Chương
XIV (tt)
490.
Chuyện năm vị hành trì trai giới (Tiền thân Pancùposatha)
Ta
chắc giờ chim thiểu dục rồi...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về năm trăm
cư sĩ giữ hạnh Bồ-tát giới.
Thời
đó người ta nói là bậc Ðạo Sư ngồi trên bảo tọa dành
cho đức Phật trong Chánh pháp đường, giữa tứ chúng, nhìn
quanh hội chúng với từ tâm, Ngài thấy rằng hôm nay bài thuyết
giảng sẽ quay về đề tài chuyện các nam cư sĩ. Sau đó Ngài
hỏi hội chúng:
-
Các nam cư sĩ có giữ hạnh trai giới (Bồ-tát) chăng?
-
Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Họ đáp.
-
Lành thay, việc hành trì ngày trai giới là tập tục của các
trí nhân tự thuở xưa: Ta bảo là các bậc trí tự ngàn xưa
đã hành trì trai giới để nhiếp phục các tham dục.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ngài kể một chuyện
quá khứ.
*
Một
thuở nọ, có một khu rừng lớn ngăn chia vương quốc Magadha
(Ma-kiệt-đà) với hai vương quốc giáp giới nó. Bồ-tát sinh
ra ở Ma-kiệt-đà trong một gia đình Bà-la-môn sang trọng.
Khi ngài lớn lên, ngài từ bỏ các tham dục và đi vào rừng
kia dựng lên một ẩn am và sống tại đó. Bấy giờ không
xa nơi am thất ấy có một con Bồ câu rừng sống cùng chim
mái, trong một tổ kiến kia có con Rắn, trong bụi rậm nọ
có con Chó rừng làm hang ổ và trong một bụi rậm khác lại
có con Gấu. Cả bốn con vật này thường đến viếng vị
hiền nhân và nghe ngài thuyết Pháp.
Một
ngày kia, Bồ câu cùng vợ rời tổ đi kiếm thức ăn. Chim
mái bay sau, và khi nó đang bay, một con chim ưng thình lình chụp
bắt lấy nó và tha đi. Nghe tiếng kêu thét của chim mái, chim
trống quay lại nhìn và thấy chim ưng đang tha vợ nó đi! Chim
ưng giết chết chim mái ngay khi nó đang kêu cứu và xé xác
ăn ngay. Bấy giờ lòng chim trống nóng như lửa đốt vì thương
tiếc chim mái phải bị chia lìa đột ngột với nó như vậy.
Rồi chim suy nghĩ: "Ái dục này xâu xé lòng ta đau đớn quá
sức chịu đựng; ta không còn muốn đi tìm mồi cho đến khi
nào ta thấy được cách nhiếp phục nỗi đau". Thế là chim
bỏ ngang việc kiếm ăn, bay đến tận nhà tu khổ hạnh kia,
quyết tâm giữ hạnh nguyện nhiếp phục tham ái và nằm xuống
một bên.
Con
rắn cũng nghĩ rằng nó muốn kiếm ăn, nên bò ra khỏi lỗ
và kiếm được chút gì đó trên lối nó bò đi gần một
làng ở biên địa. Vừa lúc ấy, một con bò đực của người
lý trưởng, một con vật tuyệt đẹp toàn màu trắng, sau khi
gặm cỏ xong, quỳ mọp xuống gần một tổ kiến, lấy sừng
hất tung đất lên để đùa chơi. Con Rắn kinh hoảng khi nghe
tiếng móng bò sột soạt, phóng đến ẩn mình trong một tổ
kiến. Con bò tình cờ giẫm lên Rắn, làm con Rắn tức giận
cắn con bò và con bò chết tại chỗ. Khi dân làng khám phá
ra con bò đã chết, họ đều vừa chạy vừa khóc than, đem
cúng vòng hoa cho bò rất trọng thể rồi mới chôn nó xuống
mồ và trở về nhà. Khi dân chúng đã đi hết, con Rắn bò
ra và suy nghĩ: "Vì giận dữ, ta đã đoạt mạng sống của
con vật này và đã gây bao đau buồn cho nhiều người. Ta chẳng
còn muốn đi kiếm mồi bao giờ nữa, cho đến khi ta học được
cách nhiếp phục sân hận". Vì thế nó quay đi về thảo am
sĩ kia, và quyết giữ hạnh nguyện nhiếp phục sân hận, nó
nằm xuống một bên.
Con
Chó rừng cũng đi kiếm mồi và thấy một con voi đã chết.
Nó vui mừng quá:
- Thức
ăn nhiều lắm đây rồi!
Nó
kêu lên và đi cắn một miếng vào thân voi, chẳng khác nào
cắn vào một thân cây. Nó thấy chẳng thích thú gì cả nên
cắn vào chiếc vòi cứ như thể là cắn vào hòn đá.
Nó
thử cắn cái bụng - cũng như là cái thúng vậy, nên nó nhào
vào đuôi voi - giống như cái bát sắt. Rồi nó chồm lên đít
voi và ô kìa! Chiếc mông mềm như chiếc bánh sữa! Nó thích
thú quá nên cứ ăn sâu vào trong. Rồi ở đó ăn mãi khi đói,
còn khi khát thì uống máu voi. Khi nằm xuống nó trải phần
trong ruột và ngực voi ra như cái giường để ngã lưng, nó
suy nghĩ: "Ở đấy ta đã tìm được thức ăn uống và giường
nằm rồi, vậy còn đi đâu làm gì nữa".
Thế
là nó ở lỳ đó, lòng rất thỏa mãn, trong cái bụng voi và
chẳng hề chui ra ngoài lần nào cả. Dần dần xác voi khô
cứng dưới sức nắng gió, cái chỗ hở phía sau mông voi khép
kín lại. Con chó rừng quằn quại bên trong mất dần máu thịt,
thân thể võ vàng, song không tìm được cách thoát ra ngoài.
Rồi
một ngày kia, có cơn bão rớt thình lình, cái lỗ hở ấy
thấm nước và mềm ra bắt đầu hé miệng. Khi thấy khe hở,
Chó rừng kêu lên:
- Lâu
nay ta đã bị hành hạ quá nhiều, giờ đây ta phải thoát
ra bằng lỗ này.
Rối
nó đi ra lỗ đó bằng cái đầu trước tiên. Bấy giờ cái
lỗ còn hẹp mà nó ra mau quá nên thân thể bầm dập và lông
lá rụng xuống đất. Khi ra ngoài được rồi, nó trần trụi
như khúc thân dừa, không còn một sợi lông nào nữa! Nó suy
nghĩ: "À, vì tham ăn mà ta ta chịu nông nỗi cực khổ này.
Ta chẳng bao giờ muốn đi ra kiếm mồi nữa cho đến khi ta
học được cách chế ngự dục tham trong ta".
Sau
đo, nó đi đến ẩn am kia, quyết giữ hạnh nguyện chế ngự
dục tham và nằm xuống một bên.
Phần
con Gấu ra khỏi rừng và vì lòng tham ăn thúc đẩy nó đi
về phía làng biên địa của quốc độ Malla.
- Con
Gấu đây này!
Toàn
dân làng la to lên, họ bước ra trang bị đầy cung , gậy,
giáo và nhiều thứ khác nữa, vây quanh bụi cây mà Gấu đang
nằm. Nó thấy mình bị cả đám người vây quanh thì vụt
chạy trốn đi. Vừa chạy vừa bị đám người ấy đánh cho
một trận nhừ tử bằng cung gậy, về đến hang, nó bị dập
đầu và chảy máu. Nó nghĩ thầm: ' À, chính vì lòng tham ăn
thái quá đã gây cho ta mọi tai họa này. Thôi ta chẳng bao
giờ muốn đi kiếm mồi cho đến khi học được cách nhiếp
phục lòng tham ấy". Vì thế nó đi đến thảo am, quyết giữ
hạnh nguyện nhiếp phục tính tham lam, và nằm xuống một
bên.
Còn
vị tu khổ hạnh này không thể phát khởi Thiền định được
vì ngài vốn vẫn tràn đầy kiêu mạn về dòng dõi quý tộc
của ngài. Một vị Ðộc Giác Phật, nhận thấy ngài đang
bị ngã mạn chi phối, tuy vậy, vị này biết rõ ngài không
phải là người tầm thường. Vị ấy suy nghĩ: "Người này
sẽ thành bậc Chánh Giác, và ngay trong hiện kiếp này người
ấy sẽ đạt Tối thắng trí. Ta muốn giúp người ấy nhiếp
phục ngã mạn và khiến người ấy tụ tập các Thiền chứng".
Vì
vậy trong khi ngài đang ngồi trong thảo am, vị Ðộc Giác Phật
kia từ vùng thượng Tuyết Sơn đi xuống và an tọa trên một
phiến đá của nhà tu khổ hạnh. Vị này bước ra thấy vị
Phật ngồi trên sàn tọa của mình thì do lòng đầy kiêu mạn,
ngài không tự chủ được nữa ngài bước lên búng ngón tay
vào mặt vị kia và kêu to:
- Ðồ
vô tích sự xấu xa kia, thật đáng nguyền rủa, quân giả
dối trọc đầu, tại sao ngươi dám ngồi trên tọa sàng của
ta?
Vị
kia đáp:
- Bạch
Thánh giả, tại sao ngài đầy lòng kiêu mạn thế kia? Ta đã
đạt trí tuệ của một Ðộc Giác Phật, nên ta bảo cho ngài
biết rằng ngay trong chính hiện kiếp này, ngài sẽ được
hoàn toàn giác ngộ. Ngài đã đủ cơ duyên thành Phật! Khi
ngài đã thành tựu Thập hạnh Ba-la-mật và sau một thời
gian dài bằng thời kỳ đó trôi qua, ngài sẽ thành bậc Chánh
giác, danh hiệu là Siddhatha.
Sau
đó vị ấy mới cho ngài biết về danh tánh, dòng họ, gia
tộc, các đệ tử, vân vân...và thêm:
- Vậy
thì bây giờ tại sao ngài quá kiêu mạn và sân hận như vậy?
Việc ấy không xứng đáng với ngài.
Ðó
là lời khuyên của vị Ðộc Giác Phật. Nghe những lời này,
nhà khổ hạnh chẳng nói gì nữa, cũng chẳng đảnh lễ vị
kia, chẳng hỏi xem nơi đâu, bao giờ, và bằng cách nào mình
sẽ thành Phật. Sau đó vị khách lại bảo:
- Ngài
hãy học cách đánh giá dòng dõi của ngài và thần lực của
ta qua việc này, nếu làm được thì hãy bay lên không như
ta đây.
Nói
vậy xong, vị này bay lên không hất tung bụi bám trên đôi
chân mình vào cuốn tóc trên đầu nhà khổ hạnh, rồi lại
trở về vùng thượng Tuyết Sơn.
Khi
vị ấy đi rồi, lòng nhà khổ hạnh tràn ngập đau buồn.
Ngài bảo:
- Ðó
là một bậc Thánh, với tấm thân nặng như thế kia mà có
thể bay qua không gian như một hạt bông bị gió cuốn! Một
vị Ðộc giác Phật như vậy, mà ta chẳng hề hôn chân Ngài,
vì ta đây kiêu mạn về dòng dõi của ta, nên cũng không hỏi
Ngài xem bao giờ ta sẽ thành Phật. Cái dòng dõi này có làm
gì được cho ta đã chứ? Trong thế giới này, cuộc sống
thuần thiện chính là một cách thể hiện uy lực, còn lòng
kiêu mạn của ta chỉ đưa ta đến địa ngục thôi. Vậy ta
sẽ chẳng bao giờ đi kiếm trái rừng nữa, cho đến khi nào
ta học được cách nhiếp phục lòng kiêu mạn của ta".
Sau
đó ngài vào thảo am và quyết giữ hạnh nguyện nhiếp phục
lòng kiêu mạn. Khi tĩnh tọa trên tấm đệm rơm. bậc trí
giả quý tộc kia nhiếp phục được lòng kiêu mạn rồi làm
phát khởi tâm Thiền định, tụ tập các Thắng trí và các
Thiền chứng xong, liền bước ra ngồi trên phiến đá cuối
mái hiên.
Lúc
bấy giờ, chim Bồ câu và các con vật kia đứng lên đảnh
lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên, bậc Ðạo Sư bảo Bồ
câu:
- Các
ngày kia chim chẳng hề đến đây vào giờ này, mà chim đi
kiếm mồi. Vậy hôm nay chim giữ Trai giới đó chăng?
- Thưa
Tôn giả, chính vậy.
Ngài
hỏi:
- Tại
sao thế?
Và
ngài ngâm vần kệ đầu:
1.
Ta chắc giờ chim thiểu dục rồi,
Nay
Bồ câu chẳng muốn tìm mồi,
Tại
sao đành chịu nằm thèm khát,
Sao
nguyện theo Trai giới hỡi ngài?
Bồ câu
đáp lời qua hai vần kệ:
2.
Xin đầy tham đắm, cặp uyên ương
Ðùa
giỡn quanh đây tựa phượng loan,
Ưng
ác chụp nàng, bay biến mất,
Chia
lìa duyên kiếp đã tan hoang!
3.
Con biết niềm mất mát phủ phàng,
Bạo
tàn, khốc liệt biết bao đường,
Con
nhìn mọi vật, lòng đau đớn;
Vì
thế con tìm đến náu nương
Nhờ
giới hạnh, thề nguyền ái dục
Chẳng
bao giờ trở lại lòng con.
Khi Bồ
câu đã tán thán hành động của mình liên quan đến hạnh
nguyện ấy, bậc Ðạo Sư lại hỏi câu đó với con Rắn và
lần lượt các con vật kia. Mỗi con trong bọn chúng đều nêu
lên sự việc như đã xảy ra:
Bồ-tát:
4.
Vật ở cây, bò sát cuộn mình,
Ðầy
răng nhọn hoắc, nọc truyền nhanh,
Rắn
sao muốn giữ truyền Trai giới,
Sao
đói khát cam chịu cố tình?
Con Rắn:
5.
Con bò thôn trưởng thật oai hùng,
Dáng
đẹp, lưng gù cứ chuyển rung,
Bò
gầm lên, con hờn cắn nó,
Ðau
đớn, bò chết ngã lăn đùng!
6.
Dân làng mọi kẻ đổ ra đường,
Than
khóc vì trông thấy tận tường,
Vì
vậy con nương nhờ giới hạnh,
Thề
sân hận chẳng trở về con.
Bồ-tát:
7.
Xác chết, thức ăn quý sẵn đầy,
Nằm
trong nghĩa địa rã tan thây,
Chó
rừng, sao chịu đành thèm khát,
Sao
lại thề tuân giới hạnh này?
Chó rừng:
8.
Tìm được voi và thích thịt ngon,
Con
vào bụng nó ở lỳ luôn
Song
nhiều gió mạnh, trời gay gắt
Làm
héo khô khe hở chó chun!
9.
Tôn giả, con vàng võ, ốm gầy,
Vì
không lối thoát, phải nằm đây,
Rồi
cơn bão nọ bùng vang dội
Làm
ướt, mềm đi ngã hậu này.
10.
Ðể thoát ra, con chẳng chậm đâu
Như
trăng thoát khỏi vuốt la-hầu,
Nên
con chạy đến nhờ Trai giới,
Con
nguyện tham tâm tránh chạy mau.
Bồ tát:
11.
Ngài có thói xưa vẫn kiếm mồi
Nằm
trên tổ kiến, Gấu Ông ơi,
Sao
nay lại chịu nằm thèm khát,
Sao
muốn thề nguyền Trai giới thôi?
Con Gấu:
12.
Bỏ nhà vì quá đói trong lòng,
Con
đến Mal-la, chạy vội vàng
Dân
chúng trong làng đều đổ đến,
Dùng
cung, gậy, chúng đánh hung tàn.
13.
Mình con vấy máu, vỡ tan đầu,
Con
chạy về nơi trú ẩn mau,
Vì
vậy con nguyền theo giới hạnh,
Dục
tham chẳng kéo đến ngày sau.
Như vậy
cả bốn con vật đều tán thán hành động của chúng trong
việc quyết tâm giữ hạnh Trai giới, xong vừa đứng lên đảnh
lễ bậc Ðạo Sư, chúng vừa hỏi ngài câu này:
- Thưa
Tôn giả, các ngày trước ngài ra đi kiếm trái rừng vào giờ
này. Tại sao hôm nay ngài không đi, mà lại hành trì Trai giới?
Chúng
liền ngâm vần kệ này:
14.
Ðiều ấy, ngài mong muốn giải bày,
Mọi
điều con biết, đã thưa thầy,
Song
nay đến lượt mình, xin hỏi:
Tôn
giả sao theo hạnh nguyện này?
Bồ tát:
15.
Một vì Ðộc Giác Phật qua đây
Chốc
lát trong am, đã giải bày
Mọi
việc vãng lai, danh tiếng, hiệu,
Gia
đình và đạo lộ sau này.
16.
Ta không quỳ, bởi quá kiêu căng
Ở
trước chân Ngài, chẳng hỏi han,
Vì
thế, ta nương vào giới hạnh,
Ðể
kiêu căng ấy chẳng đeo gần.
Bằng
cách ấy, bậc Ðạo Sư giải thích việc hành trì hạnh nguyện
của mình. Sau đó ngài thuyết giáo cho chúng, bảo chúng ra
đi và ngài bước vào thảo am. Các con vật kia trở về chốn
ở của mình. Bậc Ðạo Sư không hề gián đoạn tâm Thiền
định nên được sinh vào cõi Phạm thiên. Còn các con vật
ấy tuân hành lời thuyết giáo của ngài nên đã lên cộng
trú đông đảo với Thiên chúng.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:
-
Như vậy, này các cư sĩ, giữ hạnh nguyện Trai giới là một
tập tục của các bậc trí ngày xưa, và nay các ông phải
biết hành trì.
Rồi
ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, Anuruddha (A-na-luật) là chim Bồ câu, Kassapa (Ca-diếp)
là con Gấu, Mục-kiền-liên là Chó rừng, Sàriputta (Xá-lợi-phất)
là con Rắn, và Ta chính là nhà tu khổ hạnh kia.
-ooOoo-
491.
Chuyện Ðại Khổng Tước (Tiền thân Mahà-Mora)
Bắt
ta, bạn sẽ được ngàn vàng...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo thối thất.
Bậc
Ðạo Sư bảo vị Tỷ-kheo này:
-
Có đúng như Ta nghe nói là ông đã thối thất chăng?
-
Thưa vâng, bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.
Ngài
liền nói:
-
Này Tỷ-kheo, chẳng lẽ lòng tham muốn dục lạc này lại không
đánh bại một người như ông sao? Trận cuồng phong hoành
hành khắp núi Sineru (Tu-di) cũng chẳng nao núng trước một
ngọn lá khô đâu. Ngày xưa tham dục này đã đánh bại các
bậc thanh tịnh, là những vị đã lánh xa bảy ngàn năm khỏi
mọi tham dục khởi lên trong tâm mình.
Cùng
với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh vào bụng một con Công mái ở một vùng biên địa.
Khi thai kỳ đã mãn, Công mẹ sinh trứng ở một nơi nó kiếm
mồi và bỏ đi xa. Lúc bấy giờ trứng chim công khỏe mạnh
chẳng bị tai nạn gì nếu không có những mối hiểm nguy từ
loài rắn hay các loài bọ tai hại tương tự như thế.
Vì
vậy cái trứng Công này có màu vàng óng như chồi cây Kanikara;
khi nó đã đủ thuần thục thì tự nó nứt ra, và một con
Công xuất hiện có màu vàng óng ánh, với con mắt như trái
Gunja, chiếc mỏ màu san hô, và ba sọc đỏ chạy quanh cổ
xuống đến giữa lưng. Khi chim lớn lên, thân mình to bằng
chiếc xe đẩy của người bán hàng, trông thật đẹp mắt,
nên cả đàn Công màu đen tụ tập lại chung quanh bầu chim
Công này làm chim đầu đàn.
Một
hôm chim Công đang uống nước trong hồ, nhìn thấy vẻ đẹp
của mình liền suy nghĩ: "Ta đẹp nhất trong đám công. Nếu
ta ở chung với chúng giữa mọi nẻo đường đời, ta sẽ
gặp nguy hiểm. Ta muốn đi xa đến vùng Tuyết Sơn, và ở
đó một mình tại một nơi vừa ý". Thế là về đêm, khi
cả đàn công lui về nơi trú ẩn riêng biệt kín đáo, Công
ra đi mà không ai biết, về phía khu vực Tuyết Sơn, sau khi
băng qua ba rặng núi, Công vào ẩn thân tại rặng thứ tư.
Ðây là khu rừng mà Công khám phá ra một hồ thiên nhiên rộng
bát ngát phủ đầy hoa sen, không xa một cây đa cạnh một
ngọn đồi, Công chúa đậu trên cành cây này. Trong lòng ngọn
đồi này có một hang động kỳ thú, và vì muốn ở đó nên
Công chúa đậu trên một vùng đất phẳng ngay trước miệng
hang.
Lúc
bấy giờ không ai có thể trèo đến chốn này được dù từ
dưới lên hay trên xuống, cho nên nó tránh khỏi mọi nỗi
lo sợ về chim muông, mèo rừng, rắn rít hay loài người. "Ðây
là một nơi thích thú dành cho ta!" Công suy nghĩ. Hôm ấy Công
ở đó và sáng hôm sau bước ra khỏi hang, Công đậu trên
đỉnh đồi hướng về phía đông. Khi Công thấy mặt trời
lên, Công tự vệ mình trong ngày sắp đến bằng cách đọc
câu ca:
- Ngài
đã hiện ra, đấng Toàn tri.
Sau
đó Công đi kiếm mồi. Buổi chiều, Công lại trở về đậu
trên đỉnh đồi hướng về phía Tây., và khi nhìn thấy mặt
trời biến mất dạng, Công tự vệ mình trước màn đêm sắp
buông xuống bằng cách đọc câu ca:
- Ngài
đã lặn kia, đấng Toàn tri.
Bằng
cách ấy cuộc đời Công cứ trôi qua (Xem lại Tiền thân số
159 tập II: Mora Jàtaka).
Song
một hôm có người thợ săn ở trong rừng bất chợt thấy
Công đang đậu trên đỉnh đồi ấy và trở về nhà. Khi lão
sắp chết, lão bảo với con trai về chuyện ấy:
- Này
con, trong rặng núi thứ tư của dãy kia, trong rừng có một
con Công màu vàng ánh. Nếu nhà vua muốn có một con Công như
vậy, thì con biết nơi kiếm nó rồi đấy.
Một
ngày kia chánh hậu của vua Ba-la-nại tên là Khema, (Thái Hòa)
nằm mộng về tảng sáng, và giấc mộng diễn ra như thế
này: "Một con Công màu vàng óng đang thuyết Pháp và bà chăm
chú nghe rất hoan hỷ. Khi Công đã thuyết Pháp xong liền bay
lên ra đi, bà vội kêu to: "Kìa chúa Công đang chạy thoát,
hãy bắt Công lại ngay!" Và trong khi bà thốt lên các lời
này, bà liền thức dậy. Khi tỉnh lại, bà biết đó chỉ
là giấc mộng, và suy nghĩ: "Nếu ta trình đức vua đó là
cơn mộng, thì ngài sẽ chẳng quan tâm đến, song nếu ta bảo
đó là niềm mong ước của một thai phụ thì ngài sẽ lưu
ý ngay".
Thế
là bà liền giả bộ làm như thể bà đang khao khát một thứ
gì đó theo cách thông thường của một thai phụ, và nằm
xuống. Nhà vua đến viếng bà và hỏi bà đau bệnh gì. Bà
đáp:
- Thần
thiếp đang có một niềm khát vọng.
- Ái
khanh ao ước điều gì thế?
- Tâu
Chúa thượng, thần thiếp ước ao nghe lời thuyết Pháp của
một con chim Công màu vàng ánh.
- Song,
này ái khanh, ta tìm đâu ra được một con chim như vậy?
- Như
vậy thì, tâu chúa thượng, thần thiếp sẽ chết mất.
- Này
ái khanh, đừng lo buồn chuyện ấy, nếu nơi nào có con chim
như vậy thì nó sẽ được bắt về cho ái khanh.
Nhà
vua an ủi bà như vậy rồi đi ra ngoài ngồi xuống hỏi các
triều thần:
- Này
các khanh, chánh hậu ao ước nghe bài thuyết giảng của một
con chim Công vàng ánh. Vậy có loại Công vàng ánh ấy chăng?
- Tâu
Chúa thượng, các Bà-la-môn biết chuyện đó.
Nhà
vua hỏi các Bà-la-môn. Họ đáp như vậy:
- Tâu
Ðại vương, theo những vần kệ nói về điềm lành của chúng
thần, thì trong loài thủy tộc có cá rùa, cua, trong các loài
thú rừng thì có hươu, nai, thiên nga, công, trĩ...các loài
đó cùng loài người, đều có thể sinh ra với sắc vàng ánh.
Sau
đó nhà vua triệu tập tất cả thợ săn trong quốc độ lại
và hỏi họ có bao giờ từng thấy con Công váng ánh chưa.
Bọn họ đều trả lời không, trừ người thanh niên đã được
cha mách bảo cề chuyện ông ta đã thấy. Gã đáp:
- Chính
hạ thần chưa thấy, song thân phụ hạ thần đã bảo cho thần
biết một nơi có thể tìm ra một chúa Công vàng ánh.
Nhà
vua liền bảo:
- Này
hiền hữu, đây là chuyện sống chết của trẫm và chánh
hậu; vậy hãy cố bắt lấy Công ấy đem về đây.
Nhà
vua cho gã thật nhiều tiền bạc và bảo gã ra đi.
Gã
ấy đem tiền về cho vợ con rồi đi đến nơi kia gã thấy
bậc Ðạo Sư, gã đặt bẫy bắt ngài. Mỗi ngày gã tự nhủ
thầm là chắc chắn sẽ bắt được chim Công; tuy nhiên gã
chết đi mà chẳng bắt được Công ấy. Rồi chánh hậu cũng
từ trần mà không thỏa tâm nguyện. Nhà vua nổi trận lôi
đình và ngài phán:
- Ái
hậu của trẫm đã qua đời vì chim Công này.
Rồi
nhà vua truyền lệnh chép câu chuyện ấy vào một phiến bằng
vàng kể rằng trong rặng thứ tư của khu vực Tuyết Sơn có
con chim Công vàng sống ra sao, hễ ai ăn được thịt nó sẽ
trường xuân bất tử. Nhà vua đặt phiến vàng ấy trong kho
báu và sau đó qua đời.
Kế
vị vua ấy, một vua khác lên ngôi, đọc lời lẽ câu chuyện
ghi trên phiến vàng nên ước mong được trường xuân bất
tử, liền cho người thợ săn đi bắt chim Công; song nhà vua
ấy cũng chết trước khi mãn nguyện giống như vua kia.
Cùng
cách ấy, sáu vị vua kế tiếp qua đời và sáu người thiện
xạ chết đi mà không được kết quả gì ở khu vực Tuyết
Sơn cả. Song người thợ săn thứ bảy, được nhà vua thứ
bảy phái đi, không thể nào bắt được chim suốt bảy năm
liền mặc dù mỗi ngày gã đều mong đợi chuyện ấy, nên
bắt đầu suy nghĩ không biết tại sao lại không thể bắt
được đôi chân chim sa vào bẫy.
Vì
thế gã ngắm nghía chim, thấy chim cầu nguyện để được
phù hộ mỗi buổi sáng tối đều đặn, và gã lý luận về
trường hợp này như sau: "Không có con chim Công nào khác ở
vùng này, rõ ràng đây đúng là chim Công sống đời thanh tịnh.
Chính uy lực đời sống thanh tịnh của chim ấy cùng uy lực
của thần chú hộ mệnh đã khiến cho đôi chân chim không
bao giờ sa vào bẫy của ta được". Khi kết luận như vậy
rồi, gã đi đến vùng biên địa bắt một con công mái, mà
gã luyện cho nó hót tiếng gáy mỗi khi gã búng tay, và xòe
cánh múa mỗi khi gã vỗ tay.
Gã
đem chim mái trở về, rồi đặt bẫy trước khi Bồ-tát đọc
thần chú hộ mệnh, gã búng tay và làm cho công mái gáy. Công
trống nghe tiếng gáy ấy lập tức ác dục đã ngủ yên suốt
bảy ngàn năm, bỗng vùng dậy như con rắn hổ mang giương
mào lên khi bị đánh. Bị ác dục làm cho mê muội, chim Công
không thể nào đọc thần chú hộ mệnh nữa, mà vội vàng
bay về phía chim mái, từ trên không chim hạ cánh xuống đặt
đặt đôi chân ngay vào bẫy: chiếc bẫy kia suốt bảy ngàn
năm chẳng đủ uy lực bắt chim, nay đã kẹp chặt lấy chân
chim thần.
Khi
người thợ săn thấy chim nằm tòn teng ở cuối sợi dây,
gã nghĩ thầm: "Sáu người thợ săn trước đã không thể
bắt được chim Công chúa này và trong bảy năm liền ta cũng
không bắt được nó. Nhưng hôm nay, ngay khi chim đâm si tình
chim mái, thì nó không đọc thần chú được, nên sa vào bẫy
và bị bắt, nó đang nằm tòn teng với cái đầu lộn ngược
kia kìa. Ôi sinh vật mà ta đã làm hại kia thật là đức hạnh!
Nếu ta giao một linh vật như vậy cho một người khác chỉ
vì bị mua chuộc tiền bạc thì thật là không xứng đáng:
Danh vọng của vua chúa có nghĩa gì đối với ta đã chứ?
Ta muốn thả chim ấy bay đi".
Nhưng
rồi gã lại nghĩ: "Ðó là một thần điểu kỳ dị phi thường,
nếu ta đến gần nó, nó sẽ tưởng ta đến để giết nó,
nó sẽ lo sợ cho tính mạng của mình mà vùng vẫy, thì có
thể gãy chân hay cánh. vậy ta không muốn đến gần nó, mà
chỉ đứng ẩn mình và cắt đứt cái thòng lọng bằng một
mũi tên bắn ra. Sau đó chim muốn đi đâu tùy ý". Thế là
gã đứng ẩn mình, giương cung lên, lắp một mũi tên vào
dây và kéo ra sau.
Bấy
giờ chim Công trống suy nghĩ: "Người thợ săn này đã làm
ta mê mệt vì ái dục, và khi thấy ta bị sa bẫy rồi lại
không còn quan tâm đến ta nữa. Gã ấy ở đâu kìa?" Chim Công
cứ nhìn hướng này hướng nọ, và thấy người kia đứng
với cây cung sẵn sàng bắn. "Chắc chắn gã muốn giết ta
rồi ra đi". Chúa Công suy nghĩ và sợ chết nên ngâm vần kệ
đầu xin tha mạng:
1.
Bắt ta, bạn sẽ được ngàn vàng,
Bắt
sống, xin đừng bắn bị thương,
Van
bạn đem ta về chúa thượng,
Chắc
ngài sẽ thưởng thật giàu sang.
Nghe vậy,
người thợ săn suy nghĩ: "Ðại khổng tước này tưởng ta
sắp bắn nó bằng mũi tên đây. Ta phải trấn an nó mới được".
Vì mục đích ấy, gã ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Trên cung, ta chẳng ráp tên này
Ðể
bắn chim, Công chúa, ở đây
Ta
muốn cắt dây thòng lọng ấy
Ðể
chim tùy ý, hãy xa bay!
Nghe lời
này, chim Công chúa đáp qua hai vần kệ:
3.
Bảy năm theo đuổi, thợ săn này,
Ðói
khát, bạn cam chịu tháng ngày,
Bạn
muốn gì, nay ta mắc bẫy,
Vì
sao muốn thả để ta bay?
4.
Hiển nhiên mọi vật được an lành,
Bạn
nguyện từ đây bỏ sát sinh,
Mắc
bẫy thân ta, tuy thế bạn
Muốn
ta được thả để bay nhanh!
Thọ
săn tiếp theo:
5.
Khi người từ bỏ sát quần sinh,
Nhờ
nó, muôn loài thoát hãi kinh,
Phước
đức nào đời sau sẽ đến,
Việc
này, Khổng tước đáp cho mình.
Công
chúa:
6.
Nhờ nó muôn loài thoát hãi kinh
Khi
người thề chẳng sát quần sinh,
Ðời
này nó được nhiều ca ngợi,
Thiên
giới, đời sau hưởng phước lành.
Thợ
săn:
7.
Nhiều người nói chẳng có Thiên thần,
Cực
lạc, đời này có thể mang;
Sinh
quả dữ lành ngay hiện tại;
Vì
nhiều bậc Thánh đã cho rằng:
Thi
ân là việc đầy ngu xuẩn,
Vì
thế tôi thường đánh bẫy săn
Chim
thú, giờ đây tôi muốn hỏi:
Lời
kia xứng đáng để tin chăng?
Lúc ấy
bậc Ðạo Sư quyết định giảng cho người này biết quả
thực có đời sau, nên trong lúc ngài đang nằm lủng lẳng
ở cuối sợi dây, đầu lộn ngược xuống đất, ngài ngâm
vần kệ:
8.
Ðôi vầng nhật nguyệt rõ ràng ràng
Ði
khắp trời cao tỏa sáng quang;
Người
gọi là gì nơi hạ giới,
Thuộc
về cõi khác hoặc trần gian?
Người
thợ săn ngâm vần kệ đáp lại:
9.
Rõ ràng nhật nguyệt thấy đôi vầng
Ði
khắp trời cao, tỏa ánh quang;
Chúng
chẳng thuộc về nơi hạ giới,
Mà
về cõi khác: miệng người trần.
Lúc ấy
bậc Ðạo Sư bảo gã:
10.
Vậy chúng đều sai lạc cả bầy,
Những
người gian dối nói như vầy!
Chẳng
vì duyên cớ gì đi nữa
Lại
bảo chỉ riêng thế giới này
Mang
nghiệp quả lành hay quả dữ,
Còn
xem bố thí việc ngu thay!
Trong
khi bậc Ðạo Sư nói, người thợ săn suy nghĩ rồi ngâm hai
vần kệ:
11.
Ðiều này ngài nói quả là chân,
Sao
có người kia lại bảo rằng:
"Bố
thí không mang về kết quả?
Rằng
đây, ngay ở cõi phàm trần.
Người
ta gặt quả lành hay dữ,
Bố
thí là công việc độn đần?"
12.
Cách nào nên sống, phải làm gì?
Thánh
đạo là đâu, phải bước đi?
Công
chúa, xin ngài cho lão biết,
Pháp
môn khổ hạnh phải hành trì,
Cầu
mong lão được chim Công chúa
Cứu
khỏi chim vào địa ngục kia!
Khi nghe
vậy, bậc Ðạo Sư suy nghĩ: "Nếu ta giải đáp vấn đề này
cho gã, thì cả thế giới này đối với gã thành ra trống
rỗng và hư vọng. Lần này ta sẽ nói cho gã biết bản chất
của các Thánh giả Bà-la-môn chân chính". Với ý định trên,
ngài ngâm hai vần kệ:
13.
Người truyền khổ hạnh ở trần gian,
Chằng
ở nhà đâu, đắp áo vàng,
Sáng
sớm đi ra đường khất thực,
Không
đi chiều tối: chính hiền nhân.
14.
Ðúng thời thăm các thiện nhân vầy,
Bạn
sẽ vui lòng, dẫu hỏi ai
Giải
vấn đề, vì chư vị biết
Cõi
trên kia với cõi đời náy.
Khi nói
như vậy ngài muốn cho kẻ kia phải biết kinh sợ cảnh giới
địa ngục. Còn người ấy đã đạt đến tri kiến viên mãn
của một vị Ðộc Giác Phật, vì người ấy đã sống đến
độ tri kiến sắp thành thục, như búp hoa sen tròn đầy sung
mãn đợi chờ các tia nắng chiếu vào. Trong lúc người thợ
săn nghe bài thuyết Pháp của ngài, ngay tại chỗ người ấy
đang đứng, người ấy hiểu lập tức mọi yếu tố cấu
tạo nên các vật hữu hình (tứ đại), thấu suốt cả ba
đặc tính căn bản của chúng (đó là: vô thường, khổ, vô
ngã) và thâm nhập tri kiến của một Ðộc Giác phật. Tri
kiến trên của vị này cùng với việc giải thoát bậc Ðạo
Sư khỏi cái bẫy kia xảy ra cùng một lúc. Vị Ðộc giác
Phật, sau khi đã đoạn diệt mọi dục tham của mình, đang
đứng trên bờ sinh tử cuối cùng, liền thốt lên cảm thán
nguyện trong vần kệ này:
15.
Như rắn lột quăng lớp vỏ tàn,
Lá
khô cây trút lúc xanh dần,
Hôm
nay ta bỏ nghề săn bắn,
Mãi
mãi xa lìa nghiệp thợ săn.
Sau khi
thốt lên ý nguyện cao cả của mình, vị ấy suy nghĩ: "Ta
vừa được giải thoát khỏi các dây trói buộc của ác dục;
song ở nhà ta còn rất nhiều chim đang bị giam cầm, vậy làm
thế nào ta giải thoát cho chúng đây?" Vì thế vị ấy hỏi
bậc Ðạo Sư:
- Tâu
Khổng tước Ðại vương, ta còn giam cầm nhiều chim tại nhà,
làm sao ta giải thoát cho chúng được?
Lúc
bấy giờ Bồ-tát là bậc toàn tri, có tri kiến tinh thông mọi
đường lối và phương tiện hơn cả một vị Ðộc Giác Phật,
nên ngài bảo:
- Khi
ngài đã phá vỡ sức chi phối của tham dục và thâm nhập
tri kiến của một vị Ðộc Giác Phật, nhờ lẽ đó ngài
hãy tuyên thệ điều Chân lý, thì trong toàn cõi Diêm phù-đề
sẽ không còn sinh vật nào bị giam cầm nữa cả.
Sau
đó, vị kia vừa đi vào bằng cánh cửa mà Bồ-tát mở ra
như vậy, vừa ngâm vần kệ này tuyên thệ một hành động
Chân lý:
16.
Tất cả chim nào ta đã giam
Trong
nhà, ta có đến hàng trăm,
Nay
ta trả cuộc đời cho chúng
Về
tổ, bầy chim được thoát nạn.
Lúc ấy,
nhờ hành động Thề nguyền Chân lý kia, dù đã muộn, tất
cả bầy chim cũng được thoát cảnh giam cầm, ríu rít líu
lo bay về tổ của mình. Cùng lúc ấy, khắp cõi Diêm-phù-đề
tất cả mọi sinh vật đã bị bắt đều được thả tự
do, không còn con vật nào sót lại trong cảnh giam cầm cả,
dù chỉ là con mèo.
Vị
Ðộc Giác Phật ấy giơ tay lên vừa xoa trán mình, lập tức
các dấu vết của dòng họ cũ biến mất và dấu hiệu của
bậc tu hành xuất hiện vào chỗ ấy. Lúc bấy giờ, vị này
trông giống như một Trưởng Lão Tỳ kheo đã sáu mươi tuổi,
đắp y đầy đủ, mang tám vật cần thiết (bình bát, ba y,
đai lưng, dao cạo, cây kim và cái lọc nước), cung kính đảnh
lễ chim Công chúa, và đi diễu quanh ngài, thân hướng về
phía hữu, rồi bay vụt lên không gian đến tận một hang động
trên đỉnh núi Nanda. Chúa chim Công cũng bay ra khỏi cái bẫy,
kiếm mồi và trở về chốn ở của mình.
*
Vần
kệ cuối cùng do bậc Ðạo Sư ngâm kể chuyện suốt trong
bảy năm trời người thợ săn quanh quẩn với chiếc bẫy
trong tay và sau đó được giải thoát khỏi khổ đau nhờ chim
Công chúa như thế nào:
17.
Thợ săn xuyên suốt khắp rừng cây
Tìm
kiếm chúa Công, bẫy dưới tay,
Ðã
giải thoát đau cho Khổng tước
Khi
vừa bị bắt, giống Ta đây.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các
Sự Thật, vị Tỷ-kheo thối thất kia đã đắc Thánh quả
(A-la-hán).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, Ta là chim Công chúa kia.
-ooOoo-
492.
Chuyện lợn rừng của thợ mộc (Tiền thân Taccha-Sùkara)
Lang
thang tìm kiếm khắp xa gần...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hai Trưởng
lão.
Người
ta đồn rằng khi vua Mah Kosala (Ðai vương xứ Kiều-tát-la)
gả con gái cho vua Bimbisàra (Tần-bà-sa), ngài đã chia phần
nàng một ngôi làng ở Kàsi để nàng lấy tiền mua dầu thơm
tắm gội. Sau khi vua Ajàtasattu (A-xà-thế) sát hại vua cha (Tần-bà-sa),
thì vua Pasennadi (Ba-tư-nặc), con của vua Mahà-Kosala phá hủy
ngôi làng ấy. Trong các trận chiến xảy ra giữa hai nước
về chuyện này, ban đầu chiến thắng thuộc về Ajàtasattu
(A-xà-thế). Còn vua Kosala thua trận liền hỏi các vị quân
sư:
-
Ta lập mưu gì để bắt A-xà-thế được chăng?
Các
vị ấy đáp:
-
Tâu Ðại vương, Tăng chúng có đại tài về thần chú. Hãy
phái sứ giả đến hỏi ý kiến của Tăng chúng tại tinh xá.
Vua
đồng ý việc này. Vì thế vua truyền quân hầu tới, bảo
họ đi đến đó, ẩn mình ở nơi kín, để nghe lóm câu chuyện
giữa Tăng chúng.
Bấy
giờ tại Kỳ Viên có một số đại thần của nhiều vua chúa,
đã từ giã thế tục xuất gia. Hai người trong đám ấy là
hai Trưởng lão, sống trong môt thảo am ở bên ngoài tinh xá,
một vị tên là Trưởng lão Dhanuggaha-tissa, vị kia là Trưởng
lão Mantidatta. Hai vị đã ngủ suốt đêm, và thức dậy khi
vầng đông vừa hé.
Trưởng
lão Dhanuggaha-tissa bảo, trong khi nhóm lửa:
-
Thưa Hiền giả Tỷ-kheo Datta.
-
Thưa vâng, Hiền giả bảo gì?
-
Hiền giả đang ngủ chăng?
-
Thưa không, tôi không ngủ. Ta phải làm gì bây giờ?
-
Này, vua Kosala thật là một kẻ ngu ngốc bẩm sinh, vua ấy
chỉ biết một chuyện là ăn cả đống thức ăn tạp nhạp.
-
Thưa Hiền giả muốn nói gì thế?
-
Vua ấy đã để cho vua Ajàtasattu đánh bại, mà Ajàtasattu có
hơn gì con giun trong bụng vua ấy đã chứ?
-
Vậy thì vua ấy phải làm gì đâ?
-Này
Trưởng lão Datta, Hiền giả phải biết có ba cách bày binh
bố trận: bày binh hình Chiếc xe, bày binh hình Bánh xe, và
bày binh hình Hoa sen. Chính là cách bày binh hình Chiếc xe ấy,
vua kia phải sử dụng để bắt Ajàtasattu. Vua ấy phải bố
trí các dũng sĩ hai bên cạnh mình trên đỉnh đồi, rồi dàn
đạo binh chính yếu ra trước mặt trận: một khi vua kia lọt
vào giữa rồi và vừa nhảy ra vừa hét lớn, thì họ bắt
ngay vua kia như cá nằm trong giỏ. Ðó là cách bắt Ajàtasattu
đấy.
Cả
đám sứ giả này nghe hết mọi chuyện đó và trở về tâu
trình với vua mình, vua lập tức đem một đạo quân lớn ra,
bắt được Ajàtasattu làm tù binh và trói lại bằng các dây
xích xiềng. Sau khi trừng phạt như vậy vài ngày, vua này thả
vua kia ra, khuyên không nên làm chuyện như trước nữa, và
để an ủi vua Ajàtasattu , vua lại đem chính con gái mình là
công chúa Vajirà gả cho vua Ajàtasattu rồi tiễn đưa về nước
rất trọng thể.
Giữa
Tăng chúng có lời bàn tán chuyện này rất nhiều:
-
Ajàtasattu đã bị vua Kosala bắt sống theo lời chỉ dẫn của
Trưởng lão Dhanuggaha-tissa.
Tăng
chúng cũng đàm luận việc này tại Chánh pháp đường và
khi bậc Ðạo Sư đi vào, Ngài hỏi Tăng chúng đang nói chuyện
gì. Tăng chúng trình với ngài. Sau đó ngài bảo:
-
Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu Dhanuggaha-tissa
biểu lộ tài nghệ về chiến lược đâu.
Và
ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ có một người thợ mộc sống trong ngôi làng gần
cổng thành Ba-la-nại, đi vào rừng đốn củi. Ông tìm được
một con Lợn rừng đực rớt xuống hố, liền đem về nhà
nuôi nấng và đặt tên là Lợn rừng của Thợ mộc. Con Lợn
rừng trở thành tên đầy tớ của ông. Nó nhổ bật cây cối
lên bằng chiếc mõm và đem về nhà cho ông, nó buộc cái dây
đo đạc quanh mũi nó và kéo lê đi, rồi tìm thấy cái rìu,
cái đục, cái vồ ngậm trong miệng.
Khi
Lợn rừng khôn lớn, nó thành một con vật lực lưỡng dị
thường, người thợ mộc thương yêu nó như con ruột mình,
và sợ có ai làm hại nó, nên thả nó vào rùng. Con Lợn rừng
suy nghĩ: "Ta không thể sống một mình bơ vơ trong rừng này.
Nếu ta kiếm bà con và ở với chúng chẳng hay lắm sao?" Vì
thế nó tìm bầy lợn khắp rừng cây, cho đến khi gặp được
cả đàn, nó rất vui mừng, liền ngâm ba vần kệ:
1.
Lang thang tìm kiếm khắp xa gần
Ðồi
núi chung quanh, các khóm rừng,
Thơ
thẩn ta đi tìm quyến thuộc,
Kìa!
Ta tìm thấy đám thân bằng!
2.
Ðây, củ quả rừng phong phú sao
Với
kho thực phẩm thật đồi dào!
Núi
đồi khe suối xinh tươi quá,
Sống
ở đây đời đẹp biết bao!
3.
Ta sống đây toàn quyến thuộc thân,
Hưởng
thư nhàn, chẳng phải băn khoăn,
Cũng
không lo lắng và kinh hãi,
Dù
chuyện gì do phía địch quân.
Bầy
Lợn rừng kia nghe vần kệ này liền đáp lời qua vần kệ
thứ tư:
4.
Cừu địch là đây! Ở chốn nào,
Xin
tìm đường lối ẩn thân vào,
Nó
thường giết hại, này Thợ mộc,
Lợn
đẹp nhất đàn, loại tối cao!
Hỏi:
5.
Kẻ thù các bạn ấy đâu đây?
Nói
thật cho ta, hạnh ngộ thay!
Kẻ
giết họ hàng, ai đó vậy?
Dù
là chưa giết trọn luôn bầy.
Ðáp:
6.
Ðó chính là vua của thú rừng!
Với
răng để cắn, sọc đen vằn,
Ấy
là mãnh thú oai hùng quá,
Thường
giết lợn uu tú nhất đàn!
Hỏi:
7.
Thân thể ta tàn hết lực chăng?
Thế
sao ta lại chẳng nhe răng?
Nếu
ta chung sức thì nhờ vậy
Ta
sẽ thắng ngay chú Cọp vằn!
Ðáp:
8.
Lời nói này nghe tuyệt diệu thay!
Tượng
công, ta thích nói như vầy,
Ðừng
cho chú lợn nào đi trốn,
Hoặc
bị giết sau trận đấu này.
Bấy
giờ Lợn rừng của Thợ mộc đã làm cho cả đàn lợn đồng
tâm nhất trí, liền nói:
- Khi
nào Cọp sẽ đến?
- Hôm
nay nó đã đến sớm và bắt mất một con lợn rồi, ngày
mai nó lại sẽ đến sớm đấy.
Lợn
rừng rất thiện chiến và biết lợi thế để tấn công,
vì vậy có thể đạt được chiến thắng. Lợn rừng nhìn
quanh tìm một nơi, bảo cả đám ăn uống khi đêm chưa đến,
rồi tảng sáng hôm sau nó giải thích cho cả đàn nghe cách
giàn binh gồm ba kiểu: đội hình theo Chiếc xe,v.v...
Sau
đó, nó giàn binh hình Hoa sen theo cách trên. Ở giữa nó đặt
bầy lợn con đang còn bú, chung quanh là mẹ chúng, kế đó
là bầy lợn cái không sinh sản, kế nữa là một vòng gồm
các lợn mới lớn mập mạp, tiếp đến là bầy Lợn có răng
nanh mới nhú, tiếp nữa là bầy lợn có răng nanh đã lớn,
cón đám lợn rừng đực già cả ở ngoài cùng. Rồi nó bố
trí những tiểu đội chừng mười, hai mươi, ba mươi quân
rải rác đây đó. Nó lại bảo chúng đào cho chính nó một
cái hố và một hố cho con Cọp rơi vào có hình rổ sàng:
giữa hai hố đó có để một dãi đất nhỏ cho nó đứng.
Sau đó nó cùng đám lợn đực thiện chiến hùng dũng đi khắp
nơi khích lệ cả đàn.
Trong
khi nó bận rộn như thế thì mặt trời mọc. Con Cọp vừa
ra khỏi vùng thảo am của một nhà khổ hạnh giả danh và
xuất hiện trên đỉnh đồi. Bầy lợn rừng kêu to:
- Thưa
Chúa công, kẻ thù của ta đã đến.
Lợn
rừng bảo:
- Ðừng
sợ, hễ nó làm gì, các bạn cứ làm lại hệt như thế.
Con
Cọp rùng mình thật mạnh, làm như thể sắp đi, rồi tiểu
tiện, bầy lợn cũng làm theo như thế. Con Cọp nhìn bầy lợn
rừng và gầm một tiếng thật lớn, bọn chúng cũng làm y
như vậy. Nhìn thái độ của chúng, con Cọp nghĩ thầm: "Chúng
có vẻ thay đổi, hôm nay chúng đối diện ta như một đám
kẻ thù trong hàng ngũ chỉnh tề, chắc có một tên thiện
chiến nào đó đã tập hợp chúng lại đây; ta không nên đến
gần chúng hôm nay". Vì sợ chết, Cọp cụp đuôi chạy vội
về nhà tu hành giả mạo kia và vị này, khi thấy con Cọp
đi về tay không, liền ngâm vần kệ thứ chín:
9.
Cọp thề bỏ giết mọi loài chăng?
Cọp
đã cho muôn vật vạn toàn,
Chắc
hẳn hàm răng không bén nữa,
Ðàn
heo đã gặp, lại xin ăn?
Nghe thế,
Cọp ngâm ba vần kệ đáp lời:
10.
Răng của ta không cắn được rồi,
Sức
ta đà kiệt quệ mà thôi,
Cùng
nhau, chúng đứng toàn huynh đệ,
Vì
thế ta phiêu bạt lẻ loi.
11.
Xưa, chúng ngược xuôi, bại tẩu nhanh,
Tìm
hang tháo chạy, phách hồn kinh,
Nhưng
nay chúng rống, vòng vây chặt,
Vô
địch, đấu tranh giáp mặt mình!
12.
Bây giờ chúng thỏa thuận đồng tâm,
Chúng
đã bầu lên một tướng quân,
Chúng
hại thân này khi hiệp lực,
Nên
ta thấy chúng, cũng không cần!
Nghe lời
này, nhà tu khổ hạnh giả hiệu đáp lời qua vần kệ sau:
13.
Diều hâu đơn độc giết đàn chim,
Chiến
thắng La thần bởi Ðế thiên,
Khi
mãnh hổ nhìn bầy dã thú,
Lựa
con đẹp nhất, giết êm liền!
Sau đó
Cọp ngâm kệ:
14.
Chẳng diều, chẳng hổ, chúa sơn lâm,
Thiên
chủ, làm sao đủ lực thần
Khống
chế cả bầy heo đánh Hổ,
Họ
hàng hiệp lực để tranh hùng!
Nghe vậy,
vị tu hành giả hiệu lại ngâm hai vần kệ để thúc giục
nó:
15.
Con chim bé bỏng phủ đầy lông,
Bay
nhảy từng đàn lũ thật đông,
Tụ
tập trên cao thành đám lớn,
Cùng
nhau lướt nhẹ khoảng trời không.
16.
Một mình đáp xuống, chú diều hâu,
Trong
lúc cả bầy chúng giỡn nhau,
Tàn
sát chúng ngay như ý muốn,
Ðó
là cách Hổ phải theo mau!
Nói xong,
ông còn khuyến khích Cọp thêm:
- Này
Cọp chúa, ngài chưa biết oai lực của ngài đâu. Chỉ một
tiếng gầm, một bước phóng mình thôi, là ta dám chắc không
sống sót đến hai con lợn nữa đấy!
Con
Cọp làm theo đúng như vậy.
*
Bạc
đạo Sư ngâm kệ để làm sáng tỏ vấn đề này:
17.
Với con mắt ác độc thèm ăn,
Cọp
tưởng lời này quả thật chân,
Can
đảm mồm nhe răng nhọn hoắc,
Nhảy
vào đám lợn cũng đầy răng!
Vậy
là con Cọp quay trở lại và đứng một lát trên đồi. Bầy
lợn rừng báo cho Lợn rừng của Thợ mộc biết rằng con
cọp lại đến, Lợn rừng bảo:
- Ðừng
sợ!
Lợn
trấn an chúng và đến đứng bên bờ giữa hai cái hố. Cọp
phóng nhanh về phía chú Lợn rừng. Song lợn rừng lăn quay
vào hố đầu tiên. Cọp không kiềm hãm được sức phóng
của nó, cũng ngã gọn vào trong cái hố có hình như cái sàn
quạt lúa. Lập tức lợn rừng nhảy lên đâm sâu răng nanh
vào sườn Cọp thấu tận tim nó ra, nhét nó vào hố bên kia,
và kêu to:
- Ðó,
cứ ăn thịt tên khốn kiếp đi!
Con
lợn nào đến trước được ăn thịt cọp thỏa thê, những
con đến sau cứ đi quanh mà hỏi:
- Này,
thịt Cọp mùi vị ra sao đó?
Lợn
rừng của Thợ mộc nhảy ra khỏi hố nhìn quanh cả bọn và
hỏi:
- Nào,
các bạn chẳng thích thịt đó sao?
Song
bọn kia đáp:
- Tâu
Chúa công, Chúa công đã trừ được Cọp, đó mới là một
tên, tuy thế còn một tên nữa nguy hiểm gấp mười lần Cọp
ấy!
- Xin
nói rõ đó là ai thế?
- Một
vị tu khổ hạnh giả hiệu thường ăn thịt mà Cọp kia vẫn
đem đến.
- Vậy
thì ta sẽ đi bắt nó mau lên!
Thế
là cả bọn cùng ra cùng đi.
Bấy
giờ vị khổ hạnh giả hiệu kia đang trông ngóng ra con đường,
chờ mong Cọp đến từng phút. Song vị ấy có thấy gì ngoài
bầy lợn rừng đâu!- "Chúng đã giết Cọp rồi, chắc thế,
và nay chúng lại đến giết ta!" Vị ấy vội chạy trốn và
leo lên một cây sung dại. Bầy lợn rừng báo cho chủ tướng:
- Nó
đã leo lên cây rồi!
- Ðược
lắm, chúng ta sẽ bắt nó tức thì!
Lợn
rừng bảo bầy lợn con ủi đất ra khỏi rễ cây, và bầy
lợn cái hút thật nhiều nước trong mõm đem về, cho đến
khi đứng trơ trụi tận gốc rễ. Sau đó, lợn rừng bảo
bọn kia lui ra rồi chú quỳ xuống lấy răng nanh đâm vào rễ
cây, chú cắt ngang cả rễ như cái rìu vậy, cây liền ngã
xuống song người kia chẳng bao giờ đặt chân xuống đất
được, vì đã bị chúng xé tan từng mảnh mà ăn thịt trên
đường về.
Vừa
chứng kiến việc kỳ diệu hy hữu này, vị Thần cây vừa
ngâm kệ:
18.
Bạn bè hiệp lực tựa cây rừng
Ðó
thật là quang cảnh đáng mừng,
Bầy
lợn hợp quần, làm nhiệm vụ
Giết
ngay Cọp chúa trọn thành công.
*
Và
bậc Ðạo Sư ngâm một vần kệ nữa nói về cách cả hai
con người và vật này bị tiêu diệt như thế nào:
19.
Bầy lợn thế là đã diệt tan
Bà-la-môn
với Cọp đen vằn,
Rồi
gầm thét, chúng la vang dội
Trong
nỗi lòng vui sướng ngập tràn.
Lần
nữa, lợn rừng lại hỏi:
- Thế
các bạn còn kẻ thù nào nữa chăng?
- Tâu
Chúa công, không.
Sau
đó chúng đề nghị làm lễ phong vương quán đãnh cho lợn
rừng. Chúng liền đi tìm nước. Khi thấy vỏ ốc mà vị ẩn
sĩ giả hiệu ấy dùng để uống, đó là chiếc vỏ sò rất
quý với hướng xoắn ốc về phía hữu, chúng liền đổ đầy
nước vào vỏ sò, và làm lễ phong vương cho lợn rừng của
người Thợ mộc ngay dưới gốc cây sung ấy và tại đó,
nước dùng làm lễ quán đảnh được rảy lên đầu lợn
rừng. Một ả Lợn cái son trẻ được chúng bầu làm vương
phi. Từ đó xuất hiện một phong tục còn thịnh hành mãi
cho đến nay, là khi làm lễ tấn phong cho một vị vua, quân
thần đặt vua lên ngự trên một chiếc ngai bằng gỗ sung
và rảy nước lên một cái vỏ ốc có đường xoắn hướng
về phía hữu, đó là một vật rất hiếm và đắt giá, chỉ
dùng cho lễ phong vương.
*
Bậc
Ðạo Sư cũng giải thích việc này bằng cách ngâm vần kệ
cuối cùng:
20.
Bầy heo ở dưới gốc sung rừng
Ðổ
nước thánh đầy để tấn phong
Chú
Lợn rừng con người Thợ mộc,
Ðồng
hô: "Chúa tể của thần dân!"
*
Khi
chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:
-
Không đâu, này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Trưởng lão Dhanuggaha-tissa chứng tỏ mình có tài tinh
thông chiến lược, mà trước kia cũng vậy.
Cùng
với những lời này, Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) là vị khổ hạnh
giả danh, Dhanuggatta-tissa là Lợn rừng của thợ mộc và Ta
chính là thần cây.
-ooOoo-
493.
Chuyện vị đại thương nhân (Tiền thân Mahà-Vànija)
Từ
nhiều quốc độ, các thuơng nhân...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
đám thương nhân sống ở Xá-vệ.
Tương
truyền rằng những người này lúc đi buôn bán xa, đã đem
lễ vật cúng dường bậc Ðạo Sư và an trú vào Tam quy cùng
Ngũ giới. Họ nói:
-
Bạch Thế Tôn, nếu chúng con trở về bình an, chúng con sẽ
hôn chân đảnh lễ Thế Tôn.
Họ
lên đường cùng với năm trăm cỗ xe chất đầy hàng hóa,
chẳng bao lâu vào rừng hoang dã, họ chẳng thấy đường nào
đi nữa. Bị lạc đường, không nước uống thức ăn, họ
băng qua rừng cho đến khi thấy một cây đa khổng lồ có
loài rắn ẩn náu, họ liền thả dây cương xe ngựa ra và
ngồi xuống đó. Nhìn lên đám lá, họ thấy chúng sáng loáng
như thể thấm nước, còn cành cây như mọng đầy nước làm
cho cả bọn suy nghĩ: "Dường như nước đang chảy trong thân
cây này. Ta hãy cắt lấy một nhánh trở về hướng Ðông
xem sao? Chắc là có nước để uống".
Một
người trèo lên cây chặt một cành, từ đó một dòng nước
chảy ra sền sệt như nước trong thân cây thốt nốt, họ
lấy nước rửa mặt và uống. Kế đó họ chặt một cành
ở hướng nam, từ đó xuất hiện đủ loại cao lương mỹ
vị, họ liền ăn uống. Rồi họ chặt một cành ở hướng
Tây này, liền hiện ra một đám nữ nhân xinh đẹp trang sức
lộng lẫy, họ vui chơi hưởng lạc với đám nữ nhân kia.
Cuối cùng họ chặt một nhánh ở hướng Bắc: từ đó rớt
tung tóe bảy báu vật, họ lượm lấy chất đầy năm trăm
xe ngựa và trở về Xá-vệ.
Tại
đó, họ cho người bảo vệ tài vật rất cẩn thận. Rồi
tay mang vòng hoa, hương liệu đủ loại, họ đi đên Kỳ Viên
đảnh lễ bậc Ðạo Sư và cúng dường Ngài xong, liền ngồi
xuống một bên. Ngày hôm ấy, họ nghe thuyết Pháp và hôm
sau họ đem dâng lễ vật rất hào phóng, mà lại khước từ
công đức kia. Họ thưa:
-
Bạch Thế Tôn, công đức của lễ vật này chúng con xin nhường
lại hồi hướng về vị Thần cây đã ban cho chúng con tất
cả tài vật đó.
Khi
cơm nước xong, bậc Ðạo Sư hỏi:
Các
ông muốn hồi hướng công đức này cho Thần cây nào?
Các
thương nhân trình đức Như Lai việc bọn họ đã được cây
đa cho kho báu như thế nào , bậc Ðạo Sư bảo:
-
Các ông đã nhận được kho báu vật ấy vì cách sống tiết
độ của các ông và các ông không buông mình cho dục lạc
chi phối; song ngày xưa, có những người không tiết dục,
và bị dục tham chi phối, nên chúng mất cả tài sản lẫn
tính mạng.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của bọn kia, Ngài kể cho họ nghe một
chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, gần bên thành Ba-la-nại cũng có chính khu rừng hoang này
cùng cây đa này. Một đám thương nhân đi lạc đường và
chợt thấy cây đa ấy.
Với
Trí tuệ Viên mãn của ngài, bậc Ðạo Sư giải thích vấn
đề qua các vần kệ sau:
1.
Từ nhiều quốc độ, các thương nhân
Ðến
họp cùng nhau cả một đoàn,
Bầu
chọn trưởng đoàn và thẳng tiến
Lên
đường tìm kiếm một kho tàng.
2.
Ðoàn lữ hành kia thiếu thức ăn
Ðến
rừng khô cháy nắng oi nồng,
Chợt
nhìn thấy gốc đa hùng vĩ,
Với
bóng cây che mát dịu lòng.
3.
Thế rồi dưới tán là cây che,
Cả
bọn thương nhân thảy dựa kề,
Lý
luận như vầy vì ám độn,
Nghèo
nàn trí tuệ, hóa u mê:
4.
"Cây này đầy ẩm ướt bên trong
Từ
đó hình như nước có dòng,
Ta
hãy chặt từ cây một nhánh,
Cành
nào đã mọc hướng về Ðông".
5.
Cành kia được chặt, nước tuôn dòng,
Từng
giọt tinh nguyên, thật sáng trong,