THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
PHẦN CHÁNH KINH
PHẦN SÁM NGUYỆN VÀ HỒI HƯỚNG
c
KINH TỤNG HẰNG NGÀY
TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO
NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG
Tỳ-kheo Thích Nhật Từ biên soạn
x
 

24. Kinh Bốn Mươi Hai Bài

Kinh này được cư sĩ Phan Khắc Nhượng diễn thơ từ bản dịch tiếng Việt trong tác phẩm Tìm Hiểu Kinh Tứ Thập Nhi Chương(bản cảo, dịch và diễn giảng phổ biến nội bộ năm 1989) của soạn giả. Toàn bộ các tiêu đề chương được soạn giả đặt, để giúp người đọc hiểu được đại ý của các bài Kinh.

Giống như Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp (Kinh Pháp Cú), kinh này là một tuyển tập về các lời dạy tiêu biểu của đức Phật trong truyền thống kinh điển Đại thừa và kinh điển A-hàm, và được xem là kinh cẩm nang của tất cả những người mới tu theo Bắc tông. Bài kinh còn có giá trị lịch sử truyền bá Phật giáo ở Trung Quốc, khi hai tôn giả Ca-diếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan mang sang Trung Hoa và là bản kinh được dịch và phổ biến đầu tiên ở nước này. 

Bài kinh trình bày một cách ngắn gọn nhiều chủ đề như thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức học, phép xử thế, các quan niệm sống tốt đạo đẹp đời, tại ngay thế gian này. Nhiều triết lý được trình bày trong kinh này rất tương ứng với những điều Phật dạy trong kinh điển Pāli, nhưng cũng có một số khác lại phản ánh tư tưởng tiêu biểu của Đại thừa. Hành trì kinh này, chúng ta sẽ thấy giáo pháp của Phật trong hai truyền thống đan quyện vào nhau trong một mạng lưới, để cùng xiển dương một chân lý duy nhất, đó là, tất cả giáo pháp của Phật chỉ thuần một hương vị giải thoát.

25. Kinh Chủ Trương của Như Lai

Bài kinh này được soạn giả tóm lược từ bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng Chi (III. 29-32, ấn bản năm 1988), có tham khảo bản tiếng Anh The Book of Gradual Sayings (IV. 171-8, Hội Thánh Điển Pāli ấn hành năm 1988). 

Kinh ghi lại cuộc đối đáp của đức Phật và Bà-la-môn Veranja về sáu học thuyết / chủ nghĩa / chủ trươngmà vị Bà-la-môn này đã hiểu sai hay cố tình gán cho đức Phật. Sáu chủ nghĩa / học thuyết đó là: thiếu ý vị, thiếu tài sản, không hành động, đoạn diệt, yếm thế và hư vô. 

Cái tuyệt vời của đức Phật ở đây là Ngài không hề phủ nhận những gì người ta đã cố tình gán hay chụp mũ Ngài, trái lại, Ngài đã vận dụng tinh thần “bầu cũ rượu mới” vào trong các chủ nghĩa và học thuyết khô khan và vô dụng đó. Nói cách khác, cũng dùng chung một khái niệm, một ngôn từ, nhưng nội dung và triết lý mà đức Phật sử dụng hoàn toàn khác và vượt lên trên các cách thức mà các truyền thống tôn giáo và triết học bấy giờ đã hiểu và sử dụng. Chúng ta thấy, thường đức Phật ít khi dùng đến những khái niệm mới, ngoại trừ không thể tìm ra trong các truyền thống trước đó các khái niệm có thể vay mượn để diễn tả triết lý cao siêu huyền diệu của ngài, ví dụ như Bồ-tát, Bồ-đề tâm, Phật và Phật tánh v.v...

Kể từ thế kỷ 19 trở lại đây, Phật pháp đã trở thành đối tượng nghiên cứu và thực hành nở rộ ở phương Tây. Nhiều học giả đã xem đạo Phật như là một nền triết học, một tôn giáo, một hệ thống đạo đức. Các học giả khác thì cho rằng đạo Phật là khoa học, là xã hội học, là tâm lý học trị liệu v.v... Tuỳ theo cái nhìn và cách thế tiếp cận, đạo Phật đã trở thành và hiệp nhất với các quan điểm của người đánh giá. Nhiều Tăng Ni và Phật tử đã không hài lòng về cách lý giải đạo Phật qua các môn học hiện đại, và cho rằng làm như vậy sẽ thế tục hoá đạo Phật, v.v... Theo tinh thần của kinh này, việc làm đó không có gì là sai cả, nếu nội dung mà người ta hiểu và định nghĩa cho đạo Phật trong các chủ nghĩa học thuyết đó không đi ngược lại với tinh thần giáo pháp. Nói cách khác, điều quan trọng không phải là tên gọi của học thuyết mà người ta đặt cho đạo Phật, mà chính là nội dung chứa đựng trong tên gọi của học thuyết đó. Quan trọng hơn là sự thực hành nội dung chánh pháp được chứa tải trong các danh xưng và học thuyết để đem lại an lạc và hạnh phúc cho mình và người, chứ không phải danh xưng và bản thân của các học thuyết.

26. Kinh Quán Niệm về Như Lai

Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh từ Samyutta Nikāya, 22, 6. Bài kinh tường thuật lại câu hỏi của một vị Bà-la-môn về bản chất của Như Lai sau khi chết, dưới hình thức bốn mệnh đề (tứ cú). Bốn mệnh đề đó là Như Lai tồn tại sau khi chết, Như Lai không tồn tại sau khi chết, Như Lai vừa còn vừa không còn tồn tại sau khi chết và Như Lai vừa chẳng còn vừa chẳng phải chẳng còn tồn tại sau khi chết. Được hỏi vậy, tôn giả Anuradha đã trả lời rằng đức Phật chưa bao giờ giảng dạy hay tuyên bố liên hệ đến hình thái của bốn mệnh đề: có, không có, vừa có vừa không có; chẳng phải có chẳng phải không có. Mệnh đề đầu rơi vào chủ nghĩa thường còn. Mệnh đề thứ hai rơi vào chủ nghĩa đoạn diệt. Mệnh đề thứ ba tổng hợp hai mệnh đề một và hai, trở nên mâu thuẫn vì tính cách loại trừ nhau. Mệnh đề thứ tư đối lập với mệnh đề thứ ba, do đó cũng trở nên vô nghĩa vì tính cách mâu thuẫn và loại trừ với mệnh đề thứ ba. Cả bốn mệnh đề đều rơi vào hai chủ nghĩa hoặc thường kiến hoặc đoạn kiến. Giáo pháp của Phật phủ định hai loại kiến chấp này. Do đó, sẽ trở nên vô nghĩa nếu áp đặt sự kiện Như Lai sau khi chết vào trong khuôn khổ của bốn mệnh đề này. 

Không thoả mãn với câu trả lời ngắn gọn của tôn giả Anuradha, các du sĩ ngoại đạo đã khinh chê tôn giả là người kém học ít biết hoặc chỉ là người mới tu tập nên không có kiến thức chuyên sâu về vấn đề. Tôn giả không buồn đính chính, đến bên Phật trình bày lại sự kiện và thỉnh cầu đức Phật giảng giải. 

Đức Phật dạy rằng không thể tìm kiếm Như Lai trong hay ngoài năm tổ hợp nhân tính (thân thể, cảm giác, suy luận, tâm tư và ý thức). Tìm kiếm Như Lai khi Ngài còn sống còn không được huống hồ là sau khi Ngài chết! Cuối cùng đức Phật lưu ý rằng giáo pháp của Ngài không để phục vụ cho kiến thức thuần tuý, vượt khỏi chủ nghĩa duy lý. Xưa và nay, Ngài chỉ tuyên bố hai điều đó là vạch mặt khổ đau và chỉ ra con đường để chấm dứt khổ đau. Tất cả các câu hỏi cũng như các câu trả lời về bản chất của Như Lai sau khi chết đều không hướng đến mục đích chấm dứt đau khổ trong đời.

27. Kinh Biết Sống Một Mình

Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh. Kinh này gồm 2 phần: phần I dịch từ kinh số 1071, Tạp A-hàm và phần II dịch từ Bhaddekaratta Sutta, thuộc Majjhima Nikāya, 131.

Phần một tường thuật lại hạnh tu một mình của vị Tỳ-kheo tên là Thượng Tòa. Vị Tỳ-kheo này hành trì và ca ngợi hạnh sống một mình trong khất thực, ăn uống, đi đứng nằm ngồi và trong tu tập thiền quán. Đức Phật một mặt ca ngợi về hạnh viễn ly đó, mặt khác dạy phương pháp sống có ý nghĩa tích cực và lợi ích lớn hơn. Đó là cách sống chánh niệm và tỉnh giác trong hiện tại. Nói cách khác, sống một mình mà không có chánh niệm và tỉnh giác thì không có lợi ích gì cả. Người sống chánh niệm trong từng phút giây của hiện tại, không để tâm vướng mắc vào các tham đắm, từ bỏ mọi lo âu, hối hận, sầu khổ, cắt đứt mọi ràng buộc của cuộc đời, an trụ vào thánh trí, giải thoát. Được vậy, mới xứng đáng được gọi là người “biết” sống một mình.

Trong phần hai, đức Phật giải thích một cách chi tiết về hạnh sống trong hiện tại. Sống trong hiện tại là thái độ sống tỉnh thức trong từng tích tắc của thời gian, không tìm về quá khứ, không hướng vọng tương lai. Nó còn là thái độ sống tinh tấn trong chánh pháp ngay bây giờ và tại đây, không trông chờ một cái gì khác. “Không tìm về quá khứ” không có nghĩa là cắt đứt mọi suy nghĩ về quá khứ, thờ ơ với lịch sử, mà thực chất là không để tâm bị ràng buộc quyến luyến về những gì đã qua. Tương tự, “không tưởng đến tương lai” không có nghĩa là đóng bít các giác quan về những gì sẽ xảy ra, mà thật ra là không để cho tâm bị ràng buộc vướng mắc vào tương lai. Khi tâm không vướng bận về quá khứ, hành giả sẽ thoát khỏi những cảm giác vui buồn của những kinh nghiệm hạnh phúc hay đau khổ trong quá khứ. Khi tâm không hướng đến tương lai, hành giả sẽ không bị các cảm giác lo âu như ta "sẽ thế nào? sẽ ra sao? sẽ làm sao?” v.v… chi phối, khống chế. Tâm hành giả sẽ trở nên thơ thái, an tịnh, không bị buộc ràng. 

Nhờ an trú một cách có chánh niệm vào hiện tại, hành giả sẽ nhận chân được rằng từng cá thể hay năm hợp thể tâm vật lý như hình thể, cảm thọ, tưởng tượng, tâm tư và nhận thức đều không phải là ngã, không thuộc về ngã và ngược lại, cái gọi là “ta” cũng không lệ thuộc vào chúng. Nhờ quán chiếu như vậy, hành giả sẽ vượt khỏi mọi ràng buộc chấp mắc ở đời; sống ung dung và giải thoát. 

28. Kinh Ba Cánh Cửa Giải Thoát

Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh từ Phật Thuyết Pháp Ấn Kinh, kinh thứ 104 trong ấn bản Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Tựa đề của dịch giả ghi là Kinh Pháp Ấn. Soạn giả sửa lại Kinh Ba Cánh Cửa Giải Thoát, để giúp độc giả dễ hiểu được chủ đề của Kinh. Như tựa đề, bài kinh này trình bày ba cánh cửa giúp hành giả đạt được giải thoát ngay thế gian này. Ba cánh cửa đó là pháp quán “không, vô tướng và vô tác.”

Quán chiếu về “không” là sự nhìn rõ về bản chất của “khổ, không thực thể và biến chuyển” của năm tổ hợp nhân tính (hình thể, cảm giác, tưởng tượng, tâm tư và nhận thức), để thoát khỏi mọi chấp mắc về chúng. Quán chiếu về “vô tướng” là sự nhìn rõ về bản chất của các đối tượng của giác quan (hình thái, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và ý niệm của tâm) vốn không phải là “ta” (ngã) cũng không phải “những gì thuộc về ta” (ngã sở hữu), vì chúng cũng không có thực thể và luôn biến chuyển không thường còn. Quán chiếu về “vô tác” là sự nhìn rõ về bản chất của “các pháp và sự thấy nghe hiểu biết về chúng” vốn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nhân duyên, và không có chủ thể tạo tác.

Nhờ thực hành quán chiếu về ba cánh cửa giải thoát này, vị hành giả không còn chấp mắc vào ngã và ngã sở, diệt trừ hết các phiền não tham-sân-si, nhìn rõ được bộ mặt thật của mọi sự vật hiện tượng, không còn kẹt vào một pháp nào nữa và nhận ra được tính cách tịch diệt của các pháp, và nhờ vậy, sống an nhiên và giải thoát trong đời.

29. Kinh Dụ Ngôn Bọt Nước

Bản kinh này do cư sĩ Phan Khắc Nhượng diễn thơ từ Kinh Tương Ưng V, bản dịch của HT. Thích Minh Châu, Đại Tạng Kinh Việt Nam. Bài kinh này được đức Phật giảng cho các vị Tỳ-kheo nhân đi ngang qua sông Hằng, nhìn thấy các bọt nước trồi lên mặt sóng rồi bỗng chốc vỡ tung và tan biến. Đức Phật dạy mọi người nên quán sát tổ hợp nhân thể gồm năm yếu tố (ngũ uẩn) tạo nên sắc thân và tâm thức của con người cũng vô thường, chóng vánh và vô ngã như bọt nước. Năm tổ hợp tạo nên con người là (1) thân thể, (2) cảm thọ, (3) ý niệm, (4) tâm tư, và (5) nhận thức. 

Đức Phật đã dùng 5 hình ảnh để sánh ví tính vô thường và vô ngã của hợp thể con người tâm vật lý. Thân thể con người như bọt nước, có đó rồi tan biến đó. Cảm thọ (đau khổ, hạnh phúc và trung tính) như các bong bóng nước khi trời mưa rơi xuống đất, tạm bợ, thay đổi, không dừng. Ý niệm của con người cũng như ráng trời, như mây tụ tán, bỗng chốc liền không. Sự vận hành hay sự sống của chúng sanh cũng như thân cây chuối, tưởng chắc thật nhưng vốn không có lõi bên trong. Thức phân biệt như trò ảo thuật, vốn không có thật. Đức Phật khẳng định rằng ai tu tập quán chiếu về tổ hợp tâm vật lý vô thường và vô ngã nhất định sẽ thoát khỏi các sự say đắm về đời sống năm dục lạc thấp kém, hướng tâm đến thiền vị cao hơn, xả bỏ các chấp mắc về ngã và pháp, chứng đạt sự an lạc và giải thoát.

30. Kinh Chánh Kiến

Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh về bài kinh thứ 301 trong Tạp A-hàm, có tham khảo kinh Kaccayanagotta, thuộc Samyutta Nikāya II, 16-7. Tựa đề của dịch giả ghi là Kinh Trung Đạo Nhân Duyên, được soạn giả sửa lại thành Kinh Chánh Kiến, vì nội dung của Kinh nhằm giải thích về ý nghĩa của thuật ngữ chánh kiến cũng như các giá trị nhận thức và đạo đức của chánh kiến.

Chánh kiến trước nhất là cái nhìn vượt thoát khỏi hai quan niệm về hiện hữu và phi hiện hữu của bản ngã và mọi sự vật hiện tượng. Cho rằng mọi vật hiện hữu sẽ dẫn tới thường kiến luận, trong khi cho rằng mọi vật không hiện hữu sẽ rơi vào đoạn kiến luận. Cả hai đều dẫn đến các hệ quả bất thiện về phương diện đạo đức. 

Kế đến, chánh kiến là cái nhìn về mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này dưới nhãn quan của nguyên lý duyên khởi và tương thuộc: cái này có vì cái kia có, cái này sanh vì cái kia sanh, cái này không vì cái kia không và cái này diệt vì cái kia diệt. Tất cả các quan niệm cho rằng thế giới này được hình thành từ nguyên nhân khởi thuỷ, dù gọi bằng tên gì như Thượng Đế, Phạm Thiên, Thiên Chúa, Chúa Trời v.v... chỉ là quan niệm sai lầm. 

Với cái nhìn chánh kiến, thế giới của chúng sanh có tình thức được hình thành, phát triển và hoại diệt từ 12 mắc xích: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử. Từ đó, đau khổ chồng chất theo nhau từ đời này sang đời khác. Chỉ với chánh kiến và trí tuệ như thật, con người có thể chặt đứt được dòng tiếp nối của sanh tử trong ba cõi sáu đường. 

31. Kinh Dụ Ngôn Người Bắt Rắn

Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh từ kinh thứ 22 trong Trung Bộ Kinh, có tham khảo Kinh Tương Ưng trong Trung A-hàm, đó là kinh A-lê-sá, thứ 220. Nhân sự kiện vị Tỳ-kheo Arittha hiểu và tuyên truyền sai về giáo pháp của đức Phật, thay vì đức Phật dạy “ái dục là một chướng ngại cho con đường giải thoát”, thầy hiểu sai và nói ngược lại, đức Phật đã dạy cho đại chúng về phương pháp học tập và nắm bắt kinh điển có lợi ích cho bản thân. Trước nhất, người đệ tử Phật phải tìm hiểu tường tận những gì đức Phật dạy, rồi hành trì và ứng dụng vào trong cuộc sống hằng ngày. Người học hỏi chánh pháp chỉ để nâng cao kiến thức thuần tuý, tranh luận hơn thua, sẽ không đem lại lợi ích gì cho bản thân, mà chỉ tăng thêm nhiều chướng ngại, cũng giống như người muốn bắt rắn mà không biết thủ thuật bắt, sẽ có thể bị rắn độc cắn chết.

Kế đến, đức Phật nói về dụ ngôn chiếc bè. Mục đích chính của chiếc bè là để vượt qua sông. Sau khi qua được bờ bên kia, người có trí không thể mang chiếc bè về thờ, mà phải thả nó trở về bên kia để nó có thể giúp được nhiều người khác. Tương tự, sau khi giác ngộ, hành giả phải xả bỏ luôn cả chánh pháp, huống hồ những gì không phải chánh pháp.

Bài kinh còn dạy không nên chấp thủ vào năm tổ hợp nhân tính (hình thể, cảm giác, tưởng tượng, tâm tư và nhận thức) cũng như thế giới này, vì tất cả là vô ngã, không nằm trong ngã và không phải là ngã và ngược lại. Kinh cũng phân tích các nỗi buồn và lo sợ dù có nguyên nhân nội tại và ngoại tại, đều có gốc rễ do quan niệm có một bản ngã thật gây ra. Một khi từ bỏ được sự chấp ngã, tất cả nỗi lo sợ và đau khổ sẽ chấm dứt. Kinh cũng cho thấy rằng ai cho rằng đức Phật chủ trương chủ nghĩa đoạn diệt thông qua triết lý vô ngã của Ngài đều là hiểu sai về triết lý cao siêu này. Đức Phật còn nhắn nhủ thêm rằng người tu học Phật phải có thái độ bình thản trước mọi phê bình và chỉ trích của người khác, cũng như những lời khen ngợi tán dương, vì tất cả những điều này không có liên hệ gì đến mục tiêu giải thoát. Để giải thoát các hành giả phải tự mình nhổ sạch gốc rễ của các phiền não, nhiễm ô, và các kiết sử để từng bước thanh tịnh tâm và an lạc ở đời.

32.Kinh Quán Niệm Hơi Thở

Bài kinh này do HT. Thích Nhất Hạnh dịch từ Kinh Ānāpānasatisutta (M. III. 79-99). Đây là bài kinh thứ 118 thuộc Kinh Trung Bộ, giới thiệu mười sáu cách quán niệm hơi thở ra và vào, trong sự chánh niệm và tỉnh giác. Mười sáu cách quán niệm hơi thở đó là:

     
  1. Thở vào / ra một hơi dài, người ấy biết: ta đang thở vào / ra một hơi dài. 
  2. Thở vào / ra một hơi ngắn, người ấy biết: ta đang thở vào/ ra một hơi ngắn. 
  3. Ta đang thở vào / ra và có ý thức về toàn thân ta. 
  4. Ta đang thở vào / ra và làm cho toàn thân an tịnh. 
  5. Ta đang thở vào / ra và cảm thấy mừng vui. 
  6. Ta đang thở vào / ra và cảm thấy an lạc. 
  7. Ta đang thở vào / ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta. 
  8. Ta đang thở vào / ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh. 
  9. Ta đang thở vào / ra và có ý thức về tâm ý ta. 
  10. Ta đang thở vào / ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc. 
  11. Ta đang thở vào / ra và thu nhiếp tâm ý ta vào định. 
  12. Ta đang thở vào / ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát, tự do. 
  13. Ta đang thở vào / ra và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp. 
  14. Ta đang thở vào / ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. 
  15. Ta đang thở vào / ra và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp. 
  16. Ta đang thở vào / ra và quán chiếu về sự buông bỏ. 
Đức Phật khẳng định 16 pháp quán niệm hơi thở này có mối liên hệ mật thiết với bốn pháp quán niệm. Nhờ chánh niệm và tỉnh giác trong hơi thở ra vào, hành giả an trú trong (1) pháp quán thân trong thân, (2) quán cảm thọ trong cảm thọ, (3) quán tâm ý như tâm ý, (4) quán đối tượng tâm ý trong trạng thái vượt thoát mọi tham đắm ở đời. 
Thông qua việc thành tựu bốn lãnh vực quán niệm, 16 pháp quán niệm hơi thở này cũng dẫn đến thành tựu bảy yếu tố đưa đến giác ngộ, đó là: chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ lạc xuất thế, khinh an, định và hành xả. Như vậy phương pháp quán niệm hơi thở ra vào trong chánh niệm tỉnh giác không chỉ có công năng khắc chế các cảm thọ đau khổ của thân xác mà còn hướng đến sự giải thoát ngay hiện tại và bây giờ.

33. Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm

Kinh này là bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh từ Kinh Niệm Xứ, Trung A-hàm 98, phối hợp với bản dịch chữ Hán của Tăng-già-đề-bà (Sanghadeva, 317-420 AP), có tham khảo các bản Pàli tương đương là Satipathana Sutta, bài kinh thứ 10 trong Trung Bộ Kinh.

Bốn lãnh vực quán niệm là (1) pháp quán thân trong thân, (2) quán cảm thọ trong cảm thọ, (3) quán tâm thức như tâm thức, (4) quán đối tượng tâm ý như đối tượng tâm ý. 

Quán thân trong thân là thái độ chánh niệm tỉnh giác trong từng cử chỉ vận hành của thân như đi, đứng, nằm, ngồi, ngước lên, cúi xuống, duỗi ra, co vào, thở ra vào, bản chất duyên khởi và vô ngã của tổ hợp tâm vật lý v.v… để đối trị các tâm niệm xấu ác, bất thiện bằng các tâm niệm an lạc và lợi ích. Pháp quán này còn bao gồm các pháp quán khác như quán vô ngã, vô thường, bất tịnh, thây ma để từ bỏ các tham đắm ngũ dục lạc thấp kém. 

Quán thọ trong các cảm thọ là trạng thái chánh niệm và tỉnh giác trong từng cảm giác hạnh phúc, đau khổ hay trung tính, để làm chủ các giác quan, hướng tâm đến sự an trụ hỷ lạc siêu thế.

Quán tâm thức như tâm thức là trạng thái chánh niệm và tỉnh giác trong từng tâm lý thiện và ác của chúng ta. Khi tâm bị tham, sân, si, bỏn xẻn, kiêu mạn v.v. . . chế ngự thì phải nhận thức rõ chúng để khắc chế chúng bằng các tâm lý đối nghịch là rộng lượng, hoan hỷ, sáng suốt, ban cho, khiêm hạ, v.v… Sự khắc chế tâm ý như vậy là một quá trình sàng lọc và thanh tẩy, từ xấu thành tốt, từ bất thiện thành thiện và do đó từ phàm phu tục tử trở thành bậc thánh.

Quán đối tượng tâm ý như đối tượng tâm ý là thái độ chánh niệm và tỉnh giác trong từng ảnh niệm của các giác quan sau khi tiếp xúc với các cảnh trần của chúng. Phải nhận chân những hình ảnh, khái niệm, ý niệm lưu lại trong tâm tư: cái nào là thiện, bất thiện, cái nào là nội kết và tháo mở, cái nào đã phát sanh, chưa phát sanh, cái nào đã tiêu diệt và chưa tiêu diệt. Trên cơ sở đó, hành giả từ bỏ các cảm giác xấu, tháo mở các nội kết của tâm, phát triển các tâm niệm, khái niệm, ý niệm thiện và có lợi cho sự tu tập.

Bốn pháp quán niệm này là con đường mà các đức Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đã, đang và sẽ đi qua, có công năng đem lại hỷ lạc khắp thân, tâm niệm, thanh lọc các cấu uế của tâm, hướng đến tuệ giác. Người an trụ trong bốn lãnh vực quán niệm này sẽ có thể chứng được thánh quả hay trí tuệ cứu cánh ngay hiện đời.

34. Kinh Mười Pháp Đến Bờ Kia

Kinh này có xuất xứ từ các bản kinh tụng truyền thống của Phật Giáo Nguyên Thủy, được soạn giả trích lại từ Nghi Thức Tụng Niệm của Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thuỷ Việt Nam, do chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ xuất bản. Tựa đề kinh theo Pāli là Dasapāramī, có nghĩa là mười Ba-la-mật, hay mười pháp độ, mười pháp hành có khả năng đưa hành giả đến bờ bên kia, tức là giác ngộ và giải thoát. Bản dịch in trong quyển nghi thức trên chỉ ghi là Kinh Đáo Bỉ Ngạn, soạn giả sửa lại cho thuần Việt và sát với nội dung chủ đề của kinh: Kinh Mười Pháp Đến Bờ Kia. Bốn câu kệ trùng lập sau mỗi pháp Ba-la-mật “hy sinh ngoại vật tứ chi . . . theo chân đại từ” đã được tỉnh lược trong ấn bản này. Do đó, các âm vận cũ cũng được điều chỉnh lại cho phù hợp với âm vận mới sau khi tỉnh lược.

Trong Phật giáo Đại thừa, chỉ có sáu pháp đến bờ bên kia là: bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Trong truyền thống Phật giáo Thượng Toạ bộ, có đến mười pháp đến bờ bên kia là: bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện, từ tâm và hành xả. Trong hai truyền thống trên, có năm pháp tu sau đây là thống nhất: bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn và trí tuệ. Nhìn chung, các pháp đến bờ kia này có công năng giúp hành giả giải thoát chính mình và người khác. Do vậy, cái gọi Phật giáo Thượng Toạ bộ là Tiểu thừa, là thấp kém chỉ là sự hiểu sai về các pháp môn hành trì trong truyền thống này mà thôi. Nói cách khác, người hành trì các pháp đến bờ kia sẽ trở thành các thánh nhân, các vị Bồ-tát và Phật, nếu không ở hiện tại thì chắc chắn ở tương lai.

35. Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Hàng Bồ-tát

Tỳ-kheo Thích Kiên Anh dịch thơ từ bản chữ Hán của ngài An Thế Cao, kinh 779, thuộc Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Nguyên tựa đề ghi là Bát Đại Nhân Giác Kinh, có nghĩa là Kinh Nói về Tám Điều Giác Ngộ của các Bậc Đại Nhân. Đại nhân (Pāli: mahāpurisa), chỉ chung cho những người có đạo đức, trí tuệ và hạnh nguyện hơn hẳn người thường. Trong văn học Phật giáo Đại thừa, đại nhân chỉ cho các vị Bồ-tát. 

Điều giác ngộ thứ nhất là nhận rõ thế gian này vô thường, năm hợp thể nhân tính là vô ngã, tâm là nguồn gốc của mọi khổ đau cũng như hạnh phúc. Điều giác ngộ thứ hai là nhận rõ rằng nguồn gốc của mọi đau khổ trong đời là do tham ái và chấp thủ gây ra. Đời sống ít muốn biết đủ và cởi bỏ mọi trói buộc là những bước đường hướng tới giải thoát. Điều giác ngộ thứ ba là nhận rõ rằng đường danh lợi mà thế gian đam mê có ít giá trị đạo đức và tâm linh, trong khi con đường trí tuệ như là sự nghiệp giải thoát duy nhất của các bậc trí. Điều giác ngộ thứ tư là nhận rõ rằng mọi sa đoạ và lạc hậu trên con đường tâm linh đều do tâm lười biếng mà ra, do vậy, phải tinh tấn tu tập ngày đêm để hướng đến giải thoát cho bản thân và tha nhân. Điều giác ngộ thứ năm là nhận rõ rằng vô minh là đầu mối của sự trôi lăn trong sanh tử, trong khi trí tuệ có khả năng soi sáng và giải thoát. Điều giác ngộ thứ sáu là nhận rõ rằng nghèo khó thường sanh thù oán. Hàng Bồ-tát chuyên hạnh ban cho không phân biệt thân sơ, bạn thù, để giúp tất cả chúng sanh hướng đến giải thoát. Điều giác ngộ thứ bảy là nhận rõ rằng năm dục lạc không phải là mục đích thật sự của cuộc sống. Người xuất gia nhờ quan niệm như vậy nên sống đời thanh bần, chuyên tâm thiền định, mong giải thoát cho mình và tha nhân. Điều giác ngộ thứ tám là nhận rõ rằng vòng sanh tử triền miên đang thiêu đốt tất cả chúng sanh trong ba cõi sáu đường. Thương đời, hàng Bồ-tát phát tâm từ bi rộng lớn để hoá độ tất cả cùng chứng được niết-bàn.

Tám điều giác ngộ này không phải dành riêng cho hàng Bồ-tát. Nói chung, bất cứ ai thực hành theo đều có thể đạt được giải thoát cho bản thân, và trở thành các bậc Bồ-tát có khả năng chuyển hoá đau khổ của cuộc đời thành an lạc.

36. Kinh Dẫn Nhập Đại Thừa

Trích toàn bộ Thắng Man Phu Nhân Hội, (hội 48 thuộc Kinh Đại Bảo Tích), do HT. Thích Trí Quang dịch từ bản dịch chữ Hán của ngài Bồ-đề-lưu-chi (thuộc kinh số 310 của Đại Tạng Kinh bản Đại Chính Tân Tu). Bản dịch ghi là Kinh Thắng Man, soạn giả đặt lại tựa kinh để làm nổi bật các chủ đề chính mà kinh muốn giới thiệu.

Kinh này giới thiệu bao quát các giáo nghĩa căn bản của Đại thừa, đặc biệt là thai tạng Như Lai tiềm ẩn trong tất cả chúng sanh. Phần cốt lõi của kinh do phu nhân Thắng Man tuyên thuyết dưới sự khuyến khích và chứng minh Phật. Kinh gồm 15 chương, mỗi chương trình bày về một học thuyết trọng yếu của Đại thừa. 

Chương một giới thiệu đức tính siêu việt của Phật về nhục thân và trí tuệ. Giáo pháp của Ngài thật là cao siêu mầu nhiệm. Chương hai trình bày mười điều tâm nguyện của Bồ-tát là: giữ giáo pháp, tôn trọng sư trưởng, không sân hận, không ganh tỵ, không bỏn xẻn, ban bố và giúp đỡ mọi người, nhiếp hoá mọi người, giải phóng chúng sanh bị giam cầm, chuyển người ác làm lành, và thực hành các pháp Ba-la-mật. Chương ba giới thiệu ba nguyện lớn: luôn hướng tâm trí về chánh pháp, truyền bá chánh pháp không mệt mỏi và hy sinh thân mạng vì chánh pháp. Chương bốn giải thích các phương diện của thu nhận chánh pháp, phù hợp với căn tánh chúng sanh. Chương năm khẳng định Đại thừa là nguồn gốc của tất cả các pháp lành trên thế gian. Do đó sự tồn vong của Đại thừa liên hệ đến sự tồn vong của chánh pháp. 

Chương sáu đề cập đến trí thánh đế của Phật siêu việt các hàng Thanh Văn và A-la-hán. Chương bảy nói về thai tạng Như Lai. Chương tám trình bày về pháp thân. Chương chín nói về hai loại Như Lai tạng: như thật không và như thật hữu. Chương mười và chương mười một xác quyết chỉ có Niết-bàn là chân lý duy nhất, chân thật, thường còn và đáng nương tựa, còn ba chân lý còn lại chỉ là giả lập để hiển thị Niết-bàn. Chương mười hai giới thiệu các quan niệm sai lầm, đối lập với chánh kiến, trong mối liên hệ đến con người, thế giới và Niết-bàn. 

Chương mười ba nói đến tánh dụng và thể của Như Lai tạng trong dòng sanh tử. Chương mười bốn giới thiệu ba đối tượng “con thật của Phật” là người chứng tuệ giác, người tuỳ thuận chánh pháp và người có đức tin chân chánh về giáo pháp. Chương cuối nêu ra nhiều tên gọi của kinh và khuyên tất cả truyền bá kinh này.

Nhìn chung, bản kinh này được xem là nền tảng của đạo đức học và nhận thức luận Đại thừa, trình bày các khía cạnh giới luật và các hành trì của hàng Bồ-tát.

37. Kinh Bốn Điều Nương Tựa

Trích từ phẩm Tứ Y trong Kinh Đại Bát-niết-bàn, (tập I, trang 182-6, ấn bản 2 tập) do HT. Thích Trí Tịnh dịch. Tựa đề do soạn giả đặt, để tóm yếu nội dung của Kinh. Bốn điều nương tựa là: (1) nương tựa chánh pháp, không nương tựa người, (2) nương tựa ý nghĩa, không nương tựa văn tự, (3) nương tựa trí tuệ, không nương tựa thức, (4) nương tựa kinh điển liễu nghĩa, không nương tựa kinh điển thiếu liễu nghĩa. 

Pháp nương tựa thứ nhất giúp chúng ta xa lìa chủ nghĩa tôn sùng cá nhân và những hệ quả bất thiện của nó gây ra một khi thần tượng cá nhân đó bị sụp đổ. Chỉ có chánh pháp tối thượng của đức Phật là nơi chúng ta có thể nương tựa để tìm an lạc và giải thoát. Ngoài ra, pháp ở đây còn được hiểu là pháp tánh, người được chỉ chung cho hàng phàm phu và cho đến các bậc Thanh Văn. Nương tựa pháp là nương tựa pháp tánh, tức Như Lai, không nương tựa vào các hàng phàm phu và Thanh Văn vì đó chưa phải là chỗ nương tựa cao tột.

Pháp nương tựa thứ hai giúp chúng ta nắm bắt được nghĩa lý sâu xa huyền diệu, không vướng mắc vào văn tự chữ nghĩa. Nói cách khác, đó là thái độ “được ý quên lời.” “Nghĩa” ở đây còn ám chỉ cho chân lý cao siêu, trong khi “ngữ” được ám chỉ cho các lời lẽ chủ trương trái với lời Phật dạy, vì mục đích lợi dưỡng.

Pháp nương tựa thứ ba dạy chúng ta hướng đến trí tuệ cao siêu, bỏ qua nhận thức phàm phu thông thường. Trí ở đây là nhìn thấy được đức Phật có ba thân: pháp thân, ứng thân và báo thân, trong khi nhận thức thông thường chỉ thấy sắc thân của Phật giới hạn trong năm uẩn và mười tám giới.

Trong pháp nương tựa thứ tư, kinh liễu nghĩa chỉ cho kinh điển Đại thừa, hay những giáo pháp hướng đến Phật quả. trong khi kinh không liễu nghĩa chỉ cho kinh điển ngoài Đại thừa, không có khả năng độ thoát rốt ráo. Các phán đoán sau đây là liễu nghĩa: Như Lai thường trụ, Như Lai chỉ nhập pháp tánh chứ không chết, không thật có ba thừa mà chỉ có một Phật thừa v.v.... Các phán đoán ngược lại được gọi là bất liễu nghĩa.

Nói tóm lại, bốn pháp nương tựa này được xem là nền tảng đạo đức và nhận thức của người tu học Phật pháp Đại thừa, là kim chỉ nam để hướng đến giải thoát, và là chiếc cầu nối dài phàm phu tới Phật quả. Điều nương tựa thứ nhất nhằm phá chấp về chủ nghĩa cá nhân. Điều nương tựa thứ hai nhằm phá chấp vào văn tự chữ nghĩa. Điều nương tựa thứ ba hướng đến trí tuệ bát-nhã, vượt bỏ các nhận thức phàm phu. Điều nương tựa cuối cùng hướng tất cả chúng sanh đến Đại thừa để lợi ích mình và người trong tu tập.

38. Kinh Chỉ Bày Chân Tâm

Trích từ chương Gạn Hỏi cái Tâm thứ hai trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm Trực Chỉ Đề Cương (tập I, trang 19-53, xuất bản năm 1986), do HT. Thích Từ Thông dịch và giải. Tựa đề do soạn giả đặt cho phù hợp với nội dung của Kinh. Các tiêu đề phụ trong kinh dựa theo bản dịch trên, có thay đổi đôi chút.

Bài kinh kể lại bảy lần đức Phật gạn hỏi chân tâm thường trú, thể tánh tịnh minh, cho vị đệ tử thân tín của Ngài là tôn giả A-nan-đa, vị Đa văn đệ nhất, người có công trùng tuyên toàn bộ lời dạy của Ngài trong suốt cuộc đời hoằng pháp. Tôn giả A-nan-đa lần lượt cho rằng: tâm ở trong thân, tâm ở ngoài thân, tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau chén thủy tinh, nhắm mắt thấy tối là tâm thấy ở trong tâm, sự suy nghĩ hợp với chỗ nào thì tâm ở chỗ đó, tâm ở chặng giữa, và tâm không dính dáng vào đâu cả. Theo đó, đức Phật lần lượt chỉ ra cho chúng ta thấy chân tâm thường trú không phải là bảy thứ đó.

Phật dạy rằng tất cả chúng sanh thường nhận lầm cái tánh theo duyên, bám víu các đối tượng giác quan, thành cái chân tâm thường trú, nên phải chịu cảnh luân hồi trong ba nẻo sáu đường. Nền tảng của Niết-bàn và trí tuệ giải thoát vốn không mất trong tâm của chúng sanh. Chỉ vì chúng sanh bị vô minh che lấp nên từng giây phút sống trong thể tánh thanh tịnh mà trở thành điên đảo, không hay không biết. 

Đức Phật tha thiết khuyên tất cả chúng ta phải siêng tu thiền định, để từ bỏ thái độ nhận giặc sắc trần làm con, xem các giác quan như tâm chân thật của mình. Chỉ với con đường thiền định chín thứ lớp, không trụ chấp vào các cảnh giới chứng đắc, hướng tâm ra khỏi ba cõi, chúng sanh mới có thể từ bỏ được pháp trần tạm bợ, nhận chân ra được chủ nhân chân thật, đó là cái tâm tánh thanh tịnh xưa nay của mình. 

39. Kinh Cúng Dường Pháp

Trích phẩm Cúng Dường Pháp trong Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, bản dịch của HT. Thích Huệ Hưng (Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh tái bản 1993, các trang 165-73). 

Nhân sự kiện Thích-đề-hoàn-nhân tức Đế-thích (Vua cõi trời Đao-lợi) phát nguyện sẽ hỗ trợ và bảo hộ cho những ai đọc tụng, hành trì và truyền bá kinh Phật, đức Phật khuyến khích và ca ngợi tinh thần phổ biến và hoằng dương chánh pháp đến với các chúng sanh như là cách cúng dường các đức Phật một cách cao thượng và đáng khen nhất.

Bài kinh khẳng định cúng dường pháp có giá trị vô song so với các cách cúng dường khác như xây dựng chùa cao, Phật lớn, dựng tháp bảy báu thờ xá-lợi Phật, hoặc cúng dường các thứ cần dùng hay hầu hạ đức Phật trong vô lượng kiếp. Các cúng dường vật chất như thế giá còn thua kém một người nghe chánh pháp của đức Phật rồi phát tâm hành trì và truyền bá. Bởi lẽ, vật chất chỉ có thể nuôi sống thân mạng vô thường, trong khi chánh pháp của Phật có thể trưởng dưỡng tâm giác ngộ và giúp chúng sanh thoát khỏi nhà lửa ba cõi, an lạc vĩnh hằng. 

Cúng dường pháp ở đây bao gồm việc tán dương và hoằng truyền chánh pháp của đức Phật, để giúp chúng sanh theo đường Bồ-đề, sanh lòng đại bi, nuôi lớn trí tuệ, phá các tà kiến, vững tiến trên đường giải thoát các lậu hoặc phiền não. Đó là sự truyền bá chân lý duyên sanh, không có Thượng Đế, vạn vật muôn sự nương duyên mà thành, trụ và hoại. Đó là bốn chân lý thánh: nhận diện mặt mũi khổ đau, truy tìm nguyên nhân khổ đau, trạng thái an lạc vắng mặt khổ đau và con đường thánh chấm dứt khổ đau. Đó là chân lý cho rằng con người và thế giới này là vô ngã và không thường còn. Đó là nhân quả nghiệp báo, thiện ác rõ ràng. Đó là bốn tâm cao thượng: từ, bi, hỷ và xả. Đó là sáu pháp đến bờ kia: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Đó là nương tựa chánh pháp, ý nghĩa, trí tuệ và kinh điển Đại thừa, chứ không phải người, ngôn ngữ, kiến thức thông thường và kinh điển cho người sơ cơ. 

Nói chung, cúng dường pháp trước là sự hành trì chánh pháp của bản thân và sau là tâm hạnh truyền bá đến mọi người để tất cả cùng an lạc và giải thoát. Nói cách khác, cúng dường pháp là hạnh ban bố pháp mà tất cả người con Phật cần thực hiện.

40. Kinh Hạnh Trẻ Thơ

Trích phẩm Anh Nhi Hạnh thứ mười một, trong Kinh Đại Bát-niết-bàn, (tập I, trang 205-7, bộ hai tập), do HT. Thích Trí Tịnh dịch. Soạn giả dịch tựa kinh ra tiếng Việt cho dễ hiểu. Do vậy, toàn bộ từ “hạnh anh nhi” trong suốt mạch kinh đều được đổi thành “hạnh trẻ thơ.” 

Đức Phật mượn hình ảnh trẻ thơ không có các khả năng nói năng, đi đứng, không biết phân biệt, chấp mắc, để chỉ cho tánh Phật thanh tịnh vô nhiễm trong mọi chúng sanh. Ngài khuyên chúng ta nên trở về với hạnh trẻ thơ của mỗi người, để từ bỏ vĩnh viễn các thái độ nhị biên, phân biệt, chấp trước, nhờ đó mà hướng đến giải thoát.

Sự kiện không biết nói năng của trẻ thơ tượng trưng cho đức Phật thuyết pháp mà thật ra chẳng nói một lời nào. Nói pháp chỉ là phương tiện để độ sanh, chỉ là cung cấp chiếc bè giúp chúng sanh tự vượt sông sanh tử chứ không phải để thờ phượng.

Sự kiện không biết khổ vui, ngày đêm của trẻ thơ ám chỉ cho hàng A-la-hán, Bồ-tát và Phật không còn tâm phân biệt nhị nguyên, không còn tạo nghiệp sanh tử, tâm luôn an trụ vào Bồ-đề và giải thoát.

Hạnh trẻ thơ còn được ví cho các phương tiện thiện xảo mà người hoằng pháp độ sanh cần vận dụng vào đời sống thường nhật để giúp đỡ và cứu độ chúng sanh. Đó là giải lập ra ba thừa (Thanh Văn, Bồ-tát và Phật thừa) nhưng cốt nhằm qui về một Phật thừa mà thôi. 

Hạnh trẻ thơ còn được ví cho các phương tiện thiện xảo mà người hoằng pháp độ sanh cần vận dụng vào đời sống thường nhật để giúp đỡ và cứu độ chúng sanh. Đó là giải lập ra ba thừa (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát) nhưng cốt nhằm qui về một Phật thừa mà thôi. 

Hạnh trẻ thơ còn được sánh với thái độ tuỳ thuận, hoà quang đồng trần, sử dụng các mặc ước ngôn ngữ và phong tục tập quán của chúng sanh, để truyền bá chánh pháp, giúp chúng sanh dứt được các tà kiến, hướng đến chánh kiến, vượt thoát khỏi ba cõi sáu đường, đạt được Niết-bàn tại thế gian này.

41. Kinh Hạnh Bồ-tát

Trích từ phẩm Bồ-tát Hạnh, thứ 72 trong Kinh Bát-nhã (tập III, trang 189-960, bộ 3 tập), do HT. Thích Trí Tịnh dịch. Soạn giả dịch lại tựa kinh và dịch tất cả các cụm từ chữ Hán trong bản dịch trên thành các cụm từ tương đối thuần Việt trong ấn bản này. Như tựa đề của kinh, kinh này tán dương và khuyến khích tất cả mọi người nên tu tập và truyền bá hạnh Bồ-tát.

Hạnh Bồ-tát là hạnh hướng đến mục tiêu duy nhất là giác ngộ vô thượng, thành Phật. Hạnh Bồ-tát là sự hành trì miên mật các pháp quán “không thực thể” về năm nhóm nhân thể, sáu giác quan, sáu đối tượng giác quan, và tất cả mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này. Hạnh Bồ-tát còn gồm thâu các hành trì bốn thiền sắc giới, từ bi hỷ xả, bốn thiền vô sắc giới, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy yếu tố giác ngộ, tam-muội “không, vô tướng và vô tác,” tám giải thoát, chín thiền định, mười lực, bốn không sợ sệt, bốn trí vô ngại, mười tám đặc tính của Phật, tâm đại từ đại bi, trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sanh, các thứ biện tài, văn tự, các môn Đà-la-ni, và tất cả hạnh, chỉ vì mục đích duy nhất là chứng đạt được Vô Thượng Bồ-đề mà thôi, chứ không vì một mục tiêu nào khác.

Vô thượng Bồ-đề ở đây được hiểu là trí tuệ siêu việt nhìn thấy được mặt mũi thật của tất cả sự vật hiện tượng trên thế gian này như chúng đang là. Đó là sự nhận chân được thật tướng và pháp tánh, vượt khỏi các danh tướng ngôn thuyết thế gian, xoá bỏ mọi phân biệt và chấp thủ nhị nguyên. Nhờ vậy mà chứng đắc Nhất Thiết Chủng Trí hay Phật Trí.

Vị hành giả khi thực hành được trí tuệ siêu việt đó, không còn chấp mắc thì trong một hành trì thiện đã dung thông và bao gồm tất cả căn lành khác. Muốn được vậy, hành giả trước phải siêng năng học tập, thực hành và cúng dường pháp bằng cách truyền bá chánh pháp của Phật đến với tất cả chúng sanh. Bất cứ ai làm được điều nầy đều được gọi là hàng Bồ-tát không còn thối chuyển.

42. Kinh Lục Độ Dung Thông

Trích phẩm Lục Độ thứ 68 trong Kinh Bát-nhã (tập III, trang 88-108, bộ 3 tập), do HT. Thích Trí Tịnh dịch. Soạn giả đặt lại tựa đề kinh và nhuận văn để giúp người đọc dễ hiểu được mạch văn. 

Như tựa đề của Kinh, bài kinh này dạy về cách tu pháp đến bờ kia một cách dung thông và bao nhiếp tất cả các pháp đến bờ kia của hàng Bồ-tát. Có sáu pháp đến bờ kia là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bố thí Ba-la-mật là trong lúc bố thí không chấp trước có chủ thể bố thí, người nhận phẩm vật và tặng phẩm. Trì giới Ba-la-mật là lúc giữ giới không thấy mình là người giữ giới, có giới để giữ và sự kiện giữ giới. Nhẫn nhục Ba-la-mật là lúc thực hành nhẫn nhục không thấy mình bị hành hạ, khôngthấy có người hành hạ và không thấy có sự hành hạ. Tinh tấn Ba-la-mật là lúc tinh tấn làm các pháp lành, không thấy mình là người làm, có chúng nhận hưởng các pháp lành đó, và không có các pháp lành để làm. Thiền định Ba-la-mật là lúc hành thiền, không còn chấp trước vào chủ thể hành thiền, đối tượng hành thiền và sự kiện hành thiền. Trí tuệ Ba-la-mật là không phân biệt mình là chủ thể trí tuệ, không thấy có đối tượng của trí tuệ và sự kiện trí tuệ. Nói chung các Ba-la-mật là các đặc tính đạo đức và trí tuệ mà một vị Bồ-tát cần tu tập cho trọn vẹn để chứng đắc đạo quả giác ngộ cùng tột, và hướng dẫn tất cả chúng sanh cùng đạt được.

Đối với hàng Bồ-tát sáu pháp Ba-la-mật không phải được thực hành một cách rời rạc. Khi thực hiện một hạnh Ba-la-mật nào đó, vị Bồ-tát đồng thời cũng hoàn thiện luôn năm Ba-la-mật còn lại. Trong bố thí, vị Bồ-tát vẫn thể hiện đủ trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Ngược lại, các Ba-la-mật khác cũng vậy. Sự kiện tương dung này cho chúng ta thấy, trong một pháp thiện, với một tâm tu tập tinh chuyên, không vì phước đức ở cõi người cõi trời, không vì quả vị Thanh Văn và Duyên Giác, mà chỉ vì trí tuệ và giác ngộ tối thượng cho mình và tất cả chúng sanh, các pháp thiện khác đã hội đủ. Một pháp lành dung chứa các pháp lành khác. Tất cả các pháp lành được dung thông trong một pháp lành. 

Chỉ với cách tu tập như vậy, hành giả hoàn tất được hạnh nguyện Bồ-tát của mình.

43. Kinh Chỉ Bày Phương Tiện

Trích Phẩm Phương Tiện, trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Hoa Sen Chánh Pháp), do HT. Thích Trí Tịnh dịch. Tựa đề do soạn giả sửa lại cho rõ nghĩa. 

Phẩm này có thể được xem là phần tinh hoa nhất của toàn bộ Kinh Pháp Hoa, giới thiệu nhiều vấn đề mấu chốt của triết lý Đại thừa, dưới hình thức các phương tiện. Phương tiện ở đây có 2 nghĩa:thứ nhất là phương pháp vận dụng khác nhau trong hoằng pháp độ sanh để đạt được kết quả cao nhất, thứ hai là chỉ chung cho tất cả những gì ngoài Phật thừa đều thuộc về phương tiện, chứ chưa phải cứu cánh. Chẳng hạn đức Phật sau khi thành đạo quả, dùng vô số ngôn ngữ, sắc tướng, tỷ dụ, trải suốt cuộc đời hoằng pháp gần 50 năm không mệt mỏi, chỉ để hướng dẫn các căn cơ chúng sanh khác nhau cùng chứng được trí tuệ Phật giống nhau. Tất cả những thứ đó đều là phương tiện. Nói chung, cho đến khi nào, chúng sanh chưa giác ngộ được cảnh giới mà đức Phật đã đạt được, chỉ dạy, thì tất cả các pháp môn giảng dạy của Ngài đều thuộc về pháp môn phương tiện.

Bài kinh khẳng định đức Phật Thích-ca cũng như các đức Phật quá khứ, hiện tại và tương lai, ra đời chỉ vì một mục tiêu duy nhất, đó là, mở (khai) trí tuệ Phật cho chúng sanh, chỉ bày (thị) trí tuệ Phật cho chúng sanh, giúp chúng sanh tỏ ngộ (ngộ) và thâm nhập (nhập) trí tuệ Phật. 

Nói cách khác, mục đích của đức Phật là giúp cho tất cả chúng sanh cùng được thành Phật như ngài. Chân lý “tất cả chúng sanh sẽ thành Phật như đức Phật” đó quả sâu xa, khó tin, khó hiểu. Đức Phật phải dùng đến phương tiện, diễn bày thành ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát, thông qua chín thể loại kinh điển khác nhau, để độ cho các chúng sanh với nhiều căn cơ khác nhau, mà cốt yếu chỉ bày một Phật thừa, còn gọi là trí tuệ Phật hay Phật quả. 

Chỉ với trí tuệ Phật, chúng sanh mới có thể thấu tột tướng chơn thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tánh như vậy, tướng như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy. Pháp tánh cao siêu mầu nhiệm đó, chỉ có các đức Phật mới biết rõ với nhau mà thôi, người chưa đạt đến trí tuệ Phật không thể hiểu hết được. Kế đến, kinh còn khẳng định rằng dù chúng sanh có bị trôi lăn trong ba cõi sáu đường theo nghiệp báo mà chúng đã tạo tác, khác nhau về hình thù, đạo đức và trí tuệ, nhưng cái tri kiến Phật hay Phật tánh vốn không mất trong họ. Do đó, một khi đã gieo hạt giống với Phật, Pháp, Tăng thì trước sau gì hạt giống này khi gặp đủ duyên sẽ trổ quả Phật. 

Nói cách khác, cái chân lý mầu nhiệm mà đức Phật đã dùng phương tiện để trình bày cho chúng sanh hiểu trong kinh này là đức Thích-ca Mâu-ni là Phật-đã-thành và tất cả chúng sanh là Phật-sẽ-thành. 

44. Kinh Ý Nghĩa Bát-nhã

Trích Phẩm Bát-nhã, trong Kinh Pháp Bảo Đàn, thuộc bộ Chư Kinh Nhật Tụng (trang 147-60, do Thành hội Phật giáo Hồ Chí Minh, ấn hành năm 1993), do HT. Thích Duy Lực dịch. Soạn giả thêm từ “ý nghĩa” vào tựa kinh để làm rõ chủ đề và ý nghĩa của bài Kinh.

Bài kinh này do thiền sư Huệ Năng, tổ thứ sáu của dòng thiền Trung Quốc, nói nhân Vi Sử Quân thưa hỏi về ý nghĩa của “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật.” Bát-nhã là trí tuệ ở tự tâm, phải thực hành mới nhận chân được. Tâm là nguồn gốc của Phật, chúng sanh, thiện ác, mê ngộ, bao hàm muôn pháp, nên cũng gọi là “lớn” (đại). Tâm lượng rộng khắp pháp giới nhưng dung thông vạn tượng: một là tất cả, tất cả là một. Chỉ với trí tuệ Bát-nhã, phá tất cả chấp, không dính mắc pháp nào, tự tại vô ngại, chuyển ba độc thành giới định huệ, chúng sanh mới có thể đến được bờ giải thoát bên kia (Ba-la-mật). Người tỏ ngộ được trí Bát-nhã thì không còn khởi tâm vọng niệm, phân biệt nhị nguyên, không nắm không bỏ,tự tại diệu dụng.

Cái tự tánh Bát-nhã của tất cả chúng sanh vốn thường vắng lặng, thanh tịnh, không tăng không giảm, chiếu sáng xưa nay, vượt ngoài ngôn ngữ văn tự. Kẻ mê thì rong ruổi tìm kiếm bên ngoài. Người ngộ thì trực nhận ở tâm. Dùng tâm vô niệm để bỏ các nhiễm trước thế gian, thông đạt các pháp, thì chắc chắn sẽ thấy tánh thành Phật. 

45. Kinh Trí Tuệ Kim Cương

Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh. Soạn giả sửa lại tựa kinh và vài từ trong bản dịch, để giúp người đọc dễ hiểu ý kinh hơn.

Bồ-tát độ vô số chúng sanh nhưng không thấy mình có độ bất kỳ một chúng sanh nào cả. Bồ-tát bố thí với tâm không vướng mắc vào đối tượng giác quan. Không thể nhìn Như Lai qua 32 tướng tốt. Chỉ khi nào nhìn thấy được đặc tính “vô tướng” trong các tướng trạng và hình thái thì ngay đó thấy được Như Lai. Phải quan niệm chánh pháp của đức Phật chỉ như chiếc bè để qua sông. Khi đạt đến bờ kia, chánh pháp còn phải buông bỏ, huống hồ là những thứ không phải chánh pháp. Tất cả các pháp đều là giả danh, do đó, không có cái gọi là chứng đắc hay không chứng đắc. Cúng dường pháp là tối thượng trong các cúng dường. Không thấy có sự chứng đắc về bốn quả Thanh Văn thì đó mới thật sự chứng đắc. Đức Phật cũng chưa từng cho rằng Ngài đắc quả Vô thượng Bồ-đề trong khi tu học với đức Phật Nhiên Đăng. Các hàng Bồ-tát nên trang nghiêm Tịnh Độ trong tinh thần vô sở trụ.

Bồ-tát khi thực hành sáu Ba-la-mật mà không thấy mình đang thực hành thì đó mới là thực hành đúng nghĩa. Bồ-tát độ vô lượng vô số chúng sanh qua bờ giải thoát nhưng không thấy có chúng sanh nào được mình hoá độ. Bồ-tát phải giữ tâm không vướng mắc (vô sở trụ) vào bất cứ khái niệm nào, làm tất cả pháp thiện nhưng không vướng mắc vào pháp thiện nào. Nhờ vậy, Bồ-tát không bị bốn tướng “mình, người, chúng sanh và mạng sống” trói buộc, chi phối. Khi không còn bị kẹt vướng trong khái niệm và bốn tướng đó, Bồ-tát sẽ thấy rõ rằng tất cả các pháp là Phật pháp; tu tập chứng đắc đạo quả mà chẳng thấy mình chứng đắc gì cả, đó mới là thật chứng đắc.

Tâm quá khứ, tâm hiện tại và tâm vị lai đều không thể nắm bắt được. Như Lai có đủ năm mắt: mắt thịt, mắt trời, mắt tuệ, mắt pháp và mắt Phật. Chúng ta không thể nhận diện Như Lai qua hình tướng được. Người phát tâm tu đạo giải thoát của Phật không bao giờ quan niệm rằng thế giới và con người này là hư vô, đoạn diệt, thay vì do duyên sanh. 

Như Lai là bậc không từ đâu tới và cũng chẳng đi về đâu cả. Tất cả các sự vật hiện tượng trên đời này không liên hệ gì đến các khái niệm, ngôn ngữ, đặc tính mà con người đã áp đặt cho chúng. Ngay cả chính bản thân của các khái niệm, ngôn ngữ, đặc tính cũng không phải là khái niệm, ngôn ngữ và đặc tính. Người tu hạnh Bồ-tát nên quán sát các pháp hữu vi vô thường, tạm bợ, như sương mù, sấm chớp, có đó liền không đó, để xa rời mọi chấp thủ và chứng đắc giải thoát ở đời. 

46. Kinh các Pháp Tu Viên Thông

Trích nửa chương thứ năm và gần hết chương thứ sáu của Kinh Thủ-lăng-nghiêm, bản dịch của HT. Thích Từ Thông. Tựa đề do soạn giả đặt, cho phù hợp với chủ đề chính của Kinh.

Bài kinh giới thiệu 25 pháp tu viên thông của các hàng A-la-hán và Bồ-tát có mặt trong pháp hội Thủ-lăng-nghiêm. Đây là các pháp tu tiêu biểu mà chúng ta có thể chọn và hành trì theo. Các pháp tu đầu liên hệ đến sáu đối tượng giác quan (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), sáu giác quan (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý), sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức và thân thức, ý thức), và bảy đại (hoả, địa, thuỷ, phong, không, thức, kiến). Trong đó, chỉ có pháp môn “nhĩ căn viên thông” của Bồ-tát Quán Thế Âm được đức Phật xác chứng phù hợp với căn tánh của chúng sanh trong cõi Ta-bà nhất, và khuyên đại chúng cùng tu học và truyền bá vì tính cách phổ quát và viên mãn của nó. 

Pháp môn nhĩ căn viên thông liên hệ đến tiến trình văn-tư-tu chánh pháp, dẫn vào thiền định, và chứng đắc giải thoát. Đầu tiên Bồ-tát quán tiếng động và tĩnh, rồi bỏ đi hai tính đối lập này, ngay cả bỏ luôn chủ thể nghe và đối tượng nghe. Sau khi đạt được tánh giác thanh tịnh, hành giả cũng không chấp vào tánh giác này. Nhờ vậy, nhận chân được thế giới bất nhị, hiện tiền và thông suốt.

Một mặt đưa ra các hạn chế nhất định của 24 pháp tu viên thông của các hàng Thanh Văn và Bồ-tát khác, đức Phật mặt khác giới thiệu hạnh nguyện độ sanh của Bồ-tát Quán Thế Âm, thể hiện 32 ứng thân, và hiện thân ngàn tay ngàn mắt, để hoá độ thích ứng với nhiều loại căn cơ khác nhau, nhằm hướng dẫn chúng sanh trở về với đạo Bồ-đề vô thượng. Bồ-tát còn vận dụng “văn huân và văn tu” để thành tựu 14 đức tính không sợ hãi và bốn đức tính không thể nghĩ bàn.

47. Kinh Thể Nhập Pháp Môn Không Hai

Trích phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn, trong Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết (Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh tái bản năm 1993, trang 147-60), do HT. Thích Huệ Hưng dịch. Soạn giả đặt lại tựa đề và nhuận văn vài chỗ cần thiết. 

Bài kinh tường thuật lại sự kiện ba mươi hai vị Bồ-tát lần lượt trình bày về phương pháp thể nhập “pháp môn không hai.” Đó là lìa phân biệt, chấp mắc về: sanh và diệt, ngã và ngã sở, dơ và sạch, động và tĩnh, một và nhiều, Bồ-tát và Thanh Văn, thiện và ác, tội và phước, hữu lậu và vô lậu, hữu vi và vô vi, thế gian và xuất thế gian, sanh tử và Niết-bàn, tận cùng và không cùng tận, ngã và vô ngã, trí tuệ và vô minh, sắc và không, bốn đại và hư không, chủ thể và đối tượng, bố thí và hồi hướng, đắc và vô đắc, thích và chán, chánh và tà, thực và không thực v.v...

Bồ-tát Văn-thù chỉ rõ rằng pháp môn không hai vượt khỏi ngôn ngữ, trình bày và vấn đáp. Riêng Bồ-tát Duy-ma-cật chứng minh và thể hiện pháp môn không hai, như Bồ-tát Văn-thù vừa trình bày, bằng cách chỉ im lặng, không nói một lời. 

48. Kinh Viên Giác

Bản dịch của HT. Thích Duy Lực, trong bộ Chư Kinh Nhật Tụng (Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 1993). Soạn giả đã tỉnh lược tất cả các đoạn thưa thỉnh trùng lập, đổi các cụm từ chữ Hán thành các cụm từ thuần Việt, để giúp người đọc tụng dễ hiểu lời Kinh.

Kinh này trình bày pháp môn trực nhận thể tánh viên giác vốn sẵn có trong tất cả chúng sanh, là pháp môn tổng trì, lập nên chân như, Niết-bàn, Bồ-đề, các Ba-la-mật và tất cả pháp lành. Chỉ vì chúng sanh bị vô minh che lấp nên tánh viên giác không hiển hiện được. Vô minh không có thật thể, chỉ là huyễn hoá khi chúng sanh chưa giác ngộ. Do đó, tu tập chỉ là “lấy huyễn giác để trị huyễn mê.” Khi mê hết thì giác cũng bỏ đi, không nắm lấy. Khi lìa hết tất cả huyễn và giác thì lúc đó mới thật là chân giác ngộ. 

Để dứt huyễn mê, các pháp phương tiện thiện xảo cần được sử dụng để tu tập như: chánh niệm, thiền định, giữ giới, quán tính không thực thể của bốn đại, v.v... Thể tánh viên giác vượt khỏi sắc tướng như hạt châu Ma-ni vốn trong suốt không màu. Tánh giác này cùng khắp không gian và thời gian, vốn không bị trói buộc nên không cần tháo mở; vượt lên trên các đối đãi nhị nguyên. Rốt ráo không có thật năng chứng và sở chứng, chẳng nắm chẳng buông. Một khi thể nhập được thể tánh viên giác thì tất cả vọng tưởng và giả huyễn đều tan biến vĩnh viễn, như khi vàng ròng đã được điều chế thành sản phẩm rồi thì không thể thành quặng trở lại nữa.

Ân ái, dâm dục là gốc của sanh tử luân hồi. Do đây mà có yêu ghét, lấy bỏ, tạo nhiều nghiệp thiện ác, chìm trong vô minh. Chủng tánh của chúng sanh tuy nhiều nhưng không ngoài năm loại, đó là phàm phu, Nhị thừa, Bồ-tát, bất định và ngoại đạo. Bồ-tát phải tuỳ thuận theo từng chủng tánh để hoá độ tất cả mà không thấy mình có hoá độ. Do đó nên biết rằng tất cả kinh điển chỉ như ngón tay để chỉ mặt trăng chứ không phải bản thân của mặt trăng. Thấy được trăng thì hãy quên và đừng chấp vào ngón tay trỏ. 

Kinh cũng dạy cách trừ bốn loại bệnh: làm, mặc kệ, dừng lại và diệt, và còn trình bày hai mươi lăm pháp tu định, phối hợp nhuần nhuyễn giữa các pháp môn thiền định để diệt trừ các huyễn hoặc, giác ngộ thanh tịnh. Vận dụng thiền định để diệt trừ các quan niệm sai lầm về tướng ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mạng trong quá trình tu tập. 

49. Kinh Lời Dạy Sau Cùng

Soạn giả dịch từ bản dịch chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập. Kinh này ghi chép những lời di chúc của đức Phật cho hàng đệ tử Phật, nhất là hàng xuất gia, trước lúc Ngài qua đời tại rừng Ta-la. Nội dung di chúc của đức Phật xoay quanh các vấn đề chính sau đây:

Đệ tử đức Phật phải xem giới luật là Thầy tối thượng. Xa rời các hình thức sinh hoạt bận rộn của thế tục, sống đời giản dị, thanh bần lạc đạo, phát huy chánh mạng và chánh nghiệp, xem trí tuệ là sự nghiệp của người tu. Giới là nền tảng của trí tuệ và thiền định, và của tất cả cánh cửa giải thoát. Người xuất gia phải ý thức và sống chế ngự các giác quan, không để chúng đam mê các đối tượng cảnh trần. Luôn quan niệm rằng ăn uống cốt để giữ gìn sức khoẻ, tiến tu đạo nghiệp, không đam mê của ngon vật lạ. Phải nỗ lực không ngừng và tinh tấn ngày đêm trong tu tập. Hạn chế ngủ nghỉ, dành hết thời gian cho thiền định, tụng kinh, hành trì đạo giải thoát. Phát triển tâm hổ thẹn về những nếp nghĩ và hành vi bất thiện để thăng tiến mình trên đường đạo. 

Người tu hành phải trau dồi hạnh nhẫn nhục. Không ôm lòng sân si, thù hận, trả đũa những ai đã đem lại đau khổ cho mình. Tu tập từ bi để xoá bỏ mọi oán kết với tha nhân. Người tu phải luôn phát huy hạnh khiêm cung, từ bỏ vĩnh viễn thái độ ngạo mạn, cống cao. Phải tự nhắc nhở mình đã từ bỏ các thú vui thế gian, sống bằng cách ăn xin thì có gì mà tự phụ chứ! Thể hiện đời sống đạo bằng cách giữ lòng chánh trực, không a dua, nịnh bợ những kẻ bất chánh. Những gì đáng nói thì nói đúng sự thật, bằng không thì im lặng đúng chánh pháp. Phải sống tiết chế bằng cách giảm thiểu tối đa các ham muốn, nhờ vậy thoát được các ưu phiền. Song song, phải trau dồi hạnh biết đủ, thoả mãn với những gì có được. Hạnh phúc thật sự không tuỳ thuộc khối lượng và số lượng tài sản ta có, mà tuỳ thuộc vào thái độ hài lòng với những gì có được.