CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
Chương
XI
Phẩm
Mười Một Bài Kệ
455.
Chuyện Voi Hiếu Dưỡng Mẹ (Tiền thân Màti-Posaka)
Cho
dù voi chúa phải đi xa...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỳ kheo còn mẹ phải cấp dưỡng.
Hoàn
cảnh chuyện này cũng giống như chuyện Sàma (số 540 tập
VI). Trong dịp này Bậc Ðạo Sư nói chuyện với chúng Tăng,
Ngài bảo:
- Này
các Tỷ kheo, chớ giận Tỳ kheo này. Ngày xưa, bậc hiền nhân,
ngay cả lúc sinh ra từ bụng của loài vật, và cách xa mẹ
mình cũng không chịu ăn uống gì trong bảy ngày, cứ gầy
héo mỏi mòn. Dù được cung cấp đồ ăn vương giả, họ
cũng chỉ đáp: "Không có mẹ ta thì ta không muốn ăn". Tuy
thế, lúc gặp lại mẹ, họ mới chịu ăn như trước.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh làm Ðại tượng vương ở vùng Tuyết Sơn. Toàn
thân Voi màu trắng rất hùng vĩ, là chúa đàn gồm tám mươi
ngàn con voi vây quanh ngài, song mẹ ngài bị mù. Ngài thường
đưa cho bầy voi những quả rừng thật ngon để đem về dâng
mẹ, tuy thế, chúng chẳng đem gì về dâng voi mẹ, mà chúng
ăn hết. Khi ngài hỏi thăm và biết được việc ấy, ngài
bảo:
- Ta
muốn rời đàn để nuôi mẹ ta.
Thế
là một đêm thuận lợi, bầy voi không hay biết ngài đưa
mẹ đi đến đỉnh núi Candorana (Chiên-đồ-gia), tại đó ngài
để mẹ ở trong một hang dưới đồi, gần một hồ nước
và nuôi nấng mẹ rất chu đáo.
Bấy
giờ, một người thợ rừng ở Ba-la-nại đi lạc đường
và không thể nào tìm lối ra được nên bắt đầu than khóc
ầm ĩ. Nghe tiếng này Bồ-tát thầm nghĩ: "Ðó là một người
đang cơn hoạn nạn, khi ta đang ở đây mà gã gặp tai họa
thật chẳng phải lẽ". Vì vậy ngài đến gần gã, nhưng gã
bỏ chạy vì quá sợ hãi; thấy thế, chúa Voi bảo gã:
- Này
người kia, anh không cần phải sợ ta, đừng chạy trốn, hãy
nói tại sao anh vừa đi vừa khóc thế?
- Tâu
chúa tể, kẻ hèn này bị lạc đường đã bảy ngày qua.
Chúa
Voi đáp:
- Anh
đừng sợ nữa, và ta sẽ đưa anh ra đường đi của dân chúng.
Sau
đó ngài bảo người ấy leo lên ngồi trên lưng ngài và đưa
gã ra khỏi rừng, xong ngài quay về.
Còn
con người độc ác kia quyết vào thành phố báo tin cho vua
biết. Vì thế gã đánh dấu các cây cối, các ngọn đồi,
rồi tiến về Ba-la-nại. Lúc ấy vương tượng của hoàng
đế vừa từ trần. Ngài cho truyền lệnh bằng một hồi trống:
- Nếu
kẻ nào thấy ở đâu có con voi xứng đáng để hoàng thượng
ngự du thì hãy báo ngay.
Sau
đó gã kia đến triều kiến vua và tâu:
- Tâu
Chúa thượng, tiểu thần đã thấy một con Voi tuyệt mỹ,
toàn thân màu trắng, một vật tối thắng xứng đáng để
Chúa thượng ngự lên. Tiểu thần xin chỉ đường. Nhưng xin
đưa các người quản tượng đi theo để bắt Voi.
Vua
chấp thuận, bảo một người thợ rừng cùng đi với gã ấy
và một đoàn tùy tùng lên đường.
Người
thợ cùng đi với gã và trông thấy Bồ-tát đang ăn uống
trong một hồ nước. Khi Bồ tát thấy gã thợ rừng, ngài
nghĩ: "Hiểm họa này chắc chắn không phát xuất từ ai khác,
ngoài kẻ kia. Nhưng Ta rất mạnh, ta có thể đánh tan tành
cả ngàn con voi trong lúc thịnh nộ, ta lại đủ sức tiêu
diệt cả đàn voi ra trận của một vương quốc. Tuy nhiên
nếu ta bị lòng phẫn nộ chi phối thì công đức của ta sẽ
bị tổn hại. Vì vậy hôm nay ta sẽ không nổi giận, cho dù
có bị gươm giáo đâm vào da thịt". Với quyết đinh này,
ngài cúi đầu đứng bất động.
Người
thợ rừng bước xuống hồ sen, khi thấy vẻ tuyệt mỹ của
các chóp ngà voi, gã bảo:
- Này
con, hãy đến đây.
Rối
nắm lấy cái vòi giống như sợi dây thừng bằng bạc, gã
dẫn voi về thành Ba-la-nại trong vòng bảy ngày.
Khi
mẹ Bồ Tát thấy con mình không trở về, bà đoán chắc hẳn
ngài bị quan quân nhà vua bắt rồi, và bà than khóc:
- Giờ
đây cây cối vẫn mọc, nhưng con ta đã đi xa rồi.
Và
bà đã ngâm hai vần kệ sau:
1.
Dù cho Voi chúa phải đi xa,
Dược
thảo, nhũ hương vẫn mọc ra,
Lúa
cỏ, trúc đào, cùng súng trắng,
Kén
xanh chỗ khuất vẫn đơm hoa.
2.
Tượng vương hẳn đến tận phương nao
Sung
túc nhờ bao kẻ tước cao,
Trang
điểm ngọc vàng, vua chúa cỡi,
Oai
hùng thắng địch thủ mang bào.
Bây
giờ người luyện voi kia, đang lúc còn đang đi đường đã
gửi về triều một tờ sớ dâng vua. Nhà vua liền ra lệnh
cả kinh thành trang hoàng thật lộng lẫy. Người luyện voi
dẫn Bồ tát vào một cái chuồng được tô điểm bằng các
dây tua, tràng hoa và vây quanh mỗi bức màn đủ màu rực rỡ,
xong đến trình vua. Vua mang các món cao lương mỹ vị ra bảo
đưa cho Bồ Tát, nhưng ngài không ăn chút gì cả:
- Nếu
không có mẹ ta, ta không muốn ăn gì đâu.
Vua
van nài ngài ăn, và ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Nào ăn đi một miếng, Voi này,
Ðừng
có buồn chi, chớ héo gầy,
Ðể
phụng sự vua, còn lắm việc
Mà
Voi sẽ đảm trách sau này.
Nghe
vậy Bồ Tát ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Không, trên đỉnh núi Chiên-đồ-gia,
Khốn
khổ bà kia, mắt lại lòa,
Dậm
một chân vào gốc cổ thụ
Vì
không Voi chúa, ấy con bà.
Vua
ngâm vần kệ thứ năm để hỏi ý nghĩa lời ngài:
5.
Ai ở trên đồi Chiên-đồ-gia,
Nào
ai khốn khổ, lại mù lòa?
Dậm
chân vào một gốc cây nọ,
Vì
chẳng chúa Voi, con của bà?
Voi
đáp lời qua vần kệ thứ sáu:
6.
Mẹ ta ở trên núi Chiên-đồ gia,
Khốn
khổ mù lòa thật xót xa,
Dậm
một chân vào gốc cổ thụ,
Bởi
vì Voi chúa ấy là ta.
Khi
nghe nói vậy, vua liền cho ngài được tự do, và ngâm vần
kệ thứ bảy:
7.
Voi hùng phụng dưỡng mẫu thân mình,
Nên
thả tự do, cứ mặc tình,
Thôi
để Voi đi về với mẹ
Và
cùng sum họp với gia đình.
Vần
kệ thứ tám và thứ chín xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng
của đức Phật.
8.
Khỏi cảnh giam cầm được thoát thân,
Hết
dây ràng buộc, chúa Voi rừng,
Vài
lời khuyên nhủ cùng vua ấy,
Voi
lại trở về chốn núi ngàn.
9.
Rồi xuống hồ kia mát lạnh trong,
Nơi
này Voi vẫn tới bao lần,
Dùng
vòi hút nước từ hồ ấy
Tung
vẫy khắp mình của mẫu thân.
Nhưng
mẹ của Bồ Tát tưởng là trời bắt đầu mưa, nên ngâm
vần kệ thứ mười để trách cơn mưa:
10.
Ai đó đem mưa thật trái thời,
Thần
nào độc ác quá, trời ơi!
Vì
nay con trẻ đà đi vắng,
Con
trẻ xưa thường phụng dưỡng tôi.
Lúc
ấy Bồ tát ngâm vần kệ thứ mười một để trấn an mẹ:
11.
Sao mãi nằm kia vậy, mẹ ơi!
Này
đây con mẹ đã về rồi,
Ca-thi
Ðại đế, ngài Thông tuệ,
Cho
trẻ bình an được tái hồi.
Bà
mẹ liền đáp lời, cảm tạ vua qua vần kệ cuối cùng:
12.
Vạn tuế trường tồn, đấng Ðại vương!
Cầu
ngài đem lại nước hùng cường,
Tự
do ngài trả cho con đó,
Với
mẹ, con tròn vẹn kính thương!
Vua
rất hoan hỷ vì đức độ của Bồ tát nên ra lệnh xây một
thị trấn không xa hồ ấy và vua thường đến phụng sự
Bồ Tát cùng mẹ ngài. Sau đó, khi mẹ ngài từ trần, ngài
đi thật xa đến một tinh xá tên là Karandaka. Tại đây có
năm trăm bậc trí giả an trú và vua thường đến cúng dường
các ngài. Vua lại truyền tạc một tượng bằng đá có hình
Bồ tát và thường đến chiêm bái để tỏ lòng ngưỡng mộ
ngài. Dần dần dân chúng khắp cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ)
tụ tập lại đó cùng nhau cử hành ngày hội gọi là hội
Voi.
*
Khi
Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các
Sự thật. Bấy giờ lúc kết thúc các Sự thật, Tỳ kheo phụng
dưỡng mẹ đã được an trú vào Sơ quả Dự lưu.
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào
thời ấy Ànanda là nhà vua, mẫu hậu Mahàmàyà là mẹ Voi
và chính Ta là chúa Voi đã nuôi dưỡng mẹ mình.
-ooOoo-
456.
Chuyện Vương Tử Nguyệt Quang (Tiền thân Junha)
Tâu
Ðại vương nghe lão nói điều này...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ viên, về các
đặc ân mà Tôn Giả Ànanda nhận được.
Suốt
trong hai mươi năm đầu Ngài chứng đắc quả Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, các thị giả đức Thế Tôn không phải
chỉ là một người: Khi thì Tôn giả Nàgasamàla, khi thì Tôn
giả Nàgita, Upavàna, Sunakkhatta, Cunda, Sàgala, khi thì Meghiya
hầu hạ đức Thế Tôn. Một ngày kia, đức Thế Tôn bảo
các Tỳ kheo:
- Này
các Tỳ kheo, nay Ta đã già, và khi Ta bảo chúng ta hãy đi đường
này, vài người trong Tăng chúng lại đi đường khác, có người
làm rơi bình bát và y của ta xuống đường. Vậy hãy chọn
một Tỳ kheo luôn luôn hầu cận ta.
Sau
đó, Tăng chúng đồng đứng lên, bắt đầu với Tôn giả
Sàriputta (Xá-lợi-phất), và chấp hai tay lên đầu nói lớn:
- Bách
Thế Tôn, con xin hầu hạ Thế Tôn, con muốn hầu hạ Thế
Tôn.
Nhưng
ngài từ chối trả lời:
- Lời
thỉnh cầu của các ông đã được ta biết trước, thôi đủ
rồi.
Sau
đó Tăng chúng nói với Tôn giả Ànanda:
- Này
Hiền giả, Hiền giả hãy xin giữ chức vụ thị giả.
Tôn
giả đáp:
- Nếu
đức Thế Tôn sẽ không ban cho ta chiếc y mà chính Ngài đã
nhận, nếu Ngài sẽ không ban cho ta đồ ăn khất thực của
Ngài, nếu Ngài sẽ không cho phép ta ở cùng trong Hương phòng,
nếu Ngài sẽ không muốn cho ta cùng Ngài đi đến nơi Ngài
được mời. Nhưng nếu đức Thế Tôn sẽ đi với ta đến
nơi mà ta được mời, nếu ta sẽ được phép giới thiệu
hội chúng vào lúc hội chúng từ các vùng xa xôi hay các nước
ngoài đến yết kiến đức Thế Tôn, nếu ta sẽ được gặp
đức Thế Tôn khi có nghi vấn khởi lên, hoặc nếu bất cứ
khi nào đức Thế Tôn thuyết Pháp mà ta vắng mặt thì ngài
sẽ thuyết Pháp lại cho ta ngay lúc trở về: Thế thì ta sẽ
hầu hạ đức Thế Tôn.
Tôn
giả cầu xin tám đặc ân này, bốn điều "không" và bốn
điều "có" và đức Thế Tôn ban tất cả cho Tôn giả. Sau
đó Tôn giả thường xuyên hầu hạ Bậc Ðạo Sư trong hai
mươi lăm năm liền. Vì vậy sau khi đã đạt được năm đức
tính xuất sắc và sau khi thành tựu bảy phúc lạc " Phúc lạc
về Ðạo pháp, phúc lạc về sự giáo hóa, phúc lạc về sự
tuệ tri các nhân duyên, phúc lạc về sự quán sát công đức
của mình, phúc lạc vì được ở trong một Thánh chúng, phúc
lạc về nhiệt tâm tinh cần được khai sáng, phúc lạc về
khả năng đạt giác ngộ. Vào hầu cận đức Phật, Tôn giả
nhận được tám đặc ân và trở nên danh tiếng trong Giáo
pháp của đức Phật, Tôn giả sáng chói chẳng khác nào mặt
trăng trên bầu trời.
Một
ngày kia Tăng chúng bắt đầu nói đến chuyện ấy trong Chánh
pháp đường:
- Này
hiền hữu, đức Như Lai đã làm thỏa nguyện Tôn giả Ànanda
bằng cách ban các điều ước của Tôn giả.
Bậc
Ðạo Sư đi vào và hỏi:
- Này
các Tỳ kheo, các ông đang nói chuyện gì trong khi ngồi ở
đây?
Tăng
chúng thưa với Ngài. Sau đó Ngài bảo:
- Không
phải đây là lần đầu tiên, này các Tỳ kheo, mà thuở xưa
cũng như bây giờ Ta đã làm thỏa nguyện Ànanda với một
đặc ân; ngày xưa cũng như bây giờ, bất cứ điều gì ông
muốn xin, Ta đều ban cho cả.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, một vương
tử của ngài là Junha hay Nguyệt Quang Vương tử đang theo học
tại Takkasilà.
Một
đêm kia, sau khi lắng nghe kỹ lưỡng lời dạy bảo của vị
giáo sư, chàng từ giã nhà của thầy trong đêm tối và lên
đường về nhà. Một Bà-la-môn đã đi khất thực, và đang
trên đường về nhà, còn vương tử vì không thấy vị này,
nên chạy đến đụng vào Bà-la-môn ngã xuống và kêu lên.
Chàng động lòng thương liền quay lại, cầm lấy hai tay vị
kia và đỡ dậy. Vị Bà-la-môn nói:
- Này
con, con đã làm vỡ bình bát của ta, vậy hãy cho ta tiền mua
một bữa ăn.
Vương
tử đáp:
- Thưa
Tôn giả Bà-la-môn, bây giờ tiểu sinh không thể cho ngài tiền
bữa ăn được; nhưng tiểu sinh là vương tử Junha, con vua
xứ Kàsi, khi tiểu sinh về vương quốc, ngài có thể gặp
tiểu sinh và xin số tiền ấy.
Khi
chàng trai hoàn tất việc học tập, chàng tạ từ thầy dạy
và trở về Ba-la-nại, trình vua cha việc học tập của chàng.
- Trẫm
đã thấy được con trước khi từ trần - vua phán - và muốn
thấy con trẫm lên ngôi.
Sau
đó ngài làm lễ quán đảnh cho con và phong chàng lên ngôi
vua. Với danh hiệu Ðại vương Junha, vương tử cai trị rất
chân chánh.
Khi
vị Bà-la-môn hay tin ấy, ông nghĩ rằng giờ đây mình có
thể lấy lại tiền bữa ăn rồi. Thế là ông đến Ba-la-nại,
thấy toàn thể kinh thành được trang hoàng rực rỡ và vua
đang ngự du trong đám rước rất uy nghi hướng về phía hữu,
diễu quanh kinh thành. Ðứng trên một chỗ cao, vị Bà-la-môn
giơ tay kêu lớn:
- Ðại
vương toàn thắng!
Vua
đi qua mà không nhìn thấy ông. Khi vị Bà-la-môn thấy mình
không được chú ý, liền ngâm một vần kệ để xin ngài
giải thích:
1.
Tâu Ðại vương, nghe lão nói điều này
Chẳng
phải là vô cớ lão về đây,
Ðời
thường bảo: Mình không nên vượt quá
Người
du sĩ đứng ngay trên đường sá.
Khi
nghe những lời này, vua thúc vương tượng quay lại với cái
gậy nạm ngọc của ngài và ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Ta đứng nghe, này Ðạo sĩ nói ngay,
Cớ
sao ngài cất bước đến nơi đây?
Ngài
ao ước một đặc ân nào đó,
Mà
phải tìm, xin nói cho ta rõ.
Và
câu chuyện của vua và vị Bà-la-môn hỏi đáp lẫn nhau được
kể lại trong các vần kệ sau đây:
Bà-la-môn:
3.
Xin cho lão năm ngôi làng thượng hạng,
Bảy
trăm bò, tỳ nữ một trăm nàng,
Hơn
một ngàn đồ trang sức bằng vàng,
Hai
người vợ với ta cùng dòng dõi.
Quốc
vương:
4.
Ðạo sĩ ơi, ngài có điều sám hối
Thật
hãi hùng khi phải thổ lộ ra,
Ngài
có nhiều thần chú hoặc đạo bùa,
Hay
ma quỷ sẵn sàng tuân mệnh lệnh?
Hoặc
thỉnh cầu vì hầu ta chân chính?
Bà-la-môn:
5.
Không ăn năn, chẳng thần chú, đạo bùa,
Không
quỷ ma nào tuân lệnh của ta,
Không
đòi thưởng vì công lao giúp đỡ,
Song
trước kia chúng ta đà gặp gỡ,
Ðây
chính là sự thật phải trình ra.
Quốc
vương:
6.
Trẫm không sao nhớ nổi, thời gian qua,
Rằng
trẫm đã tương phùng ngài thuở nọ,
Trẫm
van ngài nói điều này cho rõ
Khi
gặp nhau, nơi chốn, thuở xưa xa?
Bà-la-môn:
7.
Trong thành đô mỹ lệ chúa Gan-dhà,
Tâu
Chúa thượng, Tak-ka là chốn ở,
Ðêm
tối đen như mực kia, tại đó
Lão
và ngài cùng vụt tới chạm vai,
8.
Khi chúng ta đang đứng đó, thưa ngài,
Cuộc
trò chuyện bắt đầu đầy thân thiện,
Chỉ
lần đó chúng ta cùng diện kiến,
Trước
chẳng hề và sau đó cũng không.
Quốc
vương:
9.
Khi trí nhân đã gặp, hỡi La-môn,
Thiện
nhân giữa đời không nên để mặc
Tình
bạn xưa nay cố nhân đi khuất,
Chẳng
vì đâu, làm việc cũ chẳng quên!
10.
Chính kẻ ngu chối bỏ việc xưa liền.
Và
bỏ mặc tình người xưa chẳng nhớ
Những
người ấy chúng có lần gặp gỡ;
Người
ngu làm nhiều việc chẳng ra gì,
Chúng
vong ân và chúng cứ quên đi.
11.
Song chánh nhân chẳng hề quên quá khứ,
Tình
bằng hữu, người quen, luôn gắn bó,
Việc
nhỏ nhoi do bằng hữu làm nên
Cũng
chẳng hề bị từ chối, lãng quên,
Chánh
nhân tận cuối đời ghi ơn bạn.
12.
Trẫm ban cố nhân năm làng thượng hạng,
Bảy
trăm bò, nữ tỳ một trăm nàng,
Hơn
một ngàn đồ trang sức bằng vàng,
Hai
người vợ, với ngài cùng đẳng cấp.
Bà-la-môn:
13.
Ðại vương ôi, khi thiện nhân hòa hợp,
Như
trăng rằm ta thấy giữa sao trời,
Như
ta đây cũng vậy, Chúa công ôi,
Vì
ngài đã giữ lời xưa giao ước.
Bồ
tát liền tỏ thêm niềm quý trọng đối với đạo sĩ kia.
*
Khi
Bậc Ðạo Sư đã chấm dứt Pháp thoại này. Ngài bảo:
- Này
các Tỳ kheo, đây không phải là lần đầu Ta làm Ànanda thỏa
nguyện với các đặc ân, mà Ta đã làm như vậy ngày xưa
nữa.
Cùng
các lời này, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào
thời ấy Ànanda là vị Bà-la-môn, và Ta chính là vua.
-ooOoo-
457.
Chuyện Thiên Tử Chánh Pháp (Tiền thân Dhamma)
Ta
hành chánh hạnh giữa trần gian...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về việc
Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bị nuốt vào lòng đất như thế
nào.
Tăng
chúng tụ tập trong Chánh pháp đường đàm luận:
- Này
Hiền hữu, Ðề-bà-đạt-đa sinh lòng thù nghịch với đức
Như Lai và đã bị nuốt vào lòng đất.
Bậc
Ðạo Sư đi vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì lúc ngồi
ở đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài đáp:
- Này
các Tỳ kheo, nay kẻ ấy bị nuốt vào lòng đất vì đã giáng
một đòn chống lại quyền lực vinh quang của Ta, song ngày
xưa kẻ ấy đã chống lại uy quyền của lẽ phải, nên đã
bị nuốt vào lòng đất và đọa vào địa ngục.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thời nọ, khi vua Brahmadatta lên ngôi tại Ba-la-nại, Bồ tát
được sinh vào cõi dục giới thiên làm một Thiên tử, có
tên là Dhamma hay Chánh pháp, đồng thời Ðề-bà-đạt-đa lại
có tên là Adhamma hay Tà pháp.
Vào
ngày trai giới trăng tròn, về buổi chiều khi cơm nước xong
xuôi, dân chúng ngồi vui vẻ trước sân nhà mình trong làng,
ngoài phố hay kinh thành, Dhamma xuất hiện trước mặt quần
chúng, đứng vững trên không gian, cỡi chiếc thiên xa của
ngài và phục sức thiên y rực rỡ giữa hội chúng Thiên nữ,
ngài dạy bảo như sau:
- Ðừng
đoạt mạng sống của mọi loài hữu tình và tránh mười
ác đạo, hãy làm tròn phận sự phụng dưỡng cha mẹ, cùng
tam nghiệp chân chánh (Chánh thân nghiệp, chánh khẩu nghiệp,
chánh ý nghiệp), nhờ thế các người sẽ được tái sinh
lên thiên giới và hưởng mọi vinh quang tuyệt diệu.
Như
vậy ngài khuyến cáo dân chúng hành trì Mười thiện đạo,
và ngài diễu quanh cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) một vòng thật
uy nghiêm hướng về phía hữu. Nhưng Adhamma lại dạy dân chúng:
- Hãy
sát sinh các loài hữu tình.
Và
như thế vị này đã xúi giục dân chúng theo Mười ác đức
và diễu quanh cõi Diêm-phù-đề hướng về phía tả.
Lúc
bấy giờ thiên xa của hai vị đối diện nhau trên không gian,
và đám tùy tùng của hai vị hỏi nhau:
-Các
ông là tùy tùng của ai? Và chúng đáp:
- Chúng
ta là tùy tùng của Dhamma.
- Còn
chúng ta là tùy tùng của Adhamma. Rồi chúng chiếm chỗ, làm
cho lối đi được chia hai ra. Nhưng Dhamma bảo Adhamma:
-Này
Hiền giả, ngài là Adhamma và ta là Dhamma, ta đi về hướng
phải, vậy hãy quay xe qua một bên nhường lối cho ta.
Rồi
ngài ngâm vần kệ đầu:
1.
Ta hành chánh hạnh ở trần gian,
Danh
tiếng người đời được tặng ban,
Ðạo
sĩ, hiền nhân, khen ngợi mãi,
Phần
ta, đường Chánh, được tôn sùng,
Ðường
ta là đó, ta chân chánh,
Tà
pháp, vậy ngài hãy tránh đường.
Ðây
là các vần kệ tiếp theo:
Tà:
2-Trong
chiếc hùng xa của pháp Tà,
Ngự
trên ngôi báu ấy là ta,
Ðại
hùng không kẻ làm kinh hãi,
Vì
vậy ta không tự trước giờ
Nhường
chỗ, sao nay đành nhượng bộ
Ðể
cho Chánh pháp vượt xe qua?
Chánh:
3.
Chánh pháp đã bày tỏ trước tiên,
Là
Thần ưu thắng, bậc cao niên,
Tà
pháp trẻ hơn vì đẻ muộn,
Hậu
sinh nhường bước, lệnh bề trên!
Tà:
4.
Dù ngài đức độ hoặc cầu xin,
Hoặc
nếu công bình lẽ tự nhiên,
Ta
quyết cũng không hề nhượng bộ,
Hôm
nay ta dự đấu tranh liền,
Bất
kỳ ai hễ giành ưu thắng,
Vị
ấy được nhường chỗ trước tiên.
Chánh:
5.
Khắp cõi gần xa, ta nổi danh
Anh
hùng vô địch, đại quang vinh,
Trong
ta, hình thái này mang đủ
Tất
cả công năng kết hợp thành,
Tà
pháp này, ta là Chánh pháp,
Làm
sao ngài chiến thắng phần mình?
Tà:
6.
Nhờ sắt, mà vàng được đập ra,
Lấy
vàng đập sắt, thấy bao giờ?
Nếu
Tà đánh Chánh mà Tà thắng,
Sắt
đẹp như vàng chẳng kém thua.
Chánh:
7.
Nếu ngài chiến đấu thật hùng cường,
Lời
nói ngài dẫu chẳng thiện chơn,
Ta
sẽ thứ tha lời ác ấy,
Và
dù không muốn, phải nhường đường.
Hai
vị ngâm sáu vần kệ trên để đối đáp lẫn nhau. Nhưng
vừa lúc Bồ tát ngâm vần kệ này, Adhamma không thể nào đứng
trên xe được nữa, mà nhào đầu xuống đất đang há miệng
để nuốt vị ấy liền, và vị ấy tái sinh vào địa ngục.
*
Ðức
Thế Tôn vừa nhận thấy việc này xảy ra, Ngài liền ngâm
các vần kệ cuối cùng phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng
của Ngài:
8.
Lời ấy vừa nghe tự cõi cao,
Pháp
Tà kia đã ngã lăn nhào,
Kinh
hoàng số phận cho Tà pháp,
Dù
muốn, ta không đánh trận nào.
9.
Vậy pháp Tà khiêu chiến bạo hung,
Bại
vì Ðại sĩ lượng khoan dung,
Chết
vì bị nuốt vào lòng đất,
Bậc
Chánh chân an lạc, đại hùng,
Bảo
vệ cho mình bằng chánh lý,
Ngự
lên xa giá vội đằng vân.
10.
Ở nhà ai chẳng kính song thân,
Giáo
sĩ, hiền nhân, lúc mạng chung,
Thân
hoại, bật tung dây trói buộc,
Từ
đây kẻ ở chốn phàm trần
Thẳng
vào địa ngục ngay, nào khác
Tà
pháp kia nhào xuống ngã lăn.
11.
Ở nhà ai kính trọng song thân,
Giáo
sĩ, hiền nhân, lúc mạng chung,
Thân
hoại, bật tung dây trói buộc,
Cõi
Thiên thẳng tiến tự phàm trần,
Như
ngài Chánh pháp trên xa giá
Ði
đến cung trời của thiện nhân.
*
Khi
Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài bảo:
- Này
các Tỳ kheo, không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa,
Ðề-bà-đạt-đa đã tấn công Ta và đã bị nuốt vào lòng
đất.
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào
thời ấy, Ðề-bà-đạt-đa là Adhamma (Tà pháp), đám tùy tùng
của Tà pháp này là tùy tùng của Ðề-bà-đạt-đa, còn ta
là Dhamma (Chánh pháp) và các đệ tử của đức Phật là đám
tùy tùng của Dhamma vậy.
-ooOoo-
458.
Chuyện Vua Thiện Lai (Tiền thân Udaya)
Dung
sắc nàng trong sáng, vẹn toàn...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỳ kheo thối thất.
Trường
hợp này sẽ được giải thích trong Tiền Thân Kusa (số 531
tập VI). Bậc Ðạo Sư hỏi người này:
- Này
Tỳ kheo, có đúng là ông thối thất như Tăng chúng bảo chăng?
Người
ấy đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Ngài
nói:
- Này
Tỳ kheo, tại sao ông lại thối thất trong Giáo pháp như Giáo
pháp của Ta đưa đến giải thoát, mà tất cả chỉ vì tham
dục?
Các
bậc trí nhân ngày xưa, từng làm vua tại Surundha, một kinh
thành phồn thịnh rộng mười hai dặm mỗi bề, dù suốt cả
bảy trăm năm sống cùng phòng với một nữ nhân diễm lệ
như Thiên nữ, cũng không hề bị lôi cuốn vào dục vọng,
thậm chí cũng chẳng bao giờ đưa mắt nhìn nàng với lòng
ham muốn cả.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khi vua Kàsi đang trị vì quốc độ Kàsi, ỏ kinh
thành Surundha, ngài không có con cái gì cả. Vì thế ngài ra
lệnh cho các vương phi cầu tự. Bấy giờ Bồ tát từ cõi
Phạm thiên xuống nhập vào mẫu thai của chánh hậu. Và do
ngài sinh ra đời làm vui lòng đại chúng nên được đặt
tên là Udayabhadda, tức Thiện Lai. Vào lúc vương nhi biết đi
chập chững, thì một người khác xuất hiện ở đời này
từ cõi Phạm thiên xuống nhập mẫu thai làm công chúa của
một bà vương phi khác và nàng cũng được đặt cùng tên
ấy Udayabhaddà.
Khi
thái tử đến tuổi trưởng thành, chàng tinh thông mọi ngành
học thuật, và hơn nữa, chàng trong sáng đến độ chàng không
biết gì về các hành động xác thịt, ngay cả trong các giấc
mơ, tâm chàng cũng không hướng đến ác dục. Vua cha ước
mong chàng cũng không lên ngôi báu với lễ quán đảnh phong
vương huy hoàng, và muốn diễn kịch để chàng giải trí,
nên ngài ra lệnh ngay. Nhưng Bồ tát đáp:
- Con
không thiết ngai vàng, lòng con không hướng về ác dục.
Chàng
cứ bị nài ép mãi, nhưng chàng đáp lại bằng cách bảo tạc
một tượng nữ nhân bằng vàng ròng, rồi trình lên song thân
với lời tâu:
- Khi
nào hoàng nhi tìm được một nữ nhân như vậy, hoàng nhi sẽ
nhận ngôi báu.
Quần
thần đem bức tượng vàng đi khắp cõi Diêm-phù-đề, nhưng
họ không tìm ra nữ nhân nào giống như vậy cả, cuối cùng
họ trang điểm cho nàng Udayabhadà thật lộng lẫy rồi đưa
nàng ra so với bức tượng, dung sắc nàng còn vượt xa khi
nàng đứng cạnh nó. Thế là quần thần đem gả nàng cho Bồ
tát làm vương phi, dù cả hai vị đều không muốn, vì nàng
chính là công chúa Udayabhaddà, em ruột cùng cha khác mẹ với
ngài, rồi quần thần lại làm lễ quán đảnh phong vương
cho ngài.
Cả
hai vị cùng nhau sống một cuộc đời thanh tịnh, không vướng
dục tình. Theo thời gian, khi song thân qua đời, Bồ-tát trị
vì vương quốc. Hai vị ở chung phòng, nhưng từ bỏ dục vọng,
đến độ không bao giờ nhìn nhau với vẻ ham muốn. Không
những thế, hai vị còn ước nguyền rằng, nếu một trong
hai vị từ trần trước, thì sẽ trở lại gặp vị kia từ
cõi mới tái sinh, để báo tin: "Ta đã tái sinh ở nơi kia".
Thời
bấy giờ lúc làm lễ quán đảnh, Bồ-tát sống bảy trăm
năm rồi từ trần. Vì không có vua nào nối ngôi, nên có lệnh
của tiên đế Udayabhadda ban bố rằng triều đình phải lo
trị nước. Bồ-tát đã trở thành Sakka (Ðế Thích) Thiên
chủ trên cõi Trời ba mươi ba, và do cảnh vinh quang này quá
huy hoàng, nên ngài không nhớ đến đời trước trong vòng
bảy ngày. Thế là sau bảy trăm năm theo ước tính của loài
người, ngài nhớ lại và tự nhủ: "Ta muốn trở về gặp
công chúa Udayabhaddà và sẽ thử lòng nàng bằng vàng bạc
quý, rồi rống lên tiếng rống sư tử, ta sẽ thuyết giáo,
như thế là ta thành tựu lời nguyện ước xưa".
Vào
thời ấy, chuyện kể rằng, đời sống con người kéo dài
được mười ngàn năm. Bấy giờ, vào ban đêm cửa cung khóa
chặt, quân canh đã được bố trí cẩn mật, và công chúa
đang ngồi yên lặng một mình trong cung điện nguy nga ở lầu
thượng, suy tư về công hạnh của nàng. Lúc ấy, Ðế Thích
Thiên chủ cầm một chiếc dĩa vàng đựng đầy tiền vàng
và xuất hiện trong khuê phòng trước mặt nàng, rồi đứng
ra một bên. Ngài bắt đầu ngâm vần kệ thứ nhất với nàng:
1.
Dung sắc nàng trong sáng, vẹn toàn,
Nàng
ngồi lầu thượng, dáng cô đơn,
Diễm
kiều, trông tựa như Thiên nữ,
Xin
được đêm nay ở với nàng.
Công
chúa đáp lời này qua hai vần kệ sau:
2.
Thành này tường bọc, lũy đào sâu,
Việc
đến gần đây khó biết bao,
Trong
lúc tháp cao và lũy rộng,
Canh
phòng đoàn kết với cung đao.
3.
Chẳng bầy niên thiếu, bậc anh hùng
Có
thế vào đây được dễ dàng,
Hãy
nói, việc gì là có sự
Cùng
ta gặp gỡ chốn thâm cung?
Sau
đó Ðế Thích Thiên chủ ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Ðại quý là Ta, hỡi tố nga,
Với
nàng, ta xuất hiện bây giờ,
Ban
ta ân huệ nàng, nương tử,
Ðây
dĩa vàng, xin nhận của ta.
Nghe
thế, công chúa liền ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Từ thuở Thiện Lai vĩnh biệt trần,
Ta
không đòi, dẫu quý hay thần,
Hoặc
người ở cạnh, này Thiên tử,
Ðừng
đến nữa đây, chớ ở gần.
Nghe
giọng sư tử hống của nàng, Thiên chủ không còn đứng lại
nữa, mà làm ra vẻ giã từ nàng rồi lập tức biến mất.
Hôm sau cũng vào giờ ấy, ngài cầm cái chén bạc đựng đầy
tiền vàng và đến nói với nàng qua vần kệ thứ sáu:
6.
Cực lạc cùng nhau biết rõ rành,
Hoàn
toàn trọn vẹn giữa đôi tình,
Khiến
người đời phạm bao điều ác,
Ôi
quý nương, nàng chớ vội khinh!
Chén
bạc, hãy nhìn, ta kính tặng,
Hỡi
nàng, cười mỉm giá khuynh thành.
Lúc
ấy công chúa suy nghĩ: "Nếu ta cứ để vị kia nói mãi chuyện
nhảm nhí, y sẽ đến hoài. Vậy ta không nói gì nữa với
y". Thế là nàng không nói thêm lời nào. Ðế Thích Thiên chủ
thấy nàng không có gì để nói nữa, nên biến mất từ chỗ
đứng.
Ngày
kế tiếp cũng vào giờ ấy, ngài cầm chén sắt đựng đầy
tiền vàng và bảo:
- Thưa
công nương, nếu nàng ban cho ta tình yêu của nàng, ta sẽ tặng
nàng chén sắt đầy vàng này.
Khi
trông thấy ngài, công chúa ngâm vần kệ thứ bảy:
7.
Nam nhi mong tán tỉnh hồng quần,
Ðem
tặng vàng kia cứ mãi tăng,
Cho
đến khi nàng chìu thỏa ý,
Nhưng
ta xét cách của Thiên thần
Nơi
ngài khác hẳn: nay ngài đến,
Tặng
vật xem ra cứ giảm dần.
Khi
nghe những lời này, bậc Ðại Sĩ đáp:
- Thưa
công nương, ta là một kẻ đi buôn rất thận trọng. Ta không
phung phí của cải vô ích đâu. Nếu nàng tăng dần vẻ xuân
sắc, ta sẽ tăng số tặng vật cho nàng, nhưng sắc đẹp của
nàng đang tàn tạ dần, vì thế ta giảm dần số tặng vật
đó thôi.
Nói
xong ngài ngâm ba vần kệ:
8.
Ôi mỹ nhân, xuân sắc tàn phai,
Hỡi
nàng thục nữ giữa trần ai,
Hôm
nay nàng phải già hơn trước,
Nên
số vàng ta tặng giảm hoài.
9.
Vậy thưa nàng nữ chúa huy hoàng,
Trước
mắt ta đang ngưỡng mộ nàng,
Trong
lúc ngày đêm qua thấm thoắt,
Sắc
nàng tươi đẹp sẽ phai tàn.
10.
Song hỡi công nương trí tuyệt trần,
Nếu
như nàng thuận ý bằng lòng,
Giữ
gìn Thánh đạo và thanh tịnh,
Nàng
sẽ luôn kiều diễm bội phần.
Ngay
sau đó công chúa ngâm một vần kệ khác:
11.
Chư Thiên chẳng giống các người trần,
Da
chẳng già, không thấy nếp nhăn,
Thiên
chúng làm sao không thể xác?
Ðiều
này, Ðại quý nói cho cùng.
Lúc
ấy, Thiên chủ giải thích vấn đề này qua một vần kệ
nữa:
12.
Thiên chúng không như người thế gian,
Chẳng
già, da chẳng thấy đường nhăn,
Mai
đây và mãi về sau nữa,
Thiên
lạc vô ngần, mỹ sắc tăng.
Khi
nàng nghe nói dung sắc trên thiên giới, nàng hỏi con đường
lên đó qua một vần kệ khác:
13.
Ðiều gì làm khiếp sợ quần sinh,
Xin
hỏi ở đời, đấng hiển linh,
Làm
sáng tỏ con đường thiện ấy,
Xin
ngài giải thích thật phân minh
Làm
sao đi hướng về Thiên giới,
Nơi
ấy chẳng còn phải hãi kinh.
Kế
đó Thiên chủ giải thích vấn đề trong một vần kệ nữa:
14.
Ai khéo hộ trì khẩu, ý, căn,
Chăng
ưa làm ác nghiệp về thân,
Trong
nhà ta thấy nhiều lương thực,
Ban
phát rộng lòng, tín chánh chân,
Hào
phóng, ngọt ngào, đầy thiện ý,
Sẽ
sinh thiên giới chẳng kinh hoàng.
Khi
công chúa nghe lời ngài xong, nàng cảm tạ ngài qua một vần
kệ khác:
15.
Giống như bà mẹ, giống như cha,
Ðại
lực thần đang giáo hóa ta,
Hỡi
Ðại thần oai hùng mỹ diệu,
Ngài
là ai đó, nói ngay ra.
Liền
đó Bồ-tát ngâm kệ:
16.
Ta chính Thiện Lai, hỡi mỹ nhân,
Vì
lời ước hẹn, đến bên nàng,
Giờ
đây đã nói, ta từ giã,
Lời
hứa ngày xưa hết buộc ràng!
Công
chúa thở dài bảo:
- Ôi
Chúa thượng, ngài chính là Ðại vương Udayabhadda ư?
Rồi
nàng nức nở khóc, nước mắt tuôn như suối chảy:
- Vắng
bóng Chúa thượng, thần thiếp không thể nào sống được.
Xin Chúa thượng dạy bảo thần thiếp cách nào thiếp có thể
sống cùng Chúa thượng mãi mãi!
Nói
xong nàng lại ngâm kệ khác:
17.
Nếu Ðại vương là chúa Thiện Lai,
Ðến
đây vì nguyện ước, không sai,
Thì
xin dạy thiếp, ôi Hoàng thượng,
Ðể
sống cùng nhau mãi mãi hoài.
Tiếp
theo ngài ngâm bốn vần kệ để giáo hóa nàng:
18.
Thoáng chốc, xuân thì vụt quá nhanh,
Ðời
không bền vững, mọi loài sinh,
Chết
rồi, sống lại đời sau nữa,
Thối
nát, thân này thật mỏng manh.
Vậy
chớ buông lung cùng phóng dật,
Tiến
lên, vững bước, giữ tâm thành.
19.
Nếu cả trần gian, mọi bạc vàng
Thuộc
quyền cai trị một anh quân,
Thánh
nhân còn vượt xa vua ấy
Trong
cuộc thi đua giữa cõi trần,
Vậy
chớ buông lung cùng phóng dật,
Tín
tâm giữ vững, bước lên đàng.
20.
Song thân cùng quyến thuộc, anh em,
Và
vợ (có tiền lại kết duyên),
Tất
cả đều ra đi lũ lượt,
Kẻ
này xa kẻ khác luân phiên,
Vậy
đừng sống cuộc đời buông thả,
Giữ
tín tâm bền vững, bước lên.
21.
Thân kia, hãy nhớ, sẽ làm thành
Thực
phẩm cho nhiều loại chúng sinh,
Hoan
lạc cũng như niềm khổ não
Chỉ
là giờ khắc thoáng trôi nhanh,
Ðời
này nối tiếp đời sau mãi,
Vậy
chớ buông lung, giữ tín thành.
Bậc
Ðại Sĩ đã thuyết Pháp như vậy. Công chúa rất hoan hỷ
với cách giáo hóa trên, và nàng cảm tạ ngài với vần kệ
cuối cùng:
22.
Thiên thần này nói ngọt ngào,
Thế
nhân thấy rõ ngắn sao cuộc đời,
Ðời
buồn, ngắn ngủi thế thôi,
Ði
theo đời sống, không rời sầu bi.
Giã
từ trần thế, ta đi,
Từ
kinh đô xứ Ca-thi lên đàng.
Sau
khi thuyết giáo như vậy cho nàng xong, Bồ-tát trở lại cõi
của ngài.
Ngày
kế tiếp, công chúa liền giao việc trị nước cho các triều
thần, còn nàng trở thành ẩn sĩ ngay trong kinh thành ấy, ở
hoa viên đầy an lạc. Tại đó, nàng vẫn sống theo chánh hạnh
cho đến khi mạng chung, nàng được tái sinh ở cõi Trời Ba
mươi ba, làm thị nữ của Bồ-tát.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài thuyết giảng
các Sự Thật. Bấy giờ, lúc kết thúc các Sự Thật, vị
Tỷ-kheo thối thất đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, thân mẫu La-hầu-la là công chúa kia và Ðế Thích
Thiên chủ chính là Ta.
-ooOoo-
459.
Chuyện Ngụm Nước Uống (Tiền thân Paniya)
Ngụm
nước kia còn là của bạn mình..,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự điều
phục các ác dục.
Ta
biết rằng có một thời, năm trăm dân chúng thành Xá-vệ
là gia chủ cùng thân hữu của đức Như Lai đã đi nghe Pháp
và xuất gia thọ giới Tỷ-kheo. Trong khi sống ở Tinh xá trên
con Ðường-lát-vàng kia, vào ban đêm các vị chìm đắm trong
dục tưởng (các chi tiết cũng được biết như trong chuyện
trước). Theo lệnh của đức Thế Tôn, Tôn giả Ànanda liền
tập họp Tăng chúng lại. Bậc Ðạo Sư ngồi xuống ở chỗ
đã được soạn sẵn và không cần hỏi Tăng chúng: "Có phải
các ông chìm đắm trong dục tưởng chăng?", mà Ngài dạy bảo
Tăng chúng bằng những lời tổng quát:
- Này
các Tỷ-kheo, không có việc gì được xem là lỗi lầm nhỏ
nhặt cả. Một Tỷ-kheo phải chế ngự tất cả các dục mỗi
khi chúng khởi lên. Các bậc trí nhân thuở xưa, trước khi
đức Phật ra đời, đã biết điều phục ác dục và đạt
đến trí tuệ của một vị Ðộc Giác Phật.
Cùng
với lời dạy này, Ngài kể cho Tăng chúng nghe một chuyện
quá khứ.
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta trị vì thành Ba-la-nại, có hai người
bạn trong một làng kia ở quốc độ Kàsi. Hai người ấy,
ra đồng mang theo hai bình nước uống, họ đặt khuất bên
đường trong lúc cuốc đất, mỗi khi khát nước lại đến
đó uống. Một trong hai người ấy, khi uống nước, đã để
dành nước trong bình của mình và uống nước trong bình kẻ
kia. Buổi chiều khi ra khỏi rừng tắm rửa xong, kẻ ấy đứng
suy nghĩ: "Ta có phạm lỗi gì hôm nay, hoặc do thân căn, hoặc
do căn nào khác chăng?" Lúc đó, ông nhớ lại đã uống ngụm
nước trộm như thế nào, và buồn phiền kêu lên:
- Nếu
sự thèm khát này khởi lên trong ta, nó sẽ khiến ta phải
tái sinh vào cõi dữ. Vậy ta quyết nhiếp phục lỗi lầm.
Vì
vậy do chuyện uống ngụm nước trộm này mà ông dần dần
đạt được thiền định và chứng đắc Thắng trí của một
vị Ðộc Giác Phật (Pacceka-Buddha) và ông đứng đấy suy nghĩ
về Thắng trí của mình vừa đạt được.
Bấy
giờ người kia sau khi tắm xong bảo:
- Này
Hiền hữu, về nhà đi.
Ông
đáp:
- Hiền
hữu về nhà đi, nhà cửa chẳng có ý nghĩa gì đối với
ta nữa! Ta là một vị Ðộc Giác Phật đây!
- Ô
kìa, Ðộc Giác Phật giống như Hiền hữu ư?
- Thế
thì các vị ấy ra sao?
- Các
vị ấy có tóc dài cỡ hai ngón tay, đắp y vàng, sống ở
động Nandamùla tận trên vùng Tuyết Sơn.
Người
kia vỗ vào đầu; ngay lập tức các dấu vết của một người
thế tục biến mất, một cặp y đỏ đắp quanh mình vị ấy,
một dây đai màu vàng như lằn chớp cột quanh thắt lưng,
tấm thượng y màu son đỏ vắt qua một bên vai, một y phấn
tảo màu đen sẫm như đám mây trời bão nằm vắt qua một
vai kia, một bình bát bằng đất màu vàng nâu treo lủng lẳng
trên vai tả, ông đứng vững trên không, sau khi thuyết Pháp
xong liền bay lên cao và không hề hạ xuống, cho đến khi bay
tận hang núi Nandamùla.
Một
người khác cũng sống trong một làng ở Kàsi, là một địa
chủ, đang ngồi trong tiệm tạp hóa thì thấy một người
nọ dẫn vợ đi tới. Vừa thấy nàng là một mỹ nhân dung
sắc tuyệt thế, người kia lỡ phá giới đức và liếc nhìn
nàng. Sau đó ông suy nghĩ: "Nếu tham dục này tăng trưởng,
nó sẽ khiến ta đọa vào cõi ác thú". Ông vừa tu tập tâm
vừa làm phát khởi thiền định và đạt Thắng trí của một
vị Ðộc Giác Phật, rồi đứng trên không và thuyết Pháp,
về sau cũng bay đến động Nandamùla.
Lại
có hai cha con là dân làng Kàsi, cùng du hành với nhau. Tại
lối đi vào rừng có nhiều kẻ cướp trú ẩn. Những quân
cướp này, nếu bắt được cả hai cha con, thì sẽ giữ người
con lại và bắt người cha đi về, bảo:
- Hãy
đem tiền đến chuộc con trai ông.
Hoặc
nếu là hai anh em, chúng sẽ giữ người em lại và bắt người
anh đi về, nếu là hai thầy trò, chúng giữ ông thầy lại
và bắt học trò đi về, người học trò muốn học hành sẽ
đem tiền đến và chúng sẽ thả ông thầy.
Lúc
bấy giờ, khi hai cha con này thấy bọn cướp đang nằm chờ,
người cha bảo:
- Con
đừng gọi ta là cha, ta cũng không gọi con là con đấy.
Hai
người đồng ý như vậy, nên khi quân cướp đi đến, chúng
hỏi hai người là gì đối với nhau, hai người đáp:
- Chúng
ta chẳng là gì đối với nhau cả.
Rồi
họ nói dối một điều đã nghĩ sẵn từ trước. Khi hai người
ra khỏi rừng và nghỉ ngơi sau khi đã tắm rửa buổi tối
xong, người con xem xét lại đức hạnh của mình và nhớ lời
nói dối kia, nghĩ thầm: "Lỗi lầm này nếu tăng trưởng sẽ
nhận chìm ta vào cõi ác. Ta quyết khắc phục lỗi lầm". Sau
đó người ấy tu tập thiền định, và đạt Thắng trí của
một vị Ðộc Giác Phật, rồi đứng trên không và thuyết
Pháp cho cha, xong cũng đi về hang Nandamùla.
Trong
một làng ở Kàsi cũng có một địa chủ ra lệnh cấm sát
sinh. Bấy giờ đến lúc người ta thường dâng lễ tế thần,
một đám đông tụ tập lại và nói:
- Thưa
chủ nhân, đây là lúc tế lễ, xin cho chúng tôi giết dê,
lợn và những súc vật khác để dâng lễ cúng thần linh.
Ông
bảo:
- Cứ
làm như các anh đã làm trước kia.
Dân
làng liền làm một việc đại sát sinh. Khi người ấy thấy
một số lớn cá thịt, liền suy nghĩ: "Người ta đã giết
hết các sinh vật này, tất cả cũng chỉ vì lời nói của
ta mà thôi!". Ông ăn năn hối hận, và khi đứng bên cửa sổ,
ông tu tập thiền định và đạt Thắng trí của một vị
Ðộc Giác Phật, rồi đứng trên không thuyết pháp xong, cũng
đi về hang Nandamùla.
Một
người địa chủ khác sống ở quốc độ Kàsi, cấm bán rượu
mạnh. Một đám đông đến kêu gào:
- Thưa
chủ nhân, chúng tôi phải làm sao? Ðây là tửu hội được
yêu chuộng lâu đời rồi mà!
Người
ấy đáp:
- Cứ
làm như các anh vẫn làm trước kia.
Dân
chúng tổ chức đại hội, uống rượu mạnh và gây sự lẫn
nhau, kẻ gãy tay chân, người vỡ đầu sứt tai và phải chịu
nhiều hình phạt về chuyện này. Người địa chủ thấy vậy,
nghĩ thầm: "Nếu ta không cho phép chuyện này, thì dân chúng
đã không phải chịu khổ sở như vậy". Ông cảm thấy ăn
năn dù chỉ một việc nhỏ nhặt kia. Sau đó ông tu tập thiền
định, và đạt Thắng trí của một vị Ðộc Giác Phật,
đứng trên không thuyết Pháp, khuyên bảo dân chúng phải tỉnh
giác, rồi ông cũng đi đến hang Nandamùla.
Một
thời gian sau, năm vị Ðộc Giác Phật đều giáng lâm tại
cổng thành Ba-la-nại, để tìm đồ ăn bố thí. Thượng y
và hạ y của các Ngài đều được đắp gọn ghẽ, với phong
thái ung dung thanh thoát, các Ngài đi khất thực đến tận
cung môn của vua. Rất hoan hỷ khi ngắm các vị ấy, ngài rước
các vị ấy vào cung, rửa chân các vị và xoa dầu thơm, dâng
lên các vị đủ món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm,
rồi ngài ngồi xuống một bên, và nói với các vị như sau:
- Thưa
các Tôn giả, các Ngài đang còn thanh xuân mà đã sống đời
tu hành, thật vi diệu biết bao! Ở tuổi này các Ngài đã
là ẩn sĩ, và các Ngài đã nhìn thấy nỗi khổ đau của ác
dục. Nguyên nhân nào đã đưa đến hành động của các Ngài?
Các
ngài đáp lại:
1.
Ngụm nước kia là của bạn mình,
Ta
đà uống trộm, dẫu thân tình,
Chán
chê lầm lỗi ta vừa phạm,
Phát
nguyện về sau sẽ trở thành
Ẩn
sĩ, giã từ đời thế tục,
Vì
e tái phạm tội phần mình.
2.
Vợ của người kia, lỡ liếc nhìn,
Trong
lòng ta dục vọng bừng lên,
Chán
chê lầm lỗi ta vừa phạm,
Ta
quyết về sau tự phát nguyền
Từ
giã thế gian làm ẩn sĩ,
Vì
e tái phạm lỗi lầm trên.
3.
Trộm cướp trong rừng bắt phụ thân,
Ta
đành nói với bọn kia rằng:
"Người
này chẳng phải là thân phụ",
Ta
biết ngay là nói dối gian,
Chán
ghét lỗi lầm ta phạm phải,
Về
sau ta ước nguyện tu thân.. (như trên)
4.
Người làm tửu hội sát sinh linh,
Chẳng
phải là không thuận ý mình,
Chán
ghét lỗi lầm ta đã phạm..
Về
sau ta đã phát tâm thành.. (như trên)
5.
Cả bọn người kia một thuở xưa,
Cùng
nhau chè chén thật say sưa,
Ðánh
nhau gây sự nhiều người khổ,
Chẳng
phải là không thuận ý ta.
Chán
ghét lỗi lầm ta đã phạm,
Về
sau ta ước nguyện ly gia,
Giã
từ thế tục, làm tu sĩ,
Vị
sợ ta còn phạm lỗi xưa.