Chương
XIV
Tạp
phẩm
484.
Chuyện cánh đồng lúa (Tiền thân Sàlikedàra)
Mùa
lúa chiêm vàng thật đẹp thay..,
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình.
Trường
hợp này sẽ được giải thích trong Tiền thân Sàma (số 540,
tập VII). Lúc ấy, bậc Ðạo sư cho gọi Tỷ-kheo này đến
và hỏi:
-
Này Tỷ kheo, Ta nghe nói ông cấp dưỡng người thế tục,
có đúng vậy chăng?
-
Bạch Thế Tôn, đúng vậy!
-
Họ là ai thế?
-
Bạch Thế Tôn, chính song thân của con.
Bậc
Ðạo sư bảo:
-
Này Tỷ-kheo, tốt lành thay! Các trí nhân ngày xưa, ngay khi
còn mang thân thú vật hạ liệt, dù chỉ sinh làm loài Anh vũ,
nhưng khi cha mẹ già yếu, cũng đã đem cha mẹ vào tổ và
nuôi nấng bằng chính thức ăn mà chúng ngậm về trong mỏ
mình.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, vị vua mệnh danh là Ðại vương Magadha (Ma-kiệt-đà)
trị vì tại Ràjagaha (Vương Xá). Thời ấy, có một làng Bà-la-môn,
tên là Sàlindiya ở phía đông bắc kinh thành này. Trong vùng
đông bắc này là địa phận thuộc về nước Ma-kiệt-đà.
Có một Bà-la-môn sống ở Salindiya, tên là Kosiyagotta, chiếm
giữ điền sản cả ngàn mẫu đất để trồng lúa. Khi vụ
mùa đến, ông làm một hàng rào vững chắc, giao đất cho
các gia nhân, có người được năm mươi mẫu, người khác
sáu mươi mẫu, và cứ vậy, vị địa chủ chia khoảng năm
trăm mẫu điền sản cho đám gia nhân.
Còn
năm trăm mẫu kia, ông chủ giao cho một người làm thuê lấy
công, người ấy dựng túp lều và ở đó suốt đêm ngày.
Lúc bấy giờ, về phía đông bắc vùng đồng ruộng này là
một khu rừng cây bông vải rộng lớn, mọc trên một ngọn
đồi bằng phẳng, trong rừng này có một đàn chim Anh vũ (két)
rất đông.
Lúc
bấy giờ, Bồ-tát sinh vào đàn chim Anh vũ này, làm vương
tử của chúa Anh vũ. Ngài lớn lên tốt đẹp và khỏe mạnh,
thân lớn bằng cái trục bánh xe. Bấy giờ, chúa chim đã già,
bảo ngài:
- Nay
ta không thể nào bay ra đồng được nữa, con hãy chăm sóc
cả đàn chim này.
Và
phong cho ngài chức chim chúa. Từ hôm sau, ngài không chịu để
cha mẹ đi kiếm mồi nữa, mà ngài cùng cả đàn bay về vùng
Tuyết Sơn, và sau khi ăn lúa no nê từ đám ruộng mọc hoang
tại đó, ngài trở về mang thức ăn đầy đủ để nuôi cha
mẹ.
Một
ngày kia, đàn chim Anh vũ hỏi ngài một chuyện. Chúng nói:
- Trước
đây, vào lúc này lúa đã chín trong nông trại Ma-kiệt-đà,
bây giờ lúa có được trồng nữa chăng?
Ngài
đáp:
- Cứ
đi xem.
Rồi
ngài bảo hai chim Anh vũ đi tìm hiểu. Ðôi chim Anh vũ bay đi,
và hạ cánh xuống đồng bằng Ma-kiệt-đà ở phần đất
được người làm mướn canh giữ, chúng ăn lúa rồi mang một
cọng lúa về rừng, thả xuống trước đôi chân của bậc
Ðại sĩ và nói:
- Lúa
này mọc tại đó.
Hôm
sau, ngài bay đến nông trại đó và hạ xuống cùng với cả
đàn chim. Người làm công ấy cứ chạy đằng này đến chạy
đằng kia, cố xua đuổi đàn chim, song không thể nào đuổi
chúng được. Cả đàn Anh vũ ăn lúa xong, ra đi với những
mỏ trống không, nhưng chúa Anh vũ thu lượm một số lúa mang
về cho cha mẹ.
Hôm
sau, bầy Anh vũ lại đến đó ăn lúa lần nữa, và hôm sau
nữa cũng vậy. Lúc ấy người kia bắt đầu suy nghĩ: "Nếu
những con vật này cứ tiếp tục ăn thêm vài ngày nữa, thì
ta chẳng còn chút gì. Vị Bà-la-môn kia sẽ định giá cả
cho cả đám lúa này và sẽ phạt tiền ta. Ta phải đi báo
cho ông ấy biết". Vừa cầm lấy một nắm lúa và một món
quà kèm theo, gã đi đến gặp vị Bà-la-môn kia, kính chào
vị ấy và đứng sang một bên. Ông chủ bảo:
- Nào,
anh bạn, có được mùa lúa chăng?
- Thưa
Tôn giả Bà-la-môn, được mùa lắm.
Gã
đáp và ngâm hai vần kệ:
1.
Mùa lúa chiêm vàng thật đẹp thay,
Song
tôi xin nói để ngài hay
Ðàn
Anh vũ phá tan đồng lúa,
Tôi
chẳng làm sao đuổi chúng bay.
2.
Có một chim kia đẹp nhất đàn,
Trước
tiên tìm lúa chín mà ăn,
Rồi
mang một nắm vào trong mỏ,
Ðể
sẵn mai sau những lúc cần.
Khi vị
Bà-la-môn nghe chuyện này lòng phát sinh mối tình thương cảm
đối với chim Anh vũ chúa. Ông hỏi:
- Này
chú, thế chú có biết cách đặt bẫy chăng?
- Thưa
Tôn ông, tôi có biết.
Ông
chủ ấy liền nói với gã qua vần kệ này:
3.
Ðặt bẫy lông đuôi ngựa thế này,
Chim
kia rồi cũng bị sa ngay,
Bắt
cho cẩn thận, chim còn sống,
Rồi
lấy chim về gặp lão đây.
Người
giữ ruộng rất vui mừng vì ông chủ không định giá tiền
về đám lúa kia, và không ai nhắc đến nợ nần cả. Gã đi
ngay và làm một cái bẫy bằng lông đuôi ngựa. Sau đó gã
tìm hiểu xem lúc nào đàn chim sắp đáp xuống ngày hôm ấy,
rồi gã thấy được nơi chúa Anh vũ đậu. Hôm sau từ sáng
sớm gã làm một cái lồng to cỡ bằng cái bình nước và
đặt bẫy rồi ngồi trong lều đợi đàn chim đến.
Chim
chúa đến giữa đàn và chim không tỏ chút gì tham ăn, vừa
bước xuống đúng nơi đã đậu ngày hôm qua, thì chân đặt
ngay vào chiếc thòng lọng. Khi chim thấy chân bị siết chặt,
liền nghĩ thầm: "Nếu bây giờ ta thốt lên tiếng chim của
con chim mắc bẫy, thì đàn chim thân thuộc của ta sẽ kinh
hoàng và chạy trốn mà chưa ăn gì được. Vậy ta phải chịu
đựng cho đến khi chúng ăn xong".
Cuối
cùng, khi chim chúa thấy chúng đã no nê, mới lo sợ cho tính
mạng mình mà thốt lên ba lần tiếng kêu của con chim bị
nạn. Cả đàn chim bay trốn mất. Lúc ấy, chúa chim Anh vũ
bảo:
- Cả
đàn chim bà con quyến thuộc của ta đây, chẳng con nào quay
lại nhìn ta nữa! Ta đã phạm tội gì vậy?
Và
chim cảm hứng ngâm vần kệ quở trách chúng:
4.
Bầy chim ăn uống thật no say,
Rồi
chúng liền tung cánh vút bay,
Bị
bắt mình ta vào chiếc bẫy,
Ta
đà gây tội lỗi gì đây?
Người
giữ ruộng chợt nghe tiếng kêu của chim chúa và âm thanh của
cả đàn chim kia bay qua không gian. "Cái gì đó?" Gã nghĩ thầm.
Gã đứng dậy ra khỏi lều và đi về phía cái bẫy, gã thấy
chim chúa ở đó.
"Ðúng
là con chim mà ta muốn đặt bẫy đã bị bắt". Gã kêu lên
mừng rỡ vô cùng, gã lấy con chim ra khỏi bẫy, buộc đôi
chân vào nhau và đi về phía làng Salindiya, gã giao chim cho vị
Bà-la-môn. Vị này với tình cảm đậm đà dành cho bậc Ðại
sĩ, ôm ngài trong đôi tay, đặt ngài trên đùi mình và nói
chuyện với ngài qua hai vần kệ sau:
5.
Bụng chim lớn vượt các chim kia:
Trước
hết chim ăn bữa thỏa thuê,
Sau
đó ngậm thêm đầy mỏ nữa,
Trước
khi giương cánh rộng bay về.
6.
Chim có một kho phải đổ vào?
Và
chim ghét lão đắng cay sao?
Lão
đòi chim phải trình cho đúng:
Chim
để kho kia ở chốn nào?
Nghe lời
này, Anh vũ chúa đáp lời, ngâm vần kệ thứ tám bằng giọng
người ngọt ngào như mật:
7.
Ta chẳng ghét ngài, Ko-si-ya,
Ta
không hề có vựa kho nhà,
Khi
vào rừng ở, ta hoàn nợ,
Và
cũng cho vay mượn nữa mà,
Nơi
đó ta dồn kho báu mãi,
Ðây
là câu giải đáp phần ta.
Tiếp
theo vị Bà-la-môn hỏi chim chúa:
8.
Món nào chim lại muốn cho vay?
Gì
đó là công phải trả đây?
Cho
biết kho nào đang tích trữ,
Rồi
ta sẽ thả tự do bay.
Chim Anh
vũ chúa vừa đáp lời Bà-la-môn yêu cầu, vừa giải thích
ý định mình qua bốn vần kệ:
9.
Lũ chim non nớt ở nhà ta,
Ðôi
cánh còn chưa mọc đủ ra,
Chúng
sẽ nuôi ta mai mốt nọ,
Nay
ta cho chúng mượn vay mà.
10.
Mẹ cha già yếu cả song thân,
Hai
vị xa dần hạn tuổi xuân,
Với
lúa ta mang trong chiếc mỏ
Ðem
vê dâng trả các ân nhân.
11.
Còn lắm chim đang sống lẻ đơn,
Bầy
chim yếu đuối lại nhiều hơn,
Ta
cho bọn chúng vì từ mẫn:
Ðây
chỗ hiền nhân gọi trữ tồn.
12.
Ðây là phần nợ muốn cho vay,
Ðấy
lại là công phải trả đầy,
Nơi
nọ là kho đang tích trữ,
Giờ
ta phân giải hết lời này.
Vị Bà-la-môn
rất hoan hỷ khi nghe bài thuyết giáo hợp đạo lý này của
bậc Ðại sĩ, liền ngâm hai vần kệ:
13.
Ðạo lý cuộc đời tối thượng thay!
Làm
bao công đức chính chim này!
Từ
mồm nhiều kẻ trên trần thế
Chẳng
có hề nghe luật lệ vầy.
14.
Ăn cho vừa ý thật no nê,
Và
mọi chim thân cũng thỏa thuê,
Anh
vũ, rồi ta còn gặp lại,
Ta
yêu hình bóng bạn quay về.
Cùng
với những lời này, ông nhìn bậc Ðại sĩ với lòng trìu
mến như thể nhìn đứa con yêu quý nhất của mình; rồi thả
dây khỏi chân chim, ông xoa lên đôi chân ấy một loại dầu
quý đã lọc kỹ cả trăm lần, và đặt chim lên một bảo
tọa rất sang trọng, đãi chim ăn món bắp ngọt trên một
cái đĩa vàng và uống nước đường.
Sau
đó chúa Anh vũ vừa khuyên nhủ vị Bà-la-môn tinh cần, vừa
ngâm kệ này:
15.
Trong nhà ngài đấy, Ko-si-ya,
Ta
uống ăn, tình bạn thiết tha,
Xin
hãy cúng dường cho những vị
Trong
đời gánh nặng đã quăng xa,
Và
xin phụng dưỡng song thân đủ,
Khi
các ngài kia đã xế tà.
Lúc ấy
vị Bà-la-môn vô cùng hân hoan trong lòng, cảm hứng ngân nga
nỗi lạc thú lâng lâng của mình qua vần kệ này:
16.
Thần nữ Cát Tường hẳn đến đây
Khi
ta nhìn thấy chúa chim này,
Ta
nguyền thực hiện nhiều công đức,
Chẳng
có bao giờ muốn nghỉ tay,
Vì
giọng chim thần nay lảnh lót,
Ta
vừa nghe thật tuyệt vời thay!
Kế đó,
bậc Ðại sĩ không chịu nhận cả ngàn mẫu ruộng mà vị
Bà-la-môn tặng ngài, nhưng chỉ nhận tám mẫu thôi. Vị ấy
cho xây tường đá làm ranh giới để dành riêng điền sản
cho ngài, rồi lại đưa tay lên đảnh lễ ngài rất cung kính
và nói:
- Xin
Chúa công thượng lộ bình an và mau về khuyên dỗ song thân
đang than khóc.
Xong
ông để ngài bay đi. Ngài rất đẹp ý, ngậm một cọng lúa
đem về cho cha mẹ rồi vừa thả cây lúa trước song thân
vừa bảo:
- Nào
dậy đi thôi, cha mẹ thân yêu của con.
Hai
vị nghe lời ngài liền vùng dậy, mắt nhòa lệ thảm. Sau
đó, cả đàn Anh vũ kia lục tục kéo đến hỏi thăm:
- Tâu
Chúa thượng, ngài làm sao thoát thân được?
Ngài
kể cho chúng nghe toàn câu chuyện từ đầu đến cuối. Còn
gia chủ Kosiya nghe lời khuyên nhủ của chim Anh vũ chúa, đem
phân phát nhiều của cải, bố thí cúng dường các vị chân
nhân, các ẩn sĩ khổ hạnh, cùng các Bà-la-môn nữa.
Vần
kệ cuối cùng do bậc Ðạo sư ngâm để giải thích việc
này:
17.
Ko-si này với đại hân hoan
Thực
phẩm làm phong phú ngập tràn
Ðãi
uống ăn La-môn, Thánh giá,
Bản
thân vị ấy thật hiền lương.
*
Khi
bậc Ðạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
-
Như vậy, này các Tỷ-kheo, phụng dưỡng mẹ cha mình là một
mỹ tục cổ truyền của các bậc trí nhân và thiện nhân.
Sau
đó, Ngài thuyết giảng các Sự Thật và nhận diện Tiền
thân. Bấy giờ, vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
đó đã được an trú vào Sơ quả Dự Lưu:
-
Vào thời ấy, các đệ tử Phật là đàn Anh vũ, phụ hoàng,
mẫu hậu ngày nay là cha mẹ chim chúa, Channa (Xa-nặc) là người
giữ ruộng, Ànanda là vị Bà-la-môn, và Ta chính là chim chúa
Anh vũ kia.
-ooOoo-
485.
Chuyện đôi ca thần Canda (Tiền thân Canda Kinnara)
Chắc
hẳn đời ta sắp sửa tàn..,
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Bồ-đề Lâm gần
Kapilapura, về thân mẫu của Ràhula (La-hầu-la) khi bà còn ở
trong cung.
Tiền
thân này phải được kể bắt đầu từ thời quá khứ xa
xưa của Tiền thân đức Phật. Song câu chuyện về các thời
kỳ này, bắt đầu từ tiếng Sư tử hống của Tôn giả Uruvela
Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp) tại Latthivana (Rừng Mía gần
Trúc Lâm), đã được kể trước kia trong số 1. Tiền thân
Apannaka. Bắt đầu từ đó, ta sẽ đọc trong số 547. Tiền
thân Vessantara phần tiếp theo chuyện cho đến khi Ngài trở
về Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).
Ðang
lúc Ngài ngồi trong cung phụ vương, suốt buổi ăn, bậc Ðạo
sư kể Tiền thân Mahàdhammapàla (số 447) và sau khi buổi ăn
đã xong, Ngài nói:
-
Ta muốn tán thán những đức tính cao quý của mẹ Ràhula (La-hầu-la)
ngay ở nội thất bà bằng cách kể Tiền thân Canda-Kinnara
này.
Rồi
vừa trao bình bát cho vua cha, Ngài cùng hai vị Ðại đệ tử
bước qua cung thất của mẫu thân La-hầu-la. Thời ấy, có
bốn mươi ngàn cung nữ giỏi ca múa hay đến bầu bạn với
bà, trong đó có một ngàn chín mươi nàng là con gái dòng Sát-đế-ly.
Khi bà nghe báo tin đức Như Lai đến viếng, bà ra lệnh tất
cả đám cung nữ này đắp y vàng và hội chúng tuân lệnh.
Bậc
Ðạo sư bước vào, ngồi xuống chỗ đã được dành sẵn
cho Ngài. Lúc ấy, cả hội chúng nữ nhân đều kêu lên một
tiếng và than khóc rền rỉ. Sau khi để mặc dòng lệ tuôn
tràn, bà mẹ của La-hầu-la cố dẹp nỗi sầu riêng, đứng
lên đảnh lễ bậc Ðạo sư và ngồi xuống với vẻ vô cùng
tôn kính dành cho một vị vua. Lúc ấy, phụ vương Ngài bắt
đầu kể đức hạnh của bà:
-
Bạch Thế Tôn, xin hãy nghe đây. Khi nàng hay tin Thế Tôn đã
đắp y vàng, nàng cũng đắp y vàng, Thế Tôn bỏ hết các
vòng hoa và đồ trang sức, nàng cũng bỏ hết mọi thứ và
chỉ nằm ngồi dưới đất. Khi Thế Tôn đã xuất gia, nàng
liền trở thành cô phụ và từ chối mọi tặng vật mà các
vương tử khác gửi đến nàng. Lòng nàng bao giờ cũng trung
thành với Thế Tôn.
Như
thế, phụ vương của Ngài đã kể hết đức hạnh của nàng
trong nhiều cách, bậc Ðạo sư liền bảo:
-
Thưa Phụ vương, thật không lạ gì ngày nay trong đời cuối
cùng của Như Lai, công chúa này đã yêu thương, gìn giữ lòng
trung thành đối Như Lai và chỉ muốn được một mình Như
Lai dìu dắt mà thôi. Quả vậy, ngay cả khi được sinh làm
loài phi nhân, bà cũng giữ dạ thủy chung với phu quân mình
mà thôi.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của vua cha, Ngài kể một chuyện quá
khứ.
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, bậc Ðại sĩ
được sinh trong vùng Tuyết Sơn làm một vị Tiên Kinnara (Khẩn-na-la:
Ca thần) tên là Canda hay Nguyệt Lang, vợ ngài là Candà hay
Nguyệt Nga. Cả hai vị sống cùng nhau trên một hòn núi bạc
tên là Canda-pabbata hay Nguyệt Quang.
Thời
ấy, vua Ba-la-nại giao phó việc triều chính cho các quan đại
thần, một mình vua khoác hai chiếc hoàng bào, trang bị năm
thứ vũ khí và tiến về vùng Tuyết Sơn nọ.
Trong
lúc đang thưởng thức món sơn hào, vua chợt nhớ nơi có con
suối nhỏ, nên bắt đầu leo lên đồi. Thời bấy giờ, đôi
tiên sống trên đỉnh Nguyệt Sơn thường ở trong núi vào
mùa mưa, và chỉ xuống núi vào mùa nắng. Vừa lúc ấy, tiên
nam Canda cùng vợ hạ sơn và đi quanh quẩn. Ðôi tiên tầm
nước hoa, ăn phấn hoa, mặc xiêm y bên trong lẫn bên ngoài
đều bằng thứ lụa sa dệt từ bông hoa, vừa lắc lư trong
đám cây cát đằng (dây leo), vừa vui đùa ca hát bằng một
giọng ngọt ngào như mật.
Vị
tiên nam tiến dần đến con suối này và tại một chỗ dừng
chân bên suối, chàng bước xuống cùng vợ rắc hoa khắp mặt
suối vừa vui đùa dưới nước. Khi cả hai vị đã mặc lại
xiêm y bằng hoa xong, trên một khoảng cát trắng, sáng láng
một tấm bạc, hai vị trải hoa làm sàng tọa và nằm xuống.
Vừa lượm được một khúc cây trúc, vị tiên nam bắt đầu
thổi sáo, thỉnh thoảng ca hát ngọt ngào như mật rót vào
tai, trong lúc tiên nữ uốn lượn đôi tay mềm mại, vừa nhảy
vừa hát ca gần đó.
Nhà
vua nghe tiếng hát, liền đi rón rén để đừng ai nghe lọt
bước chân, vừa đến gần ngắm nghía đôi tiên từ một
nơi nấp kín đáo. Vua bỗng nhiên sinh ra si tình tiên nữ và
nghĩ thầm: "Ta muốn bắn chàng kia và sống ở đây với vợ
chàng". Sau đó vua liền nhắm bắn trọng thương vị tiên nam
Canda. Chàng đau đớn thốt lên bốn vần kệ:
1.
Chắc hẳn đời ta sắp sửa tàn,
Máu
ta đang chảy xiết, tuôn tràn,
Ta
gần mất hết nguồn sinh lực,
Hơi
thở đang thoi thóp, hỡi nàng!
2.
Ta đang chìm ngập với đau thương,
Lòng
dạ ta đang đốt cháy bừng,
Song
bởi chính nàng sầu, Nguyệt hỡi,
Mà
tim ta cảm xúc khôn lường.
3.
Như cỏ cây, ta cứ lụi tàn,
Héo
hon như suối cạn khô dần,
Lòng
đầy xúc cảm, Can-dà hỡi,
Vì
nỗi buồn đau của chính nàng.
4.
Dòng lệ tuôn từ cặp mắt ta,
Như
mưa chân núi chảy vào hồ,
Bởi
vì lòng dạ đầy thương cảm,
Cho
nỗi sầu nàng, hỡi Nguyệt Nga!
Bậc
Ðại sĩ than khóc như vậy qua bốn vần kệ trong khi quằn
quại trên sàn tọa bằng hoa, rồi bất tỉnh quay mặt đi.
Nhà vua vẫn đứng ở nơi đã nấp. Còn tiên nữ không biết
bậc Ðại sĩ vừa bị thương, ngay khi ngài than khóc như thế,
nàng cũng không hay biết, vì nàng đang say sưa với niềm hoan
lạc của mình. Nhưng khi thấy ngài quay đi và nằm bất động,
nàng bắt đầu tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với vị phu
quân. Vội đến gần quan sát chồng, nàng thấy máu đang chảy
ra từ miệng vết thương, nên không thể nào chịu đựng nổi
cơn đau đớn khủng khiếp trước tình cảnh phu quân yêu quý
của mình, nàng kêu gào thất thanh.
"Vị
tiên nam ắt hẳn đã chết", vua thầm nghĩ và bước ra lộ
diện. Khi tiên nữ Candà thấy vua, nàng nghĩ thầm: "Ðây hẳn
là kẻ cướp đã giết chồng yêu quý của ta", và nàng run
rẩy chạy trốn. Khi đã đứng trên đỉnh đồi, nàng kết
tội vua quyết liệt qua năm vần kệ:
5.
Ôi khổ thân ta, chúa bạo tàn!
Nhà
ngươi đã bắn trọng thương chàng,
Nay
chàng nằm đó, trên đất lạnh,
Dưới
một gốc cây, giữa núi ngàn.
6.
Vương tử! Sầu đau xét ruột này,
Ta
mong thái hậu phải đền thay!
Mối
sầu đang bóp tim tan nát,
Khi
thấy chàng yêu đã chết đây.
7.
Vương tử! Sầu đau xét ruột này,
Ta
mong vương hậu phải đền thay!
Mối
sầu đang bóp tim tan nát,
Khi thấy
chàng yêu đã chết đây.
8.
Mong thái hậu nay khóc phụ hoàng,
Và
sau lại phải khóc hoàng nam,
Kẻ
vì tham dục đang làm ác
Cho
chính chồng ta thật uổng oan.
9.
Ước mong vương hậu phải chờ trông
Tình
cảnh mất con lẫn mất chồng,
Là
kẻ vì tham, làm việc ác
Cho
chàng vô tội, chính phu quân.
Sau khi
nàng kêu gào than khóc như vậy qua năm vần kệ trên, nhà vua
vừa đứng trên đỉnh núi vừa cất tiếng an ủi nàng qua
một vần kệ khác.
10.
Thôi đừng than khóc, chớ sầu thương,
Ta
chắc rừng đêm quáng mắt nàng:
Cung
điện vua ban nàng diễm phúc,
Nàng
làm hoàng hậu của quân vương!
- Ngươi
vừa nói gì thế?
Tiên
nữ Candà thét lên khi nghe lời này, và nàng cất giọng sư
tử hống hùng hồn đáp lời:
11.
Không, ta đành kết liễu cuộc đời!
Ta
chẳng bao giờ muốn lấy ngươi,
Ngươi
giết chồng ta nào có tội,
Tất
cả vì tham ái ta thôi!
Khi nghe
lời này, lòng say mê của vua đối với nàng đều tan hết,
sau đó, vua liền ngâm một vần kệ khác nữa:
12.
Sống cho thỏa nguyện, hỡi tiên nương,
Thôi
hãy quay về đỉnh Tuyết Sơn,
Ta
biết có nhiều loài thú vật
Ăn
toàn cỏ hoa, mến rừng hoang.
Cùng
với những lời này, vua bình thản bỏ đi. Ngay khi Candà biết
vua đi rồi, nàng bước đến ôm lấy bậc Ðại sĩ đem tận
đỉnh đồi và đặt ngài nằm trên một chỗ đất bằng phẳng
tại đó; vừa kê đầu ngài lên lòng nàng, nàng vừa than thở
qua mười hai vần kệ sau:
13.
Ðây giữa vùng đồi núi, đỉnh cao,
Trong
nhiều thung lũng, dưới hang sâu,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
bóng chàng nay thiếp thấy đâu?
14.
Thú rừng lang bạt khắp nơi nơi,
Lá
trải trên nhiều chốn đẹp tươi,
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
nay chàng vắng bóng trên đời?
15.
Dã thú tung hoành, hoa ngát hương
Lan
tràn bao chốn đẹp hoang đường,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
chẳng còn đâu thấy bóng chàng?
16.
Trong veo, nhiều suối chảy ven đồi,
Hoa
dại muôn ngàn, phủ khắp nơi,
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
nay chàng bỏ thiếp đơn côi?
17.
Xanh thẳm là đối núi Tuyết San,
Khi
nhìn, đồi núi đẹp vô vàn,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
chẳng còn đâu thấy bóng chàng?
18.
Bao đỉnh Tuyết Sơn nhuộm ánh vàng,
Nhìn
xem đồi núi đẹp huy hoàng,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
thiếp còn đâu thấy bóng chàng?
19.
Ðồi núi Tuyết Sơn đỏ rực lên,
Núi
đồi tuyệt diệu lúc nhìn xem!
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
thiếp còn đâu thấy bóng tiên?
20.
Tuyết Sơn đỉnh nhọn vút trời cao,
Ðồi
núi nhìn xem đẹp biết bao!
Thiếp
sẽ làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
nay thiếp chẳng thấy chàng đâu?
21.
Lấp lánh, Tuyết Sơn đỉnh trắng ngần,
Nhìn
xem đồi núi đẹp muôn phần!
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
chẳng còn trông thấy Nguyệt quân?
22.
Tuyết Sơn lại đổi sắc cầu vồng,
Tuyệt
diệu là khi đứng ngắm trông!
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
không còn được thấy lang quân?
23.
Ðồi Hương thân thiết với yêu ma,
Khắp
chốn phủ đầy vạn cỏ hoa,
Thiếp
phải làm gì, chàng nguyệt hỡi,
Vì
đâu còn thấy bóng Can-da?
24.
Thần tiên yêu mến ngọn đồi Hương,
Cây
cỏ bao quanh khắp nẻo đường,
Thiếp
sẽ làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
đâu còn thấy bóng chàng thương?
Nàng
cứ than thở mãi như vậy, rồi khi cầm tay bậc Ðại Sĩ đặt
lên ngực nàng, nàng thấy tay ngài còn ấm. Nàng nghĩ thầm:
"Can-da còn sống đây, ta quyết khiêu khích các thần linh cho
đến khi chàng được sống lại!" Rồi nàng lớn tiếng quở
trách các thần:
- Chẳng
có vị thần nào cai trị cõi trần hay sao? Các ngài đi ngao
du ở đâu cả rồi? Chắc hẳn các ngài chết hết rồi nên
chẳng còn ai cứu mạng chồng yêu quý của ta đây!".
Vì
uy lực nỗi khổ đau thống thiết của nàng, chiếc ngai của
Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng rực lên. Khi xét kỹ, ngài
thấy rõ nguyên nhân, liền giả dạng một vị Bà-la-môn đến
gần nàng, cầm bình nước thần dược rảy lên mình bậc
Ðại Sĩ. Trong chốc lát, thuốc độc mất công hiệu, sắc
mặt ngài trở lại tươi tỉnh, ngài cũng không còn biết gì
đến chỗ bị thương nữa. Bậc Ðại Sĩ đứng dậy hoàn
toàn hồi phục.
Khi
Candà thấy vị phu quân muôn vàn yêu quí của mình đã hoàn
toàn bình an, nàng hân hoan quì xuống chân của Ðế Thích Thiên
chủ và tán thán ngài qua vần kệ:
25.
La-môn, Thánh giả đáng tôn vinh!
Cho
phận thiếp đây kém phước lành
Ðược
thấy phu quân đầy ái kính,
Rảy
lên chàng thánh dược hồi sinh!
Sau đó,
Ðế Thích Thiên chủ khuyên nhủ:
- Từ
rày về sau, hai vị đừng xuống khỏi đỉnh Nguyệt Sơn ra
giữa đường đi của loài người nữa, mà cứ ở chốn đây
thôi.
Ngài
lặp lại câu này hai lần rồi trở về cõi của ngài. Còn
Candà hỏi chồng nàng:
- Này
phu quân, sao ta lại ở chốn đầy nguy hiểm này? Ta hãy mau
về đỉnh Nguyệt Sơn.
Rồi
nàng ngâm vần kệ cuối cùng:
26.
Ta hãy lui về đỉnh Nguyệt San,
Nơi
khe suối diễm lệ tuôn tràn,
Suối
khe phủ ngập đầy hoa lá,
Mãi
mãi chốn kia, gió nhẹ nhàng
Thầm
thì len qua ngàn cổ thụ,
Mải
mê trò chuyện, phút bình an.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
-
Không phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa cũng thế, Công chúa
luôn luôn tận tụy và giữ lòng trung thành với Ta.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, Anuruddha (A-na-luật-đà) là vua, mẹ của La-hầu-la
(Ràhulamàtà) là tiên nữ Candà và Ta chính là vị tiên nam.
-ooOoo-
486.
Chuyện chúa chim ưng (Tiền thân Mahà-Ukkusa)
Dân
chúng đang nhen lửa đảo này...
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về Mitta-gandhaka,
một cư sĩ.
Tương
truyền, người này là con cháu một dòng họ đã suy tàn ở
Sàvatti (Xá-vệ), phải nhờ một người bạn đi cầu hôn một
thiếu nữ sang trọng. Nhà kia hỏi:
-
Thế cậu ấy có bạn bè thân thích nào để có thể giải
quyết công việc cần lo liệu chăng?
Nhà
trai đáp:
-
Không, chẳng có ai cả.
Bên
kia bảo:
-
Thế thì trước tiên phải kiếm bạn đã.
Người
ấy nghe lời khuyên này đi bầu bạn với bốn người giữ
cổng thành. Sau đó chàng dần dần kết bạn với những người
giữ thành, những nhà thiên văn, nhiều người quí tộc trong
triều; ngay cả vị tướng lãnh và phó vương. Nhờ giao thiệp
với đám người này, chàng trở thành bạn thân thiết của
vua, rồi sau đó là đạo hữu của tám mươi vị Trưởng lão,
và nhờ Trưởng lão Ànanda, chàng đến yết kiến chính đức
Như Lai. Lúc ấy bậc Ðạo Sư an trú cả gia đình chàng vào
Tam quy và Ngũ giới, vua lại phong cho một chức vụ cao và
chàng được biệt danh "Mitta-gandhaka" hay "Người kết giao nhiều
bằng hữu".
Vua
còn ban cho chàng một dinh cơ lớn rồi ra lệnh cử hành hôn
lễ cho chàng, nên tất cả mọi người từ vua chúa trở xuống
đều mang tặng vật đến nhà. Lúc ấy, vợ chàng nhận được
một tặng vật của vua ban, rồi tặng vật của vị Ðại
tướng quân, tặng vật của vị Phó vương, cứ thế dân chúng
toàn thành đều đến nhà nàng. Vào ngày thứ bảy, đôi tân
hôn ấy tổ chức đại lễ để mời đấng Thập Lực, nhiều
phẩm vật cúng dường cao sang được đem dâng đức Phật
và Tăng chúng lên đến năm trăm vị Tỷ-kheo. Cuối buổi lễ,
đôi tân hôn nhận lời tùy hỷ công đức từ đức Phật
và được an trú vào Sơ quả Dự Lưu.
Trong
Chánh pháp đường, hội chúng nói đến chuyện này:
-
Này các Hiền giả, cư sĩ Mitta-gandhaka theo lời vợ khuyên
nhủ, và nhờ nàng, đã trở thành bạn của mọi người, được
vinh quang tột bực từ vua ban, và sau khi thành thân hữu của
bậc Ðạo Sư, đôi vợ chồng đã được an trú vào Sơ quả
Dự Lưu.
Bậc
Ðạo Sư đi vào và hỏi Tăng chúng đang bàn luận gì. Các
vị thưa với Ngài. Ngài bảo:
-
Ðây không phải là lần đầu tiên, này các Tỷ-kheo, người
này nhận được vinh quang nhờ nữ nhân kia. Ngày xưa, khi còn
là súc sinh, nhờ lời khuyên của nàng, nên vị ấy đã kết
bạn rất nhiều và thoát khỏi sự lo âu về tính mạng bầy
con trẻ.
Nói
vậy xong. Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, một số
người ở vùng biên địa thường cư trú tại nơi nào họ
có thể tìm kiếm thực phẩm nhiều nhất, như sống trong rừng
và bắn giết những loài thú vật đông đúc tại đó để
lấy thịt cho họ và gia đình họ. Không xa làng của họ là
một cái hồ rộng, về phía nam bờ hồ đó có một chim Ưng
trống, phía tây là một chim Ưng mái; phía bắc là một Sư
Tử, chúa của mọi loài dã thú, phía đông là một chim Ưng
biển (Ðại bàng), chúa loài chim, và ở giữa là một con Rùa
sống trên một hòn đảo nhỏ.
Chim
Ưng trống đến hỏi chim Ưng mái làm vợ. Chim mái bảo:
- Chàng
có bạn bè nào không?
- Thưa
cô nương, không. Chim trống đáp.
- Ta
cần phải có vài chim bạn bảo vệ ta chống lại mọi hiểm
nguy hay chuyện rắc rối có thể xảy ra, vậy chàng phải đi
kiếm vài chim bạn.
- Ta
phải làm bạn với ai đây?
- Ô
kìa, với Ðại bàng chúa sống trên bờ phía đông chứ còn
ai nữa, rồi với Sư Tử ở phía bắc và Rùa ở giữa hồ
này.
Chàng
theo lời khuyên của nàng và làm như vậy. Sau đó đôi chim
sống với nhau trong một cái tổ do chúng xây lấy; cũng cần
nói thêm rằng trên một đảo nhỏ trong hồ này có một cây
Kadampa mọc, bốn phía là nước bao quanh. Sau đó chúng sinh
được hai chim trống.
Một
ngày kia, khi lông cánh đôi chim non còn non nớt, có vài người
trai làng đi săn mồi khắp rừng suốt ngày mà chẳng kiếm
được gì cả. Vì không muốn trở về làng tay không, họ
đi xuống hồ bắt rùa cá, họ lên đảo, nằm dưới bóng
cây Kadamba và đang lúc bị ruồi, muỗi, bọ chích đốt thật
khổ sở, họ nhóm lửa lên đuổi muỗi mòng bằng cách chà
sát củi khô vào nhau, và hun khói. Khói đùn lên làm khó chịu
bầy chim, khiến đôi chim non kêu lên chim chiếp.
- Kìa
có tiếng chim! Ðám dân làng bảo nhau.
- Nào
đốt lửa nhanh lên! Ta không thể nằm nhịn đói ở đây;
mà trước khi nằm ngủ, ta phải ăn một bữa thịt chim rừng
chứ!
Họ
nhóm lửa làm cho ngọn lửa cao dần. Song chim mẹ nghe tiếng
động ấy, nghĩ thầm: "Những người này muốn ăn con ta. Ta
phải kiếm bạn để cứu nhà ta khỏi hiểm họa này. Ta muốn
bảo chim trống đi đến chúa chim Ưng kia". Rồi chim mái bảo:
- Này
chàng, hãy đi báo cho chim Ưng chúa biết mối nguy hiểm đang
đe dọa các con ta.
Và
nó ngâm vần kệ này:
1.
Dân chúng đang nhen lửa đảo này,
Ðể
ăn bầy trẻ chốc liền đây,
Hỡi
chàng! Mau bảo cùng bè bạn
Nguy
hiểm con ta cấp báo ngay.
Chim trống
liền bay hết tốc lực đến chỗ kia và kêu lên để báo
hiệu cho nó đến. Khi được phép, nó đến gần Ðại bàng
chúa, và kính chào. Chim Ưng chúa bảo:
- Tại
sao bạn đến?
Chim
trống liền ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Chim chúa là ngài, hỡi chúa công!
Nay
ta tìm chốn chúa an thân,
Dân
làng săn muốn bắt bầy trẻ,
Xin
chúa ban cho bạn nỗi mừng!
- Ðừng
sợ - Chim Ðại bàng bảo chim Ưng trống.
Vừa
an ủi, nó vừa ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Ðúng lúc hay không, bậc trí nhân
Kết
giao cùng bảo vệ thân bằng,
Vì
chim Ưng hỡi, ta hành động,
Bạn
thiện giúp nhau những lúc cần.
Sau đó,
chim Đại bàng chúa hỏi tiếp:
- Này
bạn, thế dân làng đã trèo lên cây chưa?
- Họ
chưa trèo lên, họ chỉ mới chất củi lên để đốt lửa.
- Vậy
bạn nên trở về mau và an ủi hiền thê của bạn rồi nói
ta đến ngay.
Chim
Ưng làm theo lời. Chim Đại bàng chúa cũng đi, và từ một
nơi gần cây Kadamba, nhìn đám người ấy leo lên, và đậu
trên một ngọn cây. Ngay khi một người trèo lên đến gần
tổ chim, chim Ðại bàng chúa liền nhào xuống hồ, dùng đôi
cánh và mỏ rảy nước lên đám lửa đang cháy khiến chúng
tắt hết. Ðám người ấy trèo xuống, nhóm ngọn lửa khác
để nấu bầy chim, rồi khi chúng trèo lên, chim Ðại bàng
chúa lại dập ngọn lửa lần nữa. Cứ thế, khi lửa được
nhóm lên là chim dập tắt đi, cho đến nửa đêm. Chim Đại
bàng chúa đã kiệt sức: lớp da dưới bụng trầy ra xơ xác
dần, đôi mắt rướm máu. Thấy thế, chim mái bảo chim trống:
- Này
phu quân, Ðại bàng chúa đã mệt lả rồi, hãy đi đến báo
cho bạn Rùa, để chim Đại bàng chúa được nghỉ ngơi.
Khi
nghe vậy, chim Ưng trống đến gần chim Ðại bàng chúa, ngâm
kệ bảo bạn:
4.
Bạn thiện giúp nhau: ấy việc cần,
Ngài
làm vì xót bạn gian nan,
Bình
an con trẻ, ngài còn sống,
Cẩn
thận, đừng cho thể lực tàn.
Khi nghe
lời này, chim Ðại bàng chúa cất cao giọng sư tử hống ngâm
vần kệ thứ năm:
5.
Khi ta canh giữ ở cây này
Ta
chẳng lo rằng nếu chẳng may
Ta
mất mạng mình vì chúng bạn,
Thiện
nhân hành động vẫn như vầy!
Thế
nên, bạn hãy làm vì bạn
Dù
chính đời mình kết liễu ngay.
*
Còn
vần kệ thứ sáu này do bậc Ðạo Sư ngâm phát xuất từ
Trí tuệ Tối thắng của Ngài, khi Ngài tán thán công đức
của chim Đại bàng chúa:
6.
Vương điễu noãn sinh lượn cõi không
Ðã
làm một việc khổ vô cùng,
Chúa
Ưng, trước lúc màn đêm xuống,
Canh
giữ bầy chim nhỏ vạn an.
*
Sau
đó, chim Ưng trống nói:
- Xin
hiền hữu chúa chim Ðại bàng hãy nghỉ ngơi chốc lát.
Rồi
nó bay đi đến con Rùa, đánh thức Rùa dậy.
- Này
bạn, đến có việc gì vậy? Rùa hỏi.
- Có
mối hiểm nguy như vậy xảy ra với chúng tôi, và chim Ðại
bàng chúa đã chịu khổ nhọc hết sức từ canh một, nay gần
kiệt lực, cho nên tôi phải đến gặp bạn.
Cùng
với những lời này, nó ngâm vần kệ thứ bảy:
7.
Cho dầu những kẻ bị sa chân
Qua
lắm việc làm ác, bất nhân,
Cũng
có cơ vươn mình tiến được,
Nếu
xin nhờ giúp đỡ khi cần.
Các
con ta gặp khi nguy khốn,
Ta
chẳng bay ngay đến bạn vàng,
Hỡi
bạn ngâm mình trong đáy nước,
Giúp
nhà tôi, hãy vội lên đàng!
Khi nghe
vậy, Rùa ngâm vần kệ khác:
8.
Thiện nhân đối với một thân bằng
Cho
cả đồ dùng lẫn bản thân,
Vì
bạn, hỡi Ưng! Ta hoạt động,
Thiện
nhân giúp đỡ bạn khi cần.
Chú Rùa
con, nằm không xa đó, nghe tiếng cha nói, liền suy nghĩ: "Ta
không muốn cha ta phải nhọc sức, mà ta sẽ lãnh phần của
cha ta". Vì vậy, chú ngâm vần kệ thứ chín:
9.
Xin cha an dưỡng, hỡi cha thân,
Việc
của cha, con sẽ lãnh phần.
Con
phụng sự cha là tốt nhất,
Con
đi cứu cả tổ chim bằng.
Rùa cha
đáp lời con qua vần kệ:
10.
Cứ làm việc thiện, hỡi Rùa con,
Con
phải giúp cha, thật chánh chơn,
Song
chúng chỉ tha bầy trẻ nhỏ,
Vì
cha, người thầy lớn khôn ngoan.
Cùng
với những lời này, Rùa bảo chim Ưng bay về và thêm:
- Này
bạn ơi, đừng sợ. Nhưng bạn cứ đi trước rồi ta sẽ theo
sau lập tức.
Rùa
lặn xuống nước, lượm một ít bùn, đến đảo dập tắt
ngọn lửa và nằm im. Lúc ấy, đám dân làng kêu lên:
- Này,
tại sao phải nhọc công về bầy chim Ưng con thế kia? Ta hãy
lật con Rùa đáng ghét này lên mà giết nó cũng vừa đủ
cho cả bọn ta mà.
Vì
thế, họ hái ít cây leo, bện thành sợi dây, nhưng khi họ
đã buộc chặt dây ở chỗ nầy chỗ kia rồi, và xé cả áo
quần để dùng vào việc này, họ lại không thể lật con
Rùa lên được. Con Rùa cứ lôi họ đi theo nó rồi nhào xuống
nước sâu. Bọn người ấy nôn nóng bắt Rùa đến độ cũng
nhào xuống theo, lội bì bõm, bắn nước lên tung tóe và uống
nước đầy bụng. Họ bảo nhau:
- Này
cứ xem đi, chim Ưng chúa cứ làm tắt ngọn lửa của ta đến
nửa đêm, nay thì con Rùa làm ta rớt xuống nước và uống
nước nhiều, thật quá khổ sở. Thôi, ta cố nhen ngọn lửa
khác, rồi đến sáng mai sẽ ăn được bầy chim Ưng con.
Sau
đó, họ lại bắt đầu nhóm lửa. Chim Ưng mái nghe tiếng
ồn áo của bọn người này, liền bảo:
- Này
chàng, sớm muộn gì, bọn người này cũng xé xác các con ta
rồi mới chịu đi. Vậy chàng hãy đến báo cho bạn Sư tử
biết chuyện.
Lập
tức, chàng chim Ưng đến gặp Sư tử, Sư tử này hỏi tại
sao chim Ưng đến giờ bất thường như vậy. Chim Ưng liền
kể cho Sư tử nghe mọi việc từ đầu và ngâm vần kệ thứ
mười một:
11.
Oai hùng bậc nhất của muôn loài,
Loài
thú vật kia lẫn mọi người,
Chạy
đến anh hùng lúc hoảng sợ:
Chin
non gặp nạn, giúp nhà tôi,
Ngài
là chúa tể muôn loài đó,
Vì
thế nên tôi phải đến nơi.
Nghe nói
vậy, Sư tử ngâm vần kệ nữa:
12.
Ta giúp chim ngay, hỡi bạn Ưng!
Mau,
ta đi giết bọn cừu nhân,
Hiển
nhiên, bậc trí nhiều thông hiểu
Cần
gắng công che chở bạn thân.
Nói vậy
xong, Sư tử bảo chim Ưng ra về, còn dặn thêm:
- Thôi,
bây giờ hãy về đi và an ủi các con dại.
Rồi
Sư tử tiến lên, đập tung tóe nước hồ trong suốt. Khi bọn
dân làng thấy Sư tử đến gần, họ sợ chết khiếp cả,
liền kêu lên:
- Chim
Ðại bàng chúa thổi tắt củi lửa của ta, con Rùa làm ta
mất quần áo đang mặc, song giờ đây ta tàn đời rồi! Con
Sư tử này sẽ giết chết chúng ta lập tức.
Họ
liền chạy tứ tán. Khi Sư tử đến gốc cây, chẳng còn thấy
gì nữa. Sau đó chim Ưng chúa, chim Ưng trống, con Rùa đều
tiến lên vây quanh Sư tử. Sư tử bảo cho chúng biết ích
lợi của tình bằng hữu và nói:
- Từ
rày về sau, hãy cẩn thận đừng để tan vỡ mối tình bằng
hữu thân ái.
Với
lời khuyên này, Sư tử ra đi. Rồi bọn kia cũng về chốn
ở của riêng mình.
Chim
Ưng mái nhìn con tự nghĩ: "Nhờ tình bằng hữu mà các con
ta được trả lại cho ta". Và trong lúc chim mái vui mừng, nó
vừa nói với chim trống, vừa ngâm vần kệ nêu rõ hiệu lực
của tình bằng hữu:
13.
Rõ ràng kết bạn hữu đầy nhà,
Gặp
bạn hiền: hoan lạc hiện ra,
Tên
bắn trên quân bào bất lợi,
Ta
mừng, an ổn các con ta.
14.
Nhờ công giúp của bạn chân tình,
Chim
bạn đến mong góp sức mình,
Ðối
đáp, chim non kêu ríu rít
Làm
say lòng mẹ với âm thanh.
15.
Người khôn nhờ bạn giúp bàn tay,
Sống
với đàn con hạnh phuc đầy,
Ta
với chồng con cùng đứng vững
Vì
thân bằng hữu mến thương lây.
16.
Dân cần bảo vệ bởi vua quan,
Những
vị tình thân hữu vẹn toàn,
Hạnh
phúc chàng mong: uy lực đủ
Là
người hưng thịnh, lắm thân bằng.
17.
Này Ưng, cần phải kiếm thân bằng
Dù
bạn nghèo hèn hoặc yếu non,
Nay
hãy xem: nhờ tình thắm thiết
Ta
và gia quyến thảy bình an.
18.
Chim Ưng tìm được bậc anh hùng
Ðể
đóng vai chim bạn thiết thân,
Ưng
hỡi, như đôi ta hạnh phúc,
Chim
kia cũng hạnh phúc trong lòng.
Như vậy,
chim mái nêu rõ đặc tính của tình bằng hữu qua sáu vần
kệ. Từ đó đám bạn hữu sống với nhau suốt đời không
làm đứt đoạn sợi dây thân ái, rồi lúc mạng chung, chúng
đều đi theo nghiệp của mình.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư bảo:
-
Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu tiên người này
được hạnh phúc nhờ vợ mình, mà trước kia cũng vậy.
Cùng
với những lời này, Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, đôi vợ chồng này là đôi chim Ưng, Ràhula
(La-hầu-la) là Rùa con, Moggallàna(Mục-kiền-liên) là Rùa cha,
Sàriputta (Xá-lợi-phất) là chim Ưng chúa và ta chính là Sư
tử kia.
-ooOoo-
487.
Chuyện nam tử Uddalaka (Tiền thân Uddalaka)
Hàm
răng bẩn, áo da dê, tóc bện...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
người gian dối.
Người
này, mặc dù đã đặt cuộc đời mình vào Giáo pháp đưa
đến giải thoát, trong lúc muốn kiếm lợi dưỡng cần dùng
để sống, đã hành động lừa đảo cả ba mặt. Tăng chúng
đều rõ ra những ác hạnh của người này trong lúc bàn luận
tại Chánh pháp đường:
- Này
các Hiền giả, người đó sau khi đã đặt hết cuộc đời
mình vào Chánh pháp của đức Phật đưa tới giải thoát,
lại sống lừa dối kẻ khác!
Bậc
Ðạo Sư bước vào, và muốn biết Tăng chúng đang bàn luận
gì tại đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài bảo:
-
Ðây không phải là lần đầu tiên, kẻ ấy trước kia cũng
đã lừa dối rồi.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thưở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-Tát
là một vị Tế sư rất thông thái. Một ngày kia, ngài vào
vườn hoa để giải trí, chợt thấy một cô gái có sắc đẹp
lẳng lơ, đâm say mê nàng và đem nàng về nhà mình chung sống.
Khi
thấy mình thọ thai, nàng liền bảo ngài:
- Thưa
Ðại quan, thiếp đã có thai, khi sinh con, thiếp muốn đặt
tên cho nó theo danh tánh của tổ phụ nó.
Song
ngài suy nghĩ: "Chẳng bao giờ tên họ của một dòng quý tộc
lại đặt cho đứa con hoang của một nô tỳ". Vì thế, ngài
bảo:
- Này
ái nương, cây này tên là Uddala (quế), nàng có thể đặt
tên con là Uddalaka vì nó thọ thai ở gốc cây này.
Sau
đó, ngài cho nàng một chiếc nhẫn có dấu hiệu riêng và
bảo:
- Nếu
nó là con gái, hãy dùng chiếc nhẫn này mà nuôi dưỡng nó
cho lớn khôn, còn nếu là con trai thì hãy đem đến cho ta lúc
nó trưởng thành.
Ðến
kỳ hạn, nàng sinh hạ một con trai và đặt tên là Uddalaka.
Khi chàng trai lớn lên, chàng hỏi mẹ:
- Mẹ
ơi, cha con là ai thế?
- Là
vị Tế sư đấy con ạ.
- Nếu
vậy, con sẽ học các kinh thánh.
Thế
là khi nhận được chiếc nhẫn từ tay mẹ và số học phí
dành cho thầy giáo, chàng lên đường đi đến Takkasilà, và
học ở đó với một giáo sư lừng danh thế giới.
Trong
thời gian học tập, chàng thấy một đám người tu khổ hạnh.
Chàng suy nghĩ: "Ðám người kia chắc chắn phải có kiến thức
vẹn toàn. vậy ta muốn học hỏi ở họ". Vì thế, chàng từ
giã thế tục, và vì chàng ước mong được kiến thức, nên
làm việc phục dịch các vị này, chỉ yêu cầu các vị ấy
dạy lại cho chàng mọi kiến thức thông thái của họ. Thế
rồi các vị ấy dạy cho chàng mọi điều hiểu biết, song
giữa đám năm trăm người ấy chẳng có ai vượt chàng về
kiến thức cả, chàng là người thông thái nhất.
Sau
đó, đám người ấy tụ tập lại và bầu chàng làm thầy.
Chàng bảo họ:
- Thưa
các Tôn giả, các ngài sống suốt đời ở trong rừng ăn toàn
hoa quả, củ rừng, tại sao các ngài không đi đến chỗ của
người thế tục?
- Thưa
Tôn giả, người đời muốn cúng dường chúng ta, nhưng lại
muốn chúng ta trả ơn bằng cách thuyết Pháp, họ hay hỏi
ta nhiều chuyện lắm. Vì sợ điều này nên chúng ta không
muốn đến giữa người đời.
Chàng
đáp:
- Thưa
các Tôn giả, nếu các ngài có ta cùng đi, thì cứ để một
vị Chuyển luân vương cật vấn, một mình ta sẽ giải đáp
ổn thỏa, chớ sợ gì cả.
Thế
là chàng cùng hội chúng đi du hành khất thực để sống và
cuối cùng đến Ba-la-nại, trú ngụ trong vườn ngự uyển.
Hôm sau, cùng với cả đám ấy chàng khất thực ở một làng
trước cổng thành. Dân chúng bố thí rất nhiều. Ngày hôm
sau nữa, các nhà tu khổ hạnh đi qua kinh thành, dân chúng lại
bố thí rất nhiều. Vị khổ hạnh Uddalaka nói lời tùy hỷ
công đức rồi giải đáp các lời chất vấn. Dân chúng rất
hoan hỷ và lại cúng dường phong phú cho hội chúng mọi thứ
cần dùng.
Toàn
kinh thành vang dậy tin đồn:
- Một
vị giáo sư thông thái mới đến, một vị Thánh nhân khổ
hạnh.
Và
vua nghe được tin đó. Nhà vua hỏi:
- Các
vị ấy đang ở đâu?
Dân
chúng tâu:
- Trong
ngự uyển.
Nhà
vua bảo:
- Tốt
lắm, hôm nay ta sẽ đi thăm các vị ấy.
Một
người đi báo với Uddalaka:
- Ðức
vua sẽ đến viếng các Tôn giả hôm nay.
Chàng
gọi hội chúng lại và bảo:
- Này
các Tôn giả, đức vua sắp đến, hãy chiếm cho được ân
vua trong một ngày cũng đủ cho cả đời người.
- Vậy
ta phải làm gì, thưa Sư trưởng?
Chàng
đáp:
- Một
vài vị phải chịu khổ hình treo người lủng lẳng, vài vị
ngồi xổm dưới dất, vài vị nữa nằm trên giường chông,
vài vị khác chịu khổ hạnh với năm ngọn lửa, thêm vài
vị ngâm mình xuống nước và vài vị tụng Thánh kinh ở chỗ
này chỗ nọ.
Các
vị ấy làm y lời.
Chính
chàng cùng độ mười vị hiền giả ngồi trên một chỗ đã
soạn sẵn có lót gối dựa, bàn luận với nhau, có một quyển
sách đẹp cân xứng nằm trên một cái giá mực sang trọng
bên cạnh chàng, và thính chúng vây quanh.
Lúc
ấy, vua và vị Tế sư cùng với đám tùy tùng đông đảo
bước vào ngự uyển, và vua khi thấy tất cả hội chúng ở
đây đang chuyên chú trong dáng điệu khổ hạnh như vậy, vua
rất hoan hỷ, nghĩ thầm: "Các vị này đều giải thoát khỏi
nỗi lo âu về các cõi dữ ở đời sau rồi". Khi đến gần
Uddalaka, vua ân cần đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Rồi
với lòng hân hoan, vua bắt đầu nói chuyện với vị Tế sư
và ngâm vần kệ đầu:
1.
Hàm răng bẩn, áo da dê, tóc bện,
Miệng
thì thầm lời thánh đạo bình an,
Chẳng
từ nan nhiều phương tiện hiền nhân,
Chắc
đã đạt Chân như và Giải thoát.
Nghe vậy,
vị Tế sư nghĩ:
- Ðức
vua hoan hỷ ở một chỗ đáng lẽ không nên hoan hỷ, vậy
ta không được giữ yên lặng.
Rồi
ngài ngâm vần kệ:
2.
Một trí nhân có thể làm ác hạnh,
Một
trí nhân có thể chẳng chánh chân,
Ngàn
câu Vệ-đà chẳng tạo an toàn
Khi
việc hỏng, hoặc cứu người lâm nạn.
Khi Uddalaka
nghe những lời này, liền nghĩ thầm:
"Vua
hài lòng về những vị khổ hạnh này, song vị Tế sư lại
đụng ngay vào mõm con bò khi chạy quá nhanh, làm rơi đồ dơ
vào dĩa cơm đã dọn sẵn, ta phải nói chuyện với vị ấy
mới được". Vì thế, chàng đáp lời ngài qua vần kệ thứ
ba:
3.
Ngàn câu Vệ-đà chẳng tạo an toàn
Khi
việc hỏng, hoặc cứu người nguy khốn:
Kinh
Vệ-đà hẳn là đồ vô dụng,
Chánh
đạo là: làm chánh, tự điều thân.
Vị tế
sư nghe vậy, liền ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Không phải thế, Vệ-đà không vô dụng,
Dù
tự điều thân là đạo chánh chân,
Học
Vệ-đà vẫn mang lại vinh quang,
Song
ta đạt tối an nhờ chánh hạnh.
Bấy
giờ, Uddalaka suy nghĩ: "Gây gỗ với vị này sẽ không bao giờ
ích lợi đâu. Nếu ta bảo ngài: ta chính là con trai của ngài,
ngài phải thương yêu ta. Vậy ta phải quyết cho ngài biết
ta là con của ngài". Thế rồi chàng ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Cha mẹ và thân quyến họ hàng
Ðòi
ta chăm sóc với yêu thương,
Mẹ
cha là bản thân con đó,
Con
Ud-da-la chính búp non
Từ
gốc rễ nhà ngài quý tộc,
Thưa
ngài, Tôn giả Bà-la-môn.
- Thế
con chính là Uddalaka đấy ư? Ngài hỏi. Chàng đáp:
- Thưa,
chính phải.
Sau
đó, ngài hỏi: