KINH
LỜI DẠY CUỐI CÙNG
Thứ bốn
mươi chín
Chính tôi
được nghe: lần chuyển bánh xe chánh pháp đầu tiên, Đức
Thế Tôn độ tôn giả Kiều-trần-như và lần thuyết pháp
sau cùng, Ngài độ tôn giả Tu-bạt-đà-la. Những người có
thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Vào đêm cuối trước
ngày Niết-bàn vô dư, giữa rừng Sa-la, dưới cây song thọ,
không gian thật vắng lặng, yên tĩnh, Đức Phật đã nhắn
nhủ những điều cốt lõi của chánh pháp như sau.
O
*
1- Này các
đệ tử, sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng,
cung kính giới luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như
kẻ đui mù được sáng mắt. Phải biết rằng giới luật
là bậc Thầy tối thượng. Dẫu có sống thêm ở đời bao
nhiêu năm nữa, Như Lai cũng không ngoài mục đích răn dạy
các vị về giới luật ấy thôi. O
Người giữ
giới thì không được kinh doanh, thương mại, xây dựng nhà
cửa, cày cấy ruộng vườn, đầu tư nông nghiệp, thuê người
giúp việc, theo kiểu thế tục. Không được chặt đốn cây
cối, đào đất, móc hang, điều chế dược liệu, đoán quẻ
tốt xấu, xem sao đoán mạng, nghiên cứu địa lý, tìm tòi
hưng suy, hay coi lịch đoán số. O
Các vị nên
sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp
sống thanh cao, giải thoát. Không tham dự chính trị, lãnh sứ
mạng liên lạc, thông tin. Không được luyện bùa chú, chế
linh dược, giao hảo người quyền quý, kết thân kẻ ngạo
mạn. Cần phải giữ tâm chân thật, sống chánh niệm và tỉnh
thức trong từng phút giây, mong cầu đạo quả giải thoát.
Không được che dấu lỗi lầm, bày điều mê hoặc để thu
hút quần chúng. Phải sống ít muốn, biết đủ đối với
bốn phẩm vật cúng dường. Sống vừa đủ để hành đạo,
không cất chứa tài sản và tiền bạc. O
Như Lai vừa
nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới luật đó là căn bản,
là gốc rễ của giải thoát. Nhờ giữ giới trang nghiêm, thiền
định và trí tuệ phát sanh, có thể tiêu diệt sự đau khổ.
Thế nên các vị hãy giữ gìn giới luật một cách trọn vẹn.
Người giữ giới thanh tịnh sẽ nuôi lớn pháp lành. Người
thiếu mất giới thì không thể phát sinh công đức.
O
*
2. Này các
đệ tử, các vị phải chế ngự năm giác quan không để chúng
dong ruổi theo trần cảnh, dục lạc. Người tu phải như chú
mục đồng cầm roi chăn, không để trâu dẫm đạp lúa mạ
của người. Một khi các vị buông lung năm giác quan, không
những các vị không chế ngự được năm thứ dục lạc, mà
các vị cũng không thể dừng được vòng cương toả của
phóng túng, như con ngựa chứng nếu không dây cương, nó sẽ
lao xuống hầm hố. Nạn khổ của giặc cướp chỉ có một
đời, trong khi nạn giặc giác quan làm chúng sanh đau khổ nhiều
kiếp. Tai họa của nó vô cùng nguy hiểm. Các vị phải cẩn
thận. O
Thế nên,
người có trí cần phải chế ngự các giác quan chứ không
phục tùng nó; giữ gìn chúng như là canh chừng giặc
cướp, không để chúng hoành hành, thao túng.
Này các đệ
tử, trong các giác quan của con người, ý là quan trọng nhất.
Các vị phải thận trọng chế ngự tâm ý mình. Tâm ý rất
đáng sợ, nguy hiểm còn hơn thú dữ, rắn độc, thậm chí
nguy hại hơn cả nạn hỏa hoạn. Cũng như có người mải
mê cầm giữ chén mật trên tay và quên đi hầm hố trên đường,
sẽ bị vấp ngã. Cũng như voi say mà không có móc sắt; như
khỉ vượn gặp được cây rừng tha hồ mà chuyền nhảy,
muốn chế ngự chúng thì thật là khó. Vì vậy các vị siêng
năng chế ngự tâm mình, để giữ gìn tất cả các pháp thiện.
Khi tâm được chế ngự một chỗ thì không việc gì không
thành. O
*
3. Này các
đệ tử, khi thọ dụng phẩm vật cúng dường, các vị nên
quan niệm như uống thuốc. Ngon không ham, dở không chê. Ăn
uống chỉ để cho khỏi đói khát. Như ong hút mật trong hoa,
chỉ lấy mùi vị, không làm tổn thương hương sắc. Người
xuất gia cũng vậy: thọ dụng sự cúng dường để đủ sức
khoẻ tu tập, không được ham cầu quá nhiều, làm tổn thất
tín tâm của tín thí. Hãy như người trí biết lượng sức
kéo và chịu đựng của trâu, không nên dùng trâu quá sức,
đến nỗi kiệt lực. O
*
4. Này các
đệ tử, ban ngày thì nỗ lực tu tập pháp lành, không để
thời gian trôi qua uổng phí. Đầu hôm, cuối đêm cũng không
luống bỏ. Giữa đêm tụng niệm, tu trì. Đừng vì chuyện
ngủ nghỉ mà để cuộc đời trôi qua vô ích. Hãy tâm niệm
rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy thế gian, để
tự tinh tấn độ mình, khắc phục sự lười biếng, ngủ
nghỉ. Giặc phiền não luôn rình rập giết các vị, còn nguy
hiểm hơn kẻ thù, làm sao các vị có thể mặc tình ngủ nghỉ
mà không cảnh giác ! Phiền não ngủ trong tâm người cũng
như rắn độc nằm trong nhà, phải dùng móc sắt giới hạnh
mà lôi kéo nó ra gấp. Rắn độc ra rồi ta mới an tâm ngủ
nghỉ. Rắn độc chưa ra mà mải mê ngủ nghỉ thì thật là
người không biết hổ thẹn. O
Này các đệ
tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất trong mọi trang
sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi thứ bất thiện
và phi pháp của con người. Thế nên hãy sống với tâm niệm
hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất tâm
hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có
tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm
thú. O
*
5. Này các
đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị,
các vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận
thiêu đốt. Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông
lời ác độc để trả đũa ai. Tâm sân hận trỗi dạy sẽ
làm băng hoại đạo nghiệp, cháy hết công đức tu tập. Đức
tánh của kham nhẫn thì giữ giới và khổ hạnh cũng không
thể sánh bằng. Thực hành đức nhẫn mới xứng danh là bậc
Thượng Nhân có sức mạnh. Người nào chưa có thể chịu
đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như uống cam lộ, thì
chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí. Sự sân hận
sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ.
Các vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập.
Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là nguy
hiểm bậc nhất. Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc,
thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể
tha thứ được. Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi
thứ vui của đời mà không loại bỏ được sân hận thì
thật đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà
có sấm sét nổi lên là điều không thích hợp.
O
*
6. Này
các đệ tử, các vị hãy tự xoa đầu mình và ghi nhớ rằng:
các vị đã bỏ tất cả các mỹ phẩm và trang sức của thế
gian, khoác trên mình chiếc áo cà-sa hoại sắc, sống bằng
cách khất thực. Khi nào tâm lý kiêu mạn, cao ngạo nổi lên
thì lập tức chế ngự nó. Kiêu ngạo là tánh xấu mà thế
nhân còn không nên có, huống chi là người xuất gia vì đạo
giải thoát, sống bằng khất thực hay sao! O
*
7. Này các
đệ tử, tâm lý dua nịnh trái ngược hoàn toàn với đạo
giải thoát. Thế nên, các vị hãy huấn luyện tâm cho thật
chất trực. Nên biết rằng: Dua nịnh là điều dối trá mà
người xuất gia không nên có. Phải làm cho tâm ý đoan chánh,
phát huy đức tánh trung trực. Đó là con đường vào đạo.
O
*
8. Này
các đệ tử, các vị nên biết rằng người nào tham muốn
nhiều thì nhu cầu lợi dưỡng cũng nhiều, do vậy mà đau
khổ càng tăng. Người ít muốn thì không ham cầu, không đắm
nhiễm nên không có tệ hại ấy. Chỉ với lợi ích ấy thôi
cũng đủ để các vị phải trau dồi, thực tập, huống là
khi hạnh này còn có công năng phát triển các công đức !
Người ít muốn thì không lấy lòng người bằng cách dua nịnh,
lòn cúi và cũng không bị các giác quan sai sử, thao túng. Hành
giả ít muốn, tâm ý được thanh thản, không còn những ưu
tư, phiền muộn, gặp việc thì đủ nghị lực để ứng phó,
không việc gì không làm được. Nói chung, sống hạnh ít muốn
tất gần Niết-bàn. O
*
9. Này các
đệ tử, nếu các vị muốn giải thoát mọi đau khổ thì
nên thường xuyên tu tập quán biết đủ. Pháp biết đủ là
cơ sở của sự an lạc, hạnh phúc và sung mãn. Người biết
đủ dẫu nằm trên đất vẫn thấy an lạc. Người không biết
đủ dẫu sống ở thiên đường vẫn chưa thấy toại nguyện.
Không biết đủ tuy giàu mà rất nghèo. Biết đủ thì tuy nghèo
nhưng rất giàu có. Người không biết đủ là kẻ nô lệ
của năm thứ dục lạc thấp kém và còn là tấm bia đời
đáng thương xót đối với hành giả biết đủ. O
*
10. Này các
đệ tử, muốn đạt đạo tịch tịnh, vô vi, an lạc, các
vị phải xa lìa những chốn huyên náo, sống một mình ở
những nơi an nhàn, thanh vắng. Người ở chỗ yên tĩnh thì
trời Đế-thích và chư Thiên đều kính trọng. Vì thế, các
vị nên xa lìa hội chúng, sống đơn độc thư thái và cắt
đứt gốc rễ đau khổ bằng tư duy trí tuệ. Người thích
hội chúng thì bị hội chúng nhiễu loạn, như cây cổ thụ
mà có nhiều chim tụ tập thì có thể bị hư cành. Thế gian
trói buộc con người trong đau khổ cũng giống như con voi già
bị sa lầy, khó mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát, các
vị cần ghi tâm. O
*
11- Này các
đệ tử, nỗ lực tinh tấn thì không việc gì khó khăn. Thế
nên các vị phải siêng năng, tinh tấn như giọt nước thường
nhỏ có thể xuyên thủng đá. Người tu hành mà biếng nhác
thì khác nào như người cọ cây lấy lửa, cây chưa kịp nóng
đã nghỉ, dầu tha thiết được lửa, lửa cũng không vì thế
mà có được. Hãy siêng năng tinh tấn không dừng.
O
*
12- Này các
đệ tử, thực ra cầu cạnh thiện tri thức hay người trợ
lực không bằng tự mình đề cao chánh niệm, tỉnh thức.
Có chánh niệm thì giặc phiền não không thể xâm nhập được.
Thế nên
các vị phải sống trong sự nhiếp niệm. Mất chánh niệm
là đồng nghĩa với mất công đức. Có được chánh
niệm bền vững thì dù sống trong môi trường ngũ dục cũng
chẳng hề gì, như người chiến sĩ vào trận có mặc áo giáp
thì không còn sợ gì nữa. O
*
13- Này các
đệ tử, nhiếp phục được tâm ý là làm cho tâm an trụ
vào định. Tâm trụ thiền định thì sẽ thấu triệt được
trạng thái sinh diệt, chuyển biến của thế giới. Các vị
phải tinh tấn tu tập thiền định. Tâm định thì trạng thái
chao động, tán loạn sẽ tiêu mất cũng như người biết cách
giữ nước thì phải bảo vệ tốt đê điều. Cũng vậy, muốn
có nước trí tuệ, các vị phải khéo tu tập thiền định,
không để cho rỉ chảy. O
*
14- Này các
đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự
tỉnh thức và tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng
giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ
thì không xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền
vững chắc vượt qua biển sanh tử, là ngọn đèn sáng chói
trong hắc ám vô minh, là dược liệu thần y của mọi bịnh
tật và là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não. Vì thế,
các vị cần trau dồi tuệ giác “văn, tư, tu” để tăng
trưởng lợi ích. Người có trí tuệ soi chiếu thì dẫu là
mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản chất
mọi vật. O
15. Này các
đệ tử, hý luận chỉ làm cho tâm trí rối loạn. Người
xuất gia mà sống hý luận thì không thể đạt được tuệ
giác giải thoát. Vì thế các vị phải nhanh chóng từ bỏ
vĩnh viễn tâm lý hý luận, vô ích. Diệt trừ các hý luận
tạp loạn mới có thể đạt được an lạc tịch diệt.
O
*
16. Này các
đệ tử, hãy thường xuyên nhớ đến các công đức để
từ bỏ tất cả mọi phóng dật, như là tránh xa bọn giặc
cướp tài sản thánh. Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã
tuyên nói chánh pháp lợi ích rốt ráo. Về phần mình, các
vị hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên, đừng để cuộc
đời trôi qua vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn.
Như Lai như là vị lương y, rõ biết bịnh lý, cho toa thuốc
hợp bịnh trạng từng người. Uống hay không uống không phải
là lỗi của lương y. Như Lai lại cũng như người chỉ đường,
chỉ rõ đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát.
Biết rõ đường lành mà không chịu cất bước lên đường
không phải là lỗi của vị đạo sư! O
*
17. - “Này
các đệ tử, đối với bốn chân lý thánh, nếu có chỗ nào
chưa thấu đáo, thì nên thưa hỏi, Như Lai sẽ chỉ bày cho
các con.” Thế Tôn khuyên nhắc ba lần như vậy, bốn
chúng đều im lặng, không ai còn thắc mắc.
O
Lúc ấy,
tôn giả A-nậu-lâu-đà bạch Phật rằng:
- Bạch Thế
Tôn, dù cho mặt trăng có thể trở nên nóng, mặt trời có
trở nên lạnh, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Như Lai đã dạy
không thể nào thay đổi được. Khổ đế là thực trạng
đau khổ của cuộc đời: sanh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, thù ghét mà phải gặp mặt là khổ,
thương yêu mà phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm nhân
thể là khổ. Diệt đế là trạng thái hết sạch mọi đau
khổ và nguyên nhân đau khổ, là an lạc, Niết-bàn. Đạo đế
là con đường dẫn đến an lạc, là tám chánh đạo, là trung
đạo, không có con đường nào khác. Bạch Thế Tôn, cả bốn
chúng đều không còn thắc mắc gì về bốn chân lý cao thượng
nầy nữa. O
*
18. Lúc bấy
giờ trong chúng, hàng đệ tử hữu học phải đối diện sự
kiện Đức Phật sẽ vô dư Niết-bàn, đều bi cảm, đau xót.
Hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng
đều được hóa độ, như trong đêm tối nhờ có ánh sáng,
nên thấy đường đi. Các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch
các phiền não, vượt ra khỏi sanh tử, vẫn không ngăn được
sự ngậm ngùi: “Tại sao Đức Thế Tôn vô dư Niết-bàn quá
sớm ! Lúc đó, Đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm
rằng: O
- Này các
đệ tử, chớ có thảm sầu, đau xót. Dẫu Như Lai có sống
thêm ở đời một kiếp nữa, rồi cũng phải đến ngày Niết-bàn.
Hội ngộ mà không chia tay; kết hợp mà không tan rã là điều
không thể có được. O
Đối với
Như Lai, kinh nghiệm và pháp thức lợi mình, lợi người, Như
Lai đều đã tuyên bố. Thật chẳng có lợi ích gì, nếu Như
Lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực hành chánh pháp.
Những chúng sanh đáng độ, Như Lai đã độ hết. Những chúng
sanh chưa được độ, Như Lai cũng đã tạo nhân duyên để
họ được hóa độ. Từ nay trở đi, đệ tử của Như Lai
hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Đó là
cách làm cho pháp thân Như Lai thường còn, và mãi mãi bất
diệt ở thế gian. Như Lai vô dư Niết-bàn hay không, việc
đó không quan trọng. O
Này các đệ
tử, các vị nên nhận thức rằng mọi vật thể, hiện tượng
trên thế gian này đều chuyển biến, vô thường, có kết
hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì để quyến luyến, thương
tâm. Cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực tinh tấn
để tự giải thoát. Dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt
bóng tối si mê. Đời là một sự vận hành không kiên định.
Như Lai vô dư Niết-bàn như bỏ đi một căn bệnh dữ. Đó
là năm nhóm nhân tính, mang tính tội lỗi, tạm gọi là thân,
vì thế, nó phải chịu sự chi phối không thương tiếc của
già, bệnh và chết. Bậc tuệ trí khi thoát khỏi nó có cảm
tưởng như là dẹp xong được bọn cướp. Như vậy, chết
không đáng để hoan hỷ, an lạc hay sao ? O
Này các đệ
tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát.
Toàn thể thế giới từ những vật thể đang vận động cho
đến các vật thể không vận động cũng đều không thường
còn, và không có thực thể, rồi phải đến lúc hoại diệt.
Thôi, các
vị hãy yên lặng, đừng nói thêm lời nào nữa ! Đã đến
lúc Như Lai vô dư Niết-bàn. Đó là những lời dạy cuối
cùng của Như Lai. O
Nam-mô Bổn
Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá) OOO