Phật.

CHÁNH VĂN:

25.-   Trong cõi Phật mười phương

Chỉ có một thừa pháp

Không hai cũng không ba

Trừ Phật phương tiện nói

Chỉ dùng danh từ giả

Dắt dẫn các chúng sanh

Vì nói Trí tuệ Phật.

Các Phật ra nơi đời

Chỉ một việc này thiệt

Hai thứ chẳng phải chân.

Trọn chẳng đem Tiểu thừa

Mà tế độ chúng sanh

                     Phật tự trụ Ðại thừa

Như pháp của mình được

Ðịnh, huệ, lực, trang nghiêm

Dùng đây độ chúng sanh.

Tự chứng đạo Vô thượng

Pháp bình đẳng Ðại thừa

 Nếu dùng Tiểu thừa độ

Nhẫn đến nơi một người

Thời ta đọa san tham

Việc ấy tất không được

Nếu người tin về Phật 

Như Lai chẳng dối gạt

                     Cũng không lòng tham ganh

                     Dứt ác trong các pháp

                     Nên Phật ở mười phương

                     Mà riêng không chỗ sợ.

                     Ta dùng tướng trang nghiêm

                     Ánh sáng soi trong đời

                     Ðấng vô lượng chúng trọng

                     Vì nói thiệt tướng ấn.

GIẢNG:

Ðoạn này Phật lặp lại ý chánh của chư Phật mười phương ra đời là chỉ nói một Phật thừa, chớ không có thừa thứ hai hay thứ ba. Tại sao? Vì quả vị cùng tột mà Ngài chứng được là quả Phật, nếu để lại ít phần không chỉ dạy rốt ráo, đó là thiếu lòng từ, tâm còn san lẫn, sợ người hơn mình. Phật là đấng Ðại từ Ðại bi, không san lẫn, nên cái gì Ngài được, Ngài muốn cho tất cả mọi người đều được như Ngài. Nếu mọi người chưa được như Ngài thì Ngài chưa mãn nguyện, không bằng lòng. Vì vậy mà cuối cùng Ngài nói: "Ðấng vô lượng chúng trọng, vì nói thiệt tướng ấn." Thông thường trong nhà Phật có nêu ra Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn, hoặc Nhất thật pháp ấn, để làm dấu ấn xác minh coi pháp đó có phải Phật nói không. Tam pháp ấn là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh; Tứ pháp ấn là: vô thường, khổ, không, vô ngã; Nhất thật pháp ấn cũng là Thật tướng ấn. Ấn là dấu in để ấn chứng. Muốn biết kinh nào là thật của Phật nói hay không phải của Phật nói, thì phải lấy Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn hay Nhất thật pháp ấn để làm chỗ ấn chứng. Nhất thật pháp ấn là chỉ cho mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, nếu tu thì sẽ thành Phật. Kinh Pháp Hoa, Phật nói tột chỗ đó nên gọi là "Thật tướng ấn".

CHÁNH VĂN:

26.-Xá-lợi-phất! Nên biết!

       Ta vốn lập thệ nguyện

Muốn cho tất cả chúng

Bằng như ta không khác

                     Như ta xưa đã nguyện

Nay đã đầy đủ rồi

Ðộ tất cả chúng sanh 

Ðều khiến vào Phật đạo

Nếu ta gặp chúng sanh 

Dùng Phật đạo dạy cả

Kẻ vô trí rối sai

Mê lầm không nhận lời

Ta rõ chúng sanh đó

Chưa từng tu cội lành

Chấp chặt nơi ngũ dục

Vì si ái sanh khổ

Bởi nhân duyên các dục

Sa vào ba đường dữ

Xoay lăn trong sáu nẻo

Chịu đủ những khổ độc

Thân mọn thọ bào thai

Ðời đời tăng trưởng luôn

                     Người đức mỏng ít phước

Các sự khổ bức ngặt

Vào rừng rậm tà kiến

Hoặc chấp có, chấp không

Nương gá các chấp này

Ðầy đủ sáu mươi hai

Chấp nhận pháp hư vọng

Bền chặt không bỏ được

Ngã mạn tự khoe cao

Dua nịnh lòng không thiệt

Trong nghìn muôn ức kiếp

Chẳng nghe danh tự Phật 

Cũng chẳng nghe chánh pháp

Người như thế khó độ.

GIẢNG:

Lời thệ nguyện của đức Phật Thích-ca cũng như chư Phật mười phương là muốn làm sao cho tất cả chúng sanh đều được bằng Phật. Nhưng vì tâm trí chúng sanh mê mờ rối loạn, tà kiến, tham ưa ngũ dục, không bao giờ tu pháp lành, nên trôi lăn trong ba đường dữ chịu mọi khổ đau, do đó không bao giờ nghe được danh hiệu Phật. Những chúng sanh này rất là khó độ.

CHÁNH VĂN:

27.-   Cho nên Xá-lợi-phất!

Ta vì bày phương tiện

Nói các đạo dứt khổ

Chỉ cho đó Niết-bàn

Ta dầu nói Niết-bàn

Cũng chẳng phải thiệt diệt

Các pháp từ bổn lai

Tướng thường tự vắng lặng

Phật tử hành đạo rồi

Ðời sau được thành Phật

Ta có sức phương tiện

Mở bày pháp ba thừa

Tất cả các Thế Tôn 

Ðều nói đạo Nhứt thừa

                     Nay trong đại chúng này

                     Ðều nên trừ nghi lầm

                     Lời Phật nói không khác

                     Chỉ một, không hai thừa.

GIẢNG:

Vì hàng chúng sanh khó độ nên Phật mới bày phương tiện dứt các khổ cho họ được Niết-bàn. Niết-bàn đó là Niết-bàn của Nhị thừa. Tuy nói Niết-bàn, nhưng chẳng phải thật diệt. Vì:

Các pháp từ bổn lai

Tướng thường tự vắng lặng.

Từ trước chúng ta thường nghe Phật dạy các pháp ở thế gian này là biến động vô thường, tại sao ở kinh này Phật lại nói "các pháp từ xưa đến nay tướng thường tự vắng lặng"? Chữ "Tướng" ở đây phải hiểu là "Thật tướng", tức là Thể tánh của các pháp. Chúng ta quán sát thấy các pháp trên thế gian này tướng nó là biến động, có đó rồi mất đó. Ví dụ như cái đồng hồ, thông thường máy chạy, kim quay, chúng ta căn cứ trên kim đồng hồ, định ngày giờ mà làm việc. Nếu máy không chạy kim không quay, thì đồng hồ không xài được. Như vậy, tất cả pháp thế gian được hữu dụng là do linh động có sự sống, nếu nó bất động coi như là chết vô dụng. Ðó là cái thấy thông thường của thế gian. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chúng ta mở chốt đồng hồ ra, để riêng từ bộ phận thì máy không chạy, kim không quay; nếu ráp các bộ phận ấy lại thì máy đồng hồ chạy, kim đồng hồ quay. Như vậy, các pháp biến động là do duyên hợp mà có, chớ thật thể của nó vốn không động, nên nói Tự tánh các pháp vốn tịch diệt.

Cũng vậy, Tự tâm của mỗi người, khi mắt thấy người thấy cảnh... rồi khởi niệm nghĩ về người về cảnh đó là động niệm, mà động niệm là tướng duyên hợp sanh diệt vô thường, đủ duyên thì tạm có, thiếu duyên thì tạm không, không có thật thể cố định. Như vậy, pháp do duyên mà thành có hay thành không, thì pháp đó không thật. Còn pháp không do duyên mà thành, đó là cái chân thật.

Vậy, tất cả pháp ở thế gian này, nếu đứng về mặt Bản thể mà nhìn, không có một pháp nào biến động vô thường cả. Sở dĩ thấy các pháp vô thường biến động là vì chưa thấy tột cùng Bản thể của nó, nên theo tình chấp mà thấy có động tịnh, có vô thường. Nếu thấy tột cùng Bản thể của nó thì thấy các pháp nguyên là bất động, lặng lẽ. Ngay nơi bản thân con người sự sống và sự chết là do cái gì? Sống là do duyên, mà chết cũng do duyên. Vậy sống chết là chuyện của duyên; đã là chuyện của duyên thì không phải là chuyện của mình. Ngay nơi sống chết biết đó là tướng của duyên thì chúng ta không còn bị sống chết chi phối nữa, sự sống chết đối với chúng ta rất thường, không quan trọng.

Xưa có Thiền sư đọc tới hai câu trên ngài nghi: Tại sao các pháp từ xưa đến nay tướng thường vắng lặng? Ngài ôm ấp thắc mắc mãi trong lòng. Một sáng mùa Xuân nọ, ngài ngồi trước cửa chùa, bỗng thấy chim hoàng oanh đậu trên cành liễu hót, ngài hoát nhiên ngộ đạo, liền đọc tiếp hai câu:

Xuân đáo bách hoa khai

Hoàng oanh đề liễu thượng.

Hợp lại thành bài thơ bốn câu:

Chư pháp tùng bản lai,

Thường tự tịch diệt tướng.

Xuân đáo bách hoa khai,

Hoàng oanh đề liễu thượng.

Mùa Xuân đến thì trăm hoa nở, chim hoàng oanh đậu trên cành liễu cất tiếng hót. Tất cả pháp, thể vốn không động, khi duyên hợp thì động, Xuân sang thì hoa nở, chim hót. Xuân sang, hoa nở, chim hót là duyên. Cái động đó là động của duyên. Ngài thấy rõ ngay trong các pháp Thể tánh nó vốn lặng lẽ, mà tướng dụng của nó thì biến động, như hoa nở, chim hót khi Xuân đến. Ngộ đạo là thấy cùng tột Bản thể của sự vật, cũng như nhận ra Thể tánh của chính mình, đồng thời cũng biết rõ tướng dụng sinh động của nó không lầm lẫn. Chúng ta vì còn mê nên lầm chấp tướng dụng của các pháp cho là thật, đó là gốc của khổ đau. Người học đạo, nếu thấy tột chỗ cứu kính này thì sẽ thành Phật không nghi, còn nếu chấp tướng động của thân của nghiệp thì vẫn là chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử.

Ðoạn này cốt nói rõ mục tiêu của chư Phật, vì thương xót chúng sanh mê lầm nên mãi chịu khổ. Các ngài dùng nhiều phương tiện giải bày cho hết khổ. Chỗ cứu kính mà Phật muốn chỉ là Phật thừa, chớ không có thừa thứ hai thứ ba.

CHÁNH VĂN:

28.-Vô số kiếp đã qua

         Vô lượng Phật diệt độ

Trăm nghìn muôn ức Phật

Số nhiều không lường được

Các Thế Tôn như thế

Các món duyên thí dụ

Vô số ức phương tiện

Diễn nói các pháp tướng

Các đức Thế Tôn đó

Ðều nói pháp Nhứt thừa

                     Ðộ vô lượng chúng sanh

Khiến vào nơi Phật đạo

Lại các đại Thánh chúa

                     Biết tất cả thế gian

                     Trời, người loài quần sanh

                     Thâm tâm chỗ ưa muốn

                     Bèn dùng phương tiện khác

                     Giúp bày nghĩa đệ nhứt.

GIẢNG:

Ðoạn này lặp lại ý đoạn trước. Vô số đức Phật đời quá khứ dùng mọi phương tiện giáo hóa chúng sanh khiến cho vào Phật đạo.

CHÁNH VĂN:

29.-Nếu có loài chúng sanh 

Gặp các Phật quá khứ

Hoặc nghe pháp bố thí

Hoặc trì giới, nhẫn nhục

Tinh tấn, thiền trí thảy

               Các món tu phước huệ

Những người như thế đó

Ðều đã thành Phật đạo

Sau các Phật diệt độ

Nếu người lòng lành dịu

Các chúng sanh như thế

Ðều đã thành Phật đạo.

GIẢNG:

Nếu có những chúng sanh gặp chư Phật đời quá khứ, được các ngài dạy tu Lục độ, những chúng sanh đó hay tu được Lục độ thì họ đã thành Phật. Và sau khi Phật diệt độ, những chúng sanh có lòng lành dịu, thì cũng đều đã thành Phật đạo.

CHÁNH VĂN:

30.-Các Phật diệt độ rồi

Người cúng dường xá-lợi

Dựng muôn ức thứ tháp

Vàng, bạc và pha lê

Xa-cừ cùng mã não

Ngọc mai khôi, lưu-ly

Thanh tịnh rộng nghiêm sức

Trau giồi nơi các tháp 

Hoặc có dựng miếu đá

Chiên-đàn và trầm thủy

Gỗ mật cùng gỗ khác

Gạch ngói bùn đất thảy

Hoặc ở trong đồng trống

    Chứa đất thành miếu Phật 

Nhẫn đến đồng tử giỡn

Nhóm cát thành tháp Phật 

Những hạng người như thế

Ðều đã thành Phật đạo.

GIẢNG:

Phật quá khứ đã diệt độ, nếu có ai xây tháp bằng vàng, bạc, pha lê... hoặc xây bằng gỗ, gạch, ngói, bùn, đất, cho đến trẻ con chơi làm tháp Phật để cúng dường, tất cả những người đó đều đã thành Phật đạo.

CHÁNH VĂN:

31.-Nếu như người vì Phật 

Xây dựng các hình tượng

Chạm trổ thành các tướng

Ðều đã thành Phật đạo

Hoặc dùng bảy báu làm

Thau, đồng bạch, đồng đỏ

Chất nhôm cùng chì kẽm

Sắt, gỗ cùng với bùn

Hoặc dùng keo, sơn, vải

Nghiêm sức làm tượng Phật

Những người như thế đó

Ðều đã thành Phật đạo

Vẽ vời làm tượng Phật 

Trăm tướng phước trang nghiêm

Tự làm hoặc bảo người

Ðều đã thành Phật đạo

Nhẫn đến đồng tử giỡn

Hoặc cỏ cây và bút

Hoặc lấy móng tay mình

Mà vẽ làm tượng Phật 

Những hạng người như thế

Lần lần chứa công đức

Ðầy đủ tâm đại bi

Ðều đã thành Phật đạo

Chỉ dạy các Bồ-tát 

Ðộ thoát vô lượng chúng.

GIẢNG:

Nếu các chúng sanh vì Phật mà tạo hình tượng Ngài bằng bảy báu, hoặc dùng các thứ kim loại, hoặc dùng gỗ, bùn, keo, sơn, vải tạc thành tượng Phật, cho đến trẻ con dùng ngón tay hay dùng cây cỏ vẽ thành tượng Phật; nhờ tích chứa công đức, đầy đủ tâm đại bi, nên họ đều đã thành Phật đạo.


x
Xem Thêm:
Kinh Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh Dịch
Lược Giải Kinh Pháp Hoa
Diễn Giải Kinh Pháp Hoa
Ðạo Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap