Nầy
A Nan! Có chúng sanh nào, sanh về cõi nước An Lạc ấy thì
đều ở bực chánh định tụ cả.
Tại
sao vậy?
Vì
nước ấy không có hạng tà tụ và bất định tụ.
Hằng
sa chư Phật Như Lai mười phương đồng khen ngợi oai thần
công đức bất khả tư nghị của đức Vô Lượng Thọ Phật.
Có
những chúng sanh nghe danh hiệu đức Phật ấy, lòng tin vui
mừng nhẫn đến phát một niệm chí tâm hồi hướng nguyện
cầu sanh về nước ấy, thì liền được vãng sanh ở bực
bất thối chuyển, chỉ trừ kẻ phạm tội ngũ nghịch và
phỉ báng chánh pháp.
Nầy
A Nan! Chúng sanh ở mười phương, những người và chư Thiên
nguyện cầu sanh về nước an lạc của đức Vô Lượng Thọ
Phật có ba hạng:
Hạng
thượng phẩm là những người bỏ nhà lìa ái dục mà
làm Sa Môn, phát tâm Bồ đề, chuyên một mật niệm Vô Lượng
Thọ Phật, tu các công đức, nguyện sanh về nước ấy. Lúc
chúng sanh nầy lâm chung, đức Vô Lượng Thọ Phật cùng hàng
Thánh chúng hiện ra trước người ấy, liền theo đức Phật
sanh về nước An Lạc, tự nhiên hóa sanh từ trong hoa sen thất
bảo, ở bực bất thối chuyển, trí huệ dũng mãnh, thần
thông tự tại.
Vì
thế nên, nầy A Nan! Có ai muốn hiện đời được thấy đức
Vô Lượng Thọ Phật thì phải phát tâm Vô thượng Bồ đề
tu những công đức nguyện sanh về nước An Lạc.
Nầy
A Nan! Hạng trung phẩm là những người và chư Thiên
ở các thế giới mười phương, có ai chí tâm nguyện sanh
về nước ấy, nhưng phải phát tâm Vô thượng Bồ đề chuyên
một mặt niệm Vô Lượng Thọ Phật, làm lành hoặc ít hoặc
nhiều, giữ gìn giới Bát quan trai, xây dựng tháp tượng,
trai tăng, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, dùng đây
để hồi hướng nguyện sanh về nước An Lạc. Lúc người
nầy lâm chung, đức Vô Lượng Thọ Phật hóa hiện thân ra
đủ tướng tốt và quang minh như chơn Phật cùng với Thánh
chúng đến trước người ấy, liền theo đức Hóa Phật sanh
về nước An Lạc ở bực bất thối chuyển. Công đức trí
huệ kế bực thượng phẩm.
Nầy
A Nan! Hạng hạ phẩm là có những người và chư Thiên
ở các thế giới mười phương chí tâm muốn sanh về nước
An Lạc, giả sử chẳng làm được các công đức, họ phải
phát tâm Vô thượng Bồ đề, một mặt chuyên tâm niệm Vô
Lượng Thọ Phật cho đến mười niệm nguyện sanh nước An
Lạc, hoặc nghe pháp Ðại thừa vui mừng tin ưa chẳng sanh
nghi hoặc niệm Vô Lượng Thọ Phật cho đến một niệm, dùng
tâm chí thành nguyện sanh nước An Lạc. Người ấy lúc lâm
chung chiêm bao thấy đức Vô Lượng Thọ Phật cũng được
vãng sanh, công đức trí huệ kế bực trung phẩm.
Nầy
A Nan! Ðức Vô Lượng Thọ Phật oai thần vô cực. Vô lượng
vô biên bất khả tư nghị chư Phật Như Lai ở các thế giới
mười phương, không đức Phật nào chẳng khen ngợi Vô Lượng
Thọ Phật.
Hằng
hà sa Phật quốc ở phương Ðông kia có vô lượng vô biên
chúng Bồ Tát thảy đều đến chỗ đức Vô Lượng Thọ Phật
để cung kính cúng dường đức Phật ấy và chúng Bồ Tát,
Thanh Văn, rồi nghe thọ kinh pháp tuyên bá giáo hóa. Chín phương
khác cũng như vậy”.
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ tụng rằng:
“Phương
Ðông các Phật quốc
Số
nhiều như hằng sa
Chúng
Bồ Tát nước ấy
Ðến
lạy Vô Lượng Phật
Ba
phương và bốn hướng
Thượng
hạ cũng như vậy
Chúng
Bồ Tát nước ấy
Ðến
lạy Vô Lượng Phật
Tất
cả chúng Bồ Tát
Ðều
mang hoa trời đẹp
Hương
trời, y vô giá
Cúng
dường Vô Lượng Phật
Ðều
cùng tấu nhạc trời
Phát
ra tiếng hòa nhã
Ca
ngợi đấng Tối Thắng
Cúng
dường Vô Lượng Phật.
Thấu
suốt thần thông huệ
Chứng
nhập thâm pháp môn
Ðầy
đủ tạng công đức
Diệu
trí chẳng ai bằng
Huệ
nhựt soi thế gian
Tiêu
trừ mây sanh tử
Cung
kính nhiễu ba vòng
Cúi
lạy đấng vô thượng
Thấy
nước ấy nghiêm tịnh
Vi
diệu khó nghĩ bàn
Nên
phát tâm vô lượng
Nguyện
nước tôi cũng vậy
Liền
đó vô lượng Phật
Hoan
hỷ miệng mỉm cười
Miệng
phóng vô số quang
Chiếu
khắp mười phương cõi
Quay
về vòng quanh thân
Ba
vòng vào đảnh Phật
Tất
cả chúng trời, người
Ðều
vui mừng hớn hở.
Quan
Thế AÂm Bồ Tát
Chỉnh
y cúi đầu hỏi
Cớ
sao đức Phật cười
Ngưỡng
mong Phật nói ý?
Tiếng
Phật như sấm động
Bát
âm vang tiếng diệu
Sẽ
thọ ký Bồ Tát
Ông
lắng nghe ta nói
Bồ
Tát mười phương đến
Ta
đều biết họ muốn
Nguyện
cầu nước nghiêm tịnh
Thọ
ký sẽ thành Phật
Giác
ngộ tất cả pháp
Ðường
như mộng, ảo, vang
Ðầy
đủ những diệu nguyện
Tất
thànb nước như vậy
Biết
pháp như điện, ảnh
Trọn
vẹn đạo Bồ Tát
Ðủ
các cội công đức
Thọ
ký sẽ thành Phật
Thông
đạt các pháp tánh
Tất
cả không, vô ngã
Chuyên
cầu nước Phật tịnh
Tất
thành nước như vậy
Chư
Phật bảo Bồ Tát
Phải
đến Phật Vô Lượng
Nghep
pháp thích vâng làm
Mau
được chỗ thanh tịnh
Ðến
nước nghiêm tịnh ấy
Thì
mau được thần thông
Ở
chỗ Phật Vô Lượng
Thọ
ký thành chánh giác
Phật
ấy có bổn nguyện
Nghe
danh muốn vãng sanh
Ðều
được sanh nước ấy
Ở
bực bất thối chuyển
Bồ
Tát phát chí nguyện
Muốn
nước tôi không khác
Nhớ
độ khắp tất cả
Danh
vang khắp mười phương
Phụng
sự ức Như Lai.
Biến
hóa đến các nước
Cung
kính cúng dường Phật
Trở
về nước An Dưỡng.
Người
nào không tâm lành
Chẳng
được nghe kinh nầy
Người
có giới thanh tịnh
Mới
được nghe chánh pháp
Ðã
từng thấy chư Phật
Thì
tin được việc nầy
Cung
kính nghe phụng hành
Hớn
hở rất vui mừng.
Kiêu
mạn, ngu, giải đãi
Khí
tin được pháp nầy
Ðời
trước thấy chư Phật
Thích
nghe giáo pháp này.
Thanh
Văn hoặc Bồ Tát
Chẳng
biết được tâm Phật
Ví
như người sanh manh
Muốn
dẫn đường người khác
Biển
trí huệ của Phật
Sâu
rộng không bờ đáy
Nhị
thừa chẳng lường được
Chỉ
riêng Phật sáng tỏ
Giả
sử tất cả người
Ðều
đắc đạo cả thảy
Huệ
nhãn biết bổn không
Ức
kiếp suy Phật trí
Tận
lực cố giảng nói
Vẫn
chẳng biết được rõ
Trí
Phật không ngằn mé
Tột
thanh tịnh như vậy
Thọ
mạng rất khó được
Ðời
Phật cũng khó gặp
Có
tín huệ cũng khó
Nếu
nghe siêng năng cầu
Nghe
pháp được chẳng quên
Cung
kính rất vui mừng
Là
bạn lành của ta
Vì
vậy phải phát tâm
Giàu
lửa khắp thế giới
Quyết
vượt qua nghe pháp
Ðể
được thành Phật đạo
Rộng
độ dòng sanh tử.
Ðức
Phật bảo Ngài A Nan: “Bồ Tát ở nước An Lạc rốt ráo
đều sẽ đến bậc nhất sanh bổ xứ. Trừ những vị cố
bổn nguyện vì chúng sanh mà lập nguyện công đức lớn để
tự trang nghiêm, muốn độ thoát khắp cả chúng sanh.
Nầy
A Nan! Hàng Thanh Văn ở nước An Lạc thân chiếu ánh sáng một
tầm, thân Bồ Tát chiếu ánh sáng trăm do tuần.
Có
hai Bồ Tát tối tôn đệ nhứt oai thần quang minh chiếu khắp
cõi Ðại Thiện.
- Bạch
đức Thế Tôn Hai Bồ Tát ấy danh hiệu là gì?
-
Nầy A Nan! Bồ Tát thứ nhứt hiệu là Quán Thế AÂm, Bồ Tát
thứ hai hiệu là Ðại Thế Chí.
Hai
Bồ Tát ấy ở cõi nước Ta Bà nầy tu Bồ Tát hạnh, lúc
mạng chung chuyển sanh về nước An Lạc.
Nầy
A Nan! Có chúng sanh nào sanh về nước An Lạc, thân của họ
đều đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thành mãn trí huệ
thâm nhập diệu pháp, thần thông vô ngại, các căn sáng suốt
mau lẹ. Người căn trí chậm lụt nhứt thì thành tựu hai
pháp nhẫn. Người căn trí lanh lợi thì được vô lượng
vô sanh pháp nhẫn.
Lại
chư Bồ Tát ở nước ấy mãi đến thành Phật chẳng sanh
vào ác đạo, thần thông tự tại thường biết túc mạng.
Trừ người sanh về đời ác ngũ trược ở phương khác như
quốc độ Ta Bà của ta đây.
Nầy
A Nan! Bồ Tát nước An Lạc thừa oai thần của đức Vô Lượng
Thọ Phật, khoảng thời gian một bữa ăn, đi đến vô lượng
thế giới mười phương cung kính cúng dường chư Phật Thế
Tôn, theo ý nghĩ của họ, những món cúng dường như hoa, hương,
kỹ nhạc, y phục, phan lọng, vô số vô lượng thứ tự nhiên
hóa hiện ra, tất cả đều trân quý vi diệu thế gian chẳng
có được. Chư Bồ Tát ấy liền đem rải lên cúng dường
chư Phật và chư Bồ Tát Thanh Văn. Những thứ ấy ở trên
không hóa thành lọng hoa xinh đẹp sáng chói tỏa hương thơm
khắp nơi. Lọng hoa ấy chu vi bốn trăm dặn, rồi lần lần
lớn gấp bội cho đến trùm khắp cõi Ðại Thiên, sau đó
tuần tự ẩn mất.
31Chư
Bồ Tát đều vui mừng thăng lên hư không đồng tấu thiên
nhạc, dùng âm thanh vi diệu ca ngợi công đức của chư Phật,
lắng nghe kinh pháp vui mừng vô lượng. Cúng dường chư Phật
xong, bỗng nhiên nhẹ nhàng bay về bổn quốc An Lạc vẫn còn
trước giờ ăn.
Nầy
A Nan! Lúc đức Vô Lượng Thọ Phật ban pháp ngữ cho hàng
Trời, Người, Thanh Văn, Bồ Tát thì đều vân tập tại thất
bửu giảng đường. Thính chúng được nghe diệu pháp không
ai là chẳng khai ngộ vui mừng. Liền đó bốn phương tự nhiên
gió nhẹ thổi động những cây thất bửu phát ra ngũ âm.
Vô lượng hoa đẹp theo gió bay tứ tán để cúng dường bất
tuyệt.
Tất
cả hàng chư Thiên đều mang trăm ngàn thứ hoa hương cõi trời
và muôn thứ kỹ nhạc trời cúng dường đức Phật ấy cùng
Bồ Tát, Thanh Văn. Rải hoa hương khắp nơi, hòa tấu âm nhạc,
chư Thiên hàng hàng lớp lớp trước sau qua lại, vẹt tránh
lẫn nhau. Trong lúc ấy, tất cả đều sung sướng khoái lạc
chẳng thể nói được.
Nầy
A Nan! Chư Bồ Tát sanh về nước An Lạc có giảng thuyết được
thì thường tuyên chánh pháp thuận theo trí huệ chẳng hề
sai thất.
Trong
nước An Lạc, chư Bồ Tát đối với vạn vật không có tâm
ngã sở, không có tâm nhiễm trước, qua lại đi đứng tâm
không hệ lụy tùy ý tự tại, không khen lấy hay chê bỏ,
không quan niệm bỉ ngã, không ý nghĩ tranh giành. Ðối với
mọi người có tâm đại từ đại bi, chỉ nghĩ đến việc
làm lợi ích, lòng luôn nhu thuận điều phục không hề giận
hờn, không lười biếng chán nản, lìa cái triền được thanh
tịnh, có những tâm bình đẳng, tâm thù thắng, thâm tâm,
định tâm, tâm yêu pháp, thích pháp và mừng được pháp,
diệt trừ phiền não, rời tâm ác đạo, trọn vẹn công hạn
của Bồ Tát, thành tựu đầy đủ vô lượng cô đức, được
thâm thiền định, thần thông và trí huệ, chỉ ở bảy phần
Bồ đề, tu tâm Phật thừa, nhục nhãn trong sáng không gì
chẳng thấy biết rõ, thiên nhãn thông đạt vô hạn vô lượng,
huệ nhãn thấy chơn đế đến được bờ kia, pháp nhãn quan
sát rốt ráo các đạo, Phật nhãn đầy đủ chiếu rõ pháp
tánh, dùng trí vô ngại giảng thuyết cho người, xem khắp
ba cõi trống rỗng không chỗ có, chí cầu Phật thừa đủ
các biện tài, trừ diệt khổ họa phiền não của chúng sanh,
từ Như Lai sanh ra hiểu pháp như như, biết rành tập diệt
âm thanh phương tiện, chẳng thích thế tục ngữ ngôn, ưa
mến đàm luận chánh pháp, tu tập những gốc lành chí tôn
sùng Phật đạo, biết tất cả pháp thảy đều tịch diệt,
hai thứ còn thừa là sanh thân và phiền não đều hết, nghe
nói pháp thậm thâm lòng chẳng nghi chẳng sợ, thường hay
tu hành đức tánh đại bi sâu xa vi diệu chở che cho tất cả,
rốt ráo nhứt thừa đến bờ kia, quyết đoán lưới nghi trí
tuệ từ tâm phát ra, gồm bao Phật pháp không để sót, trí
huệ rộng sâu như đại hải, tam muội vững chắc như sơn
vương, trí huệ chiếu sáng trong sạch hơn hẳn mặt nhựt,
mặt nguyệt, pháp thanh bạch đều đã đầy đủ, soi các công
đức đồng một trong sạch như núi Tuyết, tâm không phân
biệt như mặt đất không nghĩ sạch dơ tốt xấu sai khác,
rửa sạch những cấu nhiễm trần lao như tịnh thủy, cháy
hết tất cả củi phiền não như lửa hồng, đi qua các thế
giới không chướng ngại như gió lớn, với tất cả không
dính mắc như hư không, nơi tất cả thế gian không bị nhiễm
ô như hoa sen, chuyên chở chúng sanh ra khỏi sanh tử như cỗ
xe lớn, chấn đại pháp lôi cảnh giác kẻ chưa thức tỉnh
như mây dày mưa pháp cam lộ nhuần ướt chúng sanh như mưa
lớn, loài ma ngoại đạo chẳng động đến được như núi
Kim Cương, nói các pháp lành và là bực tối thượng thủ
như Phạm Thiên Vương, che mát tất cả những cây ni câu luật,
rất là ít có, khó gặp như hoa ưu đàm bát, oai phục ngoại
đạo như kim sí điểu, không có chứa để như loài du cầm,
không ai thắng được như Ngưu Vương, khéo điều phục thuần
thục như Tượng Vương, được vô sở úy như Sư Tử Vương,
đại từ bình đẳng như hư không rỗng rang, dứt lòng ganh
ghét vì chẳng đố kỵ người hơn mình, chuyên ưa cầu pháp
lòng chẳng chán đủ, thường muốn giảng dạy chí nguyện
chẳng mỏi mệt, đánh pháp cổ, dựng pháp tràng, chiếu huệ
nhựt, trừ si ám, tu lục hòa kính, thường hành pháp thí,
chí dũng mãnh tinh tiến, lòng không khiếp nhược thối chuyển,
là đèn sáng cho đời, là ruộng phước thù thắng, thường
làm thầy dìu dắt bình đẳng không thương ghét, chỉ thích
chánh đạo không ưa muốn gì khác, nhổ gai ái dục để an
ổn quần sanh, công đức trí huệ đều thù thắng không ai
là chẳng tôn kính, diệt ba chướng du hý thần thông, đầy
đủ tất cả những lực như: nhơn lực, duyên lực, ý lực,
nguyện lực, phương tiện lực, thường lực, thiện lực,
định lực, huệ lực, đa văn lực, thí lực, giới lực, nhẫn
lực, tinh tiến lực, thiền định lực, trí huệ lực, chánh
niệm lực, chỉ quán lực, thần thông lực, và năng lực điều
phục các chúng sanh đúng pháp, sắc thân tướng hảo công
đức biện tài đều đầy đủ trang nghiêm không ai bằng,
cung kính cúng dường vô lượng chư Phật, thường được
chư Phật đồng khen ngợi, đã rốt ráo các môn Ba la mật
của Bồ Tát, tu các môn không vô tướng vô nguyện tam muội
và các môn tam muội bất sanh bất diệt, rời xa địa vị
Thanh Văn và Duyên Giác.
Nầy
A Nan! Chư Bồ Tát nước An Lạc thành tựu vô lượng công
đức như vậy. Ta chỉ nói lược cho ông đó thôi. Nếu nói
rộng thời nói suốt trăm nghìn muôn kiếp cũng chẳng hết
được”.
Ðức
Phật gọi Ngài Di Lặc Bồ Tát mà bảo rằng: “Nầy A Dật
Ða! Công đức và trí huệ của hàng Thanh Văn và Bồ Tát nước
An Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật chẳng thể kể nói
được.
Lại
quốc độ ấy vi diệu an lạc thanh tịnh dường ấy, sao chư
Thiên và mọi người chẳng gắng sức làm lành, phải đều
siêng năng tinh tiến nỗ lực tự cầu tất được siêu tuyệt
vãng sanh nước An Lạc, dứt ngang năm ác đạo, ác đạo tự
nhiên đóng bít, con đường đạo tiến lên không cùng tột
dễ đến mà không có người, nước ấy chẳng trái bỏ một
ai lại có sức kéo dắt tự nhiên.
Sao
mọi người chẳng vứt bỏ việc đời để chuyên cần tu
hành cầu nên đạo đức để được tột sự trường sanh
hưởng vui không cùng cực.
Nhưng
người đời phần đông phước mỏng, cùng tranh nhau những
sự chẳng cần kíp, ở tại trong chỗ kịch ác tột khổ mà
nhọc nhằn kinh doanh chật vật để tự cung cấp. Không luận
là người tôn kẻ ti, người nghèo, kẻ giàu, trẻ già nam
nữ đều lo nghĩ về tiền tài, vất vả sầu khổ mãi nghĩ
mãi lo không lúc nào yên. Có ruộng lo ruộng, có nhà lo nhà,
có trâu ngựa lục súc nô tỳ tiền của y thực trăm ngàn
thứ lại lo trăm ngàn thứ. Toan tính cầu lợi lo nghĩ buồn
sợ bỗng chốc bị trộm cướp, nước cuốn, lửa cháy, sung
công, tài sản tiêu tan thân mang tai họa, lại sầu khổ phẫn
uất. Nếu tài sản không bị tiêu tan, thân không bị tai họa,
nhưng cuối cùng vô thường bỗng đến, thân chết mạng chung,
tay không mà đi không mang món gì theo được”.
Ðức
Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát và hàng chư Thiên nhơn chúng
rằng: “Nay ta nói với các người, thế nhơn do những sự
việc ấy nên chẳng đắc đạo.
Phải
suy nghĩ chín chắn, nên xa lìa những điều ác, chọn những
điều lành rồi siêng năng thực hành.
Ái
dục vinh hoa là những thứ chẳng thể bảo tồn mãi mãi, rồi
đều sẽ ly tan không có gì đáng vui đáng thích.
May
mắn gặp đức Phật tại thế phải kíp chuyên cần tu tập,
người nào có chí nguyện sanh về nước An Lạc thì được
trí huệ sáng suốt, công đức thù thắng. Chẳng nên buông
lung theo lòng dục vọng mà phụ rẫy lời dạy trong kinh pháp
giới luật để rồi phải rơi ở sau người.
Nếu
có ai còn mắc hay chẳng hiểu kinh pháp nên đem hỏi Phật.
Ta sẽ giải thuyết cho”.
Bấy
giờ Ngài Di Lặc Bồ Tát tiến ra quỳ dài bạch đức Phật:
“Ðức Thế Tôn oai thần tôn trọng giảng nói rất hay. Tôi
lắng nghe kinh ngữ mà đức Phật vừa nói, suy gẫm kỹ lại
thì người đời thiệt đúng như lời đức Phật đã phán
dạy.
Nay
đức Phật thương xót hiển thị đại đạo, tất cả đều
sáng mắt ra được lợi ích lành rất lớn, không ai là chẳng
vui mừng. Chư Thiên, nhơn dân cho đến các loài nhuyến động
đều nhờ từ ân của đức Phật mà thoát khỏi ưu khổ.
Ðức
Phật dạy bảo rất sâu rất lành. Phật trí thấy suốt mười
phương ba đời, chẳng sự gì là chẳng rành rẽ.
Ngày
nay chúng tôi được giải thoát đây, đều là nhờ đời trước
đức Phật đã từng khổ nhọc cầu đạo vậy.
Ân
đức của Phật trùm khắp, phước lớn vòi vọi quang minh
chiếu suốt, đạt thấu pháp không, khai nhập tịch diệt,
cảm động mười phương vô cùng vô cực.
Ðức
Phật là đấng Pháp Vương, là thầy của tất cả trời người,
tùy theo sở nguyện của họ đều làm cho họ đắc đạo.
Nay được gặp đức Phật lại được nghe về đức Vô Lượng
Thọ Phật không ai là chẳng vui mừng tâm được khai ngộ”.
Ðức
Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát: “Ông nói rất phải. Nếu
ai mến kính đức Phật thì thiệt là sự đại thiện.
Trong
thiên hạ lâu lâu mới có Phật ra đời.
Nay
ta ở đời nầy làm Phật diễn nói kinh pháp tuyên bố đạo
dứt các lưới nghi, nhổ gốc ái dục, ngăn nguồn xấu ác,
đi khắp ba cõi không bị chướng ngại, khai thị ngũ đạo
độ kẻ chưa được độ, quyết chánh con đường sanh tử
và Niết bàn.
Nầy
A Dật Ða! Từ vô số kiếp đến nay, ông tu Bồ Tát hạnh
để độ chúng sanh. Những người nhờ ông mà được đắc
đạo cho đến chứng Niết bàn chẳng thể đếm nói.
Chư
Thiên và nhân dân tứ chúng từ nhiều kiếp đến nay xoay lăn
trong ngũ đạo lo sợ khốn khổ chẳng nói hết được. Mãi
đến đời nay vẫn chưa dứt sanh tử. Gặp được đức Phật
nghe thọ kinh pháp và được nghe về đức Vô Lượng Thọ
Phật, thiệt là được lợi lành rất lớn. Ta mừng cho đó.
Các
người ngày nay cũng nên tự nhàm chán sanh lão bệnh tử thống
khổ, thân ngũ ấm hôi nhơ vô thường không có gì đáng vui
thích. Phải tự quyết đoán đoan thân chánh hạnh làm nhiều
việc lành, trừ sạch tâm nhơ bẩn, ngôn hạnh trung tín trong
ngoài tương ưng, tự độ mình mà cũng cứu giúp người khác,
thành tâm cầu nguyện chứa nhóm đức lành.
Dầu
phải cần khổ tu hành nhưng chỉ là một đời ngắn ngủi,
về sau được sanh về nước An Lạc của đức Vô Lượng
Thọ Phật hưởng sự khoái lạc vô cực, mãi mãi hiệp với
đạo, khỏi hẳn sanh tử, không còn họa hoạn tham sân ngu
si, muốn thọ một kiếp hay trăm ngàn muôn ức kiếp đều
tùy ý tự tại, tất cả đều vô vi tự nhiên kế đạo tịch
diệt.
Các
người phải đều tinh tiến phát nguyện tu hành, không được
nghi ngờ chần chờ tự gây lấy tội vạ mà phải sanh về
cung điện bảy báu ở biên địa của nước ấy, chịu lấy
tai ách trong năm trăm năm”.
Ngài
Di Lặc Bồ Tát bạch đức Phật: “Chúng tôi nhận lãnh lời
răn dạy của đức Phật, chuyên cần tu học y giáo phụng
hành, chẳng dám có lòng nghi ngờ”.
Ðức
Phật lại bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát rằng: “Các người có
thể ở đời nầy đoan tâm chánh ý chẳng làm những điều
ác đó là chí đức, mười phương thế giới không đâu sánh
bằng. Tại sao vậy?
Ở
quốc độ của chư Phật, hàng chư thiên và nhơn dân tự nhiên
làm điều lành, chẳng phạm nhiều điều ác, họ rất dễ
khai hóa.
Hiện
nay ta làm Phật ở thế gian nầy, ở trong ngũ ác ngũ thống
ngũ thiêu, chỗ quá khổ lụy, giáo hóa chúng sanh khiến họ
trừ ngũ ác, bỏ ngũ thống, rời ngũ thiêu, điều phục ý
họ khiến họ trì ngũ thiện, cho họ được phước đức
thoát khỏi thế gian chứng nhập đạo Niết bàn trường thọ.
Nầy
A Dật Ða! Những gì là ngũ ác, ngũ thống và ngũ thiêu? Thế
nào là tiêu hóa ngũ ác, khiến trì ngũ thiện được phước
đức thoát khỏi thế gian chứng nhập đạo Niết bàn trường
thọ?
Ðiếu
ác thứ nhất: - Chư Thiên và nhơn dân cho đến loài nhuyến
động, phần đông muốn làm các điều ác đều như thế nầy:
Kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, giành giựt tàn hại sát lục cho
đến ăn thịt lẫn nhau. Họ chẳng biết làm lành, ác nghịch
vô đạo. Cô nghiệp nhơn tất chịu quả báo, nên có những
sự nghèo cùng hạ tiện cô độc, đui điếc câm ngọng tệ
ác ngu si, thậm chí có hạng cuồng điên chẳng nên hình.
Còn
những người tôn quý hào phú cao tài minh đạt, đó là do
đời trước họ nhơn từ hiếu để tích đức làm lành.
Thông
thường thế gian có phép nước ngucï tù. Kẻ chẳng kiêng
sợ giữ gìn làm ác bị tội phải xử phạt cầu thoát khó
được. Thế gian có những sự hiện tiền trước mắt như
vậy.
Khi
chết đời sau càng sâu càng khổ vào chỗ u minh thọ lấy
thân hình, nên có tự nhiên tam đồ vô lượng khổ não, chuyển
đổi thân hình, thọ mạng hoặc dài hay ngắn, thần thức
tự nhiên đến đó theo nhau cùng sanh, báo đền lẫn nhau không
có lúc nào thôi dứt, tội ác chưa hết thì chẳng thể thoát
lìa, đau khổ chẳng nói được. Con đường thiện ác nhơn
quả đương nhiên như vậy.
Ðây
là một đại ác một thống một thiêu, như lửa lớn đốt
cháy thân người.
Có
ai ở trong ấy nhứt tâm nhiếp ý đoan thân chánh hạnh chuyên
làm điều lành chẳng phạm tội ác thì được độ thoát,
có phước đức lớn, sanh lên cõi trời, hoặc chứng nhập
Niết bàn. Ðây là một đại thiện vậy.
Ðiều
ác thứ hai: - Người thế gian, cha con anh em chồng vợ vô
nghĩa vô đạo, chẳng thuận pháp độ, xa xí hoang dâm kiêu
mạn phóng túng, đều riêng muốn khoái ý nên buông lung theo
lòng họ, khi dối lẫn nhau, tâm khẩu mâu thuẫn, lời cùng
ý không thành thiệt, siểm nịnh chẳng trung, xảo ngôn dua
mị, ghét người hiền, chê người lành. Làm vua bất minh,
làm quan lộng quyền, tại vì chẳng chánh khi dối lẫn nhau,
hãm hại trung cang, dung dưỡng gian nịnh. Tôi khi chúa, con khi
cha, anh em chồng vợ bè bạn lường gạt lẫn nhau. Ai ai cũng
cưu lòng tham dục, sân hận, ngu si, muốn mình được nhiều
mặc người tổn hại. Chẳng nghĩ nhà phá thân vong, chẳng
quản tội trước họa sau, cho đến thân thuộc nội ngoại
liên lụy diệt tộc.
Có
khi gia đình bè bạn xóm làng chợ búa, dân ngu tranh giành lợi
hại, do giận hờn mà kết oán thù. Kẻ giàu dư dả lại bỏn
sẻn chẳng chịu thí cho, tham ái quá nặng tâm nhọc thân khổ.
Cuối cùng rồi không chỗ cậy nhờ đến đi một mình không
ai theo giúp.
Thiện
và ác, họa và phước theo người mà sanh, hoặc ở chỗ vào
chốn khổ, sau đó mới hối hận thì đâu còn kịp.
Người
đời vì tâm khờ ít trí, thấy người làm lành thì chê ghét
chẳng chịu ngưỡng mộ để được bằng. Chỉ muốn làm
ác, làm điều phi pháp. Thường có tâm trộm cắp trông đoạt
được của người. Phá của tiêu tan rồi đi tìm cầu. Tâm
tà chẳng chánh, sợ người hơn mình. Chẳng lo tính trước
việc đến mới ăn năn.
Hiện
đời bị phép nước tù phạt trị tội. Sau khi chết đọa
vào ác đạo, nên có tự nhiên tam đồ chịu khổ vô lượng.
Xoay vần trong đó nhiều đời nhiều kiếp không có lúc ra
khỏi, khó được giải thoát, đau khổ chẳng nói được.
Ðây
là hai đại ác, hai thống, hai thiêu, như lửa lớn đốt cháy
thân người.
Có
người nào ở trong ấy mà nhứt tâm chế ý, đoan thân chánh
hạnh chuyên làm điều lành, chẳng phạm điều ác thì được
độ thoát có nhiều phước đức, hoặc sanh lên cõi trời,
hoặc chứng nhập Niết bàn. Ðây là hai đại thiện vậy.
Ðiều
ác thứ ba: - Người đời nương nhờ nhau mà sống còn
ở trong trời đất, tuổi thọ không được bao nhiêu. Trên
có các nhà hiền minh trưởng giả tôn quý hào phú, dưới
có những kẻ nghèo cùng ti tiện yếu kém ngu phu. Trong đó
có những người bất thiện thường cưu lòng tà ác, chỉ
nghĩ nhớ dâm dật ái dục, phiền não đầy bụng, ngồi đứng
chẳng an, tham lam muốn lấy không của người, chán ghét vợ
nhà lén lút ra vào, hao tổn gia tài làm điều phi pháp. Tụ
hội bè đảng, đem quân xâm lăng, đánh cướp giết hại,
cưỡng đoạt vô đạo; ra ngoài làm ác chẳng tự làm ăn,
trộm cắp bức hiếp buông lung hưởng lạc, hoặc với người
trong thân thuộc cũng chẳng kể tôn ty. Gia tộc nội ngoại
đều lo lắng khổ sở vì họ. Cho đến cũng chẳng kiêng sợ
phép nước. Ác nghiệp chiêu báo, sau khi chết đọa vào tam
đồ chịu vô lượng khổ não, xoay vần trong đó nhiều đời
nhiều kiếp không có thời gian ra khỏi, khó được giải thoát,
đau đớn chẳng thể nói được. Ðây là ba đại ác, ba thống,
ba thiêu, như lửa lớn đốt cháy thân người.
Có
ai ở trong ấy như tâm chế ý đoan thân chánh hạnh chuyên
lam điều lành chẳng phạm điều ác, thì được độ thoát,
có nhiều phước đức, hoặc sanh lên trời hay chứng nhập
Niết bàn. Ðây là đại thiện vậy.
Ðiều
ác thứ bốn: - Người đời chẳng nghĩ làm lành để dạy
bảo lẫn nhau, lại cùng làm những điều ác, những là lưỡng
thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ. Cãi vã chê bai,
ganh ghét người lành, hãm hại người hiền rồi đứng bên
vui thích. Bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn Sư trưởng.
Vô tín với bằng hữu, tự tôn tự đại, cho mình là hay là
phải, cậy quyền ỷ thế áp bức người, làm ác không biết
hổ thẹn, chẳng tự biết mình. Tự cho mình là khỏe
muốn mọi người kính nể. Chẳng sợ trời đất thần
minh nhựt nguyệt, chẳng chịu làm lành, khó giáo hóa.
Không kiêng sợ ai luôn luôn kiêu mạn. Cậy có chút ít
phước đức do đời trước làm được điều lành nhỏ, đời
nay làm ác, phước đức tiêu diệt, sau khi chết, tội báo
tự nhiên chẳng hề rời lìa, đọa vào tam đồ chịu vô lượng
thống khổ, đến lúc này ăn năn đâu còn kịp. Xoay vần
trong ấy nhiều đời nhiều kiếp không có thời kỳ ra khỏi,
khó được giải thoát, đau khổ chẳng nói được. Ðậy
là bốn đại ác, bốn thống, bốn thiêu, như lửa lớn đốt
cháy thân người.
Có
ai ở trong ấy nhứt tâm chế ý đoan thân chánh hạnh chuyên
làm những điều lành chẳng phạm điều ác, thì được độ
thoát có nhiều phước đức, hoặc sanh lên cõi trời, hay chứng
nhập Niết bàn. Ðây là bốn đại thiện vậy.
Ðiều
ác thứ năm. – Người đời ỷ lại lười biếng chẳng
chịu làm điều lành sửa mình tu nghiệp. Gia đình quyến
thuộc đói rét khốn khổ. Cha mẹ có dạy răn thì giận
dỗi chống trái, bất hiếu bất mục, phụ ân vô nghĩa, không
có lòng báo đáp. Nghèo cùng khốn thiếu, sang đoạt phóng
đãng, lấy ngang của người để tự cung cấp. Thích
ngon ưa rượu, ăn uống vô độ, gây gổ xung đột chẳng biết
nhơn tình. Thấy người hay tốt thì ganh ghét. Vô nghĩa
vô lễ không hề kiêng kỵ. Phóng túng chơi bời không
ai khuyên can được. Với lục thân quyến thuộc, thiếu
đủ không hề đoái hoài. Chẳng nghĩ ơn cha mẹ, chẳng
biết nghĩa thầy bạn. Tâm thừing nghĩ ác, miệng thường
nói ác, thân thường làm ác, không có được chút lành.
Chẳng tin kinh pháp của chư Phật hiền thánh. Chẳng tin
hành đạo sẽ được giải thoát. Chẳng tin sau khi chết
thần thức đầu thai trở lại. Chẳng tin làm lành được
lành, làm dữ được dữ. Muốn giết người chơn tu,
phá rối chúng Tăng. Muốn hại cha mẹ anh em quyến thuộc.
Tông tộc đều chán ghét muốn nó chết đi. Người như
vậy, tâm ý họ cháy phừng ngu si mê muội mà họ tự cho là
sáng suốt. Chẳng biết sanh từ đâu đến, chết sẽ
về đâu. Bất nhơn bất thuận ác nghịch trời đất,
mà lại muốn cầu may được trường thọ. Có ai thương
dạy bảo điều lành lẽ phải, khai thị con đường sanh tử
thiện ác, họ vẫn chẳng tin, khổ tâm cạn lời cũng thành
vô ích. Lòng họ bít lấp, ý họ chẳng tỏ ngộ.
Lúc sắp chết mới biết lo sợ ăn năn thì đâu còn kịp nữa.
Trong trời đất năm loài phân minh, rộng rãi mịt mờ mênh
mênh mông mông. Báo ứng lành dữ, họa phước kéo dắt
tự mình lãnh chịu, không ai thay thế được. Người
lành làm lành thì từ vui vào vui, từ sáng vào sáng. Người
dữ làm dữ thì từ khổ vào khổ, từ tối vào tối.
Ai biết được đó? Chỉ một mình đức Phật biết rõ
dạy bảo khai thị. Người tin làm theo rất ít. Vì
thế nên sanh tử chẳng thôi, ác đạo chẳng tuyệt. Người
đời tạo ác như vậy nên có tự nhiên tam đồ khổ sở vô
lượng. Xoay vần trong ấy nhiều đời nhiều kiếp không
có thời kỳ ra khỏi, khó được giải thoát đau đớn chẳng
nói được. Ðây là năm đại ác, năm thống, năm thiêu,
như lửa lớn đốt cháy thân người.
Nếu
có ai trong ấy nhứt tâm chế ý đoan thân chánh niệm, ngôn
hạnh tương ưng, việc làm chí thành, chuyên làm điều lành
chẳng phạm điều ác thì được độ thoát, có nhiều phước
đức được sanh lên cõi trời hay chứng nhập Niết bàn.
Ðây là năm đại thiện vậy.
32Nầy
A Dật Ða! Ðó là nảm điều ác trong đời khổ não như vậy.
Năm thống, năm thiêu xoay vần sanh lẫn nhau. Chẳng tu
đức lành mà chỉ làm những điều ác thì đều tự nhiên
đọa vào ác đạo. Hoặc có kẻ hiện đời nay, trước
hết bị bệnh hoạn cầu chết chẳng được, cầu sống chẳng
được, cho mọi người thấy sự chiêu cảm của tội ác.
Khi thân chết, thần thức theo ác nghiệp mà đi vào ba ác đạo
chịu vô lượng thống khổ.
Tội
ác từ mảy nhỏ lần thành to lớn, đều do tham làm tài sắc
chẳng chịu ban bố. Chạy theo dục vọng si cuồng, phiền não
buộc trói không tháo mở được. Tranh lợi về mình chẳng
biết tự xét. Phú quí vinh hoa đương thời đắc ý, chẳng
hay nhẫn nhục, chẳng biết làm lành. Không bao lâu oai thế
tiêu diệt, thân bị khổ nhọc càng ngày càng nặng, nhơn xấu
quả khổ, nhơn quả tự nhiên không hề sai sót, xưa nay đều
như vậy thiệt rất đáng thương.
Nầy
A Dật Ða! Nay ông và chư Thiên cùng nhơn dân với người đời
sau được kinh giáo của đức Phật phải suy ngẫm chín chắn,
có thể y theo trong ấy mà đoan thân chánh hạnh, người trên
làm lành rồi đem cảm hóa người dưới, luân chuyển dạy
bảo nhau đều giữ gìn thật hành, tôn bực Thánh, kính người
lành, nhơn từ bác ái, chẳng dám trái lời Phật dạy. Phải
cầu xuất thế nhổ đứt gốc sanh tử tội ác, rời hẳn
con đường tam đồ vô lượng lo sợ khổ đau. Các người
ở cõi nầy vun trồng cội công đức lớn rộng, ban ơn bố
thí, chớ phạm cấm giới, nhẫn nhục, tinh tiến, nhứt tâm
và trí huệ. Giáo hóa lẫn nhau, tu đức lập thiện, chánh
tâm chánh ý, trai giới thanh tịnh một ngày một đêm còn hơn
ở nước An Lạc làm lành cả trăm năm.
Tại
sao vậy?
Quốc
độ An Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật vô vi tự nhiên
đều chứa những điều lành, không có tơ hào việc ác.
Ở
cõi nầy làm lành mười ngày mười đêm hơn ở cõi khác làm
lành ngàn năm.
Tại
sao vậy?
Những
cõi khác, người làm lành nhiều, người làm ác ít, phước
đức tự nhiên không có chỗ để tạo ác.
Chỉ
ở thế gian nầy không có phước đức tự nhiên, nhiều người
làm ác, cần khổ theo dục vọng, khi dối lẫn nhau, lao tâm
khổ thân, uống đắng ăn độc, sự ác triền miên không bao
giờ ngừng nghỉ.
Ta
vì thương mọi người mà hết lời khuyên dạy hành đạo
làm lành tùy nghi dìu dắt truyền kinh pháp của Phật, tất
được thọ dụng, theo ý nguyện cầu đều làm cho đắc đạo
cả.
Chỗ
nào đức Phật đi đến, hoặc quốc ấp, hoặc xóm làng, không
đâu là chẳng nhờ giáo hóa. Thiên hạ hòa thuận, nhựt nguyệt
trong sáng, gió mưa phải thời, tai dịch chẳng khởi, nước
thạnh dân an, binh đao vô dụng, sùng đức trọng nhơn chuyên
làm lễ nghĩa.
Ta
thương mọi người còn hơn cha mẹ thương con. Nay ta õ đời
nầy làm Phật cảm hóa năm ác, tiêu trừ năm thống, tuyệt
diệt năm thiêu. Ðem điều lành công phá tội ác, dứt khổ
sanh tử, khiến được năm đức đến chỗ an ổn vô vi.
Sau
khi ta nhập diệt rời bỏ thế gian nầy, kinh đạo diệt lần,
nhơn dân siểm ngụy trở lại làm ác, nâm thống năm thiêu
hoàn lại như trước, về sau càng nặng chẳng nói hết được.
Ta chỉ nói lược đó thôi.”
Ðức
Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát: “Các người phải khéo suy
gẫm dạy bảo lẫn nhau đúng như kinh pháp của Ðức Phật,
không được phạm ác”.
Ngài
Di Lặc Bồ Tát chắp tay bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Lời đức Phật dạy rất hay. Người đời quả thật có như
vậy. Ðức Như Lai từ mẫn làm cho họ được độ thoát.
Chúng tôi xin lãnh lời Phật cặn kẽ dạy bảo, chẳng dám
sai thất”.
Ðức
Phật bảo Ngài A Nan: “Nầy A Nan! Ông đứng dậy chỉnh y
phục chắp tay cung kính đảnh lễ đức Vô Lượng Thọ Phật.
Chư Phật Như Lai ở nhũng quốc độ mười phương thường
ca ngợi đức Vô Lượng Thọ Phật chẳng chướng ngại chẳng
nhiễm trước”.
Ngài
A Nan đứng dậy chỉnh y phục, chánh thân hướng về phươngTây
chắp tay cung kính năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ đức
Vô Lượng Thọ Phật mà bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Chúng tôi mong được thấy quốc độ An Lạc, đức Phật và
chư Bồ Tát cùng Thanh Văn đại chúng”.
Liền
đó đức Vô Lượng Thọ Phật phóng đại quang minh chiếu
khắp tất cả thế giới của chư Phật mười phương. Những
núi Kim Cang, núi Thiết Vi, núi Tu Di, các núi lớn nhỏ và tất
cả vạn vật đều đồng một màu sắc. Như thời kỳ đại
thủy tai, nước ngập tràn đầy tất cả, vạn vật đều
chìm ngập chẳng còn, chỉ thấy mặt nước mênh mông.
Quang
minh của đức Vô Lượng Thọ Phật chiếu khắp cũng như vậy.
Quang minh của tất cả Bồ Tát, Thanh Văn đều bị che ẩn,
chỉ thấy Phật quang sáng rỡ.
Ngài
A Nan thấy đức Vô Lượng Thọ Phật oai đức nguy nguy, tướng
hảo đầy đủ quang minh rực rỡ như núi Tu Di cao vượt trên
tất cả thế giới.
Tất
cả hàng tứ chúng nơi đây cũng đồng thấy như vậy.
Ðại
chúng ở nước An Lạc cũng nhìn thấy bên cõi Ta Bà nầy.
Ðức
Phật bảo Ngài A Nan và Ngài Di Lặc Bồ Tát rằng: “Các ông
có thấy ở nước An Lạc ấy, từ mặt đất báu lên đến
không gian, tất cả vạn vật đều vi diệu thanh tịnh tự
nhiên chăng?”.
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đều thấy.
-
Các ông có nghe âm thanh to lớn của đức vô Lượng Thọ Phật
tuyên bố khắp tất cả thế giới giáo hóa chúng sanh chăng?
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi có nghe.
-
Các ông có thấy người nước An Lạc ngồi cung điện thất
bửu rộng lớn trăm ngàn do tuần đến khắp những quốc độ
mười phương cúng dường chư Phật không bị chướng ngại
chăng?
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đều thấy.
-
Các ông có thấy trong nước An Lạc, những cây thất bửu,
những ao thất bửu, những hoa trời đẹp thơm luôn luôn mưa
rải khắp mặt đất thất bửu để làm trang nghiêm chăng?
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đều thấy.
-
Các ông có thấy trong nước an Lạc, các loài chim đẹp lạ
bay liệng trên không kêu hót hòa nhã không khác âm thanh của
Phật, tiếng chim vang khắp thế giới. Các lời chim ấy đều
do đức Phật Vô Lượng Thọ biến hóa ra, chẳng phải là
thiệt súc sanh chăng?
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đều nghe thấy.
-
Các ông
có thấy chúng sanh ở nước An Lạc ngày đêm sáu
thời tự nhiên niệm Phật tương tục chăng?
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đều nghe thấy.
-
Các ông thấy ở nước An Lạc, chư Thiên và nhơn dân thọ
dụng những thứ cần dùng có khác nhau chăng?
-
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi thấy trời và người ở nước
An Lạc thọ dụng đồng nhau không có một chút sai khác.
-
Các ông có thấy tại nước An Lạc, có người ở trong thai
chăng? - Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi thấy tại nước An
Lạc, người ở trong thai cung điện bảy báu, như Trời Ðao
Lợi ở trong cung điện thất bửu hoặc rộng lớn một trăm
do tuần, hoặc năm trăm do tuần sung sướng, vui vẻ. Chúng
tôi cũng thấy tại nước An Lạc, có người từ hoa sen thất
bửu tự nhiên hóa sanh”.
Lúc
ấy Di Lạc Bồ Tát bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Duyên cớ gì mà người nước An Lạc có thai sanh và hóa sanh?”.
Ðức
Phật dạy: “Nầy A Dật Ða! Nếu có chúng sanh chẳng hiểu
rõ Phật trí, bất tư nghị trí, bất khả xưng trí, đại
thừa quảng trí, vô đẳng luân tối thượng thắng trí. Với
những trí ấy nghi hoặc chẳng tin, nhưng lại tin nhơn quả
tội phước tu tập hạnh lành cầu nguyện sanh về nước An
Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật. Chúng sanh ấy sanh về
nước An Lạc ở trong cung điện thất bửu năm trăm năm, chẳng
thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy Bồ Tát và chúng
Thanh Văn. Vì thế nên ở nước ấy gọi là thai sanh.
Nếu
chúng sanh biết và tin Phật trí, cho đến biết và tin vô đẳng
luân tối thượng thắng trí, tu các công đức kính tin hồi
hướng nguyện cầu sanh về nước An Lạc của đức Vô Lượng
Thọ Phật. Các chúng sanh ấy sanh về nước An Lạc ở trong
hoa sen thất bửu tự nhiên hóa sanh ngồi kiết già, khoảnh
khắc những thân tướng, quang minh, trí huệ, công đức đều
thành tựu đầy đủ như chư Bồ Tát.
Lại
nầy A Dật Ða! Chư đại Bồ Tát ở cõi nước phương khác
phát tâm muốn thấy đức Vô Lượng Thọ Phật để cung kính
cúng dường và muốn thấy chúng Bồ Tát Thanh Văn nước ấy.
Chư đại Bồ Tát ấy lúc mạng chung được sanh về nước
An Lạc ở trong hoa sen thất bửu tự nhiên hóa sanh.
Nầy
A Dật Ða! Tại nước An Lạc, những người hóa sanh vì có
trí huệ thù thắng. Người thai sanh không có trí huệ, trong
năm trăm năm thường chẳng thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp,
chẳng thấy Thánh chúng Bồ Tát vàThanh Vãn. Không do đâu để
được cúng dường đức Phật, chẳng biết phép tắc của
Bồ Tát, chẳng tu tập được các công đức. Phải biết những
người nầy lúc ở đời trước vì không có trí huệ, chẳng
diệt
nghi hoặc mà ra.
Nầy
A Dật Ða! Thí như vua Chuyển Luân Thánh Vương có nhà ngục
bảy báu trang nghiêm, trần thiết giường màn, treo phan kết
tụi. Nếu có hàng Tiểu Vương Tử mắc tội, bèn đem giam
vào trong nhà ngục ấy trói bằng dây xích vàng, cấp dưỡng
đầy đĩ đồ uống ăn mền nệm hoa hương kỹ nhạc, đồng
như Chuyển Luân Thánh Vương không để thiếu thốn. Ý ông
nghĩ sao, A Dật Ða! Các Tiểu Vương Tử ấy có vui thích chăng?”
- Bạch
đức Thế Tôn! Không vui thích được. Họ chỉ mong có phương
cách gì để ra khỏi ngục.
-
Nầy A Dật Ða! Cũng vậy. Các chúng sanh ấy vì nghi hoặc
Phật trí mà sanh trong cung điện thất bửu không có hình phạt,
cũng không có một niệm ác sự. Chỉ trong vòng năm trăm năm,
chẳng thấy Tam bửu. Chẳng được cúng dường, chẳng được
tu các đức lành mà lấy đó làm khổ, dầu có những sự
vui, nhưng vẫn chẳng thích chỗ ấy. Nếu các chúng sanh ấy
biết tội đời trước rất ăn năn tự trách cầu rời chỗ
ấy liền được toại ý qua đến chỗ Vô Lượng Thọ Phật
cung kính cúng dường, cũng được đến khắp vô lượng vô
số chỗ chư Phật mười phương tu các công đức.
Nầy
A Dật Ða! Có Bồ Tát nào sanh lòng nghi hoặc đối với Phật
trí thì mất lợi lớn. Vì thế nên phải biết và tin trí
huệ vô thượng của Phật”.
Ngài
Di Lặc Bồ Tát thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Ở cõi Ta Bà
nầy có bao nhiêu Bồ Tát bất thối sanh về nước An Lạc
ấy?”.
- Nầy
A Dật Ða! Cõi Ta Bà nầy có sáu mươi bảy ức Bồ Tát bất
thối sanh về nước An Lạc ấy. Mỗi Bồ Tát nầy đã từng
cúng dường vô số chư Phật gần như Di Lặc vậy. Còn hàng
tiểu Bồ Tát và người tu tập công đức ít thì số đông
chẳng thể kể nói, sẽ được sanh về nước ấy.
Nầy
A Dật Ða! Chẳng phải chỉ có các Bồ Tát ở cõi nầy vãng
sanh nước ấy mà quốc độ phương khác cũng như vậy.
Trong
nước của đức Phật thứ nhứt là đức Phật Viễn Chiếu
có một trăm tám mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh về
nước An Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật.
Ðức
Phật thứ hai là Ðức Bửu Tạng Phật, có chín mươi ức
Bồ Tát đều sẽ vãng sanh.
Ðức
Phật thứ ba là đức Phật Vô Lượng AÂm có hai trăm hai mươi
ức Bồ tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ bốn là đức Phật Cam Lộ Vị có hai trăm năm mươi
ức Bồ Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ năm là đức Phật Long Thắng có mười bốn ức
Bồ Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ sáu là đức Phật Thắng Lực có một vạn bốn
ngàn Bồ tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ bảy là đức Phật Sư Tử có năm trăm ức Bồ
Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ tám là đức Phật Ly Cấu Quang có tám mươi ức
Bồ Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ chín là đức Phật Ðức Thủ có sáu mươi ức
Bồ Tát đều sẽ vãng sanh.
Ðức
Phật thứ mười là đức Phật Diệu Ðức Sơn có sáu mươi
ức Bồ Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ mười một là đức Phật Nhơn Vương có mười
ức Bồ Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ mười hai là đức Phật Vô Thượng Hoa có vô số
bất khả xưng kể Bồ Tát sẽ đều vãng sanh.
Ðức
Phật thứ mười ba là đức Phật Vô Úy có bảy trăm chín
mươi ức đại Bồ tát, chư Bồ Tát nhỏ và chúng Tỳ Kheo
chẳng tính kể được, đều sẽ vãng sanh về nước An Lạc
của đức Vô Lượng Thọ Phật.
Nầy
A Dật Ða! Chẳng phải chỉ có chúng sanh trong mười bốn cõi
nước trên đây sẽ vãng sanh về nước An Lạc, mà trong thế
giới mười phương có vô lượng cõi nước, chúng sanh vãng
sanh cũng như vậy, rất đông rất nhiều, dầu ta có kể nói
luôn ngày đêm suốt một kiếp cũng chẳng hết được. Nay
ta chỉ nói lược đó thôi.
Nầy
A Dật Ða! Có ai được nghe danh hiệu đức Vô Thượng Thọ
Phật mà hớn hở vui mừng cho đến chừng một niệm, phải
biết người ấy đã được lơi ích rất lớn, là đã đầy
đủ công đức vô thượng.
Vì
thế nên giả sử có lửa lớn đầy khắp cả Ðại Thiên
thế giới vẫn cần phải lướt qua để nghe kinh pháp nầy
rồi vui mừng tin ưa thọ trì đọc tụng tu hành đúng theo.
Tại
sao vậy? Có rất nhiều Bồ tát muốn được nghe kinh nầy
mà chẳng được. Nếu chúng sanh vào nghe kinh nầy thì không
con thối chuyển đạo Vô thượng Chánh giác. Vì lẽ ấy nên
cần phải chuyên tâm tin ưa thọ trì đọc tụng giảng thuyết
thực hành.
Nay
ta vì chúng sanh mà nói kinh pháp nầy, làm cho họ được thấy
đức Vô Lượng Thọ Phật, tất cả vạn vật ở nước An
Lạc và Thánh chúng Bồ Tát, Thanh Văn ở nước ấy.
Chớ
nên sau khi ta diệt độ mà sanh lòng nghi hoặc.
Ðời
tương lai, lúc kinh pháp diệt tận, ta dùng oai lực từ bi đặc
biệt lưu kinh nầy lại một trăm năm, có chúng sanh nào gặp
kinh nầy thì tùy ý họ nguyện cầu đều được độ thoát.
Nầy
A Dật Ða! Ðức Như Lai ra đời khó gặp khó thấy, kinh pháp
của Phật khó được khó nghe. Các môn Ba la mật, các pháp
thù thắng của Bồ Tát được nghe cũng khó. Gặp thiện tri
thức nghe pháp mà làm được cũng là khó.
Nếu
nghe kinh nầy mà tin ưa thọ trì thì là khó trong khó, không
gì khó hơn.
Vì
thế nên pháp của ta, làm như vậy, nói như vậy, dạy như
vậy, phải nên tin thuận y theo tu hành”.
Lúc
đức Thế Tôn nói kinh nầy, có vô lượng chúng sanh phát tâm
Vô thượng Bồ đề. Một muôn hai ngàn na do tha người được
pháp nhãn thanh tịnh. Hai mươi hai ức chư Thiên và nhơn dân
được quả A Na Hàm. Tám mươi vạn Tỳ Kheo lậu tận ý giải
thành A La Hán. Bốn mươi ức Bồ Tát được chẳng thối chuyển,
dùng công đức hoằng thệ tự trang nghiêm, ở đời tương
lai sẽ thành Chánh Giác.
Bấy
giời Ðại Thiên thế giới chấn động sáu cách. Quang minh
lớn chiếu khắp cõi nước mười phương. Trăm ngàn âm nhạc
tự nhiên hòa tấu. Vô lượng hoa đẹp thơm tho rưới xuống.
Ðức
Phật nói kinh nầy xong, Di Lặc Bồ Tát và chúng Bồ Tát từ
mười phương đến, Trưởng Lão A Nan và chư đại Thanh Văn,
tất cả đại chúng nghe lời đức Phật dạy đều rất vui
mừng tín thọ phụng hành
