Chương
XIII
Phẩm
Mười ba bài kệ
474.
Chuyện trái xoài (Tiền thân Amba)
Trước
kia, khi trẫm bảo chàng trai..,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Devadatta
(Ðề-bà-đạt-đa).
Ðề-bà-đạt-đa
không thừa nhận bậc Ðạo Sư của mình và bảo:
-
Chính ta sẽ là bậc Chánh đẳng giác và Sa-môn Gotama không
phải là bậc Ðạo Sư hướng dẫn của ta.
Vì
vậy, khi xuất định, ông gây chia rẽ trong Tăng chúng. Sau
đó dần dà ông tiến về Xá-vệ, ở bên ngoài Tinh xá Kỳ
Viên, thì mặt đất há miệng, ông rơi vào địa ngục Avìci
(A-tỳ hay Vô gián địa ngục). Lúc ấy tất cả Tăng chúng
đều nói chuyện ấy tại Chánh pháp đường:
-
Này Hiền hữu, Ðề-bà-đạt-đa đã xa rời bậc Ðạo sư
và bị hủy diệt khủng khiếp, đó là sinh vào một đời
sống khác trong địa ngục A-tỳ sâu thẳm.
Bậc
Ðạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì, hội
chúng thưa với Ngài. Ngài bảo:
-
Không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa cũng như nay, Ðề-bà-đạt-đa
đã xa rời bậc Ðạo sư của mình và bị hủy diệt khủng
khiếp.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, cả gia đình
của vị tế sư trong triều bị bệnh sốt rét tiêu diệt.
Chỉ một người con trai duy nhất phá được tường nhà trốn
thoát đi xa.
Chàng
đến Takkasilà và học tập đủ các nghệ thuật kỹ năng
với một vị giáo sư tiếng tăm lừng lẫy khắp thiên hạ.
Sau
đó chàng từ giã sư phụ, và ra đi, với ý định chu du khắp
nhiều miền; trên bước giang hồ, chàng đến một làng ở
biên địa. Gần đó là một làng của giai cấp hèn hạ Chiên-đà-la
(Candàla). Thời đó Bồ-tát cư ngụ trong làng này, và ngài
là một bậc hiền trí. Ngài biết một thần chú làm cho quả
trên cây mọc rộ lên trong lúc trái mùa.
Một
buổi sáng kia, ngài mang đòn gánh đi ra khỏi làng mãi đến
tận cây xoài mọc trong rừng, khi đứng cách đó bảy bước,
ngài đọc thần chú và rảy một bụm nước vào cây đó.
Trong chớp mắt, lớp lá khô rụng hết, lớp lá non mọc mầm,
hoa nở rồi hoa tàn rụng, các trái xoài nhú ra. Song chỉ trong
chốc lát chúng đã chín mọng ngọt ngào thơm ngát, xoài lớn
nhanh như loại trái thần rồi rụng xuống đất! Bậc Ðại
sĩ chọn ăn tùy thích, rồi chất đầy hai giỏ trên đòn gánh,
đem trái đi bán và kiếm tiền nuôi vợ con.
Lúc
bấy giờ, chàng trai Bà-la-môn thấy bậc Ðại Sĩ bán xoài
chín trái mùa. Chàng suy nghĩ: "chắc hẳn phải nhờ công năng
của một loại thần chú nào đó xoài ấy mới mọc được.
Người này có thể dạy ta một thần chú vô giá". Chàng rình
ngắm kỹ cách thức bậc Ðại sĩ hóa phép ra các thứ xoài
của ngài, và phát hiện việc này một cách chính xác.
Sau
đó chàng đi đến nhà bậc Ðại sĩ lúc ngài chưa trở về
từ khu rừng ấy, rồi làm như thể chưa biết gì cả, chàng
hỏi người vợ của bậc Ðại sĩ:
- Ðại
sư đâu rồi?
Bà
đáp:
- Ðã
vào rừng.
Chàng
đợi cho đến khi ngài về, liền tiến tới phía ngoài, đỡ
lấy đòn gánh và đôi thúng từ vai ngài, đem hết đồ đạc
vào nhà và đặt ở đó.
Bậc
Ðại sĩ nhìn chàng trai bảo vợ:
- Này
hiền thê, chàng trai này đến đây để được dạy thần
chú; song chẳng có thần chú nào ở lâu với gã ấy cả vì
gã là người không tốt đâu.
Còn
chàng trai nghĩ thầm: "Ta sẽ học được thần chú bằng cách
làm tôi tớ cho thầy ta".
Thế
là từ đó chàng làm mọi công việc trong nhà như gánh củi,
giã gạo, nấu nướng, mang đến thầy đủ các thức cần
thiết để rửa mặt rửa chân.
Một
ngày kia bậc Ðại sĩ bảo chàng:
- Này
con, đem cho ta một cái ghế đẩu để gát chân.
Chàng
ta chẳng còn cách nào khác, liền để hai chân của bậc Ðại
sĩ lên đùi mình suốt đêm.
Vào
mùa sau, bà vợ của ngài sinh hạ một con trai, chàng lại làm
đủ mọi việc phục dịch trong thời bà ấy sinh sản. Một
ngày nọ, bà vợ bảo bậc Ðại sĩ:
- Này
phu quân, cậu trai dù là ở giai cấp quý tộc, lại hạ mình
làm mọi việc tôi đòi, phục dịch cho nhà ta chỉ vì muốn
có thần chú. Vậy phu quân hãy dạy thần chú cho cậu ấy
đi, dù thần chú có chịu ở với cậu ấy hay không.
Ngài
đồng ý việc đó. Ngài liền dạy thần chú cho cậu trai và
bảo thế này:
- Con
ạ, đây là thần chú vô giá, con nhờ nó sẽ được vinh quang
phú quý tột bực. Nhưng hễ khi nào đức vua hoặc vị đại
thần của ngài có hỏi ai là thầy dạy con thì con đừng dấu
tên ta; vì nếu con hổ thẹn về chuyện người dạy con câu
thần chú kia là một người hạ đẳng và con bảo rằng thầy
dạy con là một vị Bà-la-môn quyền cao chức trọng thì con
sẽ chẳng được kết quả gì do thần chú đem đến cả đâu.
- Tại
sao con lại phải dấu tên của sư phụ kia chứ? Khi nào con
được ai hỏi thì con sẽ nói chính sư phụ đây.
Sau
đó chàng kính lễ thầy rồi từ giã cái thôn làng hạ đẳng
kia, chàng vừa ra đi vừa suy nghĩ mãi về thần chú ấy, kịp
lúc đến Ba-la-nại. Tại đó chàng bán xoài và thu được
nhiều tiền bạc.
Bấy
giờ, một ngày kia người giữ vườn ngự uyển dâng vua một
trái xoài gã mới mua từ chàng trai ấy. Sau khi ăn xoài, vua
hỏi gã kiếm được ở đâu ra trái xoài ngon ngọt như thế.
Gã đáp:
- Tâu
Chúa thượng, có một chàng trai mang xoài trái mùa tới bán.
Tiểu thần đã mua được từ chàng ấy.
Vua
bảo:
- Hãy
dặn cậu ta từ nay mang xoài đến đây cho trẫm.
Người
ấy làm y lời dặn, từ đó chàng đem xoài đến cung vua. Vua
mời chàng đến phục vụ ngài, từ đó chàng trở thành bề
tôi phục dịch vua, được hưởng đại phú quý, dần dần
chàng được vua rất tin cậy.
Một
ngày nọ vua hỏi chàng:
- Này
thiếu sinh, khanh kiếm ra xoài trái mùa này ở đâu mà ngon
ngọt, thơm ngạt ngào và màu sắc tươi đẹp thế? Có phải
một vị Long vương, Kim sí điểu hay thần linh nào đó ban
thưởng cho khanh, hoặc đây là phép tiên chăng?
- Tâu
Ðại vương, chẳng ai cho tiểu sinh cả - chàng trai đáp - song
tiểu sinh có một thần chú vô giá và đây là thần lực của
chú ấy.
- Ðược,
thế khanh có định biểu diễn cho trẫm xem thần lực của
chú này một ngày nào đó chăng?
- Tâu
Chúa thượng, tiểu sinh xin sẵn sàng thực hiện điều đó
hầu Chúa thượng - chàng đáp.
Hôm
sau vua cùng chàng ta vào vườn ngự uyển và ngài phán bảo
chàng hãy biểu diễn thần chú. Chàng trai vâng dạ và đi đến
gần cây xoài, đứng cách chừng bảy bước đọc thần chú
và rảy nước vào cây. Trong chốc lát cây xoài sinh trái như
cách đã tả trên đây: một đám xoài rụng xuống ào ào như
cơn bão; đám người xem vô cùng thích thú vung vẫy khăn để
hoan nghênh. Còn vua dùng xoài, xong thưởng công chàng hậu hỉ,
rồi bảo:
- Này
thiếu sinh, ai đã dạy khanh thần chú kỳ diệu này?
Bấy
giờ chàng nghĩ thầm: "Nếu ta bảo một kẻ Chiên-đà-la hạ
đẳng đã dạy ta thì ta sẽ bị làm nhục, hội chúng sẽ
chế diễu khinh thị ta, nay ta đã thuộc lòng thần chú này,
ta không bao giờ có thể mất nó. Ðược rồi, ta sẽ nói đó
là một giáo sư lẫy lừng thiên hạ.
Vì
thế, chàng nói dối và bảo:
- Tiểu
thần đã học được tại Takkasilà từ một danh sư lẫy lừng
thiên hạ.
Khi
chàng nói những lời phủ nhận thầy dạy mình như thế, lập
tức thần chú biến mất. Còn vua rất hoan hỷ, cùng chàng
trở về kinh thành.
Một
ngày kia, vua muốn ăn xoài, liền đi vào ngự uyển ngồi trên
ghế đá, nơi thường dùng vào những dịp quốc lễ, ngài
ra lệnh chàng trai đem xoài dâng ngài. Chàng trai tuân lệnh
đi đến cây xoài, đứng xa bảy bước, bắt đầu đọc thần
chú, song thần chú không công hiệu. Lúc ấy chàng biết mình
đã mất thần chú, nên đứng im đầy hổ thẹn. Còn vua suy
nghĩ: "Trước kia chàng này đã dâng xoài ào ào như mưa dông
ngay giữa đám đông người, nay chàng đứng như trời trồng,
vì nguyên cớ nào đây?".
Vì
thế ngài ngâm vần kệ đầu hỏi chuyện ấy:
1.
Trước kia, khi trẫm bảo chàng trai,
Lớn
nhỏ, chàng đem đủ loại xoài,
Nay
trái trên cây không xuất hiện,
Dù
chàng vẫn đọc chú kia hoài.
Khi nghe
vậy, chàng trai nghĩ thầm rằng nếu chàng bảo hôm nay trái
cây không thể có được thì vua sẽ tức giận, vì thế chàng
nghĩ cách nói dối để lừa vua, liền ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Thời gian không hợp: đợi khi nào,
Kết
hợp hành tinh giữa cõi cao,
Gặp
gỡ đúng thời, giây phút đến,
Sẽ
dâng xoài chín thật dồi dào!
"Cái
gì thế này?" Vua tự hỏi. "Chàng trai trước kia chẳng hề
nói chuyện hành tinh gặp gỡ cả".
Ngài
liền ngâm vần kệ để điều tra vấn đề này:
3.
Bữa trước, chàng không nói lúc nào,
Hay
mùa gặp gỡ các vì sao,
Song
xoài thơm ngát, ngon thanh vị,
Màu
đẹp, chàng dâng trẫm biết bao!
4.
Buổi nọ, chàng phô diễn trái cây,
Nhờ
câu thần chú, thật tài thay,
Nay
không làm được, dù chàng đọc,
Trẫm
muốn hỏi chàng ý nghĩa đây.
Nghe thế
chàng trai suy nghĩ: "Không nên lừa phỉnh vua bằng lời dối
trá. Nếu như khi ta nói sự thật mà ngài trừng phạt ta thì
cứ để ngài trừng phạt; song ta phải nói sự thật này".
Rồi chàng ngâm hai vần kệ:
5.
Một người hạ đẳng chính là thầy,
Dạy
đúng chú thần hữu hiệu đây,
Bảo:
Ðược hỏi tên thầy, chủng tộc,
Con
đừng giấu, kẻo chú thần bay!
6.
Thần được hỏi thăm bởi Ðại vương,
Dù
thần đã biết thật tinh tường,
Vẫn
mong lừa phỉnh, thần khai dối:
"Thần
chú kia là của đạo nhân".
Thần
nói dối, nay đành mất chú,
Ðắng
cay, lòng tiếc việc si cuồng.
Nghe chàng
nói điều này, vua tự nhủ: "Kẻ độc ác này không biết
giữ gìn một kho báu vĩ đại dường ấy! Khi người ta có
báu vật vô giá, thì nguồn gốc gia tộc có liên quan gì đến
báu vật đó đâu?". Trong cơn thịnh nộ, ngài ngâm các vần
kệ sau:
7.
Cây nimb, hồng phượng hoặc thầu dầu,
Bất
cứ loại cây gỗ thế nào,
Nơi
đó thấy tầng ong mật ngọt,
Người
xem cây ấy tốt hàng đầu.
8.
Dù là Ðạo sĩ, Khat-ti-ya,
Vệ-xá,
Chiên-đà-la, Thủ-đà,
Puk-ku-sa,
người ta học tập,
Thảy
đều tối thượng với đời ta.
9.
Trừng phạt oắt con tệ bạc này,
Hoặc
lôi cổ nó giết đi ngay,
Kho
tàng đã được bao công khó,
Lại
vứt vì tâm ngã mạn đầy!
Quân
sĩ của vua theo lời, bảo:
- Hãy
trở lại thầy dạy anh và xin ngài tha thứ, rồi nếu anh học
được thần chú lần nữa thì hãy về đây; còn nếu không
thì đừng bao giờ hòng để mắt đến xứ này nữa.
Nói
thế xong, họ đuổi chàng đi.
Cậu
trai hoàn toàn bơ vơ lạc lõng. Chàng nghĩ thầm: "Chẳng có
nơi nào cho ta nương tựa trừ thầy ta ra. Ta quyết trở về
với thầy ta, xin thầy tha tội cho, rồi xin học thần chú
lại".
Vậy
là chàng vừa than khóc vừa tiến về phía làng ấy. Bậc Ðại
sĩ thấy chàng đến, liền chỉ cho vợ ngài và bảo bà:
- Này
hiền thê, hãy nhìn thằng khốn kia trở lại, mà thần chú
đã biến mất rồi.
Chàng
đến gần bậc Ðại sĩ, kính lễ ngài và ngồi xuống một
bên. Ngài hỏi:
- Tại
sao con đến đây?
Chàng
đáp:
- Thưa
sư phụ, con đã nói dối, chối bỏ về vị sư phụ của mình
nên nay con hoàn toàn tiêu tan sự nghiệp.
Sau
đó chàng kể lại lỗi lầm của mình trong một bài kệ và
xin thần chú lần nữa:
10.
Kẻ nào nghĩ mặt đất san bằng,
Ðang
trải dài ra dưới gót chân,
Liền
ngã vào ao, hồ, vực thẳm,
Vấp
vào gốc rễ mục, long thân.
11.
Vật giống sợi dây, kẻ giẫm lên,
Hóa
ra con rắn, sắc đen huyền;
Kẻ
kia sa cẳng vào trong lửa,
Vì
mắt mù không thể xét xem.
12.
Con phạm tội, nên mất chú thần,
Nhưng
còn sư phụ, bậc Hiền nhân,
Xin
thầy tha thứ cho lần nữa,
Nhìn
tận mắt thầy, hưởng đặc ân!
Nhưng
sư phụ chàng đáp:
- Sao
này, con bảo gì vậy? Chỉ cần ra dấu cho kẻ mù lòa là nó
tránh được ao hồ đủ thứ rồi; còn ta đây đã dạy thần
chú cho con một lần, con lại muốn gì nữa đây chứ?
Rồi
ngài ngâm các vần kệ sau:
13.
Ðúng cách, ta từng dạy bảo ngươi,
Chú
kia, ngươi học đúng theo thời,
Ta
đà giảng đủ phần tinh túy,
Ngươi
khéo làm hay, chú chẳng rời.
14.
Ai đầy cực nhọc, hỡi ngu nhân,
Học
chú thần gian khổ, khó khăn,
Ðối
với loài người trên hạ giới,
Rồi
khi kẻ ngốc đã làm ăn,
Cuối
cùng nó lại đem quăng bỏ,
Cũng
chỉ vì mồm nói dối gian.
15.
Với kẻ ngu si muốn dối gian,
Người
không tự chế, kẻ vong ân,
Cút
ngay, đừng hỏi gì ta nữa,
Ta
chẳng còn cho nó chú thần!
Bị thầy
dạy đuổi như vậy, chàng trai nghĩ thầm: "Ðời còn có nghĩa
lý gì với ta nữa?". Rồi chàng vào rừng sâu và chết bơ
vơ một mình ở đó.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo sư bảo:
-
Không phải chỉ bây giờ, này các Tỷ-kheo, Ðề-bà-đạt-đa
mới chối bỏ vị thầy dạy của mình, và phải chịu tiêu
diệt thảm khốc.
Và
nói xong Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Thời ấy, Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) là kẻ vong ân bội nghĩa
kia, Ànanda (A-nan) là vua, và Ta chính là người Candàla (Chiên-đà-la)
hạ đẳng.
-ooOoo-
475.
Chuyện cây hồng phượng vĩ (Tiền thân Phandana)
Người
đứng cầm rìu ở dưới tay..
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trên bờ sông Rohini, về một việc tranh
chấp cãi cọ trong gia đình.
Hoàn
cảnh này được mô tả đầy đủ trong số 546. Tiền thân
Kunàla. Vào dịp này, bậc Ðạo sư dạy bảo đám thân tộc
ấy, Ngài nói:
*
Một
thời kia vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, ngoài kinh thành
là một làng thợ mộc. Trong làng có một người Ba-la-nại
làm nghề kiếm sống bằng cách mang gỗ từ rừng về đóng
xe kéo.
Vào
thời ấy có một cây hồng phượng vĩ đại thọ ở vùng
Tuyết Sơn. Một hắc Sư tử thường đến nằm dưới gốc
cây ấy săn mồi.. Một ngày kia gió đánh mạnh cây khiến
một cành cây khô rơi xuống, trúng vai Sư tử, cành đập mạnh
vào khiến cho nó đau đớn vùng lên chạy trốn vì sợ hãi,
sau đó quay lui nhìn trên con đường vừa mới chạy qua, khi
chẳng thấy có gì cả; nó suy nghĩ: "Chẳng có sư tử, cọp,
beo hay con gì nữa đuổi theo ta ở đây, thì ta chắc vị Thần
cây không chịu cho ta nằm đó. Ta muốn xem có đúng vậy không?".
Suy nghĩ thế nó liền giận dữ thật vô lý, vừa đánh vào
cây vừa thét lên:
- Ta
chẳng ăn một ngọn lá nào bẻ trên cây của ông, cũng chẳng
bẻ gãy cành nào, thế sao ông chịu cho các loài vật khác
ở đây, mà ông không chịu cho ta ở? Ta có làm gì sai trái
đâu, cứ đợi vài ngày nữa, ta sẽ phá nát gốc rễ cành
lá ông, ta sẽ làm ông tan tác từng mảnh!
Sư
tử mắng rủa vị Thần cây như vậy, rồi bỏ đi tìm một
người.
Lúc
ấy, người thợ mộc Bà-la-môn nói trên cùng với hai ba người
khác đã dùng xe tải đến vùng lân cận ấy để kiếm gỗ
đóng xe. Gã để chiếc xe một nơi, rồi cầm búa rìu trong
tay đi tìm cây gỗ, gã chợt đến gần cây phượng vĩ. Con
sư tử thấy gã, liền đi đến đứng dưới gốc cây vì nó
nghĩ thầm: "Hôm nay ta phải trừ khử kẻ thù của ta mới
được". Người kia thấy nó và vội chạy trốn ra khỏi vùng
rừng cây đó. Sư tử nghĩ thầm: "Ta phải nói chuyện với
kẻ đó trước khi nó chạy đi mất". Rồi nó ngâm vần kệ
đầu:
1.
Người đứng cầm rìu ở dưới tay,
Ði
lui, đi tới chốn rừng này,
Mau
lên, nói rõ cho ta biết,
Ông
muốn cây gì ở chốn đây?
"Ô kìa!
thật là kỳ diệu! - Người kia bảo khi nghe lời ấy - ta thề
chưa bao giờ nghe thấy súc vật nói được như người. Chắc
chắn nó sẽ biết rõ loài cây nào có gỗ tốt để đóng
xe. Ta muốn hỏi nó". Nghĩ vậy, gã liền ngâm vần kệ thứ
hai:
2.
Trên đồi, dưới vực, khắp đồng bằng,
Làm
chúa, ngài đi khắp núi rừng,
Nói
thật cho nghe, ta muốn hỏi,
Cây
gì tốt để bánh xe lăn?
Sư tử
nghe vậy nghĩ thầm: "Bây giờ ta đã được toại nguyện rồi!".
Nó
liền ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Chẳng keo, tai ngựa, chẳng chiên-đàn,
Chẳng
bụi cây nào tốt gỗ hơn,
Cây
ấy, phượng hồng như vẫy gọi
Làm
xe gỗ tốt nhất trần gian.
Kẻ kia
nghe vậy rất hài lòng, nghĩ thầm: "Thật là một ngày tốt
lành đưa ta vào rừng. Ðây là một vị nào mang lốt thú vật
chỉ bảo cho ta cây gỗ tốt để làm bánh xe. Kỳ lạ thật,
song lại tuyệt quá!" Vì vậy, gã hỏi Sư tử vần kệ thứ
tư:
4.
Cành lá cây kia kiểu thế nào,
Thân
cây trông thấy, loại ra sao,
Mong
ngài nói thật, ta xin hỏi,
Ðể
biết loài cây ấy ở đâu?
Sư tử
ngâm hai vần kệ đáp lời:
5.
Này cây cành rũ thấy là đà,
Cong
xuống, song không gãy trước giờ,
Cây
phượng vĩ hồng này đấy bạn,
Gốc
cây thường đứng của nhà ta.
6.
Ðể làm vành trục hoặc khung càn,
Ðôi
bánh, hay bất cứ mọi phần,
Cây
giống như vầy đều ích lợi,
Cho
người khi đóng chiếc xe lăn.
Sau khi
tuyên bố như vậy, Sư tử đứng xích ra một bên, lòng mừng
khấp khởi. Còn người thợ mộc bắt đầu đẵn cây. Lúc
ấy, vị Thần cây nghĩ thầm: "Ta không hề làm rớt cành nào
trên con thú kia, mà nó lại nổi cơn thịnh nộ thật phi thời,
bây giờ nó lại đang muốn phá nhà ta, và ta cũng sẽ bị
hủy diệt nữa. Vậy ta phải tìm cách đập tan oai lực của
nó". Vì thế vị Thần này giả dạng tiều phu, đến gần
gã thợ mộc kia bảo:
- Này
người kia, anh kiếm được cây này đẹp quá! Thế anh định
làm gì khi chặt nó đây?
- Làm
bánh xe.
- Sao,
có kẻ nào bảo anh là cây ấy làm bánh xe tốt lắm ư?
- Ðúng
thế, một con hắc Sư tử.
- Tốt
lắm, hắc Sư tử khéo nói lắm. Song, này ta bảo anh là lột
được da cổ Sư tử màu đen rồi phủ lên quanh vành ngoài
của bánh xe như một tấm chắn bằng sắt, chỉ một mảnh
rộng chừng bốn lóng tay thôi thì bánh xe vững vàng lắm,
anh sẽ hưởng lợi rất lớn nhờ đó.
- Nhưng
làm sao ta kiếm được da Sư tử bây giờ?
- Sao
anh ngu thế? Cây này đứng trong rừng, nó chạy đi đâu được.
Anh cứ đi tìm sư tử kia đã chỉ bảo cho anh cây này và hỏi
nó xem phải chặt phần cây nào, rồi đem nó về đây. Sau
đó, nó chẳng nghi ngờ gì cả và chỉ nơi này nơi nọ, cứ
chờ lúc nó nhe hàm răng ra thì lấy chiếc rìu bén nhất đập
nó trong khi nó đang nói, giết nó đi mà lột da ra, ăn phần
thịt ngon nhất, rồi hãy chặt cây tùy thích.
Như
thế là Thần cây nổi cơn thịnh nộ.
Ðể
giải thích vấn đề này, bậc Ðạo sư ngâm các vần kệ
sau:
7.
Cây kia lập tức bảo như vầy,
Ý
nguyện ước ao được tỏ bày:
"Ta
cũng có điều này muốn nói
Này
Bhà-rad hỡi, hãy nghe đây!
8.
Từ bên vai chúa tể khu rừng,
Anh
hãy cắt ra rộng bốn phân,
Bao
phủ da quanh vành gỗ ấy,
Rồi
xe sẽ mạnh gấp đôi lần.
9.
Cây kia phút chốc nổi lôi đình,
Trút
xuống loài sư tử đã sinh,
Cả
với loài chưa xuất hiện nữa,
Gây
ra tàn sát khiến hồn kinh.
Người
thợ làm xe nghe theo lời chỉ dẫn của Thần cây, kêu to:
- Ôi
hôm nay thật là một ngày may mắn cho ta.
Rồi
gã đi giết Sư tử, chặt cây xuống và đi về.
10.
Cây phượng vĩ tranh đấu chúa rừng,
Chúa
rừng tranh đấu với cây thần,
Mỗi
bên tranh chấp nhau như vậy,
Ðem
lại bên kia họa tử vong.
11.
Vậy giữa người, nơi có hận hiềm,
Hoặc
là cãi cọ nổi hăng lên,
Khác
nào thú dữ và cây gỗ,
Chúng
nhảy như loài Công múa men.
12.
Ðây này Ta bảo, chính điều lành,
Là
lúc các ông thuận ý tình,
Hãy
giữ đồng tâm, đừng cãi vã,
Như
cây và thú đã thi hành.
13.
Nên tập bình an với mọi người,
Ðiều
này bậc trí tán dương hoài,
Ai
mong an ổn và chân chánh,
Tối
hậu bình an sẽ đạt thôi.
Khi đám
người ấy nghe lời khuyến giáo của vua, họ liền giải hòa
với nhau.
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền
thân:
*
-
Vào thời ấy, Ta là vị Thần sống trong rừng kia và đã chứng
kiến toàn thể câu chuyện này.
-ooOoo-
476.
Chuyện Chúa Thiên Nga Có Thần Tốc (Tiền thân Javana-Hamsa)
Này
Thiên nga đến đậu nơi này..,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể tại Kỳ Viên về Kinh Dalhadhamma Suttanta
hay Kinh Thí dụ các Lực sĩ.
Ðức
Thế Tôn dạy:
-
Này các Tỷ-kheo, giả sử có bốn thiện xạ đứng ở bốn
điểm trên một vòng tròn, bốn lực sĩ khéo huấn luyện,
thật tài giỏi, thiện xảo nghề cung tên, bắn ra bốn mũi
tên từ bốn điểm, Tasẽ lấy bốn mũi tên vừa được bắn
ra trước khi chúng chạm xuống đất; phải chăng rõ ràng các
ông đều đồng ý rằng kẻ đó là một người rất nhanh
nhẹn và chính là hiện thân của tốc lực tuyệt vời! Vậy
mà, này các Tỷ-kheo, dù tốc lực của người kia nhanh đến
đâu đi nữa, dù cho thần kỳ như tốc lực của mặt trăng,
mặt trời, cũng còn cái khác nhanh hơn. Này các Tỷ-kheo, Tabảo
tốc lực của người kia dù cho thần kỳ đến đâu đi nữa,
dù nhiều vị Thiên bay nhanh hơn cả mặt trăng, mặt trời,
vẫn còn có cái khác nhanh hơn chư Thiên ấy nữa. Này các
Tỷ-kheo, tốc lực của người kia thần diệu là dường ấy
(như trên). Tuy thế còn nhanh hơn cả chư Thiên biết bay là
sự biến hoại của Tứ đại hợp thành sự sống. Do vậy,
này các Tỷ-kheo, các ông phải học tập điều này, phải
tinh cần. Thật vậy, Tabảo các ông phải học tập điều
này!".
Hai
ngày sau lời giáo huấn này, Tăng chúng bàn luận chuyện đó
trong Chánh pháp đường:
-
Này các Hiền hữu Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư trong địa vị tối
thượng của một bậc Chánh Ðẳng Giác, đã chứng minh bản
chất của những gì tác hợp nên sự sống, chỉ rõ đời
sống thật là giả tạm và yếu ớt mỏng manh khiến cho Tăng
chúng lẫn người ngoại đạo phải hết sức kinh hoàng. Ôi!
Thần diệu thay uy lực của đức Phật!
Bậc
Ðạo sư bước vào, hỏi Tăng chúng đang bàn luận điều gì.
Các vị thưa với Ngài và Ngài bảo:
-
Này các Tỷ-kheo, nay Tađạt Trí tuệ Viên mãn mà dùng lời
khuyến giáo để báo trước cho Tăng chúng thấy rõ Tứ đại
thật là giả tạm thì cũng chẳng kỳ diệu gì. Ngay cả khi
Ta hóa sinh từ một chim thiên nga, Ta cũng chứng tỏ tính cách
giả tạm của Tứ đại trong đời sống và bằng Giáo pháp
của Ta, đã gây kinh hoàng cho cả triều đình một vị vua
cùng với chín vị vua ở Ba-la-nại nữa.
Nói
xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thời khi vua Brahmadatta lên ngôi ở Ba-la-nại, bậc Ðại sĩ
được sinh làm một chúa Thiên nga có thần tốc, sống trên
núi Cittakùta, dẫn đầu một đoàn gồm chín mươi ngàn Thiên
nga khác. Một ngày kia, sau khi cùng cả đoàn đi ăn lúa mọc
hoang trong cái hồ ở vùng đồng bằng xứ Diêm-phù-đề (Ấn
Ðộ), ngài bay qua không gian (như thể một tấm thảm vàng
óng ánh trải dài từ đầu nọ đến đầu kia của kinh thành
Ba-la-nại) và lượn chầm chậm như đùa chơi về phía núi
Cittakùta. Lúc bấy giờ vua Ba-la-nại trông thấy ngài, liền
bảo các triều thần:
- Con
chim đằng kia ắt hẳn là chim chúa như trẫm đây.
Vua
sinh lòng yêu mến chúa chim, nên đã đem vòng hoa, hương liệu
và dầu thơm đi tìm bậc Ðại sĩ và bảo trình diễn đủ
loại âm nhạc cho ngài nghe. Khi bậc Ðại sĩ thấy vua tôn
vinh ngài như vậy, ngài hỏi các chim Thiên nga kia:
- Khi
một ông vua muốn tôn vinh ta như vậy, vua ấy muốn gì chăng?
- Tâu
Chúa thượng, ngài muốn bầu bạn với Chúa thượng.
- Ðược
rồi, thế thì ta bầu bạn với vua ấy!
Ngài
bảo và ngài làm bạn với vua, rồi sau đó bay về tổ.
Một
ngày kia, sau việc kết bạn này, vua vào ngự uyển và đi đến
hồ Anotatta, chim chúa bay đến gần vua với một cánh mang đầy
nước và cánh kia mang bột gỗ Chiên-đàn, chim rảy nước
lên mình vua và rắc bột gỗ Chiên-đàn cho vua nữa, trong lúc
hội chúng đang nhìn theo, ngài lại cùng với đàn chim bay về
Cittakutà. Từ lúc ấy về sau, vua cứ mong ngóng bậc Ðại
sĩ mãi; ngài thường nấn ná chờ đợi vừa nhìn con đường
bậc Ðại sĩ đến và nghĩ thầm: "Hôm nay thân hữu ta sẽ
đến".
Lúc
bấy giờ hai con thiên nga non trẻ nhất trong đàn của bậc
Ðại sĩ, quyết định thi đua với mặt trời, vì vậy chúng
xin phép bậc Ðại sĩ thử sức bay qua với mặt trời. Ngài
bảo:
- Này
các chú, tốc lực mặt trời rất thần kỳ, các chú không
bao giờ có thể thi đua với mặt trời đâu. Các chú sẽ chết
tiêu tan trong cuộc thi tài ấy. Vậy các chú đừng đi.
Lần
thứ hai chúng xin phép, rồi lần thứ ba. Song Bồ-tát phản
đối chúng đến lần thứ ba chúng xin. Tuy nhiên, chúng vẫn
khăng khăng giữ ý định đó, không tự lượng sức mình,
rồi cương quyết bay đua với mặt trời mà không tâu trình
với chúa chim. Vì thế, trước lúc rạng đông, chúng đã đậu
trên đỉnh núi Yugandhara (một trong bảy rặng núi lớn quanh
núi Meru: Tu-di).
Bậc
Ðại sĩ thấy vắng chúng, liền hỏi chúng đi đâu. Khi ngài
nghe những việc xảy ra , ngài nghĩ thầm: "Chúng sẽ chẳng
bao giờ đủ sức bay đua với mặt trời, và chúng sẽ bị
tiêu diệt trong cuộc so tài ấy. Ta phải cứu mạng chúng mới
được". Vì vậy, ngài bay đến đỉnh núi Yugandhara và đậu
bên cạnh chúng. Khi vầng nhật xuất hiện trên đường chân
trời, đôi tiểu thiên nga vùng lên, lao tới đằng trước
theo mặt trời, bậc Ðại sĩ cũng bay theo chúng. Con chim bé
nhất bay tới trước giờ ngọ thì ngất xỉu. Bên trong khớp
xương đôi cánh nó cảm thấy như thể đang bị lửa đốt.
Rồi nó ra hiệu cho bậc Ðại sĩ:
- Thưa
đại huynh, tiểu đệ không tiếp tục được nữa.
Bậc
Ðại sĩ bảo:
- Ðừng
sợ, ta sẽ cứu chú.
Rồi
mang nó trên đôi cánh dang rộng của mình, ngài an ủi nó,
đưa nó về núi Cittakùta đặt nó xuống giữa đàn thiên nga,
sau đó ngài lại bay đi bắt kịp mặt trời, đến bên cạnh
chim kia. Con chim ấy bay đua với mặt trời cho đến gần đúng
ngọ thì ngất ngư và thấy như thể lửa đang thiêu đốt
trong khớp xương ở đôi cánh của nó. Nó vừa làm dấu cho
bậc Ðại sĩ vừa kêu lên:
- Thưa
đại huynh, tiểu đệ không thể tiếp tục được nữa.
Ngài
cũng an ủi nó như trên, rồi mang nó trên đôi cánh dang rộng
của mình, ngài đưa nó về đỉnh Cittakùta. Vào lúc ấy mặt
trời đang ở trên đỉnh đầu. Bậc Ðại sĩ suy nghĩ: "Hôm
nay ta sẽ thử xem uy lực của mặt trời ra sao". Thế là chỉ
cần phóng lui một vòng, ngài đã đậu trên đỉnh Yugandhara.
Sau đó vừa tung cánh lên là ngài bắt kịp mặt trời, ngài
bay đi, lúc tiến về phía trước, lúc lùi lại đằng sau,
ngài nghĩ thầm: "Ðối với ta thì chuyện bay đua với mặt
trời thật là vô ích, chỉ do trí ngu si mà ra cả, nó có nghĩa
lý gì đối với ta đâu? Ta muốn bay đến Ba-la-nại, nói cho
thân hữu của ta là vua ấy một lời khuyến giáo về công
bình và chân chánh".
Rồi
quay lại trước khi mặt trời dần đi xuống giữa không gian,
ngài bay qua toàn cõi thế giới từ đầu chí cuối xong, ngài
giảm dần tốc lực, bay từ đầu nọ đến đầu kia toàn
xứ Diêm-phù-đề, cuối cùng đến thành Ba-la-nại. Cả kinh
thành này với chu vi chừng mười hai dặm, như thể đang nằm
dưới bóng chim chúa, không có một khe hở nào lộ ra; rồi
tốc lực giảm dần, những lỗ trống, kẽ hở lại xuất
hiện trên bầu trời. Bậc Ðại sĩ bay chầm chậm rồi đáp
xuống từ không trung, hạ cánh trước song cửa. Vua vui mừng
reo lớn:
- Thân
hữu của ta đang đến kìa!
Rồi
đặt chiếc bảo tọa bằng vàng cho chim đậu, vua phán:
- Xin
Hiền hữu vào đây, an tọa tại nơi này.
Và
ngài ngâm vần kệ đầu:
1.
Chúa Thiên nga, đến đậu nơi đây,
Lòng
trẫm thiết tha diện kiến ngài,
Hãy
chọn thứ gì ngài thấy được,
Nay
ngài là chúa tể nơi này.
Bậc
Ðại sĩ đậu trên bảo tọa bằng vàng. Vua xoa vào dưới
đôi cánh của ngài những loại dầu thơm đã lọc sạch cả
trăm lần, hay còn hơn thế nữa, cả ngàn lần, ban cho ngài
thứ gạo mềm mại và nước đường trong cái đĩa bằng vàng,
rồi nói chuyện với ngài với giọng ngọt ngào như mật:
- Này
Hiền hữu, ngài đến đây một mình, vậy ngài từ đâu lại?
Chim
chúa kể hết mọi việc. Sau đó vua bảo ngài:
- Này
Hiền hữu, xin ngài lần nữa biểu diễn tốc lực của ngài
so với mặt trời kia.
- Thưa
Ðại vương, tốc lực ấy không thể phô diễn được.
- Vậy
xin ngài biểu diễn một việc tương tự như thế.
- Ðược
lắm, thưa Ðại vương, ta sẽ biểu diễn một việc tương
tự như vậy. Xin triệu tập các xạ thủ bắn nhanh như chớp
lại đây.
Vua
liền ra lệnh triệu tập họ. Bậc Ðại sĩ lựa bốn người
rồi cùng họ từ cung điện đến sân chầu. Nơi đó, ngài
bảo dựng một trụ đá, và buộc vào cổ ngài một cái chuông
nhỏ. Sau đó, ngài đậu trên đỉnh trụ đá, đặt bốn xạ
thủ quay lưng từ trụ đá hướng ra bốn phía, bảo:
- Thưa
Ðại vương, xin ra lệnh cho bốn xạ thủ bắn ra cùng một
lúc bốn mũi tên về bốn hướng và ta sẽ chụp lấy bốn
mũi tên ấy trước khi chúng chạm mặt đất rồi đặt xuống
chân các xạ thủ. Ðại vương sẽ biết khi nào ta đi nhặt
các mũi tên nhờ tiếng chuông reng reng, song Ðại vương chẳng
trông thấy được ta đâu.
Sau
đó đồng loạt các xạ thủ bắn bốn mũi tên ra, ngài liền
chụp lấy chúng và đặt dưới chân đám xạ thủ kia, còn
mọi người thấy ngài đang đậu trên trụ đá.
- Thưa
Ðại vương, ngài đã thấy tốc lực của ta chăng?
Rồi
ngài nói tiếp:
- Thưa
Ðại vương, tốc lực ấy không phải là tốc lực bậc nhất
của ta đâu, cũng không phải là tốc lực bậc trung mà là
tốc lực kém nhất trong các tốc lực thấp kém: thế mà nó
đã chứng tỏ cho Ðại vương thấy ta nhanh nhẹn đến mức
độ nào.
Sau
đó, vua hỏi ngài:
- Này
Hiền hữu, thế có tốc lực nào nhanh hơn tốc lực của ngài
chăng?
- Thưa
Hiền hữu, có chứ. Nhanh hơn tốc lực của ta đến trăm lần,
à không, cả ngàn lần, là sự biến hoại của Tứ đại trong
đời sống của loài hữu tình: Chúng tan rã như vậy đó,
chúng bị tiêu diệt như vậy đó.
Bằng
cách ấy ngài đã làm sáng tỏ cách thế giới hữu hình hoại
vong như thế nào, bị hủy diệt như thế nào từng giây từng
phút. Khi nghe nói vậy, vua sợ chết, không còn giữ bình tĩnh
được nữa, mà ngất xỉu đi. Cả hội chúng kinh hoàng, rảy
nước vào mặt vua, khiến ngài hồi tỉnh. Sau đó bậc Ðại
sĩ nói với vua:
- Thưa
Ðại vương, chớ sợ hãi, nhưng hãy nhớ đến thần chết.
Hãy tiến lên trong đường công chính, bố thí và làm thiện
sự, phải gắng tinh cần.
Lúc
ấy vua đáp lại:
- Tâu
Chúa thượng, nếu không có một Ðạo sư hiền trí như ngài,
trẫm không thể nào sống được, vậy xin ngài đừng trở
về đỉnh núi Cittakùta nữa, mà hãy ở lại đây, dạy bảo
trẫm, xin hãy làm Ðạo sư để giáo hóa trẫm.
Rồi
vua ngâm hai vần kệ thỉnh cầu ngài:
2.
Nhờ nghe nói đến người mình yêu mến,
Mà
tình yêu thương được dưỡng nuôi hoài,
Lòng
nhớ nhung người vắng bóng dần phai,
Vì
nghe, thấy, khiến người sinh lưu luyến,
Xin
hãy cho ta đặc ân diện kiến.
3.
Giọng nói ngài thật thân ái bên ta,
Diện
kiến ngài còn thắm thiết hơn xa,
Vì
ta thích được cùng ngài diện kiến,
Thiên
nga hỡi, ở cùng ta, xin đến!
Bồ tát
đáp:
4.
Ví dù ta ở lại với Quân vương,
Trong
cảnh vinh quang dường ấy được ban,
Song
ngày kia, choáng men nồng, Chúa thượng
Có
thể truyền: "Ðem chúa chim ra nướng!".
- Không
đâu - Vua nói - Lúc có ngài ở bên cạnh, trẫm sẽ không bao
giờ đụng đến men rượu nồng nữa.
Rồi
vua cam kết hứa hẹn điều này qua vần kệ sau:
5.
Thức uống, ăn kia thật đáng rủa nguyền
Nếu
trẫm quý yêu hơn cả bạn hiền!
Trẫm
không nếm, dầu giọt nào hay ngụm,
Bao
lâu ngài ở lại đây cùng trẫm!
Sau vần
kệ này, Bồ-tát ngâm sáu vần kệ khác:
6.
Tiếng loài sơn cẩu, tiếng chim muông,
Cũng
rất dễ dàng được cảm thông,
Tiếng
nói người đời, tuy rõ thế,
Vô
cùng tối nghĩa, hỡi quân vương!
7.
Con người thường nghĩ: "Bạn thân mình,
Quyến
thuộc là đây, bạn chí tình!".
Song
tình bằng hữu thường hay mất,
Căm
hận, oán thù lại khởi sinh.
8.
Ai được ngài thương, cũng quý ngài,
Gần
ngài, dù ở tận phương trời,
Song
người sống cận kề ngài đó,
Lòng
ngài hờ hững, cũng xa vời.
9.
Ai ở nhà ngài, dạ mến thương,
Vẫn
ân cần, dẫu cách trùng dương,
Nhà
ngài ai ở, tâm thù nghịch,
Xa
cách trùng dương, vẫn oán hờn!
10.
Những người thù nghịch, Chúa công ôi!
Dù
ở gần nhau, vẫn cách vời.
Song
hỡi Ðại vương-nuôi-quốc-độ,
Các
hiền nhân kết hợp nhau hoài!
11.
Ai ở quá lâu sẽ thấy rằng
Thân
bằng có lúc hóa cừu nhân,
Trước
khi để mất tình thân hữu,
Ta
giã biệt ngài, cất bước chân.
Sau đó
vua nói với ngài:
12.
Dù trẫm chấp tay lại cố nài,
Ngài
không hề chịu để vào tai,
Chẳng
dành lời nói cho bằng hữu
Tha
thiết cầu mong giúp đỡ hoài.
Trẫm
khát khao ngài ban đặc huệ:
Trở
về đây viếng trẫm nay mai.
Thế
rồi Bồ tát đáp lời:
13.
Nếu không gì gián đoạn dòng đời,
Vì
thử ngài, ta, Chúa thượng ôi!
Còn
sống, hỡi Người-nuôi-đại-chúng,
Ta
bay về lại chốn đây thôi,
Rồi
ta còn dịp lành tương kiến,
Trong
lúc ngày đêm lờ lững trôi.
Với
lời nhắn nhủ vua xong, bậc Ðại sĩ lên đường về núi
Cittakùta.
*
Khi
bậc Ðạo sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
-
Như vậy, này các Tỷ kheo, ngày xưa, ngay cả khi Ta được
sinh vào loài súc vật, Ta đã chứng minh tính cách mong manh
của Tứ đại trong cuộc sống và tuyên thuyết Chánh pháp.
Nói
vậy xong, Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy, Ànanda là vua, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là
con chim trẻ nhất, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là chim non thứ
hai, hội chúng của đức Phật là tất cả Thiên nga, và Ta
chính là Chúa Thiên nga có thần tốc.
-ooOoo-
477.
Chuyện Tiểu Đạo Sĩ Nàrada (Tiền thân Culla-Nàrada)
Không
có củi nào được bổ ra..,
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về các trò
quyến rủ của một cô gái thô tục.
Thời
ấy, Ta biết rằng có một cô gái chừng mười sáu tuổi,
con của một người dân thành Xá-vệ là một cô gái có thể
đem vận may đến cho đàn ông, song chẳng có nam nhân nào chọn
nàng cả. Vì vậy, mẹ nàng nghĩ thầm: "Con gái ta đã đến
tuổi trưởng thành. Song chẳng ai chọn nó cả. Ta muốn dùng
nó như miếng mồi câu cá, khiến cho một vị xuất gia tu hành
trong dòng họ Thích-ca phải hoàn tục và nó sống nương nhờ
vị ấy".
Lúc
bấy giờ, có một thiện gia nam tử ở Xá-vệ, đã quyết
tâm tu hành và gia nhập Tăng chúng. Nhưng từ khi chàng đã
thọ Ðại giới xong, chàng lại mất cả ước vọng tu tập
và cứ sống chuyên lo tô điểm bản thân chàng.
Người
nữ cư sĩ này thường hay dọn sẵn cháo gạo trong nhà và
nhiều thức ăn loại cứng, loại mềm, rồi đứng ở cửa
trong khi Tăng chúng đi ngang qua đường phố và cố tình xem
ai là người có thể bị lòng thèm ăn của ngon vật lạ lôi
cuốn. Kìa lũ lượt trên đường là đám nam tử hành trì
Tam Tạng Kinh, Luật, Luận, song bà không tìm được ai có thể
mắc vào mồi của bà cả. Giữa các vị mang bình bát đắp
y kia là những vị pháp sư thuyết giáo với giọng ngọt ngào
như mật, di chuyển như đám mây bồng bềnh trước gió, bà
chẳng thấy ai cả.
Song
cuối cùng bà chợt thấy một nam nhân tiến tới, khóe mắt
xoa dầu thơm, tóc buông xõa, mang chiếc y trong bằng thứ lụa
mượt mà, chiếc y ngoài được giặt giũ sạch sẽ, bình bát
có màu sắc đẹp như loại bảo châu, chiếc dù thật vừa
ý, một con người buông thả các căn theo sở thích, toàn thân
một màu đồng vàng bóng lộn. "Ðây chính là người mà ta
có thể bắt lấy!" Bà nghĩ thầm và đảnh lễ vị kia, bà
đến cầm lấy bình bát và mời ông vào nhà.
Bà
dọn chỗ ngồi cho ông, đưa cháo gạo và các thức khác. Rồi
sau bữa ăn, bà yêu cầu ông ghé nhà bà làm nơi nghỉ chân
lui tới trong tương lai. Vì thế, ông thường viếng thăm nhà
đó về sau, dần dần với thời gian trở nên thân thiết.
Một
ngày kia, bà cư sĩ ấy nói cốt cho ông nghe:
-
Trong nhà này, chúng ta sung sướng lắm, duy chỉ một điều
là ta chẳng có con trai hay con rể để bảo tồn gia sản thôi.
Ông
nghe được, tự hỏi không biết lý do gì bà lại nói vậy,
chẳng mấy chốc dường như việc đó đã đâm sâu vào tim
ông. Bà ta bảo con gái:
-
Con hãy quyến rủ người này đi, hãy tìm cách điều khiển
chàng theo ý con.
Vì
thế sau đó, cô gái tô điểm đầy mình đủ loại trang sức
và quyến rủ vị kia, dùng đủ mánh lới xảo quyệt của
nữ nhân. (Ta phải hiểu rằng "một cô gái thô tục" đây
không có nghĩa là thân hình mập mạp, nhưng dù mập hay gầy,
cô ta cũng bị gọi là "thô tục" vì mãnh lực năm thứ dục
tình của cô ta).
Sau
đó, nam tử kia còn trẻ lại bị dục tình chi phối, nên lòng
thầm nghĩ: "Nay ta không thể nào tu theo Giáo pháp của đức
Phật được nữa". Và ông đi đến Tinh xá đặt y bát xuống,
nói với các vị giáo thọ của mình:
-
Tâm con đang thối thất.
Rồi
các Tỷ-kheo ấy dẫn ông đến bậc Ðạo sư và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo này đang thối thất.
Ngài
hỏi:
-
Này Tỷ kheo, họ bảo rằng tâm ông đang thối thất. Có đúng
vậy không?
-
Bạch Thế Tôn, quả thật như vậy.
-
Thế việc gì khiến ông như vậy?
-
Bạch Thế Tôn, một cô gái thô tục.
Ngài
bảo:
-
Này Tỷ kheo, ngày xưa, lâu lắm rồi, khi ông ở trong rừng,
chính cô gái này đã cản trở đời thanh tịnh của ông và
đã làm hại ông rất nhiều, thế thì tại sao ông lại sinh
thối thất vì cô ta nữa?
Rồi
theo lời thỉnh cầu của tăng chúng, Ngài kể một chuyện
quá khứ.
*
Một
thời kia, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh vào một gia đình Bà-la-môn rất giàu có. Sau khi thành
đạt việc học vấn, ngài về điều hành cả tài sản. Kế
đó, bà vợ ngài sinh một con trai rồi qua đời. Ngài suy nghĩ:
"Cũng như vợ yêu quý của ta, cái chết sẽ không chừa ta
đâu, vậy gia đình có nghĩa gì với ta nữa? Ta muốn xuất
gia tu hành".
Vì
thế, ngài từ bỏ mọi tham dục, cùng con trai ngài đi vào
vùng Tuyết Sơn, ở đó cùng sống đời ẩn sĩ, tu tập Thiền
định và Thắng trí, cư trú trong rừng, sinh sống bằng trái
cây và củ rừng.
Vào
thời ấy, dân chúng ở biên địa cướp phá xứ sở, sau khi
tấn công một thị trấn và bắt các tù nhân, bọn chúng chất
đầy chiến lợi phẩm, trở về biên địa. Trong đám ấy,
có một cô gái tuyệt đẹp, song đầy mánh khóe giả dối.
Cô ta nghĩ thầm: "Các đàn ông này khi mang chúng ta đi xa nhà,
sẽ biến bọn ta thành nô lệ, quyết tìm cách trốn thoát".
Vì vậy, cô ta bảo:
- Thưa
chủ nhân, thiếp muốn nghỉ chân, vậy cho thiếp đi nghỉ
chân một lát.
Nàng
đánh lừa bọn cướp như thế, rồi trốn đi.
Lúc
bấy giờ, Bồ tát đã đi vào rừng tìm củ quả, để con
trai ở lại am lá. Trong khi ngài đi vắng, cô gái đang lang
thang trong rừng, bước đến am này vào sáng sớm, quyến rủ
chàng trai bằng dục tình, phá hủy công đức của chàng và
chinh phục chàng theo ý mình. Nàng bảo chàng:
- Sao
chàng lại ở trong rừng, này đôi ta cùng về một làng kia
làm nhà riêng cho ta ở. Tại đó đôi ta dễ dàng tận hưởng
mọi lạc thú ái tình.
Chàng
bằng lòng và bảo:
- Nay
cha ta đang ở trong rừng kiếm trái cây, khi nào gặp lại cha
ta thì sẽ cùng nhau đi xa.
Lúc
ấy, cô gái thầm nghĩ: "Cậu trai khờ dại này chẳng biết
gì cả, song còn cha cậu ắt hẳn đã xuất gia tu hành lúc
tuổi già. Khi ông ấy về nhà, ông ấy sẽ biết ta làm gì
ở đây và đánh đập ta, lôi cổ kéo cẳng ta ra, quẳng ta
vào rừng sâu. Vậy ta muốn đi ngay trước khi ông ấy về".
Rồi
chỉ rõ dấu hiệu đi đường xong, nàng liền đi ngay. Sau khi
nàng vừa khuất bóng, chàng trai trở nên buồn bã, không làm
phận sự hàng ngày như thường lệ, mà đi trùm kín từ đầu
tới chân nằm dài ra trong am lá, u sầu phiền muộn.
Khi
bậc Ðại sĩ đem mớ quả rừng về nhà, ngài quan sát dấu
chân cô gái: "Ðây là dấu chân một nữ nhân", ngài nghĩ thầm:
"Ắt hẳn công đức của con trai ta đã mất rồi". Sau đó
ngài bước vào am đặt mớ quả rừng xuống và ngâm vần
kệ đầu hỏi con trai ngài:
1.
Không có củi nào được bổ ra,
Và
không kéo nước tự ao hồ,
Cũng
không có lửa nào con nhóm,
Ðờ
đẫn nằm sao giống kẻ rồ?
Nghe giọng
của cha, chàng trai vùng dậy đảnh lễ cha và hết sức cung
kính, chàng thổ lộ rằng chàng không thể nào chịu được
cuộc sống trong rừng nữa, và chàng ngâm đôi vần kệ:
2.
Con không thể sống ở sơn lâm,
Cuộc
sống trong rừng thật khó khăn,
Con
quyết điều này, Ca-diếp hỡi!
Con
mong trở lại chốn phàm nhân.
3.
Này Ðại sĩ ơi, hãy dạy con,
Khi
con từ giã, bước lên đường,
Thế
nào phong tục trong toàn quốc
Con
phải biết cho thật tỏ tường.
Bậc
Ðại sĩ bảo:
- Này
con, được lắm, ta sẽ dạy con mọi phong tục trong nước.
Và
ngài ngâm đôi vần kệ:
4.
Nếu con đã quyết chí xa rời
Các
trái cây rừng với sắn khoai,
Về
sống thị thành, nghe dạy bảo
Làm
sao phong cách hợp theo đời.
5.
Tránh nơi vách đá, chốn hang sâu,
Thuốc
độc, rời xa, dẫu loại nào,
Bước
thận trọng nơi loài rắn ở,
Ðống
bùn nhơ bẩn, chờ sa vào.
Con trai
vị ẩn sĩ không hiểu được lời khuyên cốt lõi ấy, liền
hỏi:
6.
Cách đá, dốc cao ấy có gì
Liên
quan đến Thánh đạo ta đi,
Bùn
nhơ, thuốc độc cùng loài rắn?
Xin
nói điều này với tiểu nhi.
Vị ấy
đáp lời giải thích:
7.
Có thuốc uống kia ở cõi trần,
Mà
người ta gọi rượu, con thân,
Thơm
tho, như mật ong ngon ngọt,
Giá
rẻ, đầy hương vị dịu dàng,
Cái
ấy, Na-ra-da, bậc trí
Bảo
là thuốc độc đối hiền nhân.
8.
Và bọn nữ nhân ở cõi trần,
Làm
người ngu trí phải điên cuồng,
Chúng
lôi đám trẻ người non dạ,
Như
bão dưới đường bắt hạt bông,
Ta
nói vực sâu là đấy nhé
Ðang
nằm ngay trước mặt hiền nhân.
9.
Ðược đời trao tặng đại vinh quang,
Ân
sủng, lộc nhiều, tiếng tốt vang,
Này
đó, Nà-ra, bùn cấu uế
Có
cơ làm bẩn các hiền nhân.
10.
Ðế vương cùng với đám quần thần
Ðang
ngự trong cung chốn thế nhân,
Này
đó, Na-ra đều chức trọng,
Mỗi
vua là một chúa oai hùng.
11.
Trước chân vua chúa, các quân vương,
Con
nhớ đừng nên chọn bước đường
Vì
đó, Na-ra là rắn cả,
Những
người ta đã nói, con thương.
12.
Ngôi nhà con đến để xin ăn,
Khi
mọi người an tọa trước bàn,
Nếu
thấy tốt lành trong chỗ ấy,
Thì
con ăn uống thỏa thuê lòng.
13.
Khi người kia dọn bữa mời con,
Thực
hiện điều này lúc uống ăn:
Ðừng
uống quá chừng, ăn quá độ,
Tranh
xa nguồn dục lạc phàm trần.
14.
Rượu chè, chuyện phiếm, bạn tà gian,
Các
tiệm bán buôn của thợ vàng,
Con
hãy tránh xa như những kẻ
Ði
trên đường lộ chẳng bình an.
Trong
khi người cha cứ tiếp tục nói mãi, nói mãi bên tai, chàng
trai dần dần hồi tỉnh và nói:
- Thưa
phụ thân, con đã chán chê cõi phàm trần rồi.
Sau
đó vị cha dạy cho chàng tu tập từ tâm và các thiện pháp
khác. Người con nghe theo lời cha dạy bảo, chẳng bao lâu phát
khởi Thiền định trong tâm trí chàng. Và cả hai cha con không
bao giờ gián đoạn Thiền định, nên được tái sinh vào cõi
Phạm thiên.
*
Khi
bậc Ðạo sư đã chấm dứt Pháp thoại, Ngài nhận diện Tiền
thân:
-
Vào thời ấy, cô gái thô tục này là thiếu nữ kia, Tỷ-kheo
thối thất là con trai vị ẩn sĩ, và Ta chính là người cha.
-ooOoo-
478.
Chuyện Sứ Thần (Tiền thân Dùta)
Trầm
tư trên bến nước sông Hằng..,
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về việc
tán thán trí tuệ của Ngài.
Trong
Chánh pháp đường, Tăng chúng đang bàn luận:
-
Này các Tỷ kheo Hiền hữu, tài trí của đấng Thập lực
thật dồi dào phương tiện thiện xảo biết bao! Ngài đã
chỉ cho vương tử Nanda (em trai của Ngài) thấy cả bầy thiên
nữ xong khiến vị ấy đắc Thánh quả; Ngài lại trao chiếc
y cho chàng tiểu thị giả của Ngài và giáo hóa cho chàng chứng
quả Thánh quả bốn Thiền chứng. Ngài chỉ đóa hoa sen cho
người thợ rèn nọ khiến người ấy đạt Thánh quả. Thật
Ngài đang hóa độ chúng sinh với muôn vàn phương tiện khác
nhau.
Bậc
Ðạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang ngồi bàn luận chuyện
gì; các vị trình với Ngài, Ngài bảo:
-
Ðây không phải là lần đầu tiên Như Lai có đủ phương
tiện thiện xảo và tài trí để biết rõ việc gì sẽ đem
lại kết quả như ý đâu, mà ngày xưa Như Lai cũng đã đầy
đủ tài trí.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, cả nước
đó không có vàng vì vua áp bức toàn dân và lấy hết kho
vàng. Vào thời ấy, Bồ-tát sinh vào một gia đình Bà-la-môn
ở một làng nọ trong xứ Kàsi. Khi ngài đến tuổi khôn lớn,
ngài đến Takkasilà và nói:
- Ta
sẽ kiếm tiền để trả học phí cho sư phụ ta sau, bằng
phương pháp xin của bố thí một cách kín đáo.
Ngài
đi đến thọ giáo và khi đã hoàn thành việc học tập, ngài
nói:
- Thưa
sư phụ, con sẽ dùng hết năng lực tinh cần của con để
đem về dâng sư phụ số tiền xứng đáng với việc sư phụ
dạy bảo.
Thế
là xin phép từ giã thầy dạy, ngài ra đi tất cả vùng đó
để cầu bố thí.
Sau
khi ngài đã kiếm được vài lạng vàng theo đúng cách chơn
chánh và ngay thẳng, ngài ra về định trao tận tay thầy mình,
rồi trên đường đi đã dùng thuyền vượt qua sông Hằng.
Khi con thuyền tròng trành trên mặt nước, số vàng ấy rơi
mất. Ngài suy nghĩ: "Xứ này thật khó kiếm vàng, nếu ta lại
đi lần nữa để kiếm tiền trả thầy ta thì sẽ chậm trễ
lắm, vậy nếu ta cứ ngồi tuyệt thực bên bờ sông Hằng
thì sao? Dần dần cũng có lúc đức vua biết được việc
ta ngồi đây, và vua sẽ phái một vài cận thần đến, nhưng
ta sẽ chẳng nói gì với họ. Sau đó, chính đức vua sẽ đến
và nhờ đó ta sẽ kiếm được tiền học phí trả thầy ta".
Vì
vậy, ngài đắp thượng y lên mình, đặt sợi dây tế đàn
ra ngoài và ngồi bên bờ sông Hằng như thể một pho tượng
vàng trên vùng cát bạc. Ðám đông đi ngang qua thấy ngài ngồi
đó không ăn thứ gì cả, liền hỏi tại sao ngài ngồi như
vậy. Nhưng ngài không nói lời nào với dân chúng cả. Hôm
sau, dân làng kế cận hay tin ngài ngồi đó, cũng đến hỏi
han, nhưng ngài cũng không nói gì; dân chúng thấy ngài kiệt
sức như vậy thì vừa bỏ đi vừa thương xót than vãn.
Ngày
thứ ba, dân từ kinh thành kéo đến, ngày thứ tư là các bậc
quyền cao chức trọng trong kinh thành, ngày thứ năm là đám
triều thần quanh vua, ngày thứ sáu, vua sai các đại thần
đến, nhưng ngài chẳng hề nói với ai điều gì. Ngày thứ
bảy, vua lo ngại đến gặp ngài và xin ngài giải thích qua
vần kệ đầu:
1.
Trầm tư bên bến nước sông Hằng,
Và
tại sao chàng chẳng nói năng,
Ðể
trả lời ta truyền nhắn hỏi,
Hay
chàng dấu chuyện khổ đau chăng?
Nghe lời
này, bậc Ðại sĩ đáp:
- Tâu
Chúa thượng, nỗi sầu của thần chỉ được thổ lộ cho
người có thể vứt bỏ nó đi chứ không nói với ai khác
được.
Rồi
ngài ngâm bảy vần kệ:
2.
Hỡi Ðại vương nuôi-xứ-Kà-si!
Số
ngài ví thử gặp sầu bi,
Nỗi
sầu chớ lộ cho người khác,
Nếu
kẻ này không có ích gì.
3.
Song nếu ai san sẻ một phần
Nỗi
sầu, nhờ thế lực quyền năng,
Thì
con người ấy đang sầu muộn
Nói
rõ người kia mọi ước mong.
4.
Tiếng loài sơn cẩu, tiếng chim muông
Cũng
rất dễ dàng được cảm thông,
Tiếng
nói người đời, tuy rõ thế
Vô
cùng khó hiểu, hỡi Quân vương!
5.
Con người thường nghĩ: "Bạn thân mình,
Quyến
thuộc bà con, bạn chí tình",
Song
mối tình thân thường biến mất,
Oán
thù, căm hận, lại sần sinh!
6.
Người không được hỏi gặn nhiều lần,
Nói
chẳng đúng thời nỗi khổ tâm,
Chắc
chắn làm phiền lòng bạn hữu,
Mong
mình an ổn, phải than van.
7.
Tìm kiếm cơ may để nói năng,
Biết
người hiền trí lại đồng lòng,
Bạn
hiền tỏ nỗi ưu cùng bạn,
Ý
nghĩa nằm sau tiếng dịu dàng.
8.
Song, nếu trí nhân thấy rõ ràng,
Không
gì giải được nỗi gian truân,
Ðiều
gì đem nói cho người biết,
Cũng
chẳng đạt thành quả ước mong,
Bậc
trí một mình đành nín lặng,
E
dè nhẫn nhục đến sau cùng.
Bậc
Ðại sĩ đã thuyết pháp như vậy qua bảy vần kệ trên để
giáo hóa vua, rồi ngâm thêm bốn vần nữa để kể chuyện
ngài đi kiếm tiền trả cho thầy dạy:
9.
Ðại vương! Thần đã phải lang thang,
Nhiều
nước, kinh thành, mỗi quốc vương,
Thị
trấn, thôn làng, cầu bố thí
Bởi
vì học phí, quyết lòng mang.
10.
Ðến trước thềm ai, mọi chủ nhà,
Triều
thần, đạo sĩ hoặc thương gia,
Cầu
xin một ít vàng, thần được
Chừng
một hay hai lạng ấy mà,
Chúa
thượng, số vàng nay đã mất
Nên
thần buồn bã thật sâu xa.
11.
Các sứ giả không thế lực gì
Làm
thần thoát khỏi nỗi sầu bi,
Thần
đà cân nhắc hoài cho kỹ,
Chúa
thượng! Thần không giải thích chi.
12.
Song ngài, uy lực đủ, Anh quân!
Giải
thoát cho thần nỗi khổ thân.
Vì
xét kỹ ngài nhiều đức độ,
Thần
cho ngài biết thật tinh tường.
Khi vua
nghe lời cảm khái ấy, liền đáp:
- Này
chàng Bà-la-môn, thôi đừng phiền muộn nữa. Vì trẫm sẽ
tặng học phí cho chàng đem trả thầy giáo.
Rồi
vua hoàn lại gấp đôi số vàng cũ.
Ðể
làm sáng tỏ vấn đề này, bậc Ðạo sư ngâm vần kệ cuối
cùng:
13.
Ðại vương nuôi dưỡng-cả-giang-san,
Hoàn
lại người kia một số vàng,
Tròn
vẹn với lòng tin tưởng nhất,
Trước
chàng đã có, gấp đôi lần.
*
Khi
bậc Ðạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
-
Như vậy, này các Tỷ kheo, không phải chỉ bây giờ Như Lai
mới đầy đủ phương tiện thiện xảo, xưa kia Như Lai cũng
vẫn như vậy.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
-
Vào thời ấy Ànanda (A-nan) là vua, Sàriputta (Xá-lợi-phất)
là vị giáo thọ, và Ta là chàng thanh niên kia.
-ooOoo-
479.
Chuyện Cây Bồ Đề và Thánh Đế Kalinga (Tiền thân Kalinga-Bodhi)
Kha-linh,
Thánh đế Chuyển Luân Vương..,
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về việc
Tôn giả Ànanda cử hành lễ cúng dường cây Bồ-đề.
Trong
lúc đức Như Lai đi du hành vì mục đích thâu nhận những
người đủ cơ duyên để thọ giáo, dân chúng thành Xá-vệ
tiến đến Kỳ Viên, tay cầm đầy vòng hoa thơm ngát, thấy
không có nơi nào khác để tỏ lòng ngưỡng mộ sùng kính,
liền đặt hoa bên cổng vào Hương phòng của đức Phật rồi
ra đi. Việc này đã gây được niềm hoan hỷ rất lớn. Song
Trưởng giả Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) nghe được chuyện
ấy; khi đức Như Lai trở về, vị trưởng giả liền đến
thăm Tôn giả Ànanda và nói với ngài:
-
Thưa Tôn giả, tinh xá này không được cúng dường trong lúc
đức Như Lai du hóa, và không có nơi nào cho dân chúng dâng
hoa thơm để tỏ lòng sùng bái. Xin Tôn giả từ bi thưa với
đức Như Lai về vấn đề này để Ngài cho biết xem có thể
tìm được nơi nào dùng vào mục đích này chăng?
Vị
Tôn giả kia sẵn sàng làm theo, liền thưa đức Phật:
-
Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu loại bảo Tháp?
-
Này Ànanda, có ba loại.
-
Bạch Thế Tôn, đó là các loại nào?
-
Bảo tháp thờ kim thân, bảo tháp thờ các vật thường dùng
hay mang trên người và bảo tháp thờ các kỷ vật (ảnh tượng).
-
Trong lúc Thế Tôn còn tại thế, có thể xây một bảo tháp
được chăng?
-
Không được, này Ànanda, không thể xây một bảo tháp thờ
kim thân, loại tháp đó chỉ được xây khi nào một đức
Phật diệt độ (đắc Niết bàn vô dư y). Một bảo tháp thờ
kỷ vật cũng không đúng đâu vì mối liên hệ chỉ tùy thuộc
vào tâm tưởng mà thôi. Còn cây Ðại Bồ-đề đã được
chư Phật sử dụng, nên rất đáng làm nơi chiêm bái, dù chư
Phật còn tại thế hay diệt độ.
-
Bạch Thế Tôn, trong thời gian Thế Tôn du hóa xa xôi, ngôi
Ðại Tinh xá Kỳ Viên này không có nơi nương tựa, và dân
chúng không có nơi nào để có thể tỏ bày lòng quy ngưỡng.
Xin Thế Tôn cho phép con trồng một hạt giống từ cây Ðại
Bồ-đề (ở Bồ-đề Ðạo tràng) ngay trước cổng Tinh xá
này được chăng?
-
Dĩ nhiên nên làm như vậy lắm, này Ànanda, và nó cũng sẽ
là một nơi an trú cho Ta như trước kia.
Tôn
giả này nói lại chuyện ấy với trưởng giả Cấp Cô Ðộc,
bà Visàkkà và vua Pasenadi. Sau đó, tại cổng Tinh xá Kỳ Viên,
Tôn giả đào một lỗ để trồng cây Bồ-đề và nói với
Ðại trưởng lão Moggallàna (Mục-kiền-liên):
-
Tiểu đệ muốn trồng một cây Bồ-đề trước Tinh xá Kỳ
Viên, xin Tôn huynh kiếm cho tiểu đệ một quả Bồ-đề có
được chăng?
Vị
Trưởng lão kia rất sẵn sàng đồng ý, liền bay qua không
gian đến tận vùng đất có cây Bồ-đề ấy. Ngài lấy đặt
dưới tấm y một quả Bồ-đề đang rụng ra khỏi thân cây
nhưng không rớt xuống đất, và mang nó về giao cho Tôn giả
Ànanda. Vị Tôn giả này báo tin cho vua xứ Kosala biết là mình
sắp trồng cây Bồ-đề. Vì thế, buổi chiều vua đến cùng
một đám tùy tùng đông đảo, sau đó ông Cấp Cô Ðộc và
bà Visàkkà cũng đến cùng một đám người mộ đạo nữa.
Ở
chỗ cây Bồ-đề sắp được trồng, Tôn giả Ànanda đặt
một chiếc bình vàng, dưới đáy có lỗ, đựng đầy đất
tắm nước hương thơm ngát. Tôn giả bảo:
-
Tâu Ðại vương, xin hãy trồng hạt giống Bồ-đề này.
Và
Tôn giả trao hạt ấy cho vua. Song vua nghĩ rằng vương quốc
này không ở trong tay mình mãi được, nên để cho ông Cấp
Cô Ðộc trồng, liền giao hạt giống cho vị trưởng giả
đại phú kia. Sau đó, ông Cấp Cô Ðộc xới đất thơm lên
và thả hạt giống vào. Vừa lúc hạt rơi ra khỏi tay vị
ấy, ngay trước mắt mọi người, vọt lên một cây Bồ-đề
con, to cỡ bằng đầu lưỡi cày, cao chừng năm mươi cubit
(1cubit = 45cm) tứ phía nảy ra năm cành lớn dài 50cubit, như
thân cây ấy. Cây đứng sừng sững như thế quả là một
chúa tể rừng xanh, một phép lạ hy hữu thần kỳ.
Vua
tưới quanh thân cây những bình bằng vàng, bằng bạc, tất
cả tám trăm bình đựng đầy nước tỏa hương thơm ngát,
tươi đẹp với vô số hoa sen xanh. Bao giờ cũng vậy, vua ra
lệnh tất cả một dãy dài bình bát đựng đầy thực phẩm
và một sàng tọa làm bằng bảy báu vật, có lớp nhủ vàng
rảy lên, rồi dựng một bức tường bao quanh vùng ấy, lại
xây một nhà canh cổng làm bằng bảy báu vật. Vua bày tỏ
lòng sùng kính đặc biệt trọng thể như vậy đối với cây
Bồ-đề.
Trưởng
lão Ànanda đến gần đức Như Lai và thưa với Ngài:
-
Bạch đức Thế Tôn, vì lợi lạc của chúng sinh, xin Thế
Tôn thị hiện ngay dưới cây Bồ-đề con vừa mới trồng
này sự chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác mà Thế Tôn
đã thành tựu dưới gốc cây Bồ-đề trước kia.
-
Này Ànanda, ông nói gì thế? Không có nơi nào khác có thể
chịu đựng nổi sức mạnh của Ta nếu Ta ngồi nơi đó để
chứng đắc quả vị mà Ta đã chứng đắc trong khu vực có
cây đại Bồ-đề trước kia cả đâu.
Tôn
giả Ànanda lại nói:
-
Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lợi lạc của chúng sinh mà
dùng cây Bồ-đề này làm nơi nhập đại định, bao lâu mặt
đất chốn này đủ sức chịu đựng sức mạnh của Thế
Tôn.
Bậc
Ðạo sư liền sử dụng nơi mới trồng cây Bồ-đề ấy để
nhập đại định suốt một đêm.
Tôn
giả Ànanda liền thông báo với vua và mọi người khác, rồi
gọi nó bằng tên "Hội Bồ-đề". Và cây này do Tôn giả Ànanda
trồng nên được đặt tên là cây Bồ-đề của Ànanda.
Vào
thời ấy, Tăng chúng bắt đầu nói đến việc trên tại Chánh
pháp đường:
-
Này hiền hữu, ngay khi đức Như Lai c