CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
468.
Chuyện Ðại vương Janasandha (Tiền thân Janasandha)
Chúa
tể Ja-na nói thế này...,
Chuyên
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú ngụ tại Kỳ Viên về
việc giáo hóa Quốc vương Kosala.
Có
một thời, dân chúng bảo rằng vua mê đắm quyền lực buông
mình vào các ác dục, không trị nước công minh, và ngày càng
xao lãng việc đến yết kiến đức Phật. Một ngày kia, vua
nhớ đến đấng Thập Lực liền suy nghĩ: "Ta phải đến viếng
Ngài." Vì vậy, sau khi điểm tâm, vua ngự lên chiếc vương
xa lộng lẫy, tiến về tinh xá, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống.
Ðức Phật hỏi:
- Thưa
Ðại vương, thế nào? Ðã lâu Ðại vương không đến đây?
Vua
đáp:
- Bạch
Thế Tôn, trẫm quá bận việc nên không có dịp đến đây
hầu cận Thế Tôn.
Ðức
Phật bảo:
- Thưa
Ðại vương, xao lãng việc đến gặp các bậc Chánh Ðẳng
Giác như Ta thật là không đúng, Ta là một vị Phật ở ngay
một tinh xá trước mặt, có thể khuyến giáo Ðại vương.
Một vị vua phải cai trị sáng suốt, trong mọi phận sự quân
vương, đối với thần dân như cha mẹ đối với con, từ
bỏ mọi ác đạo, không bao giờ quên lãng Thập vương pháp
(Mười Ðức hạnh của một vị vua). Khi một vị vua chân
chính, đám triều thần vây quanh cũng chân chính noi gương.
Thật thế, nếu theo lời giáo huấn của Ta mà Ðại vương
đã phải cai trị chân chính thì cũng không lạ gì. Nhưng còn
những bậc hiền tài ngày xưa, ngay cả thời chưa có một
bậc Ðạo Sư để giáo hóa vua chúa, mà nhờ tri kiến riêng
của chính mình, các vua đó đã được an trú vào việc thực
hành ba thiện nghiệp, thuyết Pháp cho một đám đông dân chúng
và cùng các đoàn tùy tùng lên cộng trú với các hội chúng
ở cõi Trời.
Cùng
với các lời này, theo sự thỉnh cầu của vua, bậc Ðạo
Sư kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta trị vì Ba la nại, Bồ-tát sinh ra làm
vị vương tử của chánh hậu. Cha mẹ ngài đặt tên ngài
là vương tử Janasandha.
Bấy
giờ đến tuổi trưởng thành và trở về từ Takkasilà, nơi
ngài đã hoàn tất việc học tập, vua ra lệnh đại xá cho
các tù nhân, và phong ngài chức Phó vương. Sau đó khi vua cha
băng hà, ngài lên ngôi vua và ra lệnh xây sáu bố thí đường:
tại bốn cổng thành, giữa thành và tại cung môn. Cứ mỗi
ba ngày, ngài phân phát sáu trăm ngàn đồng tiền và làm chấn
động toàn cõi Diêm-phù-đề vì việc đại bố thí của ngài:
ngài mở cửa ngục ra thả hết, phá bỏ những pháp trường,
ngài che chở cho mọi người bằng bốn thiện pháp (bố thí,
thân ái, công bình, thiện trị); ngài giữ Ngũ giới, hành
trì ngày trai giới và cai trị rất công chính. Thỉnh thoảng
ngài hội họp quần thần lại và thuyết Pháp cho họ:
- Các
khanh hãy bố thí, thực hành giới đức chân chánh, đi theo
công việc và nghề nghiệp của mình, tự giáo hóa mình trong
lúc còn tuổi thanh niên, lo làm cho giàu có, đừng cư xử như
một tên lừa đảo trong làng hoặc như một con chó, đừng
quá khắt khe hoặc thô ác, hãy làm bổn phận với cha mẹ,
sống trong gia đình, hãy tôn trọng các bậc trưởng thượng.
Như
vậy ngài khuyến khích quần chúng giữ chánh mạng.
Vào
một ngày trai giới trăng tròn kia, sau khi đã hành trì ngày
trai giới trọn vẹn, ngài tự nhủ: "Ta sẽ thuyết Pháp cho
đại chúng để luôn luôn làm tăng trưởng lợi lạc cho họ
và khiến họ tinh cần trong cuộc sống." Sau đó ngài ra lệnh
đánh trống lên, bắt đầu với đám cung phi, sau đó toàn
thể dân chúng trong thành tụ tập lại. Tại sân chầu ngài
ngự trên một sàng tọa lộng lẫy đặt riêng biệt, dưới
một ngôi đình được tô điểm toàn châu báu, và thuyết
Pháp bằng những lời này:
- Hỡi
dân chúng trong kinh thành, trẫm sẽ tuyên thuyết cho các người
nghe những việc gì làm cho các người đau khổ và những việc
gì không làm cho các người đau khổ. Hãy tỉnh giác, chú tâm
nghe và khéo tác ý.
*
Bậc
Ðạo Sư mở miệng ra, đó chính là viên bảo châu giữa tất
cả các chiếc miệng ở đời, chứa đầy Chân lý, và với
giọng ngọt ngào như mật, ngài giải thích lời nói này với
vua Kosala:
1.
Chúa tể Ja-na nói thế này,
Có
mười điều đúng thật như vầy,
Nếu
người quên việc thi hành chúng,
Thì
kẻ đó liền chịu khổ ngay!
2.
Không tạo, chẳng tích trữ đúng thời,
Lòng
kia giày xéo khổ đau hoài,
Về
sau hối tiếc vì suy nghĩ:
"Không
kiếm giàu sang thuở trước rồi!"
3.
Với người không học, sống gian lao!
Suy
nghĩ, ăn năn, nó khổ sầu:
Kiến
thức mà nay cần sử dụng,
Nó
không thèm học trước đi nào!
4.
Hai lưỡi ngày xưa, chẳng thật thà,
Vọng
ngôn, ý ngữ chẳng nhân từ:
Xưa
ta độc ác và cay nghiệt,
Nay
thấy nhân duyên khổ đó mà.
5.
Xưa ta sát hại thật hung tàn,
Chẳng
một người nào được phát ban,
Vì
việc đáng khinh này, (tự nhủ),
Nay
ta phải chịu lắm buồn than.
6.
Nó nghĩ, xưa ta lắm thiếp thê,
Ta
đành mắc nợ đám người kia,
Vì
ta bỏ chúng theo nàng khác,
Việc
ấy, nay ta hối tiếc ghê!
7.
Xưa đã chứa đầy thức uống ăn,
Nay
buồn, nó hối tiếc vô ngần,
Nghĩ
rằng nó chẳng bao giờ cả
Thuở
trước đem ban bố một lần.
8.
Nó khổ vì khi có thể làm,
Nó
không lo phụng dưỡng chăm nom
Mẹ
cha nay đã thành già yếu,
Tuổi
trẻ ngày nay đã lụi tàn.
9.
Vì đã khinh thường vị giáo sư,
Những
người khuyên bảo hoặc ông cha
Cố
làm nó đạt tròn tâm nguyện,
Việc
ấy gây đau khổ xót xa.
10.
Ðối với Sa-môn quá hững hờ,
Nhiều
nhà tu khổ hạnh ngày xưa
Sống
đời thánh thiện và thông thái,
Khiến
nó ăn năn tự bấy giờ.
11.
Khổ hạnh thực thi thật tốt lành,
Thiện
nhân thường vẫn được tôn vinh,
Trước
kia nó chẳng làm điều đó,
Nay
phải buồn khi kể chuyện mình.
12.
Mười điều nhờ trí tuệ khôn ngoan,
Người
thực hiện cho được vẹn toàn,
Ðối
với mọi người làm phận sự,
Sẽ
không hề phải chịu ăn năn.
*
Như
vậy, cứ mỗi tháng hai lần, bậc Ðại Sĩ thuyết giáo theo
đường lối ấy cho đại chúng. Và đại chúng được an trú
vào Giáo pháp của ngài và hoàn thành Mười thiện pháp này,
nên được sinh lên Thiên giới.
*
Khi
bậc Ðạo Sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Thưa
Ðại vương, như vậy các bậc trí nhân ngày xưa, dù chưa
được dạy bảo mà chỉ do trí tuệ riêng của mình, đã thuyết
Pháp và an trú đại chúng vào con đường đưa đến thiên
giới.
Cùng
với những lời này, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, các đệ tử của đức Phật là dân chúng và Ta
chính là vua Janasandha.
-ooOoo-
469.
Chuyện Ðại Hắc Thiên Cẩu (Tiền thân Mahà Kanha)
Chó
săn đen sẫm buộc năm dây...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú ngụ tại Kỳ Viên về
sự sống vì lợi lạc cho cõi đời.
Chuyện
kể rằng, một ngày kia, trong lúc các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh
pháp đường, họ nói chuyện với nhau. Một vị bảo:
- Này
các Hiền giả, bậc Ðạo Sư bao giờ cũng thực hành từ tâm
đối với đại chúng nên đã rời bỏ nơi an trú của Ngài
và sống chỉ vì lợi lạc của người đời. Ngài đã đạt
Tối thượng trí, song Ngài tự nguyện mang y bát di du hành
cả mười tám dặm đường hoặc nhiều hơn nữa. Vì năm vị
Trưởng lão ấy (các Tôn giả Kondannas), Ngài đã chuyển Bành
xe Pháp; vào ngày mồng năm trong nửa tháng ấy Ngài thuyết
Kinh Anattalakkana (Vô Ngã Tướng) và làm cho các vị kia đều
đắc Thánh quả A-la-hán. Ngài lại đến Uruvela (Ưu-lâu-tần-loa),
và trước các Ðạo Sĩ khổ hạnh bện tóc này (các Tôn giả
Kassapa), Ngài thị hiện cho ba ngàn rưởi vị thấy các phép
thần thông, cùng thuyết giáo cho các vị ấy gia nhập Tăng
chúng; và tại Gayàsìsa (một ngọn núi gần Gayà, nay là Brahmàmayoni),
Ngài đã thuyết Pháp về Lửa, khiến cho cả ngàn nhà tu khổ
hạnh trong số này đắc Thánh quả A-la-hán. Với Mahà-Kassapa
(Ðại Ca-diếp), sau khi Ngài đi cả ba dặm đường để gặp
vị ấy và thuyết ba Pháp thoại, Ngài đã truyền Ðại giới
cho vị ấy. Rồi một mình sau buổi thọ trai, Ngài ra đi đến
bốn mươi lăm dặm đường để đưa một thiện gia nam tử
là Pukkusa vào Tam quả Bất Lai. Ngài lại phải đi xa cả hai
ngàn dặm để gặp Mahà-Kappina (Ðại Kiếp tân-na) và làm
cho vị này đắc Thánh quả. Rồi một mình Ngài vào buổi
chiều đi ba mươi dặm đường để đưa con người độc ác
tàn bạo đó là Angulimàla (Tướng cướp đeo vòng ngón tay)
vào Thánh quả. Ngài đi ba mươi dặm nữa, và đưa Álavaka
(một con quỷ ăn thịt người) vào Sơ qủa Dự lưu cùng cứu
hoàng tử thoát nạn (khỏi bị quỷ kia ăn thịt). Ngài an trú
trên cõi Trời Ba mươi ba suốt ba tháng và giảng toàn bộ
Giáo pháp cho tám trăm triệu Thiên tử. Ngài lên cõi Phạm
thiên và phá tan tà thuyết của Phạm thiên Baka (số 405. TT
Phạm thiên Baka), cùng làm cho mười ngàn vị Phạm thiên đắc
Thánh quả. Mỗi năm Ngài du hóa trong ba khu vực, và đối với
những ai có đủ căn cơ hiểu đạo, Ngài truyền dạy Tam quy,
Ngũ giới và các quả vị khác nhau tùy mức độ khả năng.
Ngài còn hành đạo vì lợi lạc của loài Rắn rồng (Nàga)
hoặc Kim sí điểu (garula) hoặc nhiều loài khác nữa, theo
nhiều phương tiện khác nhau.
Với
những lời như trên, các Tỷ-kheo tán thán công đức trong
đời sống của đấng Thập Lực vì lợi lạc của cõi trần
gian này. Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi Tăng chúng đang nói
chuyện gì trong lúc ngồi tại đây. Tăng chúng thưa với Ngài.
Ngài bảo:
-Này
các Tỷ-kheo, ngày nay ta đã đạt Thắng trí viên mãn và sống
vì lợi ích của chúng sinh thì cũng chẳng lạ gì, ví ngay
cả xưa kia, khi Ta còn tham dục, Ta cũng đã sống vì lợi lạc
của chúng sinh.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, trong thời đức Phật Chánh Ðẳng Giác Kassapa (Ca-diếp)
có một vị vua mệnh danh là Usìnara. Một thời gian rất lâu
sau khi đức Phật Ca-diếp tuyên thuyết Tứ Ðế (Bốn Sự
Thật) và giải thoát cho nhiều hội chúng khỏi khổ ách, cuối
cùng đã nhập vào hội chúng chư Phật an trú trong Niết-bàn
(Ðại diệt độ) thì Ðạo pháp đã suy tàn. Tăng chúng tìm
kế sinh nhai bằng hai mươi mốt cách phi pháp, họ kết giao
với các Tỷ-kheo ni và sinh ra nhiều con cái. Các Tỷ-kheo xao
lãng phận sự của Tỷ-kheo. Tỷ-kheo ni cũng xao lãng phận
sự của Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ cũng vậy, các
Bà-la-môn không còn giữ phận sự của Bà-la-môn, phần đông
dân chúng theo Mười ác đạo, vì vậy khi mạng chung, họ đều
phải vào các đọa xứ thật đông đảo.
Lúc
ấy Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ, nhận thấy không có vị Thiên
tử nào mới xuất hiện, ngài nhìn ra cõi trần gian, và thấy
loài người bị đọa vào các cõi dữ như thế nào, còn Giáo
pháp của đức phật đã suy tàn. Ngài tự hỏi: "Ta phải làm
gì? - ta nghĩ ra rồi!" Ngài tự nhủ: "Ta sẽ đe dọa loài người
làm cho đại chúng kinh hãi và khi đại chúng đã kinh hãi,
ta sẽ trấn an đại chúng và thuyết Pháp, ta sẽ chấn hưng
Ðạo pháp đã suy tàn, ta sẽ làm Ðạo pháp tồn tại một
ngàn năm nữa!"
Cùng
với quyết định này, ngài biến vị Thần lái xe của Ngài
là Màtali thành một con Chó săn đen đủi khổng lồ, loài
chó thuần chủng, có bốn nanh lớn như quả chuối, hình thù
gớm ghiếc, với cái bụng bự như đàn bà sắp sinh con. Ngài
cột con Chó bằng sợi xích năm vòng, cột tràng hoa đỏ lên
mình nó và dẫn nó đi bằng một sợi dây. Chính ngài mặc
y phục màu vàng, buộc tóc ra đằng sau, quấn tràng hoa đỏ
rồi cầm một cây cung khổng lồ với dây cung màu san hô,
lắc lư trong tay một cái lao có đầu mũi gắn hạt kim cương,
ngài giả dạng một sơn nhân đi xuống, một địa điểm cách
kinh thành một dặm.
- Trần
gian đang bị tiêu diệt! Trần gian đang bị tiêu diệt!
Ngài
thét lớn ba lần để đe dọa mọi người và khi vào đến
kinh thành, ngài lại thét lên như vậy. Dân chúng thấy con
Chó săn liền kinh hoảng bỏ chạy vào thành tâu trình với
vua mọi việc. Vua vội vã truyền lệnh đóng các cổng kinh
thành. Song Thiên chủ Ðế Thích nhảy qua bức thành cao mười
tám cubit (1 cubit = 45cm) cùng con Chó săn, đứng bên trong kinh
thành. Dân chúng hoảng hốt chạy vào nhà đóng cửa thật
chặt. Con Chó đen khổng lồ rượt theo người nào nó gặp
phải và dọa nạt họ, cuối cùng vào đến tận cung vua. Trong
cơn khủng khiếp, dân chúng đi ẩn náu khắp sân chầu, vào
tận cung điện và đóng cửa lại.
Còn
vua cùng các vương phi đi lên thượng lầu. Hắc thiên cẩu
đưa chân đặt vào của sổ và rống lên thật kinh hoàng!
Tiếng rống vang dội từ địa ngục lên đến tận trời xanh
cao ngất: cả vũ trụ vang rền tiếng rống đó. Có ba tiếng
rống lớn từng vang dậy khắp cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ)
là: Tiếng rống của vua Punnaka trong chuyện Tiền thân Punnaka,
tiếng rống của Long vương Sudassana trong chuyện Tiền thân
Bhùridatta và tiếng rống này trong Tiền thân Mahà-Kanha, hay
chuyện Ðại Hắc thiên cẩu.
Vua
thu hết can đảm đến gần cửa sổ, kêu lớn vào Thiên chủ:
- Này
thợ săn kia, sao con Chó của ngươi rống lên thế?
- Vì
nó đói.
Vua
bảo:
- Ðược,
trẫm sẽ ra lệnh đem thức ăn cho nó.
Thế
là vua ra lệnh đem thức ngự thiện của ngài cùng thức ăn
trong cả cung điện. Con Chó hình như chỉ ngoạm một miếng
là hết tất cả, xong lại gào thét. Vua hỏi nữa.
- Con
chó còn đói. Thiên chủ đáp.
Sau
đó vua bảo đem thức ăn của voi, ngựa ra cho nó. Nó cũng
ăn trọn lập tức; vua lại phải lấy hết thức ăn trong kinh
thành ra cho nó; con Chó cứ nuốt trửng hết như trên rồi
gào thét nữa. Vua bảo:
- Ðây
không phải chó. Chắc chắn là con quỷ dữ. Ta muốn xem nó
từ đâu đến.
Lòng
kinh hãi, vua ngâm vần kệ đầu hỏi:
1.Chó
săn đen sẫm buộc năm dây,
Nanh
trắng nhe ra cả miệng này,
Oai
vệ gây kinh hoàng dữ dội,
Nó
làm gì được với người đây?
Nghe
vậy Ðế Thích Thiên chủ ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Chó đen chẳng đến để săn mồi,
Song
nó làm công dụng trị người,
Ðại
đế U-si này, phải biết.
Khi
ta thả lỏng nó ra thôi.
Lúc
ấy vua bảo:
- Sao,
thợ săn, chó này sẽ xé xác hết mọi người hay chỉ xé
những kẻ thù của ngươi thôi?
- Tâu
Ðại vương, chỉ những kẻ thù của tiểu thần thôi.
- Vậy
ai là kẻ thù của ngươi?
- Tâu
Ðại vương, những kẻ nào thích gian tà và theo đường ác.
Vua
bảo:
- Hãy
tả bọn chúng ra cho ta nghe.
Vị
Thiên chủ liền tả bọn chúng qua các vần kệ:
3.
Giả làm Tăng chúng, bát trong tay,
Mình
khoác chiếc y, cạo tóc này,
Lại
muốn theo nghề cày ruộng đất,
Thì
ta sẽ thả Chó đen ngay.
4.
Khi nào Ni chúng Giáo đoàn này,
Ðắp
một chiếc y, cạo tóc vầy,
Lại
thấy đua chen đời thế tục,
Thì
ta sẽ thả Chó đen đây.
5.
Khi nhà tu lại muốn cho vay
Nặng
lãi, môi trên chẫu thật dài,
Cả
miệng răng hôi, đầu tóc bẩn,
Thì
ta sẽ thả Chó đen này.
6.
Giáo sĩ không kinh thánh, lễ đàn,
Lại
dùng hết cả mọi tài năng
Tế
đàn vì chí ham tiền của,
Lúc
ấy ta liền thả Chó săn.
7.
Nay đã già nua, nhị lão thân
Ðến
thời tàn tạ hết ngày xuân,
Nó
không cấp dưỡng dù dư sức,
Chống
nó, ta liền thả Chó săn!
8.
Kẻ nào đối với mẹ cha già
Nay
đến lúc tàn, xuân đã qua,
Kêu:"Các
người kia, đồ ngốc dại!"
Chống
y, ta thả Chó săn ra.
9.
Khi đàn ông tán vợ người ta,
Vợ
của thầy hay của bạn nhà,
Em
của cha mình hay vợ cậu,
Thì
ta liền thả Chó đen ra.
10.
Khi mộc trên vai, kiếm dưới tay,
Làm
quân cường đạo, vũ trang đầy,
Chiến
trường giết hại, và ăn cướp,
Ta
sẽ thả ra Hắc cẩu này.
11.
Con trai bà góa dưỡng da ngà,
Vô
dụng không tài giỏi việc nhà,
Lực
lưỡng, chỉ gây trò đánh lộn,
Thì
ta sẽ thả Chó săn ra.
12.
Khi tâm người chứa rẫy ý tà,
Những
kẻ dối gian, chẳng thật thà,
Quanh
quẩn vào ra trong thế giới,
Thì
ta sẽ thả Chó đen mà.
- Những
người này là kẻ thù của ta, tâu Ðại vương!
Ngài
làm thể như sắp thả Chó xổ ra xé những kẻ nào làm các
hành động của cừu nhân. Song trong lúc cả đám đông đang
kinh hoàng, ngài cầm lấy dây xích chó, làm như thể buộc
chặt nó vào chỗ đó, rồi ngài trút bỏ bộ dạng thợ săn,
dùng thần lực bay lên đứng trên không, sáng rực rỡ, và
bảo:
- Này
Ðại vương, ta là Ðế Thích Thiên chủ, vì thấy trần gian
sắp bị hủy diệt nên ta đến đây. Quả thật bây giờ người
chết đọa vào các cõi khổ đầy rẫy, vì chúng làm toàn
chuyện độc ác, còn thiên giới thì trống vắng. Từ nay ta
sẽ biết cách trừng trị bọn gian ác, song các người phải
cố gắng tinh cần.
Rồi
sau khi thuyết Pháp trong bốn vần kệ đáng ghi nhớ và hướng
dẫn dân chúng vào các công đức thiện sự như bố thí, ngài
tăng cường uy lực của Giáo Pháp đang suy tàn để Giáo pháp
được tồn tại thêm một ngàn năm nữa, rồi ngài cùng Thần
Màtali trở lại cõi của ngài.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này. Ngài nói thêm:
-Này
các Tỷ-kheo, như vậy ngày xưa cũng như nay, Ta đã sống vì
lợi lạc của cõi đời.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời đó, Ánanda là Màtali và ta là Ðế Thích Thiên chủ.
-ooOoo-
470.
Chuyện Phú Ông Keo Kiệt (Tiền thân Kosiya)
Chuyện
phú ông keo kiệt sẽ được kể trong số 535. Tiền thân Thực
phẩm Thiên giới (Sudhàbhojana), Tập VI.
-ooOoo-
471.
Chuyện Con Dê (Tiền thân Mendaka)
Chuyện
con dê sẽ được kể trong số 546, Tiền thân Ðường Hầm
Lớn (Mahà Ummagga). Tập VII.
-ooOoo-
472.
Chuyện Vương Tử Liên Hoa (Tiền thân Mahà - Paduma)
Vua
chẳng nên trừng phạt tội hình...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tai Kỳ Viên về Ciddamànavikà
(người đã vu cáo đức Phật về việc thông gian).
Khi
đấng Thập Lực mới đạt Vô thượng Chánh Ðẳng Giác, sau
đó chúng đệ tử này càng đông đảo, vô số chư Thiên và
loài người đã được sinh lên Thiên giới, hạt duyên lành
gieo rắc khắp nơi, nên Ngài được uy danh lừng lẫy và lễ
vật cúng dường cao trọng. Bọn ngoại đạo tà giáo chẳng
khác nào bầy đom đóm sau buổi bình minh, họ chẳng còn danh
vọng, lợi dưỡng cúng dường nữa; họ liền ra giữa đường
hét lớn vào đám dân chúng:
- Nay
sao, Sa-môn Gotama là bậc Giác Ngộ à? Chúng ta cũng là những
bậc Giác Ngộ. Chỉ có các lễ vật cúng dường cho vị ấy
mới mang lại kết quả lớn sao? Những vật cúng dường cho
chúng ta cũng mang lại kết quả lớn cho các ngươi. Vậy các
ngươi hãy cúng dường cho chúng ta, phục vụ chúng ta nữa
chứ?
Song
dù họ kêu gào mãi, họ cũng chẳng hưởng được danh vọng
lợi dưỡng nào cả. Sau đó họ bí mật họp nhau lại, và
bàn bạc vấn kế:
- Làm
thế nào ta có thể gây ô nhục cho sa môn Gotama trước mặt
công chúng để chấm dứt danh vọng lợi dưỡng cúng dường
của ông ấy đây?
Lúc
bấy giờ tại Xá-vệ có một cô gái kia tên là Cincamànavikà,
vẻ đẹp tuyệt trần, dáng kiều diễm mảnh mai, như một
nữ thần, ánh sáng như tỏa ra từ thân thể nàng. Có người
bày mưu kế ác độc như sau:
- Nhờ
Cincamànavikà giúp sức, ta có thể gây ô nhục cho Sa-môn Gotama
và chấm dứt danh vọng lợi dưỡng mà ông đang hưởng.
- Phải
lắm, cả bọn đồng ý. Ta phải làm cách ấy đấy.
Khi
nàng ấy đến chỗ tu hành của bọn ngoại đạo tà giáo,
đảnh lễ họ rồi đứng yên, bọn tà đạo sư không nói
gì với nàng cả. Nàng hỏi:
- Con
có lỗi gì chăng? Con đã chào các Tôn giả ba lần rồi.
Nàng
lại bảo:
- Thưa
các Tôn giả, tại sao các vị không nói gì với con?
Họ
đáp:
- Này
chị, chị có biết Sa-môn Gotama đang du hành qua đây và làm
hại chúng ta, làm mất hết mọi danh vọng và lợi dưỡng
cúng dường mà chúng ta đã được hưởng trước kia chăng?
- Thưa
các Tôn giả, con không biết việc đó, nhưng con có thể làm
gì được?
- Này
chị, nếu chị muốn chúng ta được tốt lành thì hãy tự
mình gây ô nhục cho Sa-môn Gotama để chấm dứt danh vọng
lợi dưỡng mà vị ấy đang hưởng.
Nàng
đáp:
- Thưa
các Tôn giả, được lắm, xin để việc ấy cho con đừng
lo lắng gì nữa.
Nói
vậy xong nàng từ giã ra đi.
Sau
đó nàng dùng mọi xảo thuật của nữ nhân để đánh lừa
người đời. Khi dân chúng ở Xá-vệ nghe Pháp xong và ra về
từ Kỳ Viên, nàng lại thường đi về phía Kỳ Viên, khoác
chiếc y nhuộm màu đỏ yên chi, tay cầm vòng hoa thơm ngát.
Khi có ai hỏi nàng:
- Ði
đâu vào giờ này?
Nàng
thưởng trả lời:
- Các
vị có liên quan gì đến việc tôi di, tôi về mà hỏi?
Nàng
cứ ở lại ban đêm trong am thất của bọn tà đạo sư ấy,
sát gần Kỳ Viên, rồi đến sáng sớm mai, khi các cư sĩ cận
sự của Tăng chúng từ kinh thành đến đảnh lễ Tăng chúng
buổi sáng, nàng thường hay gặp gỡ họ như thể nàng đã
ở lại ban đêm tại Kỳ Viên rồi đi về kinh thành. Nếu
có ai hỏi nàng đã ở lại nơi đâu, nàng liền trả lời:
- Tôi
ở lại nơi đâu thì có việc gì đến các vị?
Song
sau chừng sáu tuần lễ, nàng đáp:
- Tôi
ở ban đêm tại Kỳ Viên với Sa-môn Gotama trong Hương phòng.
Các
người ngoại đạo bắt đầu thắc mắc không biết việc
ấy có đúng chăng. Sau chừng ba bốn tháng, nàng lại quấn
nhiều lớp vải quanh bụng, làm vẻ như thể nàng đang có
thai, và khoác áo choàng đỏ ra ngoài. Rồi nàng tuyên bố là
nàng có thai với Sa-môn Gotama khiến cho đám người ngu si mù
quáng tin theo lời. Sau chừng tám chín tháng nàng cột quanh
người những miếng gỗ cuộn thành bó, khoác áo đỏ phủ
lên, lấy xương hàm của bò đập vào tay chân thân thể cho
sưng phồng to, và làm ra dáng mệt mỏi.
Một
buổi chiều khi đức Như Lai đang ngồi trên bảo tọa thuyết
Pháp, nàng bước vào giữa hội chúng, đứng trước mặt đức
Như Lai và nói:
- Này
Ðại sa-môn, quả thực Ngài đang thuyết Pháp cho nhiều hội
chúng; giọng nói của Ngài thật êm ái, nhưng Ngài đã làm
cho tiện thiếp có thai và ngày sanh đã gần kề, tuy thế Ngài
không sắp đặt phòng bảo sanh cho thiếp, Ngài không cho thiếp
bơ tươi hay dầu ăn gì cả. Những việc tự Ngài không muốn
làm, Ngài cũng không nhờ một người cư sĩ nào làm thay thế,
như vua Kosala, Ông Cấp Cô Ðộc hay nữ cận sự Visàkhà. Tại
sao Ngài không bảo một người trong các vị ấy làm những
việc cần cho thiếp? Ngài biết cách hưởng dục lạc, song
lại không biết cách chăm sóc cái kết quả sẽ phát sinh từ
đó!
Thế
là nàng ta phỉ báng đức như Lai giữa đại chúng như một
người cố ném bùn làm vấy bẩn mặt trăng. Ðức Như Lai
ngưng thuyết giảng và thét lên như tiếng rống sư tử vang
dội khắp nơi:
- Này
chị, những điều chị vừa nói đúng hay sai, chỉ mình Ta
và chị biết thôi.
Nàng
đáp:
- Ðúng
thế, quả thực vậy, việc này xảy ra như thế nào, chỉ
mình Ngài và thiếp biết thôi.
Ngay
lúc ấy chiếc ngai vàng của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng
rực lên. Khi xem xét kỹ, ngài thấy rõ lý do: "Nàng Cincamànavikà
đang vu cáo đức Như Lai về một việc không có thực." Ngài
quyết định làm sáng tỏ vấn đề này, liền cùng bốn Thiên
thần đi đến đó. Các Thiên thần giả dạng bầy chuột đồng
lập tức cắn sợi dây cột bó gỗ kia, rồi một cơn gió
thổi tốc lên chiếc y đỏ nàng mặc, bó gỗ lộ ra và rơi
xuống chân nàng, các ngón chân nàng đều bị đứt lìa cả.
Ðại chúng la lớn:
- Một
con mụ phù thủy đang vu cáo bậc Chánh Ðẳng Giác.
Ðại
chúng liền khạc nhổ lên đầu nàng, lấy gậy gộc, đất
đá xua đuổi nàng ra khỏi Tinh xá Kỳ Viên. Khi nàng đi khuất
tầm mắt của đức Như Lai, đại địa liền há miệng ra
thành một đường nứt khổng lồ, đám lửa từ dưới địa
ngục thấp nhất bốc lên khiến nàng bị bao vây giữa đám
lửa như thể trong chiếc hồng y hôn lễ mà đám bạn sẽ
phủ lên nàng, rồi nàng rơi xuống tầng địa ngục thấp
nhất, và tái sinh tại đó. Danh vọng và lợi dưỡng của
đám tà sư vẫn tiêu tan, còn danh và lợi dưỡng của đấng
Thập Lực lại tăng trưởng dồi dào hơn nữa.
Ngày
hôm sau, Tăng chúng bàn luận trong Chánh pháp đường:
- Này
hiền hữu Tỷ-kheo, cô ả Cincamànavikà đã vu cáo đức Phật
Chánh Giác với công đức cao cả xứng đáng mọi lễ vật
cúng dường, và cô ả đã bị đọa đày khủng khiếp!
Bậc
Ðạo Sư đi vào và hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì khi
ngồi tại đây. Ðại chúng trình với Ngài. Ngài bảo:
- Không
phải chỉ bây giờ nữ nhân này mới vu cáo Ta rồi bị tiêu
diệt thảm khốc, mà ngày xưa cũng vậy.
Nói
xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta. trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm vương
tử của chánh hậu. Vì thấy dung mạo của Bồ-tát đầy đủ
phước lành như đóa sen nở, vua đặt tên Ngài là Paduma-Kumara
nghĩa là vương tử Liên Hoa. Khi lớn lên ngài được dạy
đầy đủ mọi ngành học thuật. Lúc đó bà chánh hậu qua
đời, vua lại sắc phong một vương hậu khác và phong cho ngài
làm phó vương.
Sau
đó vua sắp sửa lên đường đi dẹp loạn ở biên địa liền
phán bảo vương hậu:
- Này
ái khanh, hãy ở lại đây trong lúc trẫm đi dẹp loạn biên
cương.
Song
nàng đáp:
- Tâu
Chúa thượng, không được đâu, thiếp không muốn ở lại
mà thiếp xin đi theo hầu Chúa thượng.
Vua
liền chỉ cho nàng thấy nỗi nguy hiểm ở chiến trường và
nói thêm:
- Nàng
hãy ở lại đây đừng lo buồn vì cho đến khi trẫm hồi
cung, trẫm sẽ giao phó thái tử Paduma trọng trách chăm sóc
mọi việc cần làm cho ái khanh rồi trẫm sẽ đi.
Nói
vậy xong vua lên đường.
Khi
ngài đã đánh tan kẻ thù, bình định đất nước, ngài trở
về cắm trại ngoài kinh thành. Bồ-tát biết tin vua cha trở
về liền trang hoàng kinh thành thật rực rỡ, rồi canh phòng
cẩn mật cung điện, xong xuôi một mình ngài lên đường đón
phụ vương. Vương hậu quan sát diện mạo khôi ngô của ngài,
liền đem lòng say mê ngài. Khi giã từ vương hậu, ngài bảo:
- Tâu
mẫu hậu, vương nhi có thể làm gì cho mẫu hậu được chăng?
Nàng
bảo:
- Chàng
gọi thiếp là mẫu hậu ư?
Rồi
nàng đứng lên nắm hai tay ngài bảo:
- Chàng
hãy nằm trên vương sàng của thiếp.
- Ðể
làm gì? Ngài hỏi.
- Chúng
ta hãy tận hưởng lạc thú ái ân cho đến khi đức vua trở
về.
- Tâu
mẫu hậu, mẫu hậu là mẹ của thần nhi, và mẫu hậu đang
còn có phụ vương đây. Chưa bao giờ thần nhi nghe chuyện
một nữ nhân, một kế mẫu, lại phá bỏ đạo lý đi theo
dục lạc xác thịt như thế. Làm sao thần nhi có thể phạm
tội lỗi ô uế như vậy với mẫu hậu được?
Nàng
nài nỉ ngài hai ba lần, ngài vẫn từ chối, nàng liền bảo:
- Thế
ngươi không chịu làm như ta bảo ư?
- Quả
thật thần nhi không chịu!
- Vậy
thì ta sẽ tâu trình vua cha ra lệnh chém đầu ngươi đi!
Bồ-tát
bảo:
- Xin
cứ làm như ý mẫu hậu.
Rồi
Ngài bỏ đi, để nàng lại đó, lòng đầy hổ thẹn nhục
nhã. Rồi trong lúc qua kinh hoàng, nàng suy nghĩ: "Nếu vương
tử đi nói chuyện với vua cha trước ta thì ta sẽ không sống
nổi đâu. Vậy chính ta phải lo nói trước với ngài."
Thế
là nàng không đụng tới các món ngự thiện, mà khoác vào
chiếc hoàng y lấm lem, lại lấy móng tay cào sướt cả người,
rồi ra lệnh cho cung nữ:
- Hễ
giờ nào đức vua hỏi vương hậu ở đâu thì hãy tâu là
lệnh bà bị bệnh.
Rồi
nàng nằm xuống, giả vờ đau ốm.
Lúc
bấy giờ vua uy nghi diễu quanh kinh thành theo hướng bên hữu
rồi vào cung thất. Khi ngài không thấy nàng, ngài hỏi:
- Chánh
hậu đâu rồi?
Chúng
đáp:
- Muôn
tâu, lệnh bà đang bị bệnh.
Ngài
liền vào nội cung, hỏi nàng:
- Ái
hậu có việc gì bất an chăng?
Nàng
cứ làm như thể không nghe gì cả. Vua hỏi đến đôi ba lần
nàng mới đáp:
- Tâu
Ðại vương, ngài hỏi làm gì thế? Xin Ðại vương hãy im
lặng: phụ nữ xuất giá đều phải chịu cảnh như thân thiếp
cả.
- Ai
đã làm phiền lòng ái hậu? Vua bảo: - Nói nhanh lên rồi trẫm
sẽ hạ lệnh chém đầu nó.
- Thế
Ðại vương đã để lại kẻ nào thay Ðại vương trong kinh
thành này, khi Ðại vương ra đi?
- Vương
tử Paduma.
Nàng
nói tiếp:
- Và
thế là vương tử vào phòng của thiếp, thiếp liền hỏi:
"Này vương nhi đừng làm vậy, ta là mẫu hậu của vương
nhi".
Nhưng
vương tử kêu lên: "Không ai là đức vua ở đây trừ ta. Vậy
ta sẽ đưa nàng về cung thất của ta và hưởng ái ân với
nàng".
Rồi
vương tử nắm lấy tóc thiếp cứ kéo nhổ ra mãi, và do thiếp
không chiều theo ý vương tử nên vương tử đánh đập thiếp
trọng thương rồi bỏ đi.
Vua
không cần điều tra sự việc mà nổi cơn thịnh nộ lên như
con mãnh xà, liền ra lệnh cho quân sĩ:
- Bây
đãu đi trói vương tử Paduma rồi đem lại đây cho trẫm.
Họ
liền đi đến cung thất của ngài, đông đảo lũ lượt kéo
qua kinh thành, trói ngài lại, đánh đập, cột chặt hai tay
ngài ra sau lưng, quấn quanh cổ ngài một vòng hoa đỏ của
một tên tử tội, rồi dẫn ngài đến cung, vừa đi vừa đánh
đập. Ngài biết rõ việc này là do vương hậu gây ra, nên
trong khi ngài vừa đi, ngài vừa kêu lớn:
- Này
các ngươi, ta không làm tội gì chống lại đức vua cả. Ta
vô tội.
Cả
kinh thành vang dội tin dữ: "Chúng bảo vua sắp hành hình thài
tử theo lệnh một nữ nhân đấy!"
Dân
chúng ùa tới quỳ dưới chân thái tử mà kêu khóc vang lừng:
- Chúa
công ơi! Ngài không đáng bị trừng phạt như thế này!
Cuối
cùng họ đem ngài đến trước vua. Vừa chợt thấy mặt ngài,
vua không đè nén được những gì đang chất chứa trong lòng,
liền kêu lớn:
- Kẻ
này không phải là vua, song đã làm thế công việc của vua
cha rất hoàn hảo, đó là vương nhi của ta, tuy vậy nó đã
xúc phạm vương hậu. Bây hãy lôi cổ nó đi, đem thả xuống
vực của bọn trộm cướp cho nó chết đi.
Nhưng
vương tử tâu:
- Tâu
phụ vương, con không hề phạm tội ấy. Xin đừng giết con
vì lời của một nữ nhân.
Vua
vẫn không nghe theo ngài, rồi toàn thể mười sáu ngàn cung
phi ở chốn hậu cung đồng cất tiếng khóc than vang dội:
- Ôi
vương tử Paduma thân yêu, vương tử Paduma hùng dũng, ngài
không đáng bị đối xử như thế này.
Kế
đó tất cả các tướng quân và các lãnh chúa, cùng các vị
đại thần đều kêu lớn:
- Tâu
Chúa thượng, vương tử là người hiền thiện và đức hạnh,
vẫn giữ đúng truyền thống của dòng dõi ngài, là bậc kế
vị trên ngai. Xin đừng giết ngài theo lời một nữ nhân mà
không chịu nghe tâu trình gì cả. Phận sự một minh quân là
phải hành động hết sức cẩn trọng.
Nói
vậy xong, hội chúng liền ngâm bảo vần kệ:
1.
Vua chẳng nên trừng phạt tội hình
Mà
không nghe lý lẽ phân minh,
Cũng
không tự xét suy cho kỹ
Mọi
mặt, dù to, nhỏ thật tình.
2.
Tướng quân trừng phạt lỗi lầm sai
Trước
lúc đem ra xử hẳn hòi,
Giống
kẻ sinh ra mù cặp mắt,
Ăn
toàn xương xẩu lẫn đàn ruồi.
3.
Ai phạt kẻ không có tội gì,
Ðể
người có tội lọt qua đi,
Khác
gì hơn một người mù mắt
Bụi
trên đường cái quá gồ ghề.
4.
Người xét xem toàn thể sự tình
Trong
việc dù to, nhỏ thật rành,
Cai
trị nước nhà theo cách ấy
Xứng
ngôi chúa tể giữa quần sinh.
5.
Người nào ở địa vị cao sang
Xử
sự không nên quá dễ dàng,
Cũng
chẳng nên làm khe khắt quá,
Song
song thực hiện cả đôi đàng.
6.
Quá dễ dàng hay bị miệt khinh,
Khắt
khe thường nổi trận lôi đình,
Giữa
hai điều ấy cần thông hiểu
Và
giữ đường trung chính hợp tình.
7.
Người đang nổi giận, hỡi Quân vương,
Cũng
nói nhiều như kẻ bất lương,
Và
thế là đừng vì phụ nữ,
Giết
vương nhi nối dõi tông đường.
Song
dù nói hết mọi cách, quần thần vẫn không thuyết phục
được vua theo lời họ. Bồ-tát cũng vậy, đã dùng hết mọi
lời lẽ van xin nhưng không làm vua cha nghe theo ngài; không,
vua thật ngu si mù quáng phán bảo:
- Lôi
cổ nó đi thả xuống vực sâu dành cho bọn trộm cướp.
Rồi
vua ngâm vần kệ thứ tám:
8.
Cả nước này đang đứng một bên,
Bên
kia ái hậu một mình riêng,
Với
nàng, tuy vậy, ta khăng khít,
Thả
nó vào hang, hãy cút liền!
Nghe
các lời lẽ ấy, không ai giữa đám mười sáu ngàn phi tần
đứng yên được trong khi toàn thể thần dân đưa tay lên
vò đầu bứt tóc và kêu than khóc lóc. Vua phán:
- Ðừng
để bọn này cản trở việc quẳng tên kia xuống vực sâu.
Rồi
giữa đám quần thần, và dân chúng vây quanh than khóc, vua
cứ ra lệnh tóm lấy vương tử quẳng lộn nhào xuống vực
sâu.
Lúc
ấy vị thần trú ngụ ở trên đồi ấy dùng uy lực nhân
từ an ủi vương tử, bảo:
- Hỡi
Paduma, xin ngài đừng sợ hãi.
Vị
thần đưa cả hai tay ra đón lấy ngài, ôm chặt ngài vào lòng
mình, truyền qua thân thể ngài một niềm xúc động kỳ diệu,
đem ngài vào nơi cư trú của bầy rắn gồm tám loại, dưới
quyền của vị Xà vương. Vị rắn chúa đón Bồ-tát vào hang
rắn, song lại chia cho ngài một nửa giang sơn vinh hiển, và
ngài ở đó một năm tròn. Rồi sau đó ngài bảo:
- Ta
muốn trở về cõi nhân gian.
Chúng
hỏi:
- Ðến
nơi đâu?
- Ðến
Tuyết Sơn, nơi ta muốn sống đời tu hành.
Xà
vương chấp thuận, mang ngài đi đến tận nơi có loài người
đi qua lại, trao cho ngài đủ mọi vật dụng cần thiết của
đời tu hành, rồi trở về chốn cũ.
Thế
là ngài tiến lên vùng Tuyết Sơn, đi theo cuộc đời đạo
hạnh, tu tập năng lực Thiền định đem đến an lạc, ngài
ở đó nuôi sống mình bằng các thứ củ quả rừng.
Lúc
bấy giớ có một người kiểm lâm ở Ba la nại, đi đến
chốn ấy, và nhận ra bậc Ðại Sĩ. Gã bảo:
- Tâu
Chúa công, có phải chăng ngài là thái tử Paduma vĩ đại?
Ngài
đáp:
- Chính
phải, thưa tôn ông.
Kẻ
kia đảnh lễ ngài và ở lại chơi vài ngày. Sau đó y trở
về Ba la nại, trình với vua:
- Tâu
Chúa thương, thái tử đã theo cuộc đời tu hành ở vùng Tuyết
Sơn, hiện đang sống trong am lá. Hạ thần đã đến tận đó
ở với ngài và trở về đây.
Vua
hỏi:
- Ngươi
chính mắt trông thấy thái tử chăng?
- Tâu
Chúa thượng, chính phải.
Vua
liền cùng đám đông tùy tùng đến đó, đóng trại ở ven
rừng rồi cùng vài cận thần đi đến đảnh lễ bậc Ðại
Sĩ lúc ấy đang ngồi ở ngưỡng cửa am trong mọi vẻ uy nghi
rực rỡ, còn vua ngồi xuống một bên; các cận thần cũng
đảnh lễ ngài với lời lẽ rất thân ái, xong cùng ngồi
một bên cả. Về phần bậc Ðại Sĩ, ngài mời vua dùng trái
rừng và đàm đạo rất vui vẻ với vua. Sau đó vua hỏi:
- Này
vương nhi, con bị ta thả xuống vực sâu, làm cách nào mà
còn sống sót được?
Và
vua ngâm vần kệ thứ chín để hỏi chuyện đó:
9.
Con bị thả vào miệng vực sâu,
Bên
sườn núi dựng, dốc đèo cao,
Chẳng
ai cứu giúp, rừng dừa rậm,
Con
vẫn bình an bởi cách nào?
Sau
đây là những câu kệ còn lại gồm năm vần xen kẽ nhau:
ba vần do Bồ-tát ngâm và hai vần do vua ngâm.
Vương
tử:
10.
Một mãnh xà kia đủ lực hùng
Sinh
ra sống dưới đất trong rừng,
Bắt
con cuộn lấy trong mình rắn,
Con
được bình an, thoát tử thần.
Vua
cha:
11.Cha
sẽ đưa con, hỡi thiếu nhi,
Quay
về cung điện của cha đi,
Con
làm gì nữa trong rừng núi,
Hạnh
phúc con nay sẽ trị vì.
Vương
tử:
12.
Kẻ nào đã nuốt móc mồi câu,
Khi
kéo móc ra, máu đỏ trào,
Kéo
được móc rồi là hạnh phúc,
Lòng
con hỷ lạc tuyệt thanh cao.
Vua
cha:
13.
Sao con nói đến móc mồi câu?
Con
nói vậy sao đến máu đào?
Con
lại nói sao về rút móc?
Cha
nay muốn biết việc kia nào?
Vương
tử:
14.
Dục tham là chính móc mồi câu,
Con
nói ngựa voi, chính máu đào,
Con
rút ra nhờ lìa thế tục,
Cha
cần biết chuyện ấy, muôn tâu.
- Tâu
Ðại vương, như vậy việc làm vua không có nghĩa gì đối
vối con cả. Song Ðại vương phải chú tâm đừng vi phạm
Thập vương pháp mà phải từ bỏ các ác nghiệp và trị dân
thật chân chính.
Bậc
Ðại Sĩ khuyến giáo vua cha qua những lời đó. Vua vừa than
khóc vừa từ giã ra đi, và trên đường về kinh, vua hỏi
các cận thần:
- Vì
ai mà ta phải chia lìa với một người con đức độ như thế?
Hội
chúng đáp:
- Chính
vì vương hậu.
Vua
liền ra lệnh băt vương hậu thả xuống vực sâu dành cho
bọn trộm cướp, rồi vào thành cai trị theo đúng Chánh pháp.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, như vậy nữ nhân này đã vu cáo Ta thuở xưa,
và phải chịu hủy diệt thương đau.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân bằng cách ngâm vần kệ cuối cùng:
15.
Kế mẫu ta là ả Cin-ca,
Ðề-bà-đạt,
ấy chính vua cha,
Ta
là thái tử Liên Hoa nọ,
Còn
vị thần non thuở ấy là
Xá-lợi-phất
giờ đây Trưởng lão,
Thiện
xà chúa nọ A-nan-đà,
Và
này Tăng chúng, Ta tuyên bố
Kết
thúc Tiền thân ấy của ta.
-ooOoo-
473.
Chuyện Bạn - Thù (Tiền thân Mitàmitta)
Làm
sao người trí phải tinh cần...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một vị
triều thần chánh trực của vua Kosala.
Tương
truyền rằng vị quan này rất có công với vua, và sau đó
vua ban tặng ông vinh hiển tột bực. các vị quan khác không
thể nào chịu đựng việc ấy được, nên vu cáo với vua
đã làm những việc xúc phạm đến vua. Ngài cho điều tra
về vị ấy và thấy ông không có lỗi gì cả, liền suy nghĩ:
"Ta không thấy người này phạm lỗi gì cả, làm sao ta biết
được đó là bạn hay thù?" Rồi vua lại nghĩ: "Không có ai
ngoài đức Như Lai có đủ khả năng quyết đoán vấn đề
này; vậy ta đi tham vấn ngài xem sao."
Thế
là sau khi điểm tâm xong, vua đến viếng bậc Ðạo Sư và
thưa:
- Bạch
Thế Tôn, làm sao ta có thể phân biệt một người nào là
bạn hay thù của ta?
Lúc
bấy giờ bậc Ðạo Sư đáp:
- Thưa
Ðại vương, những người khôn ngoan ngày xưa đã suy nghĩ
về vấn đề này và đã hỏi các bậc hiền trí, rồi theo
lời khuyến giáo của các vị ấy mà tìm ra chân lý, lánh
xa các cừu nhân và chú tâm đến các bạn lành.
Nói
vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vua, ngài kể một chuyện
quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khu vua Brahmadatta trị vì ở Ba la nại, Bồ-tát là
vị cận thần khuyến giáo vua về thế sự cũng như thánh
sự.
Thời
ấy, đám triều thần kia vu cáo một vị quan chính trực. Vua
thấy vị ấy không có lỗi gì liền hỏi bậc Ðại Sĩ:
- Này,
bằng cách nào ta có thể phân biệt bạn và thù?
Rồi
ngài ngâm vần kệ thứ nhất:
1.
Làm sao người trí phải tinh cần,
Phân
biệt làm sao được thực chân,
Những
việc làm nào tai mắt thấy
Tỏ
rằng kẻ ấy chính cừu nhân?
Lúc
ấy bậc Ðại Sĩ ngâm măn vần kệ này để giải thích các
dấu hiệu của một kẻ thù:
2.
Khi ngài thăm, nó chẳng tươi cười,
Nó
chẳng tỏ ra muốn đón mời
Nó
chẳng quay nhìn theo cách ấy,
Và
trả lời không có với ngài.
3.
Kẻ thù ngài, nó lại tôn vinh,
Bạn
thiết của ngài, nó miệt khinh,
Nó
cản người khen ngài tốt đẹp,
Những
người phỉ báng, nó hoan nghênh.
4.
Nó chẳng hề tâm sự mảy may,
Chuyện
ngài tâm sự, nó phơi bày,
Việc
ngài làm, chẳng hề khen tốt,
Cũng
chẳng hề khen trí tuệ ngài.
5.
Khi ngài hạnh phúc nó không mừng,
Ô
nhục ngài mang, nó thỏa lòng,
Nếu
được món ngon, không nghĩ tới
Tên
ngài, trong dạ chẳng buồn thương,
Cũng
không kêu lớn: ô này bạn,
Ta
ước bạn ta cũng có phần!
6.
Mười sáu điều trên, cớ rõ ràng
Cho
ngài thấy được một cừu nhân,
Nếu
người có trí nào nghe thấy,
Sẽ
biết kẻ thù để nhận chân.
7.
Làm sao người trí phải tinh cần
Phân
biệt làm sao được thực chân,
Các
việc làm nào tai mắt thấy
Tỏ
ra người ấy chính thân bằng?
Khi
được hỏi qua lời kệ trên, vị quan liền ngâm các vần
kệ còn lại:
8.
Kẻ ấy nhớ người lúc vắng xa,
Mừng
vui khi bạn trở về nhà,
Trong
lòng hoan hỷ lên cao độ,
Chàng
cất tiếng liền đón rước ta.
9.
Chàng chẳng tôn vinh kẻ chống ngài,
Chỉ
ưa phụng sự bạn ngài thôi,
Những
ai phỉ báng, chàng ngăn cản,
Ai
tán tụng ngài, lại thấy vui.
10.
Chàng kể nhiều tâm sự với ngài,
Chuyện
ngài tâm sự, chẳng phơi bày,
Ðề
cao những việc ngài làm được.
Khen
ngợi tài năng bạn thật hay.
11.
Chàng khổ lòng khi bạn ố danh
Chàng
vui khi nghe bạn được an lành
Nếu
được gì cao lương mỹ vị,
Chàng
liền nghĩ đến bạn thân mình,
Cảm
thương ngài quá, chàng kêu lớn:
Ta
ước ao phần bạn được dành!
12.
Mười sáu điều trên ấy chứng minh,
Rõ
ràng xác định bạn thân tình,
Nếu
người có trí nào nghe thấy,
Có
thể nói ngay bạn chí thành.
Vua
hoan hỷ nghe lời thuyết giảng của bậc Ðại Sĩ, nên ban
tặng ngài vinh quang tột đỉnh.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:
- Thưa
Ðại vương, như vậy vấn đề này nảy sinh từ ngàn xưa
và các bậc trí nhân dạy bảo: Nhờ ba mươi hai biểu hiện
trên mà Ta có thể biết được bạn hay thù.
Cùng
với các lời này Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy Ànanda là vua và Ta chính là vị triều thần hiền
trí.
[Hết
Tiểu Bộ Kinh, Tập VII]
TỔNG
MỤC LỤC KINH TIỂU BỘ
