Chương
XVI (tt)
515.
Chuyện nam tử Sambhava (Tiền thân Sambhava)
Trẫm
chẳng màng ngôi vị đế vương..,
Trong
lúc trú tại Kỳ Viên, bậc Ðạo sư kể lại câu chuyện này
liên quan đến sự Viên mãn của Trí tuệ Tối thắng.
Các
chi tiết đưa đến phần mở đầu câu chuyện sẽ được
nêu ra trong Tiền thân Mahà Ummagga Ðường Hầm lớn, Chương
XXII, tập VII.
*
Ngày
xưa có vị vua danh hiệu Dhananjaya Korabya trị vì tại kinh đô
Indapatta ở quốc độ Kuru (Câu-lâu). Một Bà-la-môn tên Sucìrata
là tế sư cùng là quốc sư của ngài trong mọi vấn đề thánh
sự. Nhà vua cai trị rất đúng pháp, thực hành bố thí cùng
nhiều thiện sự khác. Một ngày kia ngài chuẩn bị một câu
hỏi liên quan việc phụng sự Chân lý, nên sau khi mời Bà-la-môn
Sucìrata an tọa xong, và cung kính đảnh lễ vị ấy, ngài đưa
vấn đề ra hỏi bằng cách ngâm bốn vần kệ:
1.
Trẫm chẳng màng ngôi vị đế vương,
Su-cì,
và thống trị giang sơn,
Vì
mong trẫm đạt thành cao cả,
Ngự
trị khắp toàn cõi thế gian.
2.
Bằng Chánh chân thôi, tránh lỗi lầm,
Bởi
vì tất cả đấng quân vương,
Ở
trên trần thế cần theo đúng
Bất
cứ điều Chân chánh Thiện lương.
3.
Do đó ta xa lánh lỗi lầm
Ðời
này và mãi mãi ngàn năm
Ta
cầu mong được danh vinh hiển
Ở
giữa chư Thiên lẫn thế nhân.
4.
Này hỡi tế sư, hãy biết rằng
Những
gì Chân thiện, trẫm mong làm,
Vậy
khi được hỏi, xin cho biết
Những
việc làm nào đúng Thiện Chân.
Lúc bấy
giờ, đó là cả vấn đề cao siêu thuộc phạm vi tri kiến
của một vị Phật. Ðó là vấn đề ta phải đem ra thưa trình
lên đức Phật Chánh Ðẳng Chánh Giác, hoặc nếu không có
Ngài, thì ta phải trình với một vị Bồ-tát đang mong cầu
quả vị Chánh Ðẳng Chánh Giác kia. Còn Sucìrata không phải
là một vị Bồ-tát nên không lý giải được vấn đề; vì
thế ông chẳng hề làm ra vẻ thông thái, mà đành thú nhận
sự bất tài của mình qua vần kệ sau:
5.
Khải tấu Ðại vương, chẳng có ai
Ngoài
Vi-dhu ấy đủ thiên tài,
Nói
điều kỳ diệu là Chân thiện,
Chúa
thượng hằng mong thực hiện hoài.
Nhà vua
nghe lời này, liền phán:
- Vậy
Tôn giả hãy đi ngay.
Và
vua ban một tặng vật để vị tế sư đem theo và trong niềm
mong mỏi ông lên đường, ngài ngâm vần kệ:
6.
Hiền hữu, đi ngay lấy phiến vàng
Ðến
Vi-dhu ấy, trẫm nhờ mang
Tặng
phần xứng trí nhân ưu tú
Dạy
trẫm điều Chân thiện tỏ tường.
Nói xong
ngài cho ông một phiến vàng đáng giá một trăm ngàn đồng
tiền dùng để viết lời giải đáp vấn đề lên trên đó,
một xe ngựa để đi đường, một đạo binh hộ tống, một
tặng vật và bảo ông đi ngay.
Khởi
hành từ thành Indapatta, ông không đi thẳng Ba-la-nại, trước
tiên đến thăm nhiều nơi chốn các bậc hiền nhân cư ngụ,
vẫn không thấy ai có thể giải đáp vấn đề được, ông
đi dần đến Ba-la-nại. Trong khi nghỉ tại đó, cùng vài người
tùy tùng đến nhà Vidhura vào giờ ăn sáng, sau khi nhờ thông
báo việc đến yết kiến, ông được mời vào và thấy tế
sư Vidhura đang dùng điểm tâm tại nhà riêng.
Bậc
Ðạo sư ngâm vần kệ thứ bảy để giải thích sự việc
này:
7.
Bhà-rad vội vã tiến lên đàng
Ðến
gặp Vi-dhu, thấy bạn vàng
Ngồi
tại nhà riêng, sắp sửa dự
Bữa
cơm thanh đạm sáng tinh sương.
Lúc bấy
giờ Vidhura là bạn thiếu thời của Sucìrata, đã học chung
tại nhà một vị giáo sư, nên sau khi cùng ăn điểm tâm với
nhau, tế sư Sucìrata an tọa, và được tế sư Vidhura hỏi:
- Hiền
hữu đến đây có việc gì?
Tế
sư Sucìrata nêu rõ lý do đến đây và ngâm vần kệ thứ tám:
8.
Ðến vì thánh chỉ chúa Câu-lâu
Dòng
dõi Yu-dhi, hiện thỉnh cầu,
Hiền
hữu, Vi-dhu, cho đệ biết
Thiện
lương, Chân chánh phải là đâu.
Lúc bấy
giờ, vị Bà-la-môn này đang đeo đuổi công việc sưu tập
các dòng tư tưởng của một số người, việc ấy cứ chồng
chất lên cao như thể nước lụt sông Hằng dâng tràn, cho
nên chẳng có thì giờ giải đáp vấn đề này được nữa.
Vì thế, ông ngâm vần kệ thứ chín nêu rõ trường hợp mình:
9.
Tràn ngập chủ đề quá lớn lao
Như
sông Hằng nước lụt tuôn trào,
Ta
không thể nói đâu là lẽ
Chân
Thiện, hiền huynh đến thỉnh cầu.
Nói vậy
xong, ông lại thêm:
- Ta
có một con trai rất thông minh, cháu ấy còn mẫn tuệ hơn
ta nhiều. Cháu sẽ giải thích rõ cho hiền hữu. Vậy hãy đến
gặp tiểu điệt.
Và
ông ngâm vần kệ thứ mười:
10.
Hiện giờ đệ có một con trai
Tên
gọi Bhà-dra ở giữa đời,
Tìm
đến chàng ngay, chàng sẽ nói
Thiện
lương, Chân lý rõ cho ngài.
Nghe điều
này, tế sư Sucìrata liền rời nhà vị tế sư Vidhura, đến
tư thất của Bhadrakàra, và thấy chàng đang ngồi ăn điểm
tâm giữa đám thân nhân của chàng.
Bậc
Ðạo sư ngâm vần kệ thứ mười một làm sáng tỏ vấn đề
này:
11.
Lúc ấy Bhà-rad lại vội vàng
Ðến
Bha-dra gấp tại gia đường,
Giữa
bao bằng hữu đang tề tựu,
An
tọa thong dong được thấy chàng.
Khi đến
nơi, vị tế sư được chàng thanh niên Bhadrakàra tiếp đãi
nồng hậu, mời lên tọa sàng cùng nhiều tặng vật. Vừa
khi an tọa, và được hỏi nguyên cớ đến thăm, ông ngâm
vần kệ thứ mười hai:
12.
Ðến vì thánh chỉ Câu-lâu
Dòng
họ Yu-dhi, hiện thỉnh cầu
Hiền
điệt Bhà-dra, cho chú biết
Thiện
lương, Chân lý phải là đâu.
Lúc ấy
Bhadrakàra đáp lại:
- Thưa
Tôn giả, ngay bây giờ, tiểu điệt đang có dự mưu dan díu
với vợ một người khác. Cho nên trí óc của tiểu điệt
không được thư thái để giải đáp vấn đề. Song em trai
cháu tên là Sanjaya còn thông thái hơn cháu nhiều. Xin Tôn giả
đi hỏi chàng, chàng sẽ giải đáp vấn đề của Tôn giả.
Chàng
ngâm vần kệ để bảo ông đến đó:
13.
Cháu bỏ thịt nai thật ngọt ngon,
Và
đang theo đuổi tắc kè con,
Làm
sao có thể nào thông hiểu
Ðâu
lẽ Thiện lương với Thật chơn?
14.
Song có em trai, ngài phải biết,
San-ja
tên gọi, hãy lên đường
Kiếm
chàng cho được, chàng tuyên thuyết
Chân
Thiện ngài nghe thật tỏ tường.
Ông liền
đi đến nhà Sanjaya ngay và được chàng tiếp niềm nở, khi
được hỏi lý do đến đấy, ông nói rõ ra.
Bậc
Ðạo sư ngâm hai vần kệ để giải thích sự việc này:
15.
Lúc ấy Bhà-rad phải vội vàng
Ðến
San-jay gấp tại gia đường
Giữa
bao bằng hữu đang tề tựu,
An
tọa thong dong được thấy chàng.
16.
Ðến vì thánh chỉ chúa Câu-lâu,
Dòng
dõi Yu-dhi, hiện thỉnh cầu
Hiền
điệt San-jay, cho chú biết
Thiện
lương, Chân lý phải là đâu.
Nhưng
Sanjaya cũng đang bận bày mưu tính kế, chàng liền thưa với
ông:
- Thưa
Tôn giả, tiểu điệt đang theo đuổi vợ người khác, và
lại sắp đi xuống sông Hằng để qua sông. Sáng tối trong
lúc tiểu điệt qua sông thường phải gặp nanh vuốt tử thần,
cho nên tâm trí tiểu điệt đang rối ren, tiểu điệt không
thể giải đáp vấn đề của Tôn giả được, song em trai
tiểu điệt là Sambhava, mới lên bảy tuổi đã thông minh tài
trí hơn tiểu điệt gấp cả trăm ngàn lần đấy. Em cháu
sẽ nói chuyện với Tôn giả, xin hãy đi tìm để hỏi em cháu
ngay.
Bậc
Ðạo sư ngâm hai vần kệ để giải thích sự việc:
17.
Tử thần há miệng rộng đầy chông
Sáng
tối chờ con, hỡi thúc ông
Làm
thế nào con thưa với chú
Ðâu
là Chân lý với Hiền lương?
18.
Song có em thơ, chú biết chăng,
Sam-bha
tên gọi, hãy lên đường,
Tìm
em, thưa chú, em nêu rõ
Chân
lý, Thiện lương thật tỏ tường!
Nghe vậy,
tế sư Sucirata nghĩ thầm: "Vấn đề này ắt là điều kỳ
bí nhất trên đời. Ta chắc không ai đủ sức giải đáp cả".
Nghĩ
vậy ông ngâm hai vần kệ:
19
- 20. Việc lạ lùng này phật ý ta,
Chẳng
hai con lớn, chẳng ông cha,
Biết
phương giải đáp điều mầu nhiệm
Vậy
nếu như chàng cũng chịu thua,
Thì
phải chăng đây là cậu bé
Biết
gì về lý Thiện Chân ư!
Nghe vậy,
Sanjaya đáp:
- Thưa
Tôn giả, xn ngài đừng tưởng Sambhava chỉ là đứa trẻ thơ
dại. Nếu chẳng ai giải đáp được vấn đề của Tôn giả,
thì cứ đi hỏi em cháu.
Rồi
chàng ngâm mười hai vần kệ nêu lên những đức tính của
cậu bé này qua các ví dụ chứng minh trường hợp trên:
21.
Xin ngài đi hỏi Sam-bha,
Xin
ngài chớ vội khinh là trẻ thơ,
Em
đầy thông thái tài ba
Nói
ngay ngài biết đâu là Thiện Chân.
22.
Khác nào ánh nguyệt trong ngần
Sáng
bừng vượt hẳn sao giăng đầy trời,
Ánh
sao le lói mờ soi
Chim
dần trong ánh rạng ngời Hằng nga,
23.
Cũng như chú bé Sam-bha
Trí
tài kiệt xuất vượt xa tuổi vàng,
Hỏi
Sam-bha, biết tỏ tường,
Xin
ngài chớ vội khinh thường tuổi thơ.
24.
Em đầy thông thái tài ba
Nói
rành Chân Thiện đâu là lẽ ngay.
Tháng
tư quyến rủ đắm say,
Vượt
xa tất cả tháng ngày trong năm.
25.
Hoa xuân đâm lộc nảy mầm,
Màu
xanh bát ngát bao trùm rừng cây,
Bé
Sam-bha cũng thế này,
Vượt
xa tuổi trẻ, trí tài tuyệt luân.
26.
Như trên đỉnh tuyết Hương Sơn
Rừng
cây bao phủ, có thần điểm trang
Tỏa
ra ánh sáng huy hoàng,
Mùi
hương ngào ngạt dần lan toàn miền,
27.
Dành cho vô số thần tiên
Tìm
nơi ẩn náu bình yên chốn này.
Bé
Sam-bha cũng như vầy,
Vượt
xa tuổi trẻ, trí đầy khôn ngoan.
28.
Khác nào ngọn lửa huy hoàng
Cháy
tràn lan khắp đồng hoang tung hoành,
Với
cây cột lửa cuộn nhanh,
Không
hề biết thỏa, tan tành cỏ non.
29.
Ðể trơ một lối đen ngòm,
Bất
kỳ nơi chốn lửa bùng lướt qua.
Cũng
vầy chú bé Sam-bha,
Trí
tài kiệt xuất vượt đà ấu niên,
30.
Khác nào một ngọn lửa thiêng
Ðốt
bằng bỏ sống trong đêm tối trời,
Gặp
cây gỗ quý nhất đời,
Giục
cơn thèm cháy sáng ngời cao xa.
31.
Cũng vầy chú bé Sam-bha
Thông
minh trí tuệ vượt xa tuổi vàng,
Hỏi
Sam-bha, chớ coi thường
Em
thông hiểu, nói tận tường Thiện Chơn.
32.
Trâu nhờ sức lực tráng cường
Ngựa
nhờ tốc độ phô trương giống nòi,
Bò
nhờ vắt sữa tuôn vòi,
Hiền
nhân, ta biết nhờ lời khôn ngoan.
33.
Sam-bha cũng vậy, mầm non,
Thông
minh trí tuệ vượt hơn tuổi vàng,
Hỏi
Sam-bha, chớ coi thường
Em
thông thái, nó tận tường Thiện Chân.
Trong
khi Sanjaya ca ngợi Sambhava như vậy, tế sư Sucìrata nghĩ thầm:
"Ta sẽ đặt vấn đề với cậu bé này là biết ngay".
Ngài
hỏi:
- Thế
tiểu hiền điệt ở đâu rồi?
Chàng
liền mở cửa sổ giơ tay chỉ và nói:
- Ngài
nhìn cậu bé đằng kia, da óng như vàng ròng, đang chơi cùng
các trẻ khác bên đường trước cửa, chính đó là tiểu
đệ của cháu. Xin cứ đến hỏi, tiểu hiền đệ sẽ giải
đáp vấn đề của ngài với mọi lý lẽ huyền diệu của
một vị Phật.
Sucìrata
nghe thế, liền bước xuống khỏi dinh, đến gần cậu bé
vừa đúng lúc cậu bé đang đứng, áo quần xốc xếch vắt
qua vai, hai tay đang bốc đất.
Bậc
Ðạo sư ngâm vần kệ giải thích sự việc này:
34.
Lúc ấy Bhà-rad lại vội vàng
Ðến
Sam-bha gấp tại gia đường
Ở
ngoài công lộ, kìa ngay đó
Cậu
bé đùa chơi thấy rõ ràng.
Bậc
Ðại sĩ vừa khi thấy vị Bà-la-môn kia đến đứng trước
ngài, liền hỏi:
- Hiền
hữu đến đây có việc gì chăng?
Vị
tế sư đáp:
- Này
tiểu hiền điệt, ta đã đi khắp cõi Diêm-phù-đề mà không
tìm ra người nào đủ tài trí giải đáp vấn đề ta đặt
ra, nên nay ta đến đây tìm cháu.
Cậu
bé nghĩ thầm: "Họ bảo đây là vấn đề khắp cả cõi Diêm-phù-đề
chưa giải đáp được, nên vị này đến tìm ta. Còn ta đã
am hiểu thông thạo rồi".
Lúc
ấy cậu thấy hổ thẹn, liền vứt cục đất đang cầm trong
tay, sửa sang áo quần lại đàng hoàng và bảo:
- Này
Tôn giả Bà-la-môn, cứ hỏi đi, ta sẽ giải đáp cho ngài
với mức tinh thông lưu loát của một vị Phật.
Rồi
với trí tuệ Tối thắng, ngài mời vị kia lựa chọn đề
tài để hỏi. Vị Bà-la-môn liền hỏi vấn đề qua các câu
kệ:
35.
Ðến vi thánh chỉ chúa Câu-lâu,
Dòng
dõi Yu-dhi, hiện thỉnh cầu,
Hiền
điệt Sam-bha, cho chú biết,
Thiện
lương, Chân lý phải là đâu?
Vấn
đề được hỏi kia quá rõ ràng đối với Sambhava như thể
vầng trăng tròn giữa bầu trời cao. Ngài bảo:
- Này
hãy nghe lời ta.
Và
ngài giải đáp vấn đề Phụng sự Chân lý qua các vần kệ:
36.
Hiền hữu, ta nay sẽ bảo ngài,
Ðúng
như bậc trí phải trình bày,
Vua
cần biết rõ điều Chân Thiện,
Song
việc vua làm, ai có hay?
Trong
khi ngài đứng giữa đường phố thuyết giảng Chân lý với
giọng ngọt như mật, âm thanh vang dội khắp thành Ba-la-nại,
mỗi phía vang đến mười hai dặm đường. Nhà vua cùng các
phó vương và nhiều vua khác tụ tập lại, bậc Ðại sĩ liền
đứng giữa đám đông ấy, tuyên thuyết Chân lý. Sau khi đã
hứa giải đáp vấn đề qua vần kệ này, giờ đây ngài nêu
lời giải đáp vấn đề Phụng sự Chân lý:
37.
Ðáp lại đức vua, hãy tấu ngài:
"Ngày
nay không hẳn giống ngày mai,
Thần
khuyên Chúa thượng nên thông suốt
Nắm
lấy thời cơ kịp đến tay".
38.
Ta ước mong hiền hữu tế sư
Gợi
cho vua biết cách suy tư,
Nhờ
đây tâm trí ngài an lạc:
Vua
phải tránh xa mọi oán thù,
Cũng
chớ đi theo đường ác độc
Như
là người độn trí mê mờ.
39.
Ðừng gây tội lỗi mất tâm hồn,
Ðừng
phạm hành vi bất chánh chơn,
Ðừng
có bao giờ theo ác hạnh,
Ðừng
đưa huynh đệ bước sai đường.
40.
Ai biết hoàn thành đúng chánh chân
Những
điều này, giống nguyệt tròn dần,
Như
vua danh tiếng tăng lên mãi,
Làm
ánh sáng soi đám bạn thân,
Yêu
mến họ hàng, khi tận mạng
Hiền
nhân sẽ đạt đến thiên cung.
Như vậy
chẳng khác nào đem vầng trăng soi rọi khắp bầu trời, bậc
Ðại sĩ giải đáp vấn đề của vị Bà-la-môn này với mọi
vẻ tinh thông của một bậc Giác Ngộ. Dân chúng reo hò vỗ
tay vang dậy. Hàng ngàn tiếng reo tán thưởng cùng vô số khăn
vẫy lên không và tiếng búng tay lách tách. Họ thả luôn cả
đồ trang sức trên tay. Vua Ba-la-nại hoan hỷ tỏ lòng tôn
kính ngưỡng mộ ngài. Còn vị tế sư Sucìrata, sau khi tặng
thưởng ngài một ngàn cân vàng, liền viết câu giải đáp
vấn đề trên bằng son đỏ vào phiến vàng ấy và khi đến
kinh thành Indapatta, ông tâu trình vua về câu giải đáp Phụng
sự Chân lý như trên.
Phần
vua nhờ kiên tâm hành trì các pháp chân chánh, về sau được
lên thiên giới.
*
Khi
chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo sư bảo:
-
Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà ngay từ xa xưa,
Như Lai đã dùng đại trí để giải đáp mọi vấn đề.
Và
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời bấy giờ Ànanda (A-nan) là vua Dhananjaya, Anuruddha (A-na-luật-đà)
là Sucìrata, Kassapa (Ca-diếp) là Vidhura, Moggallàna (Mục-kiền-liên)
là Bhadrakàra, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là thiếu sinh Sanjaya,
và Trí giả Sambhava chính là Ta.
-ooOoo-
516.
Chuyện khỉ chúa (Tiền thân Mahàkapi)
Tương
truyền đại đế xứ Kà-si..,
Câu
chuyện này được bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Trúc
Lâm, về việc Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) ném đá vào Ngài.
Vì
vậy khi Tỷ-kheo quở trách Ðề-bà-đạt-đa về việc xúi
giục các thợ săn bắn cung vào đức Phật và sau đó lại
ném đá vào Ngài, bậc Ðạo Sư bảo:
-
Không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa, Ðề-bà-đạt-đa
cũng đã ném đá vào Ta.
Nói
xong Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Bradhmadatta trị vì xứ Ba-la-nại có một nông dân
dòng họ Bà-la-môn trong một làng Kàsi, sau khi cày ruộng xong,
thả trâu ra và bắt đầu cuốc đất. Ðàn trâu trong khi gặm
lá ở bụi cây dần dần tẩu thoát vào trong rừng. Người
ấy nhận thấy trời tối liền đặt cuốc xuống đi tìm đám
trâu nhưng chẳng thấy đâu, gã quá buồn khổ đi lang thang
vào trong rừng tìm chúng, dần dần đến tận vùng Tuyết Sơn.
Vì lạc mất phương hướng, gã lang thang bảy ngày nhịn đói,
nhưng khi nhìn thấy cây Tinduka, gã trèo lên hái trái ăn. Rồi
tuột khỏi cây này gã rơi xuống một vực thẳm như địa
ngục sâu 60 cubit (1 cubit = 45cm) và ở đó cả mười ngày.
Thời
bấy giờ Bồ-tát sinh làm thân Khỉ, đang lúc ăn trái rừng,
ngài thấy gã kia, liền dùng một hòn đá lôi gã ra khỏi vực.
Trong lúc Khỉ đang ngủ, gã kia đập đầu Khỉ bằng một
cục đá, bậc Ðại Sĩ biết được việc này, liền vùng
dậy nhảy lên cành cây, đứng lại và kêu to:
- Này
tôn ông, ngài đang ngồi trên đất bằng, ta sẽ chỉ đường
cho ngài từ trên ngọn cây này rồi ta sẽ đi ngay.
Thế
là ngài cứu gã kia ra khỏi rừng, chỉ đúng đường cho gã
rồi biến mất trong rừng núi ấy. Còn gã kia vì đã gây tội
ác với bậc Ðại sĩ, nên hóa thành tên hủi, chẳng khác
nào ngạ quỷ đội lốt người trên trần thế. Trong bảy
năm liền, gã đau đớn chất chồng, lang thang hết nơi này
sang nơi khác, gã đến ngự viên Migàcira (Lộc Uyển) tại
thành Ba-la-nại, trải ngọn lá chuối trên một góc, gã nằm
xuống, lòng đau khổ điên cuồng.
Lúc
bấy giờ vua Ba-la-nại đến ngự viên và trong khi dạo chơi,
tìm thấy người kia, liền hỏi:
- Ngươi
là ai và ngươi đã làm gì đến nỗi phải khổ như vậy?
Gã
trình vua toàn thể câu chuyện với đầy đủ chi tiết.
Bậc
Ðạo sư ngâm vần kệ để làm sáng tỏ vấn đề:
1.
Tương truyền đại đế xứ Kà-si,
Một
thuở Ba-la-nại trị vì,
Cùng
với hiền thần trên đại lộ
Vào
đến Vườn Nai một bữa kia.
2.
Ðằng kia vua thấy gã La-môn,
Một
bộ xương khô bước chập chờn,
Da
trắng vì mang dòng máu hủi,
Xù
xì xương xẩu tựa cây mun.
3.
Ngạc nhiên trước cảnh tượng đau thương
Của
kẻ không may, nặng khổ buồn:
"Thật
tội nghiệp ngươi", ngài phán hỏi,
Tên
gì, ác quỷ phận đành mang?
4.
Giống như tuyết trắng cả tay chân,
Ta
chắc đầu ngươi lại trắng hơn,
Thân
thể ngươi tràn đầy vết hủi,
Bệnh
kia ghi dấu ấn riêng phần.
5.
Lưng ngươi như suốt chỉ giăng hàng,
Lồi
lõm, dài ngoằn lại uốn quăn,
Xương
khớp đen điu như mẩu gỗ,
Chẳng
hề ai thấy kẻ ngang bằng!
6.
Ngươi từ đâu đến, kẻ lang thang,
Khốn
khổ bơ vơ, da bọc xương,
Ðầu
đội nắng trời nung bức lửa,
Chịu
bao đói khát quá đau thương?
7.
Hình hài tàn phá thật kinh hoàng,
Chẳng
xứng nhìn lên ánh nhật quang,
Ngay
chính mẹ ngươi chắc cũng chẳng
Còn
mong nhìn trẻ quá tồi tàn!
8.
Ác nghiệp gì xưa ngươi đã gây
Hay
là ngộ sát kẻ nào đây,
Tội
gì người phạm, ta mong biết,
Xui
khiến ngươi mang nỗi khổ này?
Gà Ba-la-môn
đáp lại:
9.
Thần xin thưa thật với Tôn quân
Hành
động đúng như một thiện nhân,
Vì
kẻ không bao giờ dối trá,
Người
hiền khen ngợi giữa phàm trần.
10.
Xưa kia thần đến một rừng hoang,
Tìm
kiếm đàn trâu tối lạc đàng,
Băng
mãi lối mòn rừng rậm rạp,
Nơi
loài voi ở, bước lang thang.
11.
Lạc trong rừng rậm quá hoang sơ,
Chịu
đói khát đau khổ xót xa,
Suốt
bảy ngày ròng thần lẩn quẩn,
Chốn
loài hổ dữ mớm con thơ.
12.
Trái độc tối kinh, cũng cứ thèm
Ô
kìa, đôi mắt bỗng bừng lên:
Cây
xinh lắt lẻo ngang bờ vực,
Lơ
lửng trái thơm trĩu nhánh mềm.
13.
Những trái rơi theo gió lạnh rung
Thần
nhai ngấu nghiến nuốt thơm lừng,
Vẫn
còn khao khát, thần leo vội:
"Cách
ấy no nê được vẹn toàn".
14.
Chưa từng ăn quả chín ngon sao!
Thần
vội giơ tay hái thật nhiều,
Cành
lá, dựa thân vào gãy đứt
Như
là chặt bởi búa ông tiều.
15.
Cành gãy làm cho ngã lộn thân,
Không
gì chặn lại, rớt nhanh dần
Trên
bờ vực thẳm, đầy tường đá,
Không
thoát khỏi hang vực thẳm cùng.
16.
Nước sâu nằm dưới bờ vực kia,
Cứu
mạng không tan nát thảm thê,
Rồi
bất hạnh thay, thần tuyệt vọng,
Mười
đêm nằm đợi thật dài ghê!
17.
Cuối cùng một chú Khỉ dài đuôi
Trú
ẩn trong hang đá, đến nơi,
Nhảy
nhót cành này sang bụi nọ,
Hái
ăn trái chín thật xinh tươi.
18.
Chợt thấy thần vàng vọt héo khô,
Ðộng
lòng trắc ẩn, Khỉ kêu to:
"Khốn
thay! Ta thấy ai nằm đó
Tuyệt
vọng đau thương ngập tận bờ
Như
vậy, ví như người hoặc quỷ,
Ông
là ai đó, nói nguyên do".
19.
Thần đầy cung kính, vội thưa ngay:
"Một
kẻ khốn cùng chính lão đây,
Song
phước đức dành cho Khỉ hết,
Nếu
tìm được cách cứu thân này".
20.
Chúa Khỉ chuyển cành ở núi cao,
Mang
hòn đá nặng lực anh hào,
Ấy
nhờ tu luyện tròn công hạnh,
Mục
đích tỏ bày trọng đại sao:
21.
"Tôn ông, trèo đến chỗ lưng này,
Quanh
cổ ta, ghì chặt cánh tay,
Tức
tốc ta đem ông thoát khỏi
Vách
tường đá, chính cảnh tù đày".
22.
Hoan hỷ, thần ghi nhớ rõ ràng
Lời
khuyên của chúa Khỉ vinh quang,
Trèo
lên lưng nọ, đôi tay bám,
Quanh
cổ trí nhân thật vững vàng.
23.
Chúa Khí lúc này thật mạnh thay,
Kiên
cường can đảm đến như vầy
Dẫu
rằng mệt lả vì hao sức,
Chốc
lát đưa lên vách đá dày.
24.
Kéo thần xong, cất tiếng anh hùng:
"Ta
mệt nhoài: xin đứng hộ phòng,
Bên
cạnh mình ta, tôn giả hỡi,
Trong
khi ta ngủ giấc say nồng.
25.
Các thứ như beo, gấu, hổ, sư,
Nếu
nhìn ta, thấy quá thờ ơ,
Chúng
liền giết hại ta ngay đấy,
Tôn
giả canh phòng, chớ phải lo".
26.
Trong lúc thần đang đứng hộ phòng
Hầu
vương đánh một giấc an thân,
Một
tư tưởng xấu xa nhen nhúm
Tiềm
ẩn lan dần ở nội tâm:
27.
"Khỉ, vượn, hươu, nai thật ngọt ngon
Vậy
sao ta chẳng giết hầu vương
Ðỡ
cơn đói khát và con thịt
Cung
cấp cho ta món tuyệt trần?
28.
Khi no dạ, chẳng muốn chần chờ,
Song
kiếm thật đầy thực phẩm khô,
Tích
trữ cho nhiều ngày vất vả,
Từ
rừng ta sẽ kiếm đường ra".
29.
Cầm viên đá suýt đánh tan tành
Chiếc
sọ kia, song bởi phận mình
Tay
vụng về đưa lên loạng quạng,
Vung
ra yếu ớt chẳng nên hình.
30.
Chúa Khỉ nhanh chân nhảy ngọn cây
Toàn
thân bê bết máu tuôn đầy,
Từ
xa trách móc nhìn thần mãi
Với
cặp mắt tuôn lệ chảy dài:
31.
"Cầu trời ban phước lộc tôn ông,
Ðừng
làm như vậy, chỉ cầu mong
Kẻo
sau số phận ngài, ta chắc
Gặp
phải người hành động bất nhân.
32.
Than ôi nhục nhã đến như vầy!
Sao
trả ơn ta cách thế này?
Vì
đã cứu ông ra thoát khỏi
Vực
kia sâu thẳm hãi kinh đầy!
|
33-34.
Cứu tử, chơi trò phản bội ta
Âm
mưu việc ác với tâm ma,
Coi
chừng, kẻ ác, e đày đọa,
Khốc
liệt xuất từ ác nghiệp kia
Ðem
họa tử vong cho chủ nó,
Khác
nào trái giết gốc tre già.
35.
Ta chẳng còn tin tưởng ở ngươi,
Vì
ngươi làm ác với ta rồi,
Hãy
đi tới trước kia cho khéo,
Còn
để ta nhìn thấy bóng thôi.
36.
Thoát bầy dã thú đói tìm mồi,
Ngươi
trở về nơi sống đời
Thẳng
tắp con đường dài trước mặt,
Ði
theo như ý muốn nhà ngươi".
37.
Ðến đây, dòng lệ Khỉ lau khô,
Vội
vã nhanh chân nhảy xuống hồ
Rửa
sạch chiếc đầu bê bết máu
Ôi,
vì thần, đã chảy tuôn ra!
38.
Từ đấy, đầy đau khổ đoạn trường,
Ðốt
thiêu, vò xé bởi Hầu vương,
Lê
bước thân tàn, thần thất thểu,
Tìm
nơi giải khát cho mình luôn.
39.
Nhưng khi thần đến vũng hồ kia,
Mặt
nước đều loang lổ máu me,
Một
dòng đỏ sẫm dần dần hiện
Thành
một đám như lửa lập lòe.
40.
Mỗi giọt nước kia dính đến thân,
Hóa
thành mụt nhọt lớn lên dần,
Như
Vil-va trái khô rồi nứt
Giống
hệt sắc da lẫn cỡ tầm.
41.
Máu mủ tràn ra thật đáng nhờm,
Nơi
nào thần muốn được an thân,
Dù
là thành thị hay thôn dã,
Dân
chúng chạy bay hỗn loạn luôn.
42.
Lảng tránh vì mùi quá thối tha,
Trong
khi gậy, đá cứ tung ra:
"Này
tên khốn nạn! Ðừng đi đến
Gần
chúng ta!" Toàn thể hét la.
43.
Như vậy khổ đau thật đáng thương,
Thần
mang theo suốt bảy năm trường,
Tùy
theo hạnh nghiệp mình gây tạo,
Mỗi
người đi đến một con đường.
44.
Thần ước mong chư vị vạn an,
Mọi
người, thần gặp gỡ trên đàng,
Xin
đừng phản bạn, ôi hèn hạ,
Kẻ
phạm tội mưu chống bạn vàng!
45.
Tất cả những ai với bạn mình
Tỏ
ra là kẻ thiếu chân thành,
Như
bầy hủi phải ăn năn tội,
Thân
hoại, vào trong ngục tái sinh.
Và trong
lúc kẻ kia đang tâu trình vua, ngay chính thời điểm ấy, mặt
đất há miệng rộng ra làm gã mất dạng và được tái sinh
vào Ðịa ngục. Khi gã bị trái đất nuốt xong, vua ra khỏi
ngự viên và trở về thành.
*
Bậc
Ðạo sư chấm dứt Pháp thoại và bảo:
-
Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngày xưa nữa,
Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) đã ném đá vào Ta.
Và
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, kẻ phản bạn kia là Ðề-bà-đạt-đa và Ta
chính là Khỉ chúa.
-ooOoo-
517.
Tiền thân Dakarakkhasa
Chuyện
này sẽ được trình bày trong Tiền thân số 546, Mahà Ummagga
(Ðường hầm lớn), tập VII.
-ooOoo-
518.
Chuyện long vương Pandara (Tiền thân Pandara)
Người
nào chuyện bí mật đem phơi..,
Câu
chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về
việc Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) nói dối và quả đất đã
há miệng nuốt sống ông như thế nào.
Thời
đó là lúc Ðề-bà-đạt-đa bị chúng Tỷ-kheo quở trách,
bậc Ðạo sư bảo:
-
Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà cả ngày xưa
nữa, Ðề-bà-đạt-đa đã nói dối và đã bị quả đất
nuốt chửng.
Nói
xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, có năm trăm thương
nhân lên tàu ra khơi. Vào ngày thứ bảy, khi họ đã khuất
dạng khỏi đất liền, họ bị đắm tàu giữa biển và tất
cả làm mồi cho cá chỉ trừ một người. Người này nhờ
gió đẩy đến bờ Karambiya, lên bờ, mình trần trụi, vô
cùng khốn khổ, gã lang thang khắp nơi khất thực. Dân chúng
nghĩ: "Ðây là bậc tu hành khổ hạnh thiểu dục tri túc".
Và
họ tiếp đãi gã rất ân cần. Song gã bảo:
- Ta
đã có đủ sống rồi.
Và
khi họ cúng dường y trong y ngoài, gã đều không nhận thứ
gì cả. Họ bảo nhau:
- Chẳng
có bậc khổ hạnh nào vượt quá vị này về phương diện
thiểu dục tri túc.
Và
lại càng hân hoan vô cùng vì gã, họ xây am ẩn sĩ cho gã
trú ẩn và gã lấy danh hiệu Karambiya đạo sĩ.
Trong
khi gã ở đó, gã được nhiều lợi dưỡng vinh quang, cả
Long vương lẫn Kim sí Ðiểu vương đều đến bày tỏ lòng
tôn kính gã, vị Long vương này có danh hiệu là Pandara. Một
ngày kia Kim sí Ðiểu vương đến gặp đạo sĩ, và sau khi
đảnh lễ vị này, ngồi xuống một bên và bảo:
- Thưa
Tôn giả, dân chúng của ta, khi tấn công loài Rồng rắn, thường
hay bị chết đuối. Ta không biết cách nào bắt Rồng rắn
cho đúng. Nghe nói có điều bí ẩn chi đây. Ngài có thể dỗ
dành chúng nói ra điều bí ẩn ấy chăng?
- Ðược
rồi - đạo sĩ nói.
Khi
Ðiểu vương từ giã ra về, vừa đúng lúc Long Vương đến
tôn kính đảnh lễ xong ngồi xuống, gã hỏi:
- Này
Long vương, loài Kim sí Ðiểu nói rằng khi bắt loài Rồng,
chúng bị giết chết rất nhiều. Thế lúc đánh bắt Rồng
rắn, làm sao cho chúng được an toàn?
Long
vương đáp:
- Thưa
Tôn giả, đây là điều bí mật của loài ta, nếu ta nói ra,
ta sẽ gây tai họa tàn sát cả chủng tộc của ta.
- Sao
thế, ngài nghĩ rằng ta nói với kẻ nào chăng? Ta chẳng nói
với ai đâu, ta chỉ hỏi cho thỏa thích hiếu kỳ thôi. Ngài
cứ tin ta và nói cho ta biết, đừng e sợ gì cả.
Long
vương hứa sẽ nói và từ giã.
Ngày
hôm sau ẩn sĩ lại gạn hỏi, Long vương cũng không nói ra.
Song vào ngày thứ ba, lúc Long vương đến và ngồi xuống,
ẩn sĩ bảo ngay:
- Hôm
nay là ngày thứ ba ta hỏi ngài rồi. Tại sao ngài không nói?
- Thưa
Tôn giả, ta sợ ngài kể lại cho kẻ khác.
- Ta
sẽ không hé môi với ai cả, nói đi, đừng sợ gì.
Thế
là Long vương bảo ẩn sĩ hứa sẽ không kể lại với ai rồi
nói:
- Thưa
Tôn giả, loài Rồng rắn chúng ta nuốt đá lớn cho nặng mình
và nằm sát xuống, rồi loài Kim sí Ðiểu đến, chúng ta há
miệng ra, nhe răng nhào đến chúng. Chúng chụp lấy đầu bọn
ta, và trong khi chúng cố nhấc lên mà chúng ta lại nặng và
nằm sát đất, nước tràn lên chúng khiến chúng chết chìm
giữa biển. Một số Kim sí điểu chết như vậy. Trong lúc
bắt bọn ta, tại sao chúng lại chụp lấy đầu? Nếu bọn
ngu xuẩn kia chụp lấy đuôi chúng ta và dốc ngược đầu
xuống, chúng sẽ bắt bọn ta phải nhả ra những hòn đá đã
nuốt ấy, thế là làm cho bọn ta nhẹ đi và tha bọn ta về
tổ chúng.
Long
vương đã tiết lộ bí mật như vậy với ác nhân này.
Sau
đó khi Long vương ra về, Ðiểu vương lại đến đảnh lễ
đạo sĩ Karambiya xong, liền hỏi:
- Thưa
Tôn giả, thế Tôn giả đã biết điều bí mật của Long vương
chưa?
- Thưa
ngài, đã.
Và
gã kể mọi điều vừa được kể trên cho gã.
Nghe
xong, Ðiểu vương bảo:
- Long
vương đã sai lầm nặng nề, đáng lẽ không nên nói cho ai
biết cách tàn sát chủng tộc mình như vậy.
Thế
là vừa nổi gió lên, Ðiểu vương liền chụp lấy đuôi Long
vương Pandara và dốc ngược đầu xuống, làm chúa Rồng nay
phải nhả những hòn đá đã nuốt vào cổ, rồi Ðiểu vương
mang Long vương bay lên không. Rồng Pandara, trong lúc bị treo
ngược đầu lên không như vậy, liền than khóc thê thảm:
- Ta
tự gây khổ cho ta rồi!
Và
chúa Rồng ngâm các vần kệ:
1.
Người nào chuyện bí mật đem phơi
Bất
cẩn, lòng không muốn giữ lời,
Kẻ
ngốc bị kinh hoàng trấn áp,
Như
ta, Rồng chúa ngã nhào thôi!
2.
Người nào ngu xuẩn lộ ra ngoài
Tư
tưởng cần che dấu mặt trời,
Kinh
hoảng ngập tràn vì lẻo mép,
Như
ta, Rồng chúa gặp chim mồi!
3.
Không nên để bạn hữu tham gia
Ý
tưởng thâm trầm nhất của ta,
Bạn
tốt có khi đầy xuẩn ngốc,
Kẻ
khôn lừa dối, phải phòng xa!
4.
Tin tưởng gã, ôi! Có phải chăng?
Chuyên
trì khổ hạnh bậc hiền nhân?
Phơi
bày bí mật, ta lầm lỗi,
Ta
khóc, giờ đây nỗi đoạn trường!
5.
Chuyện riêng tư, gã khốn len vào,
Bí
mật ta không giữ được nào,
Ta
sợ mối nguy từ gã đến,
Giờ
ta khóc chính nỗi thương đau.
6.
Tưởng bạn trung thành tận tủy xương
Sinh
lòng kính sợ, nặng tình thương
Ân
tình tiết lộ cho người khác
Ngã
gục, người ngu chẳng thể vươn!
7.
Ai nói lên cùng đám ác nhân
Ðiều
thầm kín phải giữ trong tâm
Ðược
xem rắn độc nơi trần giới,
"Kẻ
ấy, tránh xa!" Chúng thét rần!
8.
Cẩm y, mỹ nữ, gỗ chiên-đàn
Hương
liệu, vòng hoa, thực phẩm ngon,
Mọi
dục ác kia, ta tránh cả,
Ðiểu
vương, nếu đến giúp Long vương!
Rồng
chúa Pandara đã khóc than như vậy qua tám vần kệ trong khi
bị dốc ngược trên không. Ðiểu vương nghe tiếng than khóc
liền khiển trách Long vương và bảo:
- Này
Long vương, tại sao lại than khóc sau khi đã tiết lộ bí mật
cho đạo sĩ kia?
Và
Ðiểu vương ngâm vần kệ:
9.
Trong chúng ta, ba kẻ sống đây,
Nói
tên ai kẻ đáng trách này?
Chẳng
sư, chẳng điểu, nhưng ngài ngốc,
Mang
họa Long vương nhục nhã đầy!
Nghe vậy,
Rồng Pandara liền ngâm vần kệ khác:
10.
Ðạo sĩ, theo ta, một bạn vàng,
Chuyên
trì khổ hạnh, bậc hiền nhân,
Ẩn
tình ta lộ, ta lầm lỗi,
Ta
khóc, giờ đây, chính khổ thân!
Kế đó
Ðiểu vương lại ngâm bốn vần kệ khác nữa:
11.
Nhân sinh trần thế phải lìa đời,
Thánh
đạo cho con cháu phải soi,
Bằng
tự điều thân, chân chánh hạnh,
Con
người thành đạt đích cao vời.
12.
Chẳng ai thân thiết vượt song thân,
Không
kẻ thứ ba ái luyến bằng,
Song
ẩn tình, người đừng tỏ lộ,
E
rằng phản bội thật không tưởng!
13.
Mẹ cha, quyến thuộc khắp xa gần,
Bạn
hữu đồng minh, dẫu thiết thân!
Ẩn
ý ngươi đừng nên tỏ lộ,
Về
sau phản bội, phải ăn năn.
14.
Vợ hiền xinh đẹp, tuổi còn xuân,
Chia
xẻ bầy con, đám bạn thân,
Song
chớ tỏ bày điều bí ẩn,
E
nàng phản bội, phải đề phòng.
Tiếp
theo là các vần kệ sau:
15.
Ðừng ai đem chuyện kín phơi ra,
Phải
giữ như kho báu của nhà,
Việc
tiết lộ ra điều bí mật,
Hiền
nhân chẳng muốn ngợi khen mà.
16.
Bậc trí không nên lộ tấc lòng,
Với
cừu nhân hoặc với hồng quần,
Những
người nô lệ lòng tham dục,
Bọn
chúng tỏ ra lũ bốc đồng.
17.
Ai hé lộ ra một ẩn tình
Cho
người không có trí thông minh,
Sợ
lòng tin bị người làm phản,
Phải
chịu người kia khống chế mình.
18.
Những người biết được chuyện riêng tư
Mà
bạn chẳng nên để lộ ra,
Sẽ
khiến bất an tâm trí bạn,
Vậy
đừng tiết lộ chuyện riêng mà!
19.
Ban ngày chỉ có một mình ta,
Cứ
bạo gan nêu chuyện kín ra,
Song
giữa đêm khuya trời vắng vẻ,
Ðừng
liều lĩnh lộ chuyện riêng mà.
20.
Bởi vì chắc chắn ở bên lưng,
Cỏ
kẻ phản ta đứng sẵn sàng,
Lời
thoáng đưa đều nghe lọt cả:
Vậy
đừng tin chúng: đệ cầu mong!
Ðây
là năm vần kệ sẽ xuất hiện trong vấn đề Năm vị Hiền
nhân của Tiền thân Ummagga, số 546, tập VII.
Tiếp
theo là các vần kệ này:
21.
Như cổ thành vây bọc tứ phương,
Với
hào, cọc sắt, đã coi thường
Quân
thù xâm nhập vào Tiên giới,
Bí
mật người khôn giữ kín luôn.
22.
Những người dù vội vã nhanh lời,
Chuyện
kín vẫn không hé hở môi,
Mà
quyết giữ mình luôn vững chắc,
Thật
lòng chân chánh, đấy là người
Cừu
nhân phải tránh, như đi trốn
Lúc
rắn độc đang đuổi chạy dài!
Khi Chân
lý đã được Ðiểu vương tuyên thuyết như vậy, Long vương
Pandara liền ngâm vần kệ:
23.
Lõa thể, cạo đầu, gã xuất gia,
Lang
thang khất thực khắp quê nhà,
Ôi!
Ðem bí mật khai cùng gã,
Phúc
đức tan tành, số phận ta!
24.
Giới hạnh nào, tu sĩ phải trì,
Phát
nguyền nào, tránh lỗi lầm chi?
Làm
sao thoát ác hành vây hãm,
Ðể
đạt thiên cung cuối hạn kỳ?
Ðiểu
vương đáp:
25.
Bền lòng, kham nhẫn, tự điều thân,
Vứt
bỏ vọng ngôn, với hận sân,
Tu
sĩ đoạn trừ bao tội lỗi,
Sau
cùng đạt đến cảnh thiên cung.
Long vương
Pandara nghe Ðiểu vương thuyết Pháp như vậy liền xin tha mạng
và ngâm vần kệ này:
26.
Như trẻ sơ sinh, mẹ ngắm nhìn,
Khắp
người rung động, thú thần tiên,
Ðiểu
vương cũng vậy, xin ban bố,
Từ
ái đàn con, đấng mẹ hiền!
Sau đó
Ðiểu vương tha mạng cho Long vương và ngâm vần kệ nữa:
27.
Chúa Rồng, ta thả bạn bây giờ
Thoát
chết, cho ngài được tự do
Trong
các bầy con này, chỉ có:
Con
nuôi, con ruột, học trò ta,
Là
ba trẻ hưởng nhiều sung sướng,
Quả
thật ngài là một giữa ba!
Nói vậy
xong, Ðiểu vương hạ cánh từ trên không và đặt Long vương
xuống mặt đất liền.
Bậc
Ðạo sư ngâm hai vần kệ để làm sáng tỏ vấn đề:
28.
Nói vậy xong, Chim chúa thả ngay
Kẻ
thù, đáp nhẹ địa cầu này:
Nay
ta giải phóng, mau đi kiếm
An
trú xa nơi hiểm họa đầy,
Dù
bạn lên bờ hay dưới nước,
Ta
nguyền phòng hộ kỹ từ rày.
29.
Như lương y có đủ tài năng,
Con
bệnh hiểm nghèo đã chữa xong,
Như
nước mát trong hồ giải khát
Cho
bao người được thỏa thuê lòng,
Như
nhà trú ẩn trời băng giá
Ta,
chốn bạn nhờ, lúc bại vong.
Ðiểu
vương lại bảo:
- Xin
hãy đi ngay.
Rồi
Chim thần thả Long vương ra. Long vương liền biến mất vào
cảnh giới của loài Rồng rắn.
Còn
Ðiểu vương trở về nơi cư ngụ của loài Kim sí Ðiểu,
tự nhủ:
- Long
vương Pandara đã được ta tin tưởng nhờ lời thề nguyền
nên được ta thả ra. Bây giờ ta phải thử thách xem tình
cảm của vị này đối với ta ra sao.
Rồi
đi đến cảnh giới Long vương, Chim thần này nổi cơn thần
phong của loài Kim sí Ðiểu lên thật mạnh.
Thấy
vậy, Long vương tưởng Kim sí Ðiểu vương đến bắt mình,
liền hóa hình dài cả ngàn sải (1 sải: 1m 82) và nuốt cát
sỏi cho nặng rồi nằm sâu xuống, vừa dấu đuôi dưới mình
xong, vừa vội giương cao mồng lên như thể sẵn sàng cắn
Ðiểu vương.
Thấy
vậy, Ðiểu vương liền ngâm vần kệ:
30.
Kìa, Long vương trước đã làm lành,
Nay
bỗng dưng ngài há bộ nanh,
Với
địch thủ ngài trong thuở trước,
Vì
đâu ngài phách lạc hồn kinh?
Nghe lời
này Long vương ngâm ba vần kệ:
31.
Phải luôn nghi ngại kẻ thù mình,
Chớ
quá tin ngay bạn chí tình,
Lòng
cả tin sinh niềm sợ hãi,
Giết
ngươi từ gốc đến đầu cành.
32.
Sao đặt lòng tin tưởng một người
Trước
kia ta đã cãi tranh rồi?
Hãy
lo phòng hộ mình cho kỹ,
Yêu
kẻ địch à? - Chẳng có ai!
33.
Hãy gây tin tưởng khắp nơi nơi,
Song
chớ tin vào bất cứ ai,
Ðừng
để người nghi ngờ chính bạn,
Song
tâm hướng đến mối nghi hoài;
Người
nào thực sự là người trí,
Cần
phải hết lòng gắng sức thôi,
Bản
tính mình không hề để lộ,
Phơi
bày ra trước mặt người đời!