Chương
XV
Phẩm
Hai Mươi Bài Kệ
497-
Chuyện bậc Hiền trí Màtanga (Tiền thân Màtanga)
Lão
từ đâu đến, đắp y dơ.....
Chuyện
này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về vua Udena.
Vào
thời ấy, Tôn giả Pindola Bhàradvàja phi hành từ Kỳ Viên
qua không gian, thường đến tránh cơn nóng ban ngày trong vườn
ngự uyển của vua Udena nước Kosambi. Chuyện kể rằng Tôn
giả này trong một đời trước đã làm vua, và thọ hưởng
một thời gian dài cảnh vinh quang phú quý trong chính vườn
ngự uyển kia cùng đám hầu cận. Nay nhờ công đức thiện
nghiệp ông đã tạo được, nên ông thường đến tọa Thiền
tại đây, tránh cơn nóng ban ngày và hưởng được cực lạc
do chứng đắc Thánh quả.
Một
hôm ông vào chỗ đó ngồi dưới một cây Sala đang trổ hoa
sung mãn, thì vua Udena đi vào vườn với một đoàn tùy tùng
đông đảo. Suốt bảy ngày trước vua uống rượu say nên
muốn vào ngự viên giải trí. Vua nằm trên vương sàng trong
cánh tay của một nàng cung nữ và được dỗ dành cho chóng
ngủ thiếp đi. Sau đó đám nữ nhạc ngồi ca hát quanh vua
đặt nhạc khí xuống, vừa đi quanh quẩn trong vườn ngự
uyển vừa nhặt hoa trái. Dần dần họ thấy vị Trưởng lão
ấy nên bước lên, đảnh lễ vị ấy và ngồi xuống. Vị
Trưởng lão ngồi tại chỗ đó thuyết pháp cho họ nghe. Nàng
cung nữ kia đổi cánh tay để thức vua dậy, vua hỏi:
-
Bầy tiện tỳ kia đi đâu cả rồi?
Nàng
đáp:
-
Chúng đang ngồi vòng quanh một nhà tu khổ hạnh.
Vua
nổi cơn thịnh nộ, đi đến gặp vị Trưởng lão và mạ
lỵ phỉ báng:
-
Đi ngay, ta muốn kẻ kia phải bị bầy kiến xé xác ra!
Thế
là trong cơn thịnh nộ, vua truyền đem một thúng kiến đỏ
đến rải tung trên thân thể vị Trưởng lão. Song vị này
đã bay lên không gian, và thuyết giáo cho vua xong, trở về
Kỳ Viên hạ xuống trước cổng Hương phòng. Đức Như Lai
hỏi:
-
Ông từ đâu đến?
Tôn
giả ấy kể lại sự việc trên. Ngài bảo:
-
Này Bhàradvàja, đây không phải là lần đầu tiên vua Udena
nổi sân hận và lăng mạ một kẻ tu hành, mà trước kia cũng
đã như thế.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão, Ngài kể một chuyện
quá khứ.
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta lên ngôi tại Ba La Nại; bậc Đại
sĩ sinh làm con trai của một người Chiên đà la (Candàla: hạ
đẳng tiện dân) ở ngoại thành, họ đặt tên ngài là chú
voi Màtanga. Sau đó ngài thông đạt trí tuệ, danh tiếng lan
truyền khắp nơi là bậc Hiền trí Màtanga.
Lúc
bấy giờ có một nàng tên Dittha- Mangalikà (Người thấy các
Điềm lành), con gái của một vị thương nhân thành Ba La Nại,
cứ một hoặc hai tháng một lần, thường vào ngự viên vui
đùa cùng đám bạn đồng hành đông đảo.
Một
ngày kia, bậc Đại sĩ đi vào thành, liền gặp Dittha-Mangalikà,
ngài bước sang một bên và đứng im phăng phắc. Từ sau búc
màn, Dittha trông thấy ngài và hỏi:
- Ai
đó?
- Thưa
cô nương, một kẻ Chiên đà la.
- Hừ,
nàng đáp,- ta đã thấy nhằm một vật mang điềm xui xẻo.
Rồi
nàng rửa mắt bằng nước hoa và quay đi. Đám người đi với
nàng la lớn:
- Này
tên bần cùng hèn hạ kia, mày đã làm chúng ta mất phần cơm
rượu miễn phí hôm nay.
Trong
cơn giận dữ, họ lấy tay chân đấm đá bậc Hiền trí Màtanga,
khiến cho ngài bất tỉnh rồi bỏ đi. Sau một lát ngài hồi
tỉnh và nghĩ thầm: "Đám người đi theo Dittha-Mangalika đã
vô cớ đánh đập ta, một kẻ vô tội. Ta quyết sẽ không
nhúc nhích cho đến khi ta chiếm được nàng, chẳng chịu đi
trước một chút nào cả".
Với
quyềt định này, ngài bước đi đến trước cửa nhà cha
nàng. Khi đám gia nhân hỏi tại sao ngài nằm đó, ngài đáp:
- Ta
chỉ muốn được nàng Dittha-Mangalikà mà thôi.
Một
ngày trôi qua, rồi hai, ba, tư, năm, sáu, quyết định của
chư Phật thường thường không sao lay chuyển được; vì thế
vào ngày thứ bẩy họ phải đem cô gái ra trao cho ngài. Sau
đó nàng bảo:
- Nào
đứng lên chàng ơi, ta cùng đi về nhà chàng đi!
Song
ngài đáp:
- Cô
nương ôi, ta vừa bị bọn người nhà nàng đánh đập nên
thân, nay ta yếu lắm, nàng hãy cõng ta trên lưng và mang đi.
Nàng
làm theo lời ấy ngay trước mặt mọi người dân trong thành
và nàng cứ tiến dần từ thành đô đi đến vùng tiện dân
Chiên đà la cư trú.
Ở
đó trong vài ngày, bậc Đại Sĩ giữ nàng lại mà không chút
nào xâm phạm các luật lệ của giai cấp. Rồi ngài suy nghĩ:
"Chỉ bằng cách từ bỏ thế tục, chứ không còn cách nào
khác, ta mới có thể cho cô nương này thấy cảnh vinh hiển
tột bậc và cho nàng hưởng những lễ vật cao sang nhất".
Vì thế ngài bảo nàng:
- Này
nương tử, nếu ta không vào rừng kiếm ăn thì chúng ta không
thể sống được. Vậy ta muốn vào rừng, nàng hãy đợi cho
đến khi ta về; song đừng có lo âu gì cả.
Ngài
ra lệnh cho gia nhân không được sao nhãng đối với nàng,
rồi đi vào rừng, sống cuộc đời người tu hành, rất nhiệt
tâm tinh tấn; vì vậy trong bẩy ngày, ngài tu tập và thành
tựu Tám thiền chứng và Năm thắng trí. Sau đó ngài suy nghĩ:
"Nay ta đã có thể bảo vệ Dittha-Mangalikà được rồi".
Nhờ
thần thông lực, ngài trở về và hạ xuống cổng làng Chiên
đà la, từ đó đi vào nhà Dittha Mangalikà. Khi nghe tin ngài
trở về, nàng bước ra và òa lên khóc bảo:
- Tại
sao chàng bỏ thiếp và đi tu khổ hạnh?
Ngài
đáp:
- Này
nương tử, đừng lo gì cả. Nay ta có thể làm cho nàng vinh
quang hơn trước kia nữa! Vậy nàng có chịu nói lên giữa
mọi người đúng lời này: Phu quân ta không phải là Màtanga,
mà là một đấng Đại Phạm thiên chăng?
- Thưa
phu quân được, thiếp xin nói điều ấy.
- Tốt
lành thay, khi dân chúng hỏi: Chồng nàng đâu? Nàng trả lời:
Chàng đã đi lên Phạm Thiên giới. Nếu họ lại hỏi: Thế
khi nào chàng về? Nàng phải đáp: Trong bảy ngày nữa, chàng
sẽ về, xuyên qua mặt trăng tròn đầy của đêm rằm.
Cùng
với những lời này, ngài đi vào vùng Tuyết Sơn. Lúc bấy
giờ, Dittha Mangalikà nói những điều nàng đã được căn
dặn khắp nơi ở Ba la nại giữa quần chúng đông đảo. Dân
chúng tin ngay lời ấy , bảo nhau:
- Ngài
là đấng Đại Phạm thiên, nên đã không đến thăm viếng
Dittha, nhưng mọi việc sẽ như vầy như vầy.
Vào
đêm trăng rằm, trong lúc vầng trăng đang di chuyển nửa vời,
Bồ Tát hóa thành một vị Phạm thiên ở giữa luồng ánh
sáng tràn ngập vương quốc Kàsi và kinh thành Ba la nại đến
mười hai dặm, băng ngang qua mặt trăng và giáng trần. Ngài
đi vòng quanh kinh thành Ba la nại ba lần, được dân chúng
đông đảo tỏ lòng sùng bái bằng các vòng hoa thơm và hương
liệu khác rồi quay mặt về hướng ngôi làng Chiên đà la.
Những
người ngưỡng mộ Phạm Thiên tụ tập cùng nhau đi về phía
làng Chiên đà la ấy. Họ bao phủ căn nhà của Dittha Mangalikà
bằng màu vải trắng tinh, lau sàn nhà bằng bốn loại hương
thơm, rải hoa khắp nơi, đốt trầm hương, trương một tấm
vải làm mái che, đặt một bảo tọa rực rỡ, thắp đèn
dầu thơm, rắc lớp cát mịn như phiến bạc rồi treo đèn
kết hoa và cờ xí rợp trời.
Trước
gian nhà được trang hoàng lộng lẫy thế kia, bậc Đại Sĩ
bước vào và ngồi một lát trên bảo tọa. Lúc ấy Dittha-Mangalìka
đang có kinh kỳ. Ngài lấy ngón tay trỏ rờ vào rốn nàng
và nàng thụ thai. Sau đó bậc Đại Sĩ bảo nàng:
- Này
hiền thê, nàng đã thụ thai, nàng sẽ sinh ra một con trai,
nàng và con trai nàng sẽ được phú quý tột bậc, nước rửa
chân nàng sẽ được vua chúa dùng làm lễ quán đảnh (lễ
rảy nước thánh phong vương) cõi Diêm Phù Đề (Ấn Độ),
nước nàng tắm sẽ là thứ tiên dược trường sinh bất tử,
người nào rảy nước đó lên đầu sẽ thoát khỏi mọi thứ
bệnh tật và không gặp điềm xui xẻo, những kẻ nào được
đặt đầu dưới chân nàng và kính lễ nàng, sẽ dâng lên
một ngàn đồng tiền vàng. Những kẻ nào được đứng gần
đủ để có thể nghe nàng nói và kính lễ nàng sẽ dâng lên
một trăm đồng; kẻ nào được đứng để trông thấy nàng
và kính lễ nàng sẽ dâng một đồng rupee. Vậy nàng hãy tỉnh
giác giữ mình cẩn thận!
Cùng
với lời khuyến giáo này, trước mặt một đám đông, ngài
đứng dậy và lại đi vào mặt trăng.
Những
người sùng bái Phạm thiên tụ tập nhau lại và đứng đó
suốt đêm, sáng hôm sau họ mời nàng lên chiếc kiệu bằng
vàng và đội lên đầu nàng , rước nàng vào kinh đô. Một
đám đông dân chúng chạy đến phía nàng kêu lớn:
-Kìa!
Hoàng hậu của đấng Phạm thiên!
Rồi
cúng bái nàng với các hoa thơm và nhiều thứ nữa, những
kẻ nào được phép đặt đầu dưới chân nàng và kính lễ
đều dâng lên một túi tiền một ngàn đồng, người nào
đứng gần nàng và kính lễ thì dâng một trăm, người nào
đứng đủ nhìn thấy được nàng và kính lễ thì dâng một
rupee. Cứ vậy họ tiến dần khắp thành Ba la nại, rộng mười
hai dặm và thu được tổng số một trăm tám chục triệu
đồng.
Sau
khi đi xung quanh thành như vậy, họ rước nàng vào nội thành,
dựng lên một ngôi đình lớn vây màn chung quanh, mời nàng
yên nghỉ tại đó giữa cảnh huy hoàng vinh quang như thế.
Tới ngôi đình, họ bắt đầu xây bảy cổng vào thật lớn
và dựng một cung điện bảy tầng, họ đã tạo được nhiều
công đức mới dành phần họ vậy.
Cũng
trong ngôi đình ấy Dittha-Mangalikà sinh hạ con trai. Vào ngày
đặt tên hài nhi, các Bà la môn tụ họp nhau và đặt tên
nó là Mandavya Kumàra hay Vương tử của Ngôi Đình, vì nó được
sinh ra tại đó. Độ mười tháng, lâu đài kia đã được
xây xong, từ đó nàng vào ở trong lâu đài vô cùng vinh hiển
và Vương tử Mandavya lớn lên giữa cảnh huy hoàng tột bực.
Khi
hài nhi được bẩy tuổi, những bậc thầy danh tiếng nhất
khắp toàn cõi Diêm phù đề (Ấn Độ) tụ tập lại và dạy
cậu ba tập Vệ Đà. Từ mười sáu tuổi cậu trai đã cúng
dường thực phẩm cho các Bà la môn, và mười sáu ngàn Ba
la môn được cúng dường liên tục ; tại cổng thành thứ
tư có dàn binh bố trận, các vật cúng dường được phân
phát cho các vị Bà la môn.
Bấy
giờ vào một ngày Đại hội, dân chúng chuẩn bị một số
lớn cháo gạo, rồi mười sáu ngàn Bà la môn ngồi tại cổng
thành thứ tư có dàn binh bố trận kia, và dùng món cháo ấy
cùng với món bơ tươi màu vàng óng ánh, nước đường pha
mật ong đặc, và chính vị vương tử trang điểm ngọc châu
sáng rực rỡ mang đôi hài vàng dưới chân, cầm chiếc gậy
vàng ròng trong tay, vừa đi quanh vừa chỉ dẫn:
- Này
bơ đây, mật ong đây.
Vào
lúc ấy bậc hiền trí Màtanga đang ngồi trong thảo am ở vùng
Tuyết Sơn, và hướng tầm tứ vào việc xem xét những gì
xảy ra cho con trai của nàng Dittha-Mangalikà. Khi nhận thấy
cậu con trai đang đi lạc tà đạo, ngài suy nghĩ: "Hôm nay ta
sẽ đi giáo hóa cho cậu bé kia và dạy cho nó biết cúng dường
như thế nào để lễ vật bố thí ấy sẽ mang lại kết quả
lớn".
Ngài
liền bay qua không gian đến hồ Anotatta, rửa mặt mũi và súc
miệng rồi khi đứng tại địa phận Manosila (thuộc vùng Tuyết
Sơn) ngài khoác đôi tấm y vàng vào quấn thắt lưng quanh người,
rồi đắp phấn tảo y (áo may bằng giẻ rách) ra ngoài, cầm
bình bát đất, phi hành qua không gian đến cổng thứ tư ấy,
nơi đó ngài hạ xuống ngay cạnh Bố thí đường, và đứng
một bên. Đang lúc Mandavya nhìn quanh quẩn, chợt thấy ngài
liền kêu to:
- Lão
từ đâu đến, hỡi kẻ khổ hạnh kia, lão là kẻ hạ liệt
bị bỏ rơi vô thừa nhận, một thứ yêu quỷ chứ không phải
là người đó chăng?
Rồi
cậu ngâm vần kệ đầu:
1-
Lão từ đâu đến đắp y dơ,
Người
ngợm tồi tàn tựa quỷ ma,
Giẻ
rách làm y quàng trước ngực,
Lão
là ai? Chẳng xứng phần quà!
Bậc
Đại Sĩ lắng nghe, rồi với lòng từ mẫn, ngài đáp lời
cậu qua vần kệ thứ hai:
2-
Vương tử! Thức ăn đã sẵn bày,
Mọi
người ăn uống hưởng no say:
Bọn
ta, ngài biết thường sinh sống
Bằng
thứ tìm ra bởi gặp may.
Xin
đứng lên cho người hạ tiện
Hưởng
phần thọ thực chút gì đây.
Tiếp
theo Mandavya ngâm vần kệ thứ ba:
3-
Phần các La môn hưởng phước ân,
Này
đây thực phẩm chính tay dâng
Thí
tài cúng với lòng thành kính.
Thôi
cút! Ai đưa lão cán chân?
Chẳng
có phần cho người hạ tiện,
Kẻ
hèn kia hãy bước đi luôn!
Vì nghe
thế bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ:
4-
Mọi nơi cao thấp họ gieo trồng,
Mong
gặt quả trên đám ruộng đồng:
Chánh
đạo này đây, xin bố thí,
Sau
ngài xứng đáng hưởng phần công.
Sau đó
Mandavya đáp kệ:
5-
Ta biết đất ta muốn cấy trồng,
Những
vùng xứng đáng hạt đâm bông,
La
môn quý tộc, thông kinh thánh:
Là
đất lành phong phú ruộng đồng.
Rồi
bậc Đại Sĩ lại ngâm hai vần kệ:
6-
Ngạo mạn giống dòng quá tự kiêu,
Tham
sân si, uống rượu say nhiều,
Người
tâm chứa đủ sai lầm ấy,
Là
đất hoang cằn để hạt gieo.
7-
Ngạo mạn giống dòng quá tự kiêu,
Tham
sân si, uống rượu say nhiều,
Người
tâm chứa đủ sai lầm ấy,
Là
đất hoang cằn để hạt gieo.
Bậc
Đại Sĩ cứ ngâm đi ngâm lại những lời kệ ấy mãi, song
cậu trai nổi giận và kêu lớn:
- Lão
này nói quàng xiêng quá nhiều rồi; những người gác cổng
đi dâu cả mà không tống cổ lão ra?
Rồi
cậu ngâm kệ:
8-
Này Bran-da! Hỡi U-paj-jhà!
Ta
bảo, đâu rồi Up-ti-ya,
Trừng
phạt lão này, cho lão chết,
Tên
hèn hạ, tống cổ ngay ra.
Bọn
gia nhân nghe tiếng cậu gọi, liền chạy đến ngay kính lễ
cậu rồi hỏi:
- Tâu
Chúa công, chúng tiểu nô phải làm gì đây?
- Thế
các người không thấy tên hạ liệt tồi tàn này sao?
- Tâu
Vương tử không, chúng tiểu nô không biết lão đã tới đây
lúc nào cả, chắc chắn lão là tên lừa bịp xảo trá rồi
!
- Nào,
vậy sao các người còn đứng đó?
- Tâu
Chúa công, vậy chúng tiểu nô phải làm gì đây?
- Sao
ư? Phải vả vào mồm lão! Bẻ hàm lão ra, lấy roi gậy đánh
cho nát lưng, trừng phạt lão đi, tóm lấy cả tên khốn kiếp
này, quăng lão xuống, tống lão ra khỏi đây ngay!
Song
trước khi bọn chúng đến gần ngài, bậc Đại Sĩ đã bay
lên không, vừa đứng vững ở đó vừa ngâm kệ:
9-
Phỉ báng Hiền nhân! Lợi ích bằng
Với
khi nuốt ngọn lửa đang hồng,
Hay
là sắt cứng, đưa răng cắn,
Đào
núi, mà dùng móng vuốt không?
Sau khi
thốt những lời này xong, bậc Đại Sĩ vụt lên cao trong khi
cậu trai và đám Bà la môn ngơ ngác nhìn theo.
*
Bậc
Đạo Sư ngâm kệ để giải thích việc này:
10-
Nói vậy, Màtanga trí nhân,
Bậc
phò chánh đạo, lý thuần chân,
Rồi
ngài bay bổng trên không khí
Trước
mắt nhìn theo của đám đông.
*
Ngài
quay mặt về hướng Đông, hạ xuống một đường phố với
ý định làm cho dấu chân ngài được nhìn thấy, nên ngài
khất thực gần Đông môn. Lúc ấy, sau khi đã nhận được
một số thực phẩm đủ loại, ngài ngồi xuống một sảnh
đường và bắt đầu ăn.
Song
các thần linh trong kinh thành chợt đến, thấy rằng vua này
đã nói năng như vậy làm phiền nhiễu vị Hiền nhân của
các vị, là điều không thể dung thứ được, nên vị thần
cao niên nhất trong bọn chụp lấy cổ Mandavya và vặn tréo,
các quỷ kia lại chụp lấy cổ các Bà la môn ấy và vặn
luôn. Song vì thương cảm Bồ Tát, các vị ấy không giết
Mandavya, các vị bảo:
- Đó
là con trai của ngài.
Và
các vị chỉ hành hạ cậu ta thôi. Đầu của Mandavya bị vặn
tréo ra đằng sau vai, tay chân cậu cứng đờ, mắt trợn trừng
như thể chết rồi, cậu nằm rũ liệt tại đó. Các Bà la
môn kia quay cuồng vật vã, mồm chảy nước miếng tràn ra.
Dân chúng đến báo tin cho bà Dittha-Mangalikà:
- Tâu
lệnh bà, có chuyện chẳng lành xẩy ra cho vương tử!
Bà
vội chạy đến thấy cậu trai liền kêu lớn:
- Ôi
sao lại thế này?
Rồi
bà ngâm kệ:
11-
Vặn tréo đầu con khỏi bả vai,
Kìa
sao con duỗi cánh tay dài,
Bơ
vơ mắt trắng dường như chết,
Kẻ
hại con mình đó chính ai?
Khi ấy
những người đứng ngoài xem liền ngâm kệ nói cho bà biết
chuyện kia.
12-
Ẩn sĩ đây khoác áo dơ,
Tồi
tàn người ngợm tợ yêu ma,
Y
bằng giẻ rách quàng ngang ngực,
Chính
kẻ hành hung quý tử bà.
Nghe vậy
bà suy nghĩ. "Chắc chắn đó là bậc Hiền nhân Màtanga, không
ai khác có thần lực như vậy. Song một người thủy chung
và đầy thiện ý đối với mọi loài, chẳng bao giờ lại
bỏ đi để cho những kẻ này phải chịu sự hành hạ thế
kia. Nay không biết ngài đã đi hướng nào?" Bà hỏi câu này
qua vần kệ sau:
13-
Về hướng đi nào, bậc Trí nhân?
Trả
lời ta, hỡi các vương tôn!
Chúng
ta đi chuộc cho lầm lỗi,
Để
giúp con ta được tỉnh hồn.
Các chàng
trai kia đáp lời bà theo cách này:
14-
Bậc Hiền vụt hiện giữa không gian,
Như
thể vầng trăng giữa tối rằm,
Đẹp
mặt thay, ngài sùng Chánh đạo!
Phương
Đông theo hướng ấy lên đàng.
Khi họ
đáp như thế bà liền bảo:
- Ta
quyết sẽ đi tìm phu quân ta.
Rồi
bà ra lệnh đem theo bà nhiều bình vàng và chén vàng, rồi
được một đám tỳ nữ vây quanh, bà ra đi, tìm thấy nơi
có dấu chân của ngài đã in xuống đất, bà cứ theo dấu
chân này cho đến khi bà gặp ngài đang ngồi trên một chỗ
kia và ăn cơm. Đi đến gần ngài, bà đảnh lễ rồi đứng
im. Khi thấy bà, ngài đặt miếng cơm vào bát. Dittha-Mangalikà
rót nước lên tay ngài từ chiếc bình vàng, ngài lập tức
rửa tay và súc miệng. Sau đó bà hỏi:
- Ai
đã làm việc tàn ác này cho con trai của thiếp?
Và
bà ngâm kệ:
15-
Vặn tréo đầu con khỏi bả vai,
Kìa
sao con duỗi cánh tay dài,
Bơ
vơ mắt trắng dường như chết,
Kẻ
hại con mình đó chính ai?
Các vần
kệ sau đây là lời đối đáp xen kẽ nhau giữa hai vị:
Bậc
trí:
16-
Quỷ linh đủ đại lực uy thần
Đẹp
mắt theo hầu các trí nhân,
Chúng
thấy con nàng sân, ác ý,
Nên
hành xử nó chính vì nàng.
Bà hoàng:
17-
Chính các thần linh tạo việc trên,
Hiền
nhân đừng phẫn nộ thân hèn,
Xin
ngài từ mẫn vì con thiếp,
Quy
ngưỡng từ nay dưới gót sen.
Bậc
trí:
18-
Tâm ta, hãy biết, chẳng tiềm tàng,
Từ
trước đến giờ, ý hận sân,
Con
trẻ không thông ba Thánh điển,
Vì
đầy vọng tưởng , ngập kiêu căng.
Bà hoàng:
19-
Con người có thế, hỡi hiền nhân,
Bỗng
chốc trí khôn hóa tối tăm,
Tha
lỗi thiếp này, thưa Trí giả,
Bậc
hiền không để khởi hờn căm.
Bậc
Đại Si được bà xoa dịu bằng lời lẽ như vậy, liền đáp:
- Được,
ta sẽ cho nàng thứ tiên dược trường sinh bất tử để đuổi
bọn quỷ ma ấy đi xa.
Rồi
ngài ngâm kệ:
20-
Chút của thừa này, hãy lấy mang,
Cho
Man-da khốn khổ phần ăn,
Con
nàng sẽ mạnh mau bình phục,
Bọn
quỷ tha mồi, được thoát thân.
Khi bà
nghe những lời này của bậc Đại Sĩ liền đưa chiếc bình
bát vàng ra và nói:
- Xin
phu quân hãy cho thiếp thuốc tiên bất tử ấy.
Bậc
Đại Sĩ đổ vào đó một ít cháo còn lại và bảo:
- Hãy
đổ một nửa cháo này vào mồm con nàng, còn lại thì trộn
với nước rồi đổ vào mồm các Bà la môn kia, chúng sẽ
được bình phục cả.
Rồi
ngài đứng lên đi về phía vùng Tuyết Sơn.
Bà
mang bình ấy trên đầu và kêu:
- Ta
đã được thuốc tiên bất tử rồi!
Khi
đến nhà, trước hết bà đổ một ít vào miệng con trai bà.
Quỷ
thần liền chạy trốn, vua đứng dậy, phủi bụi bặm rồi
hỏi:
- Cái
gì đây mẹ?
- Con
đã biết rõ những việc con làm rồi, nay hãy nhìn tình cảnh
khốn khổ của đám người khất thực nhà ta kia kìa!
Khi
cậu nhìn thấy bọn ấy, lòng cậu đầy ân hận. Rồi mẹ
cậu bảo:
- Này
Mandavya yêu quý, con thực là kẻ ngu si không biết bố thí
cách nào để của bố thí ấy mang lại kết quả tốt. Bọn
này không xứng đáng với lòng hào phóng của con đâu, chỉ
những vị nào như bậc Hiền nhân Mantaga là xứng đáng thôi.
Từ nay về sau đừng đem cái gì cho những ác nhân như bọn
này, mà chỉ nên bố thí cúng dường những người đức hạnh.
Rồi
bà ngâm kệ:
21-
Man-da, tiểu trí thật ngu đần,
Chẳng
biết lúc nào đáng bố ân:
Con
cúng dường bao người trọng tội,
Lũ
người vô độ, bọn tà nhân!
22-
Xiêm áo bằng da mớ tóc xù,
Miệng
như giếng cũ, có tràn bờ,
Hãy
nhìn giẻ rách bầy kia mặc!
Các
thứ này không cứu lũ ngu!
23-
Hễ khi tham dục với cuồng sân,
Được
tống ra ngoài các thế nhân,
Bố
thí hiền nhân thanh tịnh ấy,
Quả
nhiều cho việc đã làm ăn.
- Vậy
từ nay về sau con đừng bố thí cho hạng người ác như thế
này, mà chỉ nên bố thí cúng dường những kẻ nào ở trên
đời này đạt Tám Thiền chứng, là những nhà tu khổ hạnh,
các Sa môn, Bà la môn chân chính đã chứng Năm Thắng trí,
các vị Độc Giác Phật. Này con, để mẹ đưa loại thuốc
tiên bất tử này cho bọn gia nhân của ta đây và làm chúng
bình phục.
Nói
vậy xong, bà lấy miếng cháo thừa ấy đổ vào một bình
nước và rẩy lên miệng mười sáu ngàn Bà la môn kia. Mọi
người đều đứng dậy và phủi hết bụi bặm.
Sau
đó, vì các Bà la môn này đã phải nếm thức ăn thừa của
một kẻ Chiên đà la, nên bị các Bà la môn khác tống xuất
ra khỏi giai cấp ấy. Đầy ô nhục, bọn họ rời thành Bà
la nại và đi về vương quốc Mejjha, tại đây họ ở chung
với vua xứ đó. Còn Mandavya vẫn ở chốn cũ.
Vào
thời đó có một Bà la môn tên là Jàtimanta, là một kẻ tu
hành, ở gần kinh thành Vettavati trên bờ sông có cùng tên
ấy, ông là kẻ rất kiêu mạn về dòng dõi của mình. Bậc
Đại Sĩ liền đến đó, quyết đập tan lòng kiêu mạn của
người kia, ngài dựng am trú ngụ gần đó, sống ở phía thượng
nguồn con sông.
Một
hôm sau khi xỉa răng xong, ngài thả cái tăm xuống dòng nước;
cố ý để cho nó vướng vào búi tóc của Jàtimanta, vì vậy,
trong khi kẻ ấy đang tắm trong dòng nước sông, cái tăm ấy
vướng vào búi tóc ông.
- Đồ
súc sinh!
Ông
nói, trong khi thấy cái tăm:
- Nó
từ đâu đến đây với cái đồ phá hoại này. Ta phải tìm
xem.
Ông
liền đi ngược dòng, khi thấy bậc Đại Sĩ liền hỏi:
- Ông
thuộc giai cấp nào?
- Ta
là một Chiên đà la.
- Có
phải ông đã thả cây tăm xuống sông chăng?
- Chính
phải?
- Đồ
súc sinh, quân tồi tàn hạ đẳng! Đồ mắc dịch, không được
ở đây! Mà phải đi xuống chỗ hạ lưu kia.
Song
khi ngài xuống ở vùng hạ lưu, cái tăm ngài thả trôi ngược
dòng nước, vẫn vướng vào tóc Jàtimanta. Ông mắng:
- Quân
đáng nguyền rủa! Nếu ngươi ở đây trong bảy ngày nữa
, đầu ngươi sẽ tan thành bảy mảnh.
Bậc
Đại Sĩ suy nghĩ:" Nếu ta buông mình theo cơn thịnh nộ với
gã này, thì ta không giữ được công đức, song ta sẽ tìm
cách phá tan lòng kiêu mạn của gã".
Vào
ngày thứ bảy, ngài ngăn cản mặt trời mọc, cả trần gian
đều tối tăm nên dân chúng kéo đến vị tu khổ hạnh Jàtimanta
và hỏi:
- Thưa
Tôn giả, có phải chính ngài ngăn cản mặt trời mọc chăng?
Gã
đáp:
- Việc
đó không phải do ta làm, mà có một lão Chiên đà la sống
gần bờ sông, chắc lão ấy làm đấy.
Sau
đó dân chúng đến gặp bậc Đại Sĩ và hỏi lại:
- Thưa
Tôn giả, có phải chính Tôn giả ngăn cản mặt trời mọc
chăng?
Ngài
đáp:
- Này
các hiền hữu, chính phải!
- Tại
sao thế? Họ hỏi.
- Vị
tu khổ hạnh được các hiền hữu quý mến đã phỉ báng
ta, một người vô tội, vậy khi nào vị đó đến quỳ dưới
chân ta để xin thương xót, thì ta mới để cho mặt trời
mọc lên.
Dân
chúng đi kéo lê kẻ ấy rồi thả ông xuống trước chân bậc
Đại Sĩ và cố sức vỗ về ngài vừa nói:
- Thưa
Tôn giả, xin cho mặt trời mọc.
Song
ngài đáp:
- Ta
không thể để mặt trời mọc được vì nếu ta làm như thế,
đầu kẻ này sẽ vỡ thành bảy mảnh.
Họ
hỏi:
- Thưa
Tôn giả, vậy chúng tôi phải làm gì?
- Hãy
đem cho ta một cục đất!
Họ
đem lại một cục đất.
- Nào,
hãy đặt cục đất lên đầu kẻ khổ hạnh này, rồi kéo
gã xuống nước.
Sau
khi sắp đặt mọi việc này xong, ngài để cho mặt trời mọc
lên. Vừa khi mặt trời được di chuyển tự do, cục đất
nứt thành bảy mảnh, còn kẻ tu khổ hạnh nhảy tùm xuống
nước.
Sau
khi đã hàng phục gã như vậy, bậc Đại Sĩ suy nghĩ: Mười
sáu ngàn Bà la môn kia hiện ở đâu?" Ngài nhận ra bọn ấy
đang ở với vua Mejjha, và cũng quyết định đi hàng phục
họ, nên dùng thần lực, ngài hạ xuống vùng ngoại thành,
cầm bình bát trong tay, đi khất thực. Khi các Bà la môn thấy
được ngài, họ bảo nhau:
- Chỉ
để lão ở đây 2 ngày thôi là lão sẽ làm ta mất nơi nương
tựa!
Bọn
ấy vội vàng chạy đến yết kiến vua và kêu to:
- Tâu
đại vương, có một lão khoác lác đại bịp đến đây, xin
hãy bỏ tù lão!
Vua
rất sẵn sàng. Còn bậc Đại Sĩ với bát thức ăn đủ loại
đang ngồi ăn bên bức thành trên một chiếc ghế dài. Tại
đó trong khi ngài đang bận ăn uống, đám thị vệ của vua
tìm đến, lấy kiếm đánh ngài rồi giết đi. Sau khi mạng
chung, ngài tái sanh lên cõi Phạm Thiên.
Chuyện
kể rằng, trong kiếp này Bồ tát là một " người luyện thú
mongoose" (một giống chồn ở Ấn Độ) và ngài phải chịu
chết vì công việc hạ tiện này. Các vị thần nổi giận
liền trút xuống toàn vương quốc Mejjha một trận lửa tro
nóng rực quét sạch nước ấy ra khỏi các nước kia.
Vì
thế có lời lưu truyền:
24.
Người ta kể chuyện cả non sông
Của
xứ Mejjha phải diệt vong,
Nước
kia bị xóa tan bờ cõi
Vì
giết Mà-tan, bậc lẫy lừng.
*
Khi
bậc Đạo Sư đã chấm dứt Pháp thoại này. Ngài bảo:
-
Đây không phải là lần đầu tiên vua Udena phỉ báng các vị
tu khổ hạnh, mà xưa kia cũng thế.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, vua Udena là Mandavya và Ta chính là bậc Hiền
trí Màtanga.
-ooOoo-
498.
Chuyện Đôi Bạn Citta-Sambhùta (Tiền thân Citta-Sambhùta)
Chóng
chầy thiện nghiệp đều mang quả.....
Chuyện
này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hai người
bạn đồng tu của Tôn giả Mahà Kassapa (Đại Ca Diếp) sống
rất hòa hợp với nhau.
Chuyện
kể rằng đôi bạn này vô cùng thân thiết, đã phân chia mọi
thứ cùng nhau hết sức công bình; ngay cả khi khất thực,
hai vị cũng cùng đi ra và cùng trở về với nhau, hai vị không
hề chịu rời nhau.
Trong
Chánh pháp đường, Tăng chúng đang ngồi tán thán tình bằng
hữu ấy thì bậc Đạo Sư bước vào, hỏi các vị đang bàn
luận chuyện gì khi ngồi tại đó. Tăng chúng trình với Ngài...
Ngài đáp:
Này
các Tỳ kheo, tình bạn này chỉ trong một đời sống chẳng
có gì kỳ lạ cả, vì các bậc trí nhân ngày xưa đã giữ
được tình bằng hữu vững bền suốt qua cả ba bốn đời
sống.
Nói
vậy xong, Ngài kể cho Tăng chúng nghe một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, trong quốc độ Avanti, tại kinh thành Ujjeni, có vị
đại vương trị vì mệnh danh là vua Avanti. Thuở ấy một
làng Candàla (Chiên đà la: vô loại, hạ đẳng) ở ngoại thành
Ujjeni là nơi bậc Đại Sĩ ra đời. Một người khác sinh làm
con trai của bà dì Ngài. Một cậu bé tên là Citta, cậu kia
tên là Sambhùta.
Khi
hai cậu bé lớn lên và đã học được nghề quét bằng chổi
trong dòng họ Chiên đà la rồi, liền nghĩ rằng hai cậu sẽ
đi trình diễn nghề này tại cổng thành. Vì thế một cậu
biểu diễn tại Bắc môn, một cậu tại Đông môn. Bấy giờ
trong kinh thành này có hai phụ nữ giỏi nghề xem tướng, một
cô là con gái một thương nhân, và cô kia là con một tế sư.
Hai cô gái ấy đi vui chơi trong công viên, sau khi bảo gia nhân
đem theo thực phẩm đủ loại cứng, loại mềm, vòng hoa hương
liệu, thì ngẫu nhiên một cô đi ra cổng Bắc, và một cô
ra cổng phía Đông. Khi thấy hai thanh niên Chiên đà la đang
biểu diễn tay nghề, hai cô hỏi:
- Chúng
là ai đây?
Rồi
hai cô được cho biết đó là hai kẻ Chiên đà la. Hai cô bảo:
- Thấy
điềm này xui xẻo lắm.
Và
sau khi rửa mắt bằng nước hương thơm, cả hai đều đi về.
Sau đó, đám dân chúng la lớn:
- Này
bọn hạ đẳng tồi tàn kia, chúng bay đã làm chúng ta mất
phần cơm rượu đáng lẽ được hưởng miễn phí đấy!
Chúng
đánh đập hai anh em cùng họ ấy một trận nhừ tử, làm
cả hai đau đớn ê chề. Khi hai người tỉnh dậy liền đi
tìm nhau và kể cho nhau nghe tai họa đã đến cho mình, rồi
lại kêu gào và cố nghĩ cách xem phải làm gì đây. Cả hai
suy nghĩ: "Tất cả việc khốn nạn này đã giáng xuống chúng
ta chỉ vì dòng giống ta sinh ra. Ta sẽ chẳng bao giời làm
kẻ Chiên đà la nữa, mà ta phải dấu tung tích dòng họ để
rồi đi tới Takkasilà, giả dạng các nam tử Bà la môn và
học tập tại đó".
Sau
khi quyết dịnh như vậy, cả hai đến chỗ đó, theo đòi học
tập với một giáo sư danh tiếng lẫy lừng. Thiên hạ đồn
vang khắp cõi Diêm phù đề (Ấn độ) rằng có hai nam tử
Chiên đà la đang làm thư sinh và giấu diếm tung tích gia tộc
mình. Bậc Trí nhân Citta học tập thành công, song chàng Sambhùta
thì không được như thế.
Một
ngày kia có người dân làng mời vị giáo sư ấy với ý định
cúng dường thực phẩm cho các Bà la môn. Bấy giờ do ngẫu
nhiên mưa suốt đêm ấy làm ngập lụt mọi hang hốc trên
đường đi. Sáng sớm hôm sau, vị thầy giáo gọi Trí giả
Citta vào và bảo:
- Này
con , hôm nay thầy không đi được, vậy con đi cùng các nam
tử kia, rồi làm lễ chúc phước lành và khi con ăn thực phẩm
của mình xong, hãy mang về những món để dành cho thầy.
Do
đó, ngài đem các thanh niên Bà la môn khác cùng lên đường.
Trong khi các thanh niên tắm rửa và súc miệng, dân chúng dọn
món cháo gạo đã chuẩn bị sẵn sàng để mời khách quý
và bảo:
- Để
cho nó nguội đi.
Trước
khi cháo nguội, đám thanh niên đã đến ngồi xuống. Dân chúng
dâng nước cúng dường, rồi đặt các bát cháo trước mặt
họ. Trí óc Sambhùta có hơi trì độn, nên tưởng cháo đã
nguội, liền múc một hớp bỏ vào miệng, song nó làm chàng
nóng bỏng như cục sắt nóng đỏ. Trong lúc đau đớn, chàng
quên mất vai trò của mình, liền liếc qua bậc Hiền trí Citta
và nói bằng ngôn ngữ của dân Chiên đà la:
- Cháo
nóng quá phải chăng?
Chàng
kia quên mất bản thân mình, nên đáp lại theo ngôn ngữ của
họ:
- Nhổ
ra , nhổ ra mau!
Nghe
thế, đám thanh niên nhìn nhau bảo:
- Loại
ngôn ngữ gì thế này?
Lúc
ấy bậc Trí giả Citta nói lời chúc lành cho tất cả.
Khi
các chàng trai kia về nhà, họ tụ tập thành tụm năm túm
ba và ngồi bàn luận về những từ ngữ đã được dùng kia.
Khi nhận ra đó là ngôn ngữ của bọn Chiên đà la, họ kêu
to:
- Quân
hạ đẳng tồi tàn kia! Chúng bay đã lừa dối cả bọn ta
lâu nay, cứ giả dạng làm Bà la môn!
Rồi
họ đánh đập hai vị ấy. Có một người tốt bụng xua đuổi
họ ra và nói:
- Đi
ngay! Vết nhục nằm trong huyết thống kia. Phải đi ngay! Đến
đâu đó mà làm ẩn sĩ khổ hạnh!
Rồi
các thanh niên Bà la môn trình với thầy giáo rằng, đấy là
hai kẻ Chiên đà la giả dạng.
Hai
chàng đi vào rừng sống đời sống khổ hạnh tại đó, sau
một thời gian chết đi, tái sanh làm hai chú Nai con bên bờ
sông Nerañjarà (Ni liên thuyền). Từ lúc sinh ra, chúng luôn
luôn ở bên nhau. Một ngày kia, sau khi chúng ăn xong, một người
thợ săn chợt thấy chúng dưới một gốc cây đang ngồi nhai
lại, âu yếm vuốt ve nhau rất hạnh phúc, đầu sát đầu,
mõm kề mõm, sừng bên sừng. Gã liền phóng lao tới, giết
trọn luôn cả hai bằng nhát lao ấy.
Sau
đó chúng tái sanh làm con của chim Ưng biển trên bờ Nerbudda
(Niết bút). Cũng tại đó, chúng lớn lên sau khi ăn xong lại
ôm ấp đầu sát đầu, mỏ kề mỏ. Một kẻ bẫy chim trông
thấy, bắt cả hai và giết đi.
Sau
đó bậc Trí giả tái sanh tại Kosambi, làm con vị tế sư,
còn bậc Trí Sambhùta tái sanh làm vương tử của vua Uttarapañcala.
Ngay từ ngày được đặt tên, hai hài nhi ấy đã có khả
năng nhớ lại các đời trước của mình. Song Sambhùta không
thể nào nhớ hết tất cả mà không bị gián đoạn, và cậu
chỉ nhớ đời thứ tư hoặc đời Chiên đà la thôi, còn Citta
lại nhớ đủ cả bốn đời theo thứ tự.
Khi
Citta được 16 tuổi, chàng xuất gia làm ẩn sĩ khổ hạnh
ở vùng Tuyết Sơn, tu tập làm phát khởi thắng trí do thiền
định và an trú trong hỷ lạc Thiền định. Còn bậc trí giả
Sambhùta, sau khi phụ vương băng hà, liền được phong chiếc
lọng trắng trên đầu vào ngày phong vương kia, giữa quần
thần đông đảo, ngài làm một bài ca tức vị, rồi rung cảm
ngâm lên hai đoạn.
Khi
quần thần nghe xong, đám cung phi và nhạc công đều ca hát,
bảo nhau:
- Đây
là khúc đăng quang của đức Chúa thượng chúng ta!
Và
dần dà với thời gian, dân chúng đều ca khúc hát ấy vì
đó là Thánh đạo ca được vua yêu thích. Bậc Trí giả Citta
đang an trú ở vùng Tuyết Sơn, tự hỏi không biết hiền đệ
Sambhùta của ngài đã được giương chiếc lọng che ấy chưa.
Khi nhận thấy việc đã xong, ngài suy nghĩ:" Ta chẳng bao giờ
đủ sức giáo hóa một vị Tân vương còn trẻ, song khi nào
em ta già rồi, ta sẽ đến thăm và khuyên nhủ em ta đi làm
ẩn sĩ khổ hạnh".
Suốt
năm mươi năm ngài không hề đi thăm viếng, và trong thời
gian ấy, vua có đông con cái lên dần. Về sau nhờ thần lực
của ngài, Trí giả Citta phi hành đến vườn ngự uyển đáp
xuống, ngồi trên bảo tọa nghi lễ như một bức tượng bằng
vàng.
Vừa
lúc ấy, một chàng trai kiếm củi, vừa làm việc vừa hát
khúc đạo ca ấy. Bậc Trí giả Citta gọi chàng trai lại gần,
chàng tiến đến đảnh lễ cung kính rồi đứng chờ. Trí
giả Citta bảo chàng:
- Từ
sáng đến giờ, cậu chỉ hát mãi khúc đạo ca ấy, thế cậu
không biết khúc nào nữa chăng?
- Thưa
Tôn giả, có chứ, con biết nhiều khúc ca lắm, song đây là
những lời ca được đức vua yêu chuộng, vì thế con không
hát khúc nào khác.
- Thế
không có ai biết hát một điệp khúc đáp lại khúc ca của
đức vua chăng?
- Thưa
Tôn giả, con biết hát nếu con được dạy khúc ca ấy.
- Thế
thì được, hễ khi nào đức vua hát hai khúc trên, thì cậu
hát khúc này làm khúc thứ ba đấy.
Rồi
ngài ngâm một khúc và bảo:
- Bây
giờ cậu hãy đi hát khúc này trước đức vua, ngài sẽ hài
lòng và quý trọng cậu lắm.
Chàng
trai vội vàng chạy về tìm mẹ, bảo mẹ mặc cho chàng y phục
thật tề chỉnh rồi đến cửa cung vua, nhờ người tâu lên
rằng có một chàng trai xin được yết kiến để hát một
khúc ca đáp lời đức vua. Vua bảo:
- Cho
nó vào.
Khi
chàng trai tiến lên, đảnh lễ ngài xong, vua phán:
- Chúng
tâu rằng cậu muốn hát một khúc đáp lời trẫm có phải
chăng?
Chàng
trai đáp:
- Tâu
Chúa thượng, đúng vậy, xin ngài triệu tập quần thần để
cùng nghe.
Ngay
khi triều đình tụ họp xong, chàng tâu:
- Tâu
Chúa thượng, xin Chúa thượng ca khúc hát của ngài trước,
rồi thần sẽ xin hát lời đối lại.
Vua
liền ngâm đôi vần kệ:
1-
Chóng chầy thiện nghiệp đều mang trái,
Không
nghiệp gì không có quả sinh,
Chẳng
có việc lành nào uổng phí:
Sam-bhù,
ta thấy, lớn lên thành
Hùng
cường, vĩ đại và như thế
Công
đức ngài đem đến quả lành
2-
Chóng chầy thiện nghiệp đều mang trái,
Không
nghiệp gì không có quả mang,
Chẳng
có việc lành nào uổng phí:
Cit-ta
ai biết, có vinh quang
Giống
như phần trẫm, tâm hiền hữu
Có
được an vui lợi lạc chăng?
Khúc
đạo ca trên vua chấm dứt, chàng trai liền đáp vần thứ
ba:
3-Thiện
nghiệp chóng chầy đều đạt quả
Nghiệp
nào mà chẳng quả lai sinh,
Không
gì vô ích tâu Hoàng thượng,
Xin
ngắm Cit-ta tại cổng thành,
Chẳng
khác quân vương, tâm vị ấy
Đã
đem hỷ lạc đến cho mình.
Nghe lời
này vua lại ngâm vần kệ thứ tư:
4-
Vậy có phải chăng chính Cit-ta,
Hay
chàng nghe được chuyện ngày xưa
Từ
ngài, hay một người nào khác?
Ôi
ngọt ngào thay khúc Thánh ca!
Ta
chẳng sợ gì, ta sẽ thưởng
Ngôi
làng hay tặng vật làm quà.
Tiếp
theo chàng trai ngâm vần kệ thứ năm:
5-
Hạ thần nào có phải Cit-ta,
Song
chuyện ấy thần được biết qua,
Chính
một hiền nhân vừa dạy bảo:
"Đi
ngâm lời hát đối dâng vua,
Rồi
chàng sẽ được ngài ban thưởng,
Tay
của ngài ân nghĩa đậm đà".
Nghe lời
này, vua suy nghĩ: "Chắc hẳn đó là hiền huynh Citta của ta
rồi, ta muốn đi tìm ngài ngay". Thế là vua ra lệnh cho quần
thần qua hai vần kệ sau:
6-
Các vương xa hãy thắng yên cương,
Chạm
trổ tinh vi, đẹp tuyệt trần,
Đem
buộc cân đai vào bảo tượng,
Điểm
trang vòng cổ sáng huy hoàng.
7-
Quần thần hãy đánh trống liên hoan,
Bảo
thổi tù và ốc dậy vang,
Chuẩn
bị vương xa nhanh bậc nhất
Bởi
vì trẫm muốn sớm lên đàng
Hôm
nay tìm thảo am cô tịch,
Yết
kiến hiền nhân trước tọa sàng.
Vua nói
vậy xong, liền ngự lên vương xa lộng lẫy và vội vàng đến
ngay cổng ngự viên. Tại đó ngài dừng xa giá và đến gần
Hiền giả Citta, đảnh lễ rất cung kính rồi ngồi xuống
một bên, lòng tràn ngập hân hoan, ngài ngâm vần kệ thứ
tám:
8-
Thật quý thay là Thánh khúc xưa,
Trẫm
từng ca hát thật say sưa,
Trong
khi dân chúng đông dồn dập,
Quần
tụ chung quanh chật cả nhà;
Nay
đến đây xin chào Thánh giả,
Hân
hoan, hạnh phúc ngập tâm ta.
Từ lúc
tái ngộ Hiền giả Citta, vua hoan hỷ ra lệnh làm mọi sự
cần thiết và truyền chuẩn bị bảo tọa dành cho vị hiền
huynh, rồi ngài ngâm vần kệ thứ chín:
9-
Tọa sàng, nước mát rửa bàn chân,
Đúng
pháp là đem lễ cúng dâng,
Thực
phẩm dành cho nhiều khách quý,
Xin
hiền huynh nhận, trẫm ân cần.
Sau lời
mời ngọt ngào này, vua ngâm vần kệ khác để tặng bạn
hiền một nửa giang san của mình:
10-
Bảo làm cho nhộn nhịp tưng bừng,
Nơi
chốn hiền huynh sẽ trú thân,
Truyền
đem nữ tỳ theo phục vụ,
Ôi,
ta muốn tỏ với hiền nhân
Lòng
ta yêu quý ngài tha thiết,
Xin
hãy cùng ta ngự trị dân.
Khi nghe
những lời này, bậc Trí giả Citta thuyết giáo cho vua qua sáu
vần kệ:
11-
Hỡi Đại vương, nhìn quả ác hành,
Thấy
bao lợi lạc thiện hành sinh,
Ta
mong điều ngự thân tu tập,
Con,
của không lôi cuốn trí mình.
12-
Trăm năm tròn cuộc sống người đời,
Năm
tháng theo nhau kế tiếp trôi,
Khi
đến hạn kỳ, người héo úa,
Tựa
hồ lau sậy nát tan thôi.
13-
Thế nghĩa gì hoan lạc, ái ân,
Nghĩa
gì săn đuổi cảnh giàu sang?
Nhiều
con, nghĩa lý gì? Nên biết,
Hỡi
Đại vương, ta thoát buộc ràng.
14-
Ta biết, vì đây chính thật chân,
Ta
không qua khỏi tử ma thần,
Nghĩa
gì vàng bạc và ân ái,
Khi
bạn đến thời phải mạng vong?
15-
Giòng giống hạ đẳng bước hai chân,
Hạ
liệt Chiên đà nhất thế nhân,
Khi
nghiệp chín làm phần thưởng quý,
Hai
ta cùng có một tiền thân:
16-
Tại A-van, bạn trẻ Chiên đà,
Là
cặp Nai vàng bến nước xưa,
Đôi
chú chim Ưng bờ Niết bút,
Giờ
đây giáo sĩ, đó làm vua.
Sau khi
đã nói rõ các tiền thân hạ liệt của mình trong quá khứ
như vậy, tại đây trong đời hiện tại này, ngài tuyên thuyết
tính Vô thường của mọi pháp hữu hình và ngâm bốn vần
kệ làm phát khởi tinh tấn lực.
17-
Đời người ngắn ngủi chết cùng đường,
Già
cả không nơi chốn náu nương,
Này
hỡi Pañcala, thực hiện,
Những
gì ta khuyến nhủ quân vương:
Tránh
xa tất cả hành vi ác,
Đưa
đẩy vào đau khổ đoạn trường.
18-
Đời người ngắn ngủi, chết sau cùng,
Già
cả không nơi chốn trú thân;
Này
hỡi Pañcala, thực hiện
Những
gì ta khuyến nhủ quân vương:
Tránh
xa tất cả hành vi ác
Đưa
đẩy vào trong hạ ngục tầng.
19-
Nhân thế ngắn sao, chết cuối cùng,
Người
già không chốn để nương thân,
Pañcala
hỡi, xin thành tựu
Những
việc ta khuyên nhủ Đại vương:
Xin
hãy xa lìa bao vọng nghiệp,
Nhiễm
ô toàn ác dục tham sân..
20-
Đời người ngắn ngủi, chết vong thân,
Bệnh,
lão làm suy thế lực dần,
Ta
chẳng làm sao ra thoát được;
Pañcala
thực hiện lời răn:
Tránh
xa tất cả hành không thiện
Đưa
đẩy vào trong ngục hạ tầng.
Vua rất
hoan hỷ khi nghe bậc Đại Sĩ khuyến giáo, liền đáp lời
qua ba vần kệ:
21-
Lời kia, Tôn giả, quá toàn chân,
Ngài
dạy lời như bậc Thánh nhân,
Song
dục tham ta đều khó bỏ,
Với
người như trẫm, chúng vô cùng.
22-
Như voi chìm xuống vũng bùn nhơ,
Không
thể bò lên, dẫu thấy bờ,
Trẫm
cũng lún sâu bùn dục lạc,
Nên
không theo nổi Đạo Thầy tu!
23-
Như mẹ như cha dạy bảo con,
Thành
người sống hạnh phúc, hiền lương,
Dạy
ta hạnh phúc làm sao đạt,
Xin
chỉ cho ta bước đúng đường.
Sau đó
bậc Đại Sĩ bảo nhà vua:
24-
Ngài không thể bỏ, hỡi Quân vương,
Các
dục tham đây cũng thế thường:
Vậy
chớ bắt dân nhiều thuế nặng,
Trị
sao dân chúng thấy công bằng
25-
Gửi sứ thần đi khắp bốn phương,
Mời
người khổ hạnh, Bà la môn,
Cúng
dường thực phẩm, nhà an nghỉ,
Xiêm
áo và luôn mọi thứ cần.
26-
Đem thức ăn uống để đãi đằng
Bà
la môn, Thánh giả, Hiền nhân,
Tâm
đầy thành tín, ai ban phát,
Và
trị dân tài đức hết lòng,
Người
ấy sẽ đi lên thượng giới,
Lỗi
lầm không có, lúc vong thân.
27-
Song nếu vây quanh bởi má hồng,
Dục
tham, ngài thấy, quá say nồng,
Trong
tâm hãy nhớ vần thi kệ,
Và
hát hò lên giữa đám đông.
28-
"Dưới trời không mái để che thân,
Bầy
chó xưa cùng nó ngủ lăn,
Mẹ
nó cho ăn lúc bước vội,
Mà
nay làm một vị vương quân.
Đó là
lời khuyến giáo của bậc Đại Sĩ. Rồi ngài lại bảo:
- Ta
đã khuyên nhủ Đại vương rồi. Bây giờ Đại vương có
muốn làm người tu khổ hạnh hay không là tùy ý Đại vương,
song ta sẽ tiếp tục theo đúng nghiệp quả của chính ta làm.
Sau
đó ngài bay vụt lên không, phủi bụi bặm trên đôi chân
ngài, giã từ vua trong dáng điệu khinh thường, rồi đi về
vùng Tuyết Sơn.
Còn
phần vua trông thấy cảnh này, lòng vô cùng xúc động, liền
giao quốc độ cho thái tử, triệu tập quân sĩ thẳng hướng
tiến về vùng Tuyết Sơn. Khi bậc Đại Sĩ nghe vua đến, liền
bước ra cùng đám hiền nhân đồ đệ của ngài đón tiếp
vua, và truyền giới cho vua sống đời Phạm Hạnh rồi dạy
vua phương tiện làm phát khởi Thiền định. Vua tu tập chứng
đắc Thắng trí do Thiền định, vì vậy cả hai vị đều
cùng được sinh lên cõi Phạm Thiên.
*
Sau
khi bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
-
Như vậy, này các Tỳ kheo, các bậc trí nhân ngày xưa giữ
vững tình bằng hữu lâu dài qua ba bốn đời sống.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, Ànanda là trí giả Sambhùta và Ta chính là Trí
giả Citta.
-ooOoo-
499-
Chuyện Đại Vương Sivi (Tiền thân Sivi)
Nếu
thí tài gì thuộc thế nhân....
Chuyện
này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về lễ vật
cúng dường tối thượng.
Trường
hợp này đã được kể đầy đủ trong Chương VIII ở số
424. Tiền thân Savìra. Song tại đây vào ngày thứ bẩy, vua
dâng đủ tất cả vật cúng dường và thỉnh cầu lời tùy
hỷ; tuy nhiên, bậc Đạo Sư ra đi mà không tán thán công đức
của vua. Sau buổi điểm tâm, vua đi đến tịnh xá và hỏi:
-
Bạch Thế Tôn, vì cớ gì Thế Tôn không đáp lời tùy hỷ
hôm ấy?
Bậc
Đạo Sư nói:
-
Thưa Đại vương, hội chúng kia không thanh tịnh.
Ngài
lại tiếp tục thuyết Pháp, ngâm vần kệ bắt đầu bằng
câu:" Người hạ tiện sẽ không lên Thiên giới (Pháp cú 177)".
Vua
đầy hoan hỷ bày tỏ lòng tôn kính đối với đức Như Lai
bằng cách dâng chiếc thượng y của xứ Sivi trị giá một
ngàn đồng tiền; sau đó vua trở về thành.
Ngày
hôm sau trong Chánh pháp đường, Tăng chúng nói về chuyện
ấy:
-
Này các Hiền giả, vua Kosala đã cúng dường lễ vật tối
thượng, và chưa hài lòng với việc ấy, nên sau khi đấng
Thập Lực thuyết giáo cho vua ấy, vua liền dâng chiếc y của
xứ Sivi trị giá cả một ngàn đồng tiền vàng! Quả thật
vua không hề thỏa mãn với việc cúng dường!
Bậc
Đạo Sư bước vào, và hỏi các vị đang bàn việc gì khi
ngồi đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài bảo:
-
Này các Tỳ kheo, bố thí ngoại tài quả thật là điều có
thể thỏa đáng được, song các bậc trí nhân ngày xưa đã
bố thí cho đến khi khắp cả Diêm phù đề đều vang danh
lừng lẫy, mỗi ngày bố thí cả sáu trăm ngàn đồng tiền,
vẫn chưa thỏa mãn với việc bố thí ngoại tài, và nhớ
lại câu phương ngôn: "Hãy đem cho cái gì ta yêu quý nhất
và từ tâm sẽ sinh khởi", cho nên các vị ấy đã móc đôi
mắt mình ra tặng những kẻ nào đòi xin chúng.
Cùng
với những lời này; Ngài kể một chuyện quá khứ.