CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
Chương
XII
Phẩm
MườI Hai Bài Kệ
464.
Chuyện Tiểu Vương Điểu Kùnala (Tiền thân Culla - Kanàla)
Chuyện
này sẽ được kể trong Tiền thân Kunàla, số 536, tập VII.
-ooOoo-
465.
Chuyện Sàla, Cổ Thụ Cát Tường (Tiền thân Bhadda-Sàla)
Ngài
là ai đứng giữa không gian..,
Chuyện
này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc
thực hành thiện sự đối với họ hàng quyến thuộc của
mình.
Tại
Xá-vệ, trong nhà ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) bao giờ cũng
đầy đủ thực phẩm cho năm trăm vị Tỷ-kheo và tại nhà
bà Visàkhà (Tỳ-xá-khư) hay cung vua Kosala cũng vậy. Nhưng trong
cung vua, dù thực phẩm đầy đủ mỹ vị cao lương, vẫn không
ai tỏ ra thân thiết với Tăng chúng. Do đó Tăng chúng không
bao giờ ăn uống tại cung vua mà chỉ đem thực phẩm ra về
dùng tại nhà ông Cấp Cô Ðộc hay bà Visàkhà hay một thân
hữu nào đó.
Một
ngày kia, vua bảo:
- Một
tặng vật vừa được mang lại, hãy đem đến cho các Tỷ-kheo.
Rồi
ngài bảo đưa nó đến trai đường, song họ tâu rằng không
có Tăng chúng trong trai đường. Vua hỏi:
- Thế
Tăng chúng đi đâu rồi?
Họ
đáp:
- Tăng
chúng đang ngồi ăn uống tại nhà các thân hữu.
Vì
thế, sau khi dùng điểm tâm xong, vua liền đến yết kiến
bậc Ðạo sư, và hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, loại thực phẩm nào là tối thắng?
Ngài
đáp:
- Thưa
Ðại vương, thực phẩm của bằng hữu là tối thắng, ngay
cả món cháo thiu được thân hữu đem cho cũng trở thành ngon
ngọt.
- Như
vậy, bạch Thế Tôn, Tăng chúng tìm được tình bằng hữu
ở những người nào?
- Thưa
Ðại vương, với các thân tộc của họ hay các dòng họ Thích-ca
(Sakya).
Sau
đó vua suy nghĩ giá như ngài chọn một thiếu nữ dòng Thích
- ca làm chánh hậu, rồi Tăng chúng sẽ là thân hữu của vua,
cũng như đối với thân tộc của Tăng chúng vậy.
Vì
thế ngài đứng dậy trở về cung và gửi thông điệp đến
thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) với mục đích này: "Hãy dâng
cho trẫm một cô gái của quý quốc để làm cung phi, vì trẫm
mong ước được kết thân với dòng họ của quí quốc".
Khi
nhận được thông điệp này, cả dòng họ Thích-ca tập họp
lại và thảo luận kỹ lưỡng:
- Chúng
ta hiện sống trong một vùng thuộc quyền của vua Kosala, nếu
ta từ chối việc gả con gái, ngài sẽ nổi giận, còn nếu
ta đem dâng con, thì phong tục dòng họ của ta sẽ bị phá
vỡ, vậy ta phải làm gì đây?
Lúc
ấy vương tử Mahànàma bảo:
- Xin
đừng bận tâm việc này. Ta có một đứa con gái tên là Vàsabhakhattiyà.
Mẹ nó là một nô tỳ, tên là Nàgamundà, nay nó chừng mười
sáu tuổi, dung sắc mỹ lệ khác thường và tướng mạo tốt
lành, lại thuộc dòng dõi quý tộc (Sát-đế-ly) về bên phía
họ cha. Chúng ta sẽ đem gả nàng như một cô gái chính thống
quý tộc.
Dòng
họ Thích-ca chấp thuận, và cho mời các sứ giả vào, bảo
rằng dòng họ này sẵn sàng gả con gái trong gia tộc, nên
các sứ giả có thể mang nàng về nước ngay. Song các sứ
giả suy nghĩ: "Các vị Thích-tử này vô cùng kiêu mạn về
vấn đề dòng họ. Giả sử như các ngài gả một cô gái
không thuộc dòng họ của các ngài và cứ bảo là đúng thế
thì sao? Chúng ta sẽ không nhận nàng nào trừ ra người cùng
ngồi ăn chung với các ngài". Vì thế các sứ thần đáp:
- Ðược
rồi, chúng thần sẽ nhận nàng. Song chúng thần sẽ chỉ nhận
một nàng cũng ngồi dùng bữa với các ngài thôi.
Dòng
họ Thích - ca sắp đặt một chốn ở cho các sứ thần, rồi
băn khoăn không biết phải làm gì. Mahànàmà bảo:
- Bây
giờ đừng bận tâm gì chuyện ấy nữa. Ta sẽ tìm cách. Vào
giờ ta dùng bữa ăn, hãy đem Vàsabhakhattiayà, được phục
sức thật lộng lẫy đến đây, rồi ngay khi ta đã ăn một
miếng hãy đem đến một lá thư và nói: "Tâu chúa công, có
vị vua kia gởi thông điệp đến chúa công, xin chúa công nghe
thông điệp ngay bây giờ".
Hội
chúng đồng ý và khi ông đang dùng bữa, họ phục sức và
trang điểm cho cô gái kia. Mahànàmà bảo:
- Hãy
đưa ái nữ ta vào và cho con ta cùng dùng bữa với ta.
- Xin
chúa công đợi một lát - họ thưa - nàng đang được trang
điểm thật tề chỉnh.
Và
chẳng mấy chốc họ đưa nàng vào. Nàng mong đợi được
dùng cơm với vua cha, nên đặt tay vào cùng một đĩa thức
ăn với cha nàng. Mahànàmà đã lấy xong một miếng và đã
đưa vào mồm; ông vừa đưa tay ra lấy miếng khác thì họ
đem vào một bức thư và nói:
- Tâu
chúa công, có vị vua kia gởi thông điệp đến cho chúa công,
xin chúa công hạ cố nghe thông điệp ấy ngay bây giờ.
Mahànàmà
bảo:
- Này
con yêu quý, con cứ dùng cơm đi nhé.
Rồi
tay phải ông vẫn để trong đĩa, tay trái vừa cầm lá thư
vừa nhìn vào đó. Trong khi ông xem bức thông điệp kia, cô
gái vẫn tiếp tục ăn cơm. Khi nàng đã ăn xong, ông rửa tay
và súc miệng. Các sứ thần tin chắc chắn nàng là con gái
vị vương tử này, vì họ không đoán ra điều bí ẩn.
Do
vậy Mahànàmà tiễn đưa con gái ra đi vô cùng trọng thể.
Các sứ thần đem ngay về Xá-vệ và bảo nàng này là con gái
chính thức của vương tử Mahànàmà. Vua rất hoan hỷ, ra lệnh
cả kinh thành trang hoàng thật đẹp rồi đặt nàng ngồi lên
một đám châu báu và cử hành lễ quán đảnh phong làm chánh
hậu. Nàng được vua rất mực sủng ái.
Chẳng
bao lâu hoàng hậu có thai, nên vua ra lệnh chăm sóc nàng thật
chu đáo, và sau mười tháng nàng hạ sinh một hoàng nam, có
màu da hoàng đồng. Và ngày đặt tên hài nhi, vua gửi chiếu
thư đến tổ mẫu của ngài hỏi:
- Vàsabhakhattiyà
đã sinh ra một hoàng nam, nàng là công chúa dòng họ Thích
- ca, vậy sẽ đặt tên hài nhi là gì?
Lúc
bấy giờ viên cận thần mang chiếu thư ấy hơi lãng tai, song
lão cũng đi trình lại với bà tổ mẫu của vua. Khi bà nghe
chuyện ấy, bà bảo:
- Ngay
như khi Vàsabha chưa từng sinh ra một hoàng nam, nàng cũng đã
là một người tuyệt thế, và nay nàng sẽ là ái hậu của
vua.
Lão
điếc này không nghe rõ tiếng "ái hậu" (Vallabhà) cho đúng,
mà cứ tưởng bà bảo là "Vidùdabha", nên lão về yết kiến
vua, tâu với ngài rằng phải đặt tên hoàng tử là Vidùdabha.
Vua tưởng đây hẳn là tên của một gia tộc cổ sơ nào đó,
nên đặt tên con là Vidùdabha.
Sau
đó, hoàng tử ấy lớn lên được nuôi nấng đúng như cung
cách của một hoàng tử. Khi hoàng tử lên bảy tuổi, thường
quan sát các vương tử kia nhân được quà voi ngựa và nhiều
đồ chơi khác ra sao từ các gia tộc bên họ mẹ, cậu bảo
mẹ:
- Thưa
mẹ, các trẻ kia đều được quà từ bên mẹ của chúng,
song không ai gửi cho con quà gì cả. Vậy mẹ có phải là con
côi không?
Lúc
ấy nàng đáp:
- Này
con, các tổ phụ của con là các vua dòng họ Thích-ca, song
các ngài ở xa lắm, vì thế chẳng gởi gì cho con cả.
Một
lần nữa, lúc được mười sáu tuổi, cậu hỏi:
- Thưa
mẹ, con muốn đi thăm gia tộc của tổ phụ.
Nàng
bảo:
- Thôi
con đừng nói đến chuyện ấy nữa, con sẽ làm gì khi đến
đó?
Song
dù nàng thoái thác, cậu cứ năn nỉ xin nàng mãi, cuối cùng
mẹ cậu bảo:
- Thôi
được, con cứ đi.
Vì
vậy cậu xin vua cha chấp thuận và lên đường cùng một đám
tùy tùng. Vàsabha gởi thư về nhà trước khi cậu đến với
ý định này:
- Con
đang sống hạnh phúc ở đây, xin các Tôn giả đừng nói cho
hoàng tử biết chuyện bí mật kia.
Song
dòng họ Thích-ca khi hay tin Vidùdabha đến, liền cho các vương
tử trẻ tuổi đi về vùng quê. Họ bảo nhau:
- Ta
không thể đón tiếp thằng bé này trịnh trọng được.
Khi
hoàng tử đến Ca-tỳ-la-vệ, dòng họ Thích-ca tập họp trong
nhà nghỉ của vua. Vị hoàng tử đến gần nhà nghỉ ngồi
đợi. Rồi bọn kia bảo cậu:
- Ðây
là ngoại tổ của con, đây là quốc cửu - họ vừa chỉ rõ
từng vị.
Cậu
đi đảnh lễ từng người nọ đến người kia, song mặc dù
cậu đã cúi đầu chào toàn gia tộc đến mỏi cả lưng, chẳng
ai chịu hạ cố chào lại cậu cả, vì thế cậu hỏi:
- Sao
lại chẳng có ai trong gia tộc chào lại con cả thế này?
Gia
tộc Thích-ca đáp:
- Này
con, các tiểu vương tử đi về quê cả rồi.
Sau
đó cả gia tộc thết đãi cậu rất trọng thể.
Sau
vài ngày ở lại, hoàng tử trở về nhà cùng cả đoàn tùy
tùng. Vừa lúc ấy một nô tỳ chùi chiếc ghế mà cậu đã
dùng trong nhà nghỉ ấy với nước sữa, vừa nói nhục mạ:
- Ðây
là ghế ngồi của con trai nàng Vàsabhakhattiyà, nữ tỳ ấy
mà.
Một
người hầu bỏ quên cây giáo đang đi tìm, nghe thoáng lời
lăng mạ hoàng tử Vidùdabha. Gã hỏi:
- Như
thế nghĩa là gì?
Gã
được kể cho biết là Vàsabha đã do một nữ tỳ sinh ra với
vương tử Mahànàmà, dòng Thích-ca. Gã liền kể chuyện này
cho quân lính nghe. Thế là tiếng huyên náo vang lên, cả đám
đều la lớn:
- Vàsabha
là con gái của một nô tỳ, chúng bảo thế đấy!
Vị
vương tử này nghe chuyện ấy: "Ðược rồi" - cậu nghĩ thầm:
"Mặc chúng cứ đổ sữa trên ghế ta ngồi để rửa nó đi.
Khi ta lên ngôi, ta sẽ rửa chỗ ngồi bằng máu trong tim chúng".
Khi
cậu trở về Xá-vệ, quần thần kể mọi chuyện với vua.
Vua nổi cơn thịnh nộ với dòng họ Thích-ca vì đã đưa con
gái của một nô tỳ về làm hoàng hậu của ngài, ngài truất
hết các khoản tiền đã cấp phát cho Vàsabha và con trai nàng,
chỉ còn những thứ vừa đủ với hạng gia nô mà thôi.
Vài
ngày sau, bậc Ðạo sư đến cung vua, và ngồi xuống tọa sàng.
Vua đến gần Ngài đảnh lễ và nói:
- Bạch
Thế Tôn, trẫm nghe rằng thân tộc của Ngài đưa con gái của
một nô tỳ về cho trẫm làm hoàng hậu. Trẫm đã truất hết
phần trợ cấp của chúng, và chỉ cho chúng những thứ dành
cho nô tỳ mà thôi.
Bậc
Ðạo sư đáp:
- Tâu
đại vương, dòng họ Thích-ca đã làm việc trái đạo! Nếu
họ dâng con gái, đáng lẽ ra họ phải dâng một công chúa
thuộc dòng huyết thống của họ kia. Song, thưa đại vương,
Ta nói điều này, Vàsabha là con gái của vị vương tử, và
trong cung điện của một vị vua quý tộc Sát-đế-ly, nàng
đã nhận lễ quán đảnh; còn Vidùdabha cũng là vương tử
của một vị vua quý tộc Sát-đế-ly. Các bậc trí nhân ngày
xưa đã bảo: Dòng họ mẹ nào có quan trọng, dòng họ cha
mới là chuẩn mực. Với một người vợ nghèo khó, một người
lượm củi, họ đã đưa lên địa vị chánh hậu, và vị
vương tử do bà ấy sinh ra được nắm vương quyền tại Ba-la-nại,
rộng mười hai dặm đã trở thành vua Kattha-Vàhana, hiệu là
Tiều phu.
Do
đó, Ngài kể cho vua nghe chuyện tiền thân Katthahàri (số 7
- Chuyện Nàng lượm củi).
Khi
vua nghe bài thuyết giáo này, lòng rất hoan hỷ nhủ thầm:
"Dòng họ cha là tiêu chuẩn đo lường một con người". Rồi
vua lại ban những gì phù hợp cho hai mẹ con nàng như trước.
Lúc
bấy giờ viên đại tướng quân của vua, là một người có
tên gọi Bandhula. Vợ ông ta là Mallikà không sinh sản gì, nên
ông sai đưa nàng đến tận Kusinàra, bảo nàng trở về với
gia đình nàng. Nàng nói:
- Ta
sẽ đi khi nào ta đã kính bái bậc Ðạo sư.
Nàng
đi đến Kỳ Viên vái chào đức Như Lai rồi đứng đợi một
bên. Ngài hỏi:
- Bà
đi đâu bây giờ?
Nàng
đáp:
- Bạch
Thế Tôn, chồng của con bảo đưa con về nhà.
Bậc
Ðạo sư hỏi:
- Vì
cớ gì?
- Bạch
Thế Tôn, vì con không sinh sản, con không có con trai.
Ngài
đáp:
- Nếu
chỉ có vậy, thì chẳng có lý do gì bà phải đi cả. Hãy
về lại.
Nàng
rất hoan hỷ kính chào bậc Ðạo sư rồi trở về nhà. Chồng
nàng hỏi tại sao nàng lại trở về, nàng đáp:
- Ðấng
Thập Lực bảo đưa thiếp trở lại, thưa phu quân!
Vị
đại tướng nói:
- Thế
thì đấng Thập Lực ắt hẳn đã thấy rõ lý do tốt lành
rồi.
Chẳng
bao lâu đó nàng thụ thai. Khi nàng bắt đầu những cơn thèm
ăn của người mang thai, nàng bảo cho ông biết. Ông hỏi:
- Thế
nàng muốn gì?
Nàng
đáp:
- Thưa
phu quân, thiếp muốn đi tắm và uống nước hồ ở thành
Vesàli (Tỳ-xá-ly), nơi mà các hoàng gia thường lấy nước
để làm lễ quán đảnh phong vương.
Vị
đại tướng hứa sẽ cố gắng chìu ý. Cầm lấy cây cung
của ông mạnh bằng cả ngàn cây cung khác, ông đưa bà vợ
lên xe rời thành Xá-vệ và lái xe đến Tỳ-xá-ly.
Lúc
bấy giờ gần cổng thành có một người của bộ tộc Licchavi
tên là Mahàli đã từng được học cùng một vị sư phụ
với đại tướng Bandhula của vua Kosala. Người này mù, vẫn
thường khuyên các người Licchavi về những thế sự cũng
như thánh sự. Khi nghe tiếng xe chạy lóc cóc trên ngưỡng
cửa, ông nói:
- Ðây
là tiếng xe của đại tướng Bandhula! Ngày hôm nay các người
Licchavi có mối lo sợ.
Bên
hồ có một đội quân canh gác nghiêm ngặt, bên trong lẫn
bên ngoài, ở trên lại có lưới sắt, không một con chim nào
tìm chỗ lọt vào được. Song vị đại tướng, vừa xuống
xe đã tung thanh kiếm ra khiến quân canh bỏ chạy và ông liền
xông qua lưới sắt, vào trong hồ cho bà vợ tắm và uống
nước, rồi sau khi chính ông cũng tắm xong, ông đưa Mallikà
lên xe, rời thành và trở về bằng đường lối đã đến.
Quân canh đi thưa chuyện với các người Licchavi. Lúc ấy các
vương tử của bộ tộc Lichavi nổi giận, năm trăm vị leo
lên năm trăm cổ xe, đi bắt tướng quân Bandhula. Họ báo tin
ấy cho Mahàli, ông bảo:
- Ðừng
đi, vì kẻ kia sẽ giết hết các ngài đấy.
Song
họ bảo:
- Không,
chúng ta muốn đi.
- Vậy
khi nào các ngài đến một nơi mà bánh xe lún xuống tận trục
thì phải trở về. Nếu các ngài không trở về lúc ấy các
ngài hãy trở về nơi mà các ngài nghe tiếng sấm sét. Nếu
các ngài không trở về lúc ấy thì các ngài hãy trở về
nơi mà các ngài thấy một cái lỗ ở phía trước các xe.
Ðừng đi xa nữa.
Song
các người ấy không trở lại theo lời ông mà cứ đi tới
mãi. Mallikà nhìn thấy họ và bảo:
- Thưa
phu quân, có các cỗ xe xuất hiện kìa.
- Vậy
hãy nói cho ta biết - ông bảo - khi nào tất cả bọn chúng
trông giống như một cỗ xe mà thôi.
Khi
tất cả bọn chúng đứng thành một hàng giống như một chiếc
xe, nàng bảo:
- Thưa
phu quân, thiếp thấy chúng giống như thể cái đầu của một
cỗ xe mà thôi.
- Vậy
hãy cầm lấy dây cương.
Vị
tướng quân bảo và trao dây cương vào tay bà. Ông đứng dậy
trên cỗ xe và giương chiếc cung ra. Bánh xe kia lún vào đất
đến tận trục xe. Bộ tộc Licchavi đến tận nơi, thấy thế
nhưng không trở lui về. Vị tướng quân kia tiến lên một
đoạn nữa và bật dây cung lên liền phát ra một tiếng ầm
như sấm dậy. Nhưng đám kia vẫn chưa trở lui về mà cứ
đuổi theo nữa. Bandhula đứng trên xe và bắn tên ra, mũi tên
làm vỡ đầu cả năm trăm cỗ xe và xuyên qua cả năm trăm
vương tử ở nơi có buộc dây đai rồi chôn vùi xuống đất.
Các vị này không biết họ đã bị thương nên cứ tiếp tục
đuổi theo nữa và la lớn:
- Dừng
lại! Này, dừng lại!
Bandhula
dừng xe lại, bảo:
- Các
người chết cả rồi! Ta không đánh với người chết đâu!
Họ
bảo:
- Sao,
chúng ta thế này mà chết à?
Bandhula
bảo:
- Hãy
mở dây đai của người đầu tiên ra.
Bọn
kia mở dây đai người ấy, ngay lúc mở dây ra, người kia
liền ngã xuống chết luôn. Lúc ấy vị tướng quân bảo cả
bọn:
- Các
người đều bị như vậy cả, hãy về nhà đi, sắp đặt
mọi việc gì cần sắp đặt, dặn dò vợ con gia tộc, rồi
hãy cởi giáp bào ra.
Họ
làm theo như vậy, xong đâu đó, cả bọn đều trút hơi thở
cuối cùng.
Về
sau, tướng Bandhula đưa Millikà về Xá-vệ. Bà sinh ra những
cặp song nam liên tiếp mười sáu lần, chúng đều lớn lên
dũng mãnh anh hùng, thành đạt trọn vẹn trong mọi việc. Mỗi
người lại có cả ngàn quân tùy tùng và khi chúng theo cha
vào chầu vua, riêng phần chúng đã đứng chật cả sân chầu.
Một
ngày kia, một số người thua kiện vì bị vu cáo, thấy Bandhula
đi đến, liền lên tiếng kêu than vang dậy, và bảo cho ông
biết các quan tòa đã hỗ trợ một chuyện vu cáo. Vì thế
Bandhula vào triều, xử lại vụ án rồi cho phần mỗi người
như cũ. Ðám đông hò reo tán thưởng. Vua hỏi việc gì và
khi nghe vậy, ngài rất hoan hỷ. Ngài chuyển các quan tòa kia
đi xa, giao cho Bandhula trọng trách xử án, từ đó ông xử
rất công minh. Sau đó các quan tòa kia trở nên nghèo khó, ví
họ không còn nhận hối lộ nữa, nên họ phỉ báng Bandhula
đến tận tai vua, kết tội vị tướng quân này muốn nhắm
chiếm ngai vàng; vua nghe lời họ, không sao tránh khỏi hoài
nghi. Song vua suy nghĩ đắn đo: "Nếu lão ấy bị chết tại
đây thì ta sẽ bị trách cứ".
Ngài
liền ra lệnh cho một số người cướp phá các vùng thị
trấn ở biên địa, rồi mời Bandhula đến và bảo:
- Biên
thùy đang gặp khói lửa, khanh hãy cùng các công tử đi bắt
bọn cướp kia.
Vua
cũng đưa đi một số chiến sĩ dũng cảm, tài ba, rồi căn
dặn họ giết cả vị tướng quân cùng ba mươi hai công tử
kia, cắt lấy đầu đem về.
Khi
ông lên đường, bọn cướp đánh thuê ấy biết tin đại
tướng đến, liền bỏ chạy. Vị tướng quân định cư lập
nghiệp cho dân khu vực ấy rồi dẹp yên thành phố xong lên
đường về. Sau đó khi ông đến gần kinh đô, các tùy tướng
kia lại cắt đầu ông cùng các công tử.
Ngày
hôm ấy Mallikà mời hai vị Ðại đệ tử cùng với năm trăm
vị Tỷ-kheo. Từ sáng sớm đã có thư đưa vào cho bà báo
tin chồng bà và các công tử đã mất đầu. Khi nghe vậy bà
không nói với ai một lời, bà nhét thư vào áo, và lo dọn
bữa cơm mời chúng Tỷ-kheo. Khi các gia nhân của bà đã cúng
dường cho các Tỷ-kheo xong, lại mang vào một chén đựng bơ
tươi, vô ý làm vỡ cái chén ấy ngay trước Tăng chúng. Lúc
ấy vị tướng quân Chánh pháp (Sàriputta) bảo:
- Chén
bát được làm ra để đánh vỡ, xin bà đừng buồn phiền
việc ấy.
Vị
phu nhân đưa lá thư từ trong nếp áo ra đáp:
- Ðây
đệ tử được bức thư báo tin phu quân và ba mươi hai con
trai của đệ tử đã bị cắt đầu. Nếu đệ tử không buồn
phiền việc ấy, có lẽ nào lại buồn phiền khi cái chén
bị đánh vỡ?
Vị
Tướng quân Chánh pháp bấy giờ bắt đầu nói:
- Không
được thấy, không được biết là đời người dưới đây...v.v...(Kinh
tập, Kinh Mũi tên, kệ 574).
Rồi
từ chỗ đứng dậy, ngài thuyết pháp và ra về.
Phu
nhân liền triệu tập ba mươi hai nàng dâu lại bảo:
- Phu
quân của các con mặc dù vô tội, đã thọ lãnh nghiệp quả
đời trước. Các con đừng sầu bi, cũng đừng tạo ác nghiệp
nặng hơn tội của vua.
Phu
nhân khuyên nhủ như vậy. Bọn thám tử mật của vua nghe lời
này, trình với vua rằng họ chẳng oán hận. Sau đó, vua ân
hận đi đến nhà phu nhân cầu xin Mallikà và các con dâu của
bà tha thứ và ban một điều ước. Bà đáp:
- Xin
nhận.
Bà
cử hành tang lễ xong, tắm rửa rồi đến yết kiến vua. Bà
nói:
- Tâu
Chúa thượng, Chúa thượng đã ban cho thần thiếp một ân
huệ. Thần thiếp xin điều gì ngoài chuyện này: đó là xin
Thánh thượng cho phép thần thiếp cùng ba mươi hai con dâu
trở về nhà cha mẹ của mình.
Vua
chấp thuận. Bà liền đưa mỗi nàng dâu về nhà cũ, xong chính
bà cũng về nhà cha mẹ mình ở thành Kusinàra. Rồi vua phong
chức đại tướng cho một vị Dìgha-Kàràyana, con trai của
một bà chị đại tướng Bandhula. Song vị này đi đâu cũng
vạch tội vua và bảo:
- Vua
đã giết cậu ta.
Mãi
lâu sau vụ giết hại vị tướng quân vô tội Bandhula ấy,
vua cứ bị hối hận giày vò nên tâm hồn không còn thanh thản,
ngài không cảm thấy hứng thú khi được làm vua nữa. Thời
ấy, bậc Ðạo Sư ở gần một thị trấn của dòng họ Thích-ca
tên là Ulumpa. Vua đến đó đóng trại không xa hoa viên ấy,
và cùng vài cận thần đi đến tinh xá để đảnh lễ bậc
Ðạo Sư. Vua đem trao năm biểu tượng của vương quyền cho
Kàràyana, rồi một mình đi vào Hương phòng. Mọi việc tiếp
theo được mô tả như trong Kinh Dhammacetiya (Pháp Trang nghiêm,
Trung bộ, số 89).
Khi
vua bước vào Hương phòng của đức Phật, Kàràyana cầm lấy
năm biểu tượng của vương quyền ấy và tôn Vidùdabha lên
làm vua, chỉ để lại đó cho vua cũ một con ngựa và một
nữ tỳ, rồi đi đến Xá-vệ.
Sau
buổi đàm thoại vui vẻ với bậc Ðạo Sư, vua trở về chẳng
thấy binh sĩ đâu cả, ngài hỏi người nữ tỳ, và biết
được mọi việc đã xảy ra. Rồi ngài đi đến kinh thành
Vương Xá, quyết định đem theo người cháu trai cùng ngài
đi bắt sống Vidùdabha. Khi vua đến kinh thành thì trời đã
tối, cổng thành đã đóng, nên ngài nằm nghỉ trong một túp
lều, bị đuối sức vì dãi dầu sương gió, ngài băng hà
tại đó.
Khi
đêm vừa sáng dần, cô nữ tỳ bắt đầu gào khóc:
- Trời
ơi! Ðại vương Kosala đã vô phương cứu chữa rồi!
Có
người nghe tiếng kêu than liền đưa tin đến vua xứ ấy (tức
Ajàtasattu). Vua này liền cử hành tang lễ cho cậu mình rất
trọng thể.
Sau
khi vua Vidùdabha an vị trên ngai vàng, nhớ lại mối thù xưa
của mình và quyết định đi sát hại tất cả dòng họ Thích-ca.
Với mục đích trên, vua lên đường cùng với đám đông binh
sĩ. Sáng tinh sương hôm ấy, bậc Ðạo Sư nhìn xuống cõi
trần, thấy việc tàn sát kia đang hăm dọa thân tộc Ngài,
Ngài nghĩ thầm: "Ta phải cứu độ thân tộc ta".
Vào
buổi sáng, Ngài ra đi khất thực, và sau khi dùng bữa xong
trở về an nghỉ với dáng nằm như sư tử trong Hương phòng
của Ngài. Vào buổi chiều, sau khi đã bay qua không gian đến
một nơi gần Ca-tỳ-la-vệ, ngồi dưới một gốc cây đổ
bóng thưa thớt; gần đó, một cây đa khổng lồ rợp bóng
sừng sững trên biên thùy vương quốc của vua Vidùdabha. Khi
thấy bậc Ðạo Sư, vua Vidùdabha đến gần đảnh lễ Ngài
và nói:
- Bạch
Thế Tôn, tại sao Thế Tôn lại ngồi dưới gốc cây thưa
thớt như vậy trong bầu trời nóng nực này?
Ngài
đáp:
- Thưa
Ðại vương, cứ để mặc Ta. Bóng cây của thân tộc Ta khiến
cho Ta mát mẻ.
Vua
suy nghĩ: "Chắc hẳn bậc Ðạo Sư đến đây để che chở
cho thân tộc Ngài".
Vì
thế vua đảnh lễ bậc Ðạo Sư rồi lại trở về Xá-vệ.
Còn bậc Ðạo Sư đứng dậy đi đến Kỳ Viên. Lần thứ
hai vua nhớ lại mối hận thù của mình đối với dòng họ
Thích-ca, lần thứ hai vua lên đường, cũng thấy bậc Ðạo
Sư ngồi đúng chỗ cũ, nên vua lại ra về.
Lần
thứ tư vua ra đi, và bậc Ðạo Sư, khi xem xét kỹ những nghiệp
quả quá khứ của dòng họ Thích-ca, nhận thấy rằng không
thể nào tránh được hậu quả của ác nghiệp kia trong việc
họ đã thả thuốc độc xuống dòng sông, nên Ngài không đi
đến đó lần thứ tư nữa. Lúc ấy vua Vidùdabha giết hết
dòng họ Thích-ca, bắt đầu bằng những hài nhi còn bú, lấy
máu trong tim chúng và rửa cái ghế ngồi, rồi ra về.
Vào
ngày mà bậc Ðạo Sư ra đi lần thứ ba đã trở về, sau khi
du hành khất thực, và đã dùng bữa xong, Ngài đang nằm nghỉ
trong Hương phòng, Tăng chúng từ mọi nơi tụ tập trong Chánh
pháp đường. Khi ngồi lại với nhau, Tăng chúng bắt đầu
nói đến công hạnh của bậc Ðạo Sư:
- Này
các Hiền gỉa, bậc Ðạo Sư chỉ cần xuất hiện và khiến
cho vua lui về, là giải quyết cho thân tộc Ngài khỏi nỗi
sợ chết. bậc Ðạo Sư thật là một người bạn lành, hay
cứu giúp gia tộc.
Bậc
Ðạo Sư đi vào, hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì trong khi
ngồi tại đó. Tăng chúng thưa lại với Ngài. Sau đó, Ngài
bảo:
- Này
các Tỷ-kheo. không phải chỉ bây giờ Như Lai mới hành động
vì lợi ích của các người thân tộc, mà ngày xưa Như Lai
cũng đã làm như thế.
Cùng
với lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba la nại, và thực hành
Thập vương pháp (Mười đức tính của vua hiền), ngài nghĩ
thầm: "Khắp cõi Diêm-phù-đề này, vua chúa đều sống trong
các cung điện có nhiều cột trụ chống đỡ. Vậy một cung
điện được nhiều cột trụ chống đỡ chẳng kỳ diệu
gì, song nếu ta xây một cung điện chỉ có một trụ chống
đỡ thì sao?...Lúc ấy ta sẽ thành vị đế vương bậc nhất
giữa các vị vua!" Do vậy ngài triệu tập các nhà kiến trúc
lại, bảo họ xây cất cho ngài một cung điện nguy nga chỉ
dựng trên một cột trụ thôi. Họ thưa:
- Xin
tuân lệnh.
Rồi
họ đi sâu vào rừng. Tại đó, họ ngắm nghía nhiều cây
thẳng tắp, cao lớn xứng đáng làm cây cột trụ duy nhất
của một cung điện sang trọng như thế. Họ bảo nhau:
- Ðây
có đủ các cây loại này, song đường sá gồ ghề, ta chẳng
bao giờ chở chúng theo được, vậy ta phải thỉnh ý đức
vua về chuyện đó.
Khi
họ tâu như vậy, vua đáp:
- Hãy
dùng cái móc hay neo mà kéo chúng về, thế càng nhanh nữa.
Song
họ thưa:
- Chẳng
cái móc nào làm được việc này cả.
Vua
phán:
- Vậy
thì hãy tìm một cây trong thượng uyển của trẫm.
Các
nhà xây dựng đi vào vườn ngự, tại đó họ nhìn thấy một
cây Sàla dáng vương giả cao quý, thẳng tắp, cành là sum suê,
vẫn được dân làng, thị trấn tôn sùng, ngay cả hoàng tộc
cũng thường đến chiêm bái, và dâng lễ vật. Họ liền tâu
lại với vua. Ngài phán:
- Trong
vườn ngự của trẫm kia, các khanh đã tìm ra cho trẫm một
cây đại thọ. Tốt lắm! Vậy hãy đi đẵn nó xuống ngay.
Họ
đáp:
- Xin
tuân lệnh.
Họ
đến khu vườn ngự, đôi tay cầm đầy các tràng hoa thơm
và các hương liệu khác, sau đó treo lên cây một tràng hoa
năm chùm, cuộn quanh thân cây một sợi dây thừng, buộc vào
đó một bó hoa thơm, rồi vừa thắp hương đèn, vừa chiêm
bái vừa khấn rõ:
- Từ
nay đến bảy ngày nữa, chúng tôi sẽ đẵn cây xuống theo
lệnh vua truyền. Cầu xin các Thần cư ngụ trên cây này hãy
đi nơi khác, và đó không phải lỗi chúng tôi.
Vị
thần sống trên cây nghe nói vậy, nghĩ thầm:
"Những
người xây dựng này quyết đốn cây xuống và phá hoại chỗ
cư ngụ của ta. Nay đời ta chỉ kéo dài bao lâu còn nơi cư
trú này, có các thân quyến thuộc của ta cư trú thật đông,
cũng sẽ bị phá hủy. Sự hủy hoại thân ta không quan trọng
bằng sự tiêu giết đám con cháu ta. Vậy ta phải bảo vệ
sinh mạng chúng."
Thế
là vào lúc nửa đêm, với trang phục huy hoàng, uy nghi, vị
Thần cây bước vào cung thất lộng lẫy của vua, chiếu ánh
sáng rực rỡ khắp phòng và đứng khóc cạnh chiếc gối của
vua. Ngài rất kinh hãi khi thấy vị thần, liền thốt lên vần
kệ đầu:
1.
Ngài là ai, đứng giữa không gian,
Mình
khoác xiêm y tựa thánh thần,
Sao
nỗi kinh hoàng kia phát khởi,
Mắt
ngài sao đẫm lệ tuôn tràn?
Nghe
vậy, vị chúa tể Thần cây ngâm hai vần kệ:
2.
Ở trong quốc độ, hỡi quân vương,
Người
biết danh cây: Ðại Cát Tường,
Ðã
sáu mươi ngàn năm vẫn đứng,
Toàn
dân đều cúng bái ta luôn.
3.
Dù chúng dựng xây lắm thị thành,
Lâu
đài vương xá, các cung đình,
Tuy
nhiên, chúng chẳng hề phiền nhiễu,
Cũng
chẳng gây tai hại thần linh,
Vì
chúng tôn sùng ta đến thế,
Xin
ngài, Chúa thượng cũng tôn vinh!
Tiếp
theo, vua ngâm hai vần kệ khác:
4.
Song một thân cây vĩ đại này,
Trẫm
chưa hề thấy tự xưa nay,
Chu
vi đẹp cả chiều cao nữa,
Hùng
mạnh, một cây vững chắc thay.
5.
Trẫm muốn xây nên mỹ lệ cung,
Chỉ
cần độc nhất trụ làm chân,
Trẫm
muốn đặt ngài vào chỗ đó,
Ðời
ngài không ngắn ngủi đâu Thần.
Nghe
vậy, vị Thần chúa ngâm hai vần kệ:
6.
Vì ngài mong muốn đẵn cây thần
Xin
hãy chặt ta nhỏ mỗi phần,
Và
xẻ thân này từng mảnh một,
Hoặc
đừng gì cả, tấu Anh quân.
7.
Hãy chặt trước tiên lấy đỉnh đầu,
Kế
là phần giữa, gốc về sau,
Nếu
ngài đốn được ta như thế,
Cái
chết chẳng còn tạo khổ sầu.
Sau
đó, vua lại ngâm hai vần kệ:
8.
Trước hết chân tay, kế mũi tai,
Khi
người lâm nạn chửa tàn hơi,
Cuối
cùng thủ cấp này rơi xuống,
Cái
chết này đau đớn rụng rời.
9.
Cát Tường cổ thụ! Chúa sơn lâm!
Lạc
thú gì ngài cảm thấy chăng?
Sao,
lý do gì ngài ước muốn
Thân
cây được xẻ nhỏ từng phần?
Ðại
thọ Cát tường liền đáp lời qua hai vần kệ:
10.
Vì lý do nào cao cả thay,
Cớ
sao ta muốn xẻ thân này,
Phân
ra từng mảnh, tâu Hoàng thượng,
Xin
lắng nghe lời ta nói đây.
11.
Quanh ta phồn thịnh đám thân bằng,
Sinh
trưởng nhờ nơi trú vẹn toàn,
Nếu
ta ngã mạnh, đè tan chúng,
Nỗi
đớn đau kia sẽ ngập tràn.
Vua
nghe vậy xong, lòng đầy hoan hỷ: "Vị thần này thật cao cả
thay, ngài không muốn quyến thuộc mình phải mất nơi trú
ẩn do việc ngài mất chốn cư ngụ của riêng ngài. Thế là
ngài hành động vì lợi ích của thân tộc mình."
Và
vua ngâm kệ cuối cùng:
12.
Cát tường cổ thụ, Chúa rừng xanh!
Tư
tưởng ngài cao cả thật tình,
Ngài
muốn giúp thân bằng quyến thuộc,
Vậy
trẫm cho ngài thoát hãi kinh!
Vị
Thần chúa, sau khi thuyết giáo vua xong, liền ra đi. Còn vua
an trú vào lời khuyên nhủ của ngài, bố thí và làm nhiều
thiện sự khác cho đến khi vua mạng chung, đi lên cộng trú
với các hội chúng ở cõi Trời.
*
Sau
khi chấm duat Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, như thế là Như Lai vẫn hành động vì lợi ích
của thân bằng quyến thuộc mình.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy Ànanda là vua kia, các đệ tử của đức Phật là
các thần trú thân trong các cây con của cây Sàla, và Ta chính
là Cổ thụ Cát tường, vị Thần chúa.
-ooOoo-
466.
Chuyện Thương Nhân Trên Biển Cả (Tiền thân Samudda - Vànijà)
Người
thì gieo hạt, kẻ đi cày...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về Devadatta
(Ðề-bà-đạt-đa) khi ông bị đọa xuống địa ngục, kéo
theo năm trăm gia đình bị đọa luôn.
Bấy
giờ, lúc hai Ðại đệ tử là Sàriputta (Xá-lợi-phất) và
Moggallàna (Mục-kiền-liên) đưa các Tỷ-kheo đã theo vị ấy
trở về cùng mình, Ðề-bà-đạt-đa không thể nào chịu đựng
khổ đau, nên đã khạc ra máu và sắp từ giã cõi đời, ông
tự nhủ: "Trong chín tháng ròng ta đã nghĩ xấu về đức Như
Lai, song trong tâm của đức Như Lai không hề có một ác ý
đối với ta, trong tám mươi vị trưởng lão cũng không ai
làm gì hại ta, bởi chính vì những hành động của ta mà
ta thành kẻ bơ vơ lạc lõng, ta đã bị bậc Ðạo Sư từ
bỏ rồi, các Trưởng lão, Tôn giả La-hầu trưởng tộc, cùng
tất cả hoàng tộc dòng họ Thích-Ca, nên ta muốn đến gặp
bậc Ðạo Sư và hòa giải với Ngài. "Vì thế ra hiệu cho
các đệ tử, ông bảo họ mang ông trên chiếc cáng, rồi du
hành suốt ngày đêm đến kinh thành xứ Kosala.
Trưởng
lão Ànanda thưa với bậc Ðạo Sư:
- Họ
bảo rằng Ðề-bà-đạt-đa đang đi đến làm hòa với đức
Thế Tôn.
- Này
Ànanda, Ðề-bà-đạt-đa không được gặp ta đâu.
Khi
ông đã đến thành Xá-vệ, Tôn giả lại thưa trình với bậc
Ðạo Sư, và đức Thế Tôn cũng trả lời như trước. Khi
ông đến cổng Kỳ Viên và tiến về hồ Kỳ Viên, tội ác
đã đến tột đỉnh; một cơn sốt nổi lên trong người khiến
ông muốn tắm và uống nước, vì thế ông ra lệnh cho họ
đưa mình ra khỏi cái cáng để có thể uống nước. Khi ông
vừa bước xuống và đứng trên mặt đất thì, trước khi
ông có thể giải khát cho mình, quả đất rộng há miệng
ra, một ngọn lửa phát xuất từ địa ngục tận cùng Avìci
(A-tỳ hay Vô gián) bao phủ lấy ông. Trong lúc biết các ác
nghiệp của mình đã lên đến cực điểm, cùng nhớ lại
các công đức của Như Lai, ông ngâm vần kệ này:
Nắm
xương này đem đến Tối thượng Nhân,
Bậc
Toàn tri, đây trăm tướng tốt lành,
Bậc
điều ngự tâm người, hơn Thiên chủ,
Tâm
trí ta bay về Ngài Giác Ngộ.
Song
chính ngay trong hành động tìm nơi an trú này mà ông bị đọa
vào ngục A-tỳ và có năm trăm gia đình của các đồ đệ
ông, những gia đình đã theo ông phỉ báng đấng Thập Lực
(Dasabala) gièm pha ngài, nên cũng tái sinh vào ngục A-tỳ. Như
thế ông xuống địa ngục A-tỳ, kéo theo mình cả năm trăm
gia đình.
Vì
vậy một ngày kia, Tăng chúng nói chuyện trong Chánh pháp đường:
- Này
Hiền hữu Tỷ-kheo, Ðề-bà-đạt-đa ác độc vì tham lợi
dưỡng đã vô cớ khởi lên lòng sân hận với bậc Chánh
Ðẳng Giác và không biết đến nỗi kinh hoàng trong tương
lai, nên cùng với năm trăm gia đình đọa xuống địa ngục.
Bậc Ðạo Sư bước vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì.
Hội chúng liền thưa lại Ngài. Ngài bảo:
- Này
cácTỷ-kheo, Ðề-bà-đạt-đa vì ham lợi dưỡng và danh vọng
nên không nhìn thấy những mối kinh hoàng trong tương lai, và
ngày xưa cũng như bây giờ, vì không nhìn thấy những nỗi
khủng khiếp trong tương lai mà kẻ ấy cùng các đệ tử tham
muốn lạc thú hiện tại, nên phải chịu hoàn toàn hủy diệt.
Nói
vậy xong, Ngài kể cho Tăng chúng nghe một chuyện quá khứ.
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba la nại, gần thành Ba
la nại có một thị trấn lớn của các người thợ mộc,
gồm một ngàn gia đình, những thợ mộc từ thị trấn này
thường tự xưng là họ đóng giường, ghế, nhà cửa và thường
sau khi nhận tiền trước của dân chúng, lại tỏ ra không
có năng lực để làm gì được cả. Dân chúng thường trách
mắng bất cứ người thợ mộc nào tình cờ họ gặp mặt
và gây trở ngại cho bọn họ. Vì thế bọn người mắc nợ
này gặp phiền nhiễu đến độ không thể nào sống yên ở
đấy được nữa. Bọn họ bảo nhau:
- Chúng
ta hãy đi ra xứ khác và kiếm một nơi nào đó ẩn thân.
Thế
là họ vào rừng, đẵn cây, làm thuyền lớn phóng xuống sông
đẩy thuyền ra khỏi thị trấn khoảng chừng ba phần tư dặm,
thì kéo thuyền vào bờ. Sau đó vào nửa đêm, họ trở về
thị trấn tìm gia đình mình đưa lên thuyền rồi xuôi dòng
tiến ra biển cả. Họ gặp thuận buồm xuôi gió cho đến
khi cập vào một hòn đảo nằm giữa đại dương.
Lúc
bấy giờ trên đảo ấy đã mọc lên nhiều loại cây rừng
có trái như lúa gạo, cây mía, chuối, xoài, mận, mít, dừa
và đủ các loại khác nữa. Trước bọn ấy đã có một người
bị đắm tàu và chiếm lấy đảo này. Sống tại đó, ăn
lúa gạo và thưởng thức cây mía cùng các loại cây khác,
nhờ thế gã trở thành lực lưỡng cường tráng, gã sống
trần truồng, râu tóc dài ra. Bọn thợ mộc suy nghĩ: "Nếu
đảo có loài quỷ ở thì bọn ta chắc phải chết hết; vì
vậy ta muốn thám hiểm xem sao."
Sau
đó bảy thanh niên dạn dĩ lực lưỡng, trang bị năm thứ
vũ khí, rời thuyền đi thám hiểm đảo này.
Ngay
lúc ấy người sống sót trên đảo vừa ăn sáng xong, uống
nước mía và trong lúc sảng khoái nằm dựa lưng trên một
nơi xinh tươi, mát mẻ dưới bóng cây trên bãi cát lấp lánh
như một cái đãi bạc, gã suy nghĩ: "Những người sống ở
cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) không thể có được niềm hạnh
phúc này, những người cày cấy kia, còn hòn đảo này đối
với ta tuyệt hơn cả cõi Diêm-phù-đề nữa." Gã liền vui
mừng trong niềm cực lạc ấy.
*
Bậc
Ðạo Sư ngâm vần kệ đầu để giải thích người sống
trên hoang đảo này ca hát vì niềm hoan lạc như thế nào:
1.
Người thì gieo hạt, kẻ đi cày,
Sống
với mồ hôi ở cuối mày,
Chúng
chẳng hưởng vùng ta được sống,
Hơn
xa Ấn Ðộ chính nơi này!
*
Những
người đi thám thính hòn đảo bắt gặp tiếng hát của gã,
bảo nhau:
- Hình
như ta nghe tiếng người, ta hãy đến làm quen với người
đó.
Theo
tiếng hát họ đi đến gặp người kia, nhưng vẻ bề ngoài
của gã làm họ kinh hãi. Họ kêu lên:
- Có
phải quỷ đó chăng?
Rồi
họ tra mũi tên vào cây cung. Khi người kia thấy họ, gã sợ
bắn bị thương nên la to:
- Ta
không phải quỷ đâu, ta là người đấy, các ông ơi, xin tha
mạng cho ta.
- Sao?
- Họ bảo - Người ta lại trần truồng và không có gì bảo
vệ như người ư?
Họ
hỏi đi hỏi lại mãi, cũng chỉ nhận được câu trả lời
ấy, rằng gã là con người. Cuối cùng họ đến gần gã và
mọi người trò chuyện vui vẻ với nhau, những kẻ mới đến
hỏi gã làm sao đến đó được. Gã kể cho họ nghe sự thật
về việc này. Gã bảo:
- Do
thiện nghiệp của các bạn mà các bạn đã đến đây, đảo
này là phần thưởng của các bạn. Ðây là đảo tuyệt hảo.
Ở đây các bạn không cần làm việc với đôi tay để sinh
sống, gạo mía và các loại cây khác ở đây có vô tận,
tất cả đều mọc hoang. Các bạn sống ở đây không còn
lo ngại gì nữa.
Họ
hỏi:
- Có
gì khác cản trở cuộc sống của ta ở đây chăng?
- Không
sợ gì cả trừ một điều: đảo này có loài quỷ dữ, lũ
quỷ này sẽ nổi giận khi thấy phân thải ra từ cơ thể
các bạn; vậy khi bạn muốn đại tiện, hãy đào lỗ trong
cát chôn đi. Ðó là mối nguy hiểm duy nhất, ngoài ra không
còn gì nữa, chỉ nhớ luôn luôn cẩn thận điều này.
Sau
đó họ lên cư ngụ trên đảo này. Song giữa đám một ngàn
gia đình này, có hai người cai thợ, mỗi người dẫn đầu
năm trăm gia đình trong đó, một kẻ ngu si tham ăn món thượng
hạng, người kia khôn ngoan và không thích chiếm phần ưu thắng
trong mọi sự đời.
Theo
thời gian họ tiếp tục sống tại đó, tất cả đều thành
lực lưỡng cường tráng. Sau đó bọn họ suy nghĩ: "Lâu nay
chúng ta không vui chơi gì cả, ta muốn làm một ít rượu mạnh
với nước mía". Vì thế họ làm rượu mạnh, và say sưa,
ca hát, nhảy múa, vui đùa. Sau đó họ vô ý đi đại tiện
bừa bãi khắp nơi mà không chôn dấu đi, nên họ đã làm
cho hòn đảo hôi hám thật ghê tởm. Các thần linh tức giận
vì bọn người này làm nơi giải trí vui chơi thành ô uế.
Các
thần bàn tính kỹ lưỡng:
- Chúng
ta sẽ dâng nước biển trên đảo để rửa sạch đảo này
chăng? Nay là nửa tháng tối trời, cuộc hội họp của ta
phải đình hoãn lại. Ðược rồi, vào ngày thứ mười lăm
kể từ nay, vào ngày đầu tiên trăng tròn, vào giờ trăng
mọc, chúng ta sẽ dâng nước biển lên và tận diệt chúng
Như
vậy các thần đã định ngày. Lúc này một vị Thần công
chính trong đám ấy suy nghĩ: "Ta không muốn các người này
chết trước mắt ta." Vì thế do lòng từ mẫn, vào lúc bọn
người đang ngồi trước cửa trò chuyện vui vẻ, sau buổi
cơm chiều, vị này làm cho toàn hòn đảo sáng lòa, với phục
sức đầy vẻ huy hoàng, đứng trên không hướng về phía
Bắc và nói với bọn họ như vầy:
- Này
các thợ mộc, các thần linh nổi cơn thịnh nộ vì các ông.
Ðừng sống ở đây nữa, vì trong nửa tháng kể từ nay các
thần sẽ dâng nước biển lên giết hết các ông đó. Vậy
phải trốn khỏi nơi này.
Rồi
Ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Trong hai tuần nữa thấy tròn trăng,
Từ
biển này dâng ngọn sóng thần
Tràn
ngập đảo to này: Hãy vội
Di
cư để khỏi hại người dân.
Cùng
với lời khuyên này vị ấy trở về nơi ở của mình. Khi
vị ấy đi rồi, một vị thần bạn là một hung Thần, suy
nghĩ: "Có lẽ dân chúng sẽ theo lời vị ấy khuyên mà trốn
hết, còn ta muốn cản trở việc chúng đi, để làm cho chúng
phải tiêu diệt hoàn toàn." Vì vậy vị Thần này trang điểm
thật huy hoàng, tỏa ra một luồng ánh sáng lớn, bao trùm khắp
hòn đảo ấy, và đến gần đại chúng, đứng trên không
hướng về Nam, trong khi ông hỏi:
- Có
một vị thần vừa đến đây chăng?
Họ
đáp:
- Thưa
có.
- Vị
ấy nói gì với ông?
Họ
đáp:
- Tâu
Thần chúa biển cả, những việc như vầy như vầy.
Lúc
ấy vị Thần bảo:
- Vị
Thần này không muốn các ông sống ở đây, nên đã nói thế
trong cơn thịnh nộ. Vậy đừng đi nơi khác, mà cứ ở lại
đây.
Cùng
với những lời này, vị Thần ngâm hai vần kệ:
3.
Theo nhiều dấu hiệu đã nêu rằng
Dân
chúng nghe tin đợt sóng thần
Sẽ
chẳng hề tràn lên đảo lớn,
Vui
lên đừng sợ, chớ đau buồn.
4.
Các ông gặp chốn rộng nơi đây,
Các
thức uống ăn lại đủ thay,
Ta
thấy chẳng gì nguy, cứ hưởng
Ðến
đời sau, lạc thú như vầy.
Sau
khi nói vậy qua hai vần kệ để làm nhẹ nỗi lo âu của dân
chúng, Thần này ra đi. Khi ông đi rồi, người thợ mộc ngu
si cất cao giọng lên, và không để ý đến lời nói của
vị Thần công chính, gã kêu lên:
- Xin
quý ngài nghe theo ta.
Gã
nói với mọi người thợ mộc bằng cách ngâm vần kệ thứ
năm:
5.
Từ hướng Nam, Thần ấy hét vang,
Chúng
ta nghe: "Vạn sự bình an",
Từ
Thần này nói là thật,
Sợ
hãi, hay không phải hoảng hồn,
Vị
Bắc thần kia nào có biết,
Vui
lên đừng sợ, chớ lo buồn!
Khi
nghe gã nói, năm trăm người thợ mộc tham hưởng lợi lạc
muốn nghe theo lời khuyên của gã ngu si đó. Song lúc ấy người
thợ mộc khôn ngoan không chịu nghe theo gã, và vẫn nói với
đám thợ mộc, vừa ngâm bốn vần kệ:
6.
Khi nói ngược nhau, nhị hải Thần,
Một
kêu sợ hãi, một an toàn,
Nghe
lời ta dặn, e giây lát
Tất
cả người đây chết cả đoàn.
7.
Ta cùng xây một đại thương thuyền,
Thuyền
lớn, hành trang cất hết lên,
Nếu
vị Nam thần này nói thật,
Thần
kia nói nhảm nhí quàng xiêng;
8.
Khi cần, thuyền sẽ ích cho ta,
Ta
chẳng rời ngay đảo ấy mà,
Song
nếu Bắc thần kia nói đúng,
Thần
Nam chỉ nói chuyện điên rồ,
Ta
cùng lúc ấy lên thuyền cả,
Nơi
có bình an, sẽ vội qua,
9.
Ðừng xem ưu, liệt, chuyện vừa nghe,
Ai
để lọt tai cả mọi phe,
Xét
kỹ, rồi theo phần chính giữa,
Bến
bình an nhất, kéo neo về.
Sau
đó người ấy lại nói:
- Này
bây giờ, chúng ta hãy nghe theo lời cả hai vị Thần ấy. Ta
hãy đóng thuyền, rồi nếu lời của vị thần thứ nhất
là đúng sự thật, ta sẽ leo lên thuyền và ra đi; và nếu
lời vị thần thứ hai đúng thì ta sẽ cất thuyền chỗ khác
và ở lại đây.
Khi
người ấy nói vậy xong, người thợ mộc ngu si bảo:
- Anh
cứ đi mà xem con cá sấu nằm trong chén trà! Anh thật quá
ư chậm trí! Vị Thần thứ nhất nói như vậy vì tức giận
chúng ta, còn vị thứ hai nói vì thương yêu chúng ta. Nếu
ta rời hòn đảo tuyệt hảo này, thì ta sẽ đi đâu nữa?
Song nếu anh cần phải đi thì cứ đi mà đóng thuyền, bọn
ta không cần thuyền, bọn ta ở đây!
Người
thợ mộc khôn ngoan cùng những người theo phe mình, đóng một
con thuyền, đặt mọi hành trang lên thuyền, rồi cả bọn
đứng vào thuyền. Sau đó vào ngày trăng tròn, đúng lúc trăng
mọc, từ đại dương dâng lên một ngọn sóng bao phủ khắp
hòn đảo đến tận đầu gối, khi người khôn ngoan ấy thấy
đợt sóng dâng lên thì vội thả thuyền ra. Bọn người theo
phe người thợ ngu si gồm năm trăm gia đình, cứ ngồi bảo
nhau:
- Một
ngọn sóng đã dâng lên trên đảo. Nhưng nó sẽ không cao hơn
đâu.
Sau
đó sóng biển dâng cao lên thắt lưng, rồi cao bằng đầu
người, cao tận ngọn cây dừa, rồi bảy cây dừa, rồi phủ
lên khắp hòn đảo. Con người nhiều mưu trí ấy, biết đủ
phương cách, không than lam các tài vật, nên đã ra đi an toàn;
còn người thợ ngu si tham của cải, không thấy nỗi kinh hoàng
trong tương lai nên đã bị tiêu hủy cùng năm trăm gia đình
nọ.
*
Và
ba vần kệ nữa đầy tính cách giáo hóa, để làm sáng tỏ
vấn đề trên, là kệ phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng:
10.
Do nghiệp làm, như giữa đại dương,
Nên
người trí hiểu điều sâu kín,
Chẳng
phạm ngày sau lỗi cỏn con.
11.
Kẻ ngu, khờ dại nuốt tham lam,
Chẳng
hiểu tương lai hiểm họa tràn,
Chìm
ngập trước nhu cầu hiện tại,
Như
người tận số giữa trùng dương.
12.
Hãy làm xong việc trước khi cần,
Ðừng
để túng cùng phải khổ thân,
Ai
đúng thời làm điều thiết yếu,
Chẳng
hề lâm cảnh ngộ đau buồn.
*
Khi
bậc Ðạo Sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu tiên, mà cả ngày
xưa nữa, Ðề-bà-đạt-đa đã bị mắc vào bẫy dục lạc
hiện tại mà không nhìn thấy tương lai, nên đã gặp hủy
diệt cùng đồng bọn của kẻ ấy.
Nói
xong, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
bấy giờ, Ðề-bà-đạt-đa là người thợ mộc ngu si, Kokàlika
là vị ác Thần đứng ở phương Nam, Sàriputta (Xá-lợi-phất)
là vị Thần đứng ở phương Bắc và ta chính là người thợ
mộc có trí khôn ngoan kia
-ooOoo-
467.
Chuyện Dục Tham (Tiền thân Kàma)
Người
nào mong ước việc trong lòng...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú ngụ tại Kỳ Viên về
một Bà-la-môn trú ở Xá-vệ, lúc ấy đang đốn cây bên bờ
sông Aciravatì để trồng trọt cày cấy. Bậc Ðạo Sư nhìn
thấy rõ nghiệp duyên của vị này (về khả năng tu tập)
khi Ngài đến Xá-vệ để khất thực, Ngài liền bước ra
khỏi con đường đang đi để nói chuyện ân cần với ông.
Ngài hỏi:
- Này
Bà-la-môn, ông đang làm gì đó?
Người
ấy đáp:
- Thưa
Sa-môn Gotama, tôi đang đốn cây ở một khoảng trống để
trồng trọt.
Ngài
bảo:
-Tốt
lành thay, này Bà-la-môn, ông tiếp tục công việc đi.
Cứ
nhu vậy bậc Ðạo Sư đi đến nói chuyện với ông khi các
thân cây đốn xong lại được mang đi nơi khác, và người
kia dọn sạch mẫu đất của mình, và Ngài lại đến vào
lúc cày cấy, hoặc lúc đào những hố vuông nhỏ để lấy
nước. Bấy giờ vào ngày gieo hạt, vị Bà-la-môn hỏi:
- Thưa
Tôn giả Gotama, hôm nay là ngày Lễ hạ điền (Lễ Cày bừa)
của tôi. Khi bắp chín, tôi sẽ cúng dường nhiều cho Tăng
chúng được đức Phật cầm dầu.
Bậc
Ðạo Sư nhận lời cúng dường của ông và ra đi. Một ngày
khác Ngài lại đến và thấy người Bà-la-môn đang ngắm đám
bắp ấy. Ngài hỏi:
- Này
Bà-la-môn, ông đang làm gì đó?
- Thưa
Tôn giả Gotama, tôi đang ngắm đám bắp.
- Này
Bà-la-môn, tốt lắm!
Bậc
Ðạo Sư nói rồi đi thẳng.
Lúc
ấy Bà-la-môn suy nghĩ: "Tôn Giả Gotama vẫn thường đi qua
đường này lắm thay! Chắc chắn Ngài cần thực phẩm. Ðược
ta sẽ cúng dường thức ăn cho Ngài."
Vào
ngày ý tưởng này xuất hiện trong trí ông, khi về nhà, ông
cũng thấy bậc Ðạo Sư đến nữa. Từ đó trong lòng vị
Bà-la-môn khởi lên một niềm tín thành kỳ diệu.
Dần
dần, bắp đã chín, vị Bà-la-môn quyết định ngày mai sẽ
gặt. Nhưng khi ông ngủ trên giường thì ở khoảng đất trên
sông Aciravatì, mưa trút xuống như chĩnh đổ: lũ lụt kéo
đến mang theo cả mùa màng ra biển, vì thế không còn sót
một cây nào. Khi cơn lũ đã rút, vị Bà-la-môn thấy hoa màu
bị tàn phá, nên không còn sức mà đứng nữa, tay ông cứ
ôm ngực vì quá đau khổ, ông vừa khóc vừa về nhà, nằm
xuống kêu than. Buổi sáng bậc Ðạo Sư đã thấy vị Bà-la-môn
này tràn ngập khổ đau, Ngài suy nghĩ: "Ta sẽ là nơi nương
tựa của người Bà-la-môn."
Thế
là hôm sau, khi đã đi khất thực quanh Xá-vệ rồi, Ngài trở
về từ nơi thọ dụng thức ăn, bảo các Tỷ-kheo lui về tinh
xá rồi chính Ngài cùng một tiểu thị giả đi với Ngài đến
nhà ông. Khi vị Bà-la-môn nghe Ngài đến, thì lòng hoan hỷ,
nghĩ thầm: "Chắc hẳn vị hiền hữu của ta đến để nói
chuyện thân mật." Ông mời Ngài ngồi; bậc Ðạo Sư bước
vào ngồi trên một tọa sàng đã định sẵn và hỏi:
- Này
Bà-la-môn, tại sao ông nản lòng? Việc gì xảy ra khiến ông
bất mãn?
- Thưa
Sa-môn Gotama, từ lúc tôi đến đây trên bờ sông Aciravati,
Ngài cũng đã biết tôi làm gì rồi. Tôi đã đi đây đó,
và hứa cúng dường Ngài khi hoa màu chín, nay cơn lụt đã
cuốn trôi hết mọi hoa lợi ra biển, chẳng còn lại gì cả.
Bắp ngô bị thiêu hủy cả đến trăm cỗ xe, vì thế tôi
đang sầu khổ lắm đây.
- Này,
của mất mát có thể trở lại nhờ than khóc không?
- Thua
Sa-môn Gotama, nó không trở lại được.
- Nếu
vậy tại sao sầu khổ? Sự giàu sang của người đời hay
thóc lúa, khi còn đó thì chúng có mặt, và khi mất rồi thì
thôi. Chẳng có vật hữu hình nào không chịu hoạt diện,
thôi ông đừng sầu muộn vì nó nữa.
An
ủi ông như thế xong, Ngài nhắc lại Kinh Tham dục (Kinh Tập
IV, kệ 766) vì thích hợp với hoàn cảnh này. Khi Ngài kết
thúc bài Kinh Tham dục ấy, vị Bà-la-môn buồn khổ đã được
an trú vào Sơ quả Dự lưu. Sau khi làm tan biến nỗi buồn
của ông, bậc Ðạo Sư đứng dậy từ chỗ ngồi và trở
về tinh xá. Cả thị trấn đều nghe tin bậc Ðạo Sư đã
đi tìm Bà-la-môn đang bị đau đớn hành hạ như thế nào
rồi an ủi ông và an trú ông vào quả Dự Lưu ra sao. Tăng
chúng nói đến việc ấy tại Chánh pháp đường:
- Này
các Hiền giả, đấng Thập Lực đã kết bạn với một vị
Bà-la-môn, ngày càng thân thiết, đã tạo cơ hội thuyết Pháp
cho ông, đang lúc ông gặp cơn đau khổ xé nát cõi lòng. Ngài
an ủi cho vơi niềm đau khổ rối an trú ông vào quả