CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
447.
Chuyện Đại Nhân Hộ Pháp (Tiền thân Mahà Dhamma-Pàla)
Tục
lệ nào hay Thánh đạo nào...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể sau khi Ngài đã thành bậc Chánh Ðẳng
Giác, trong chuyến thăm viếng Kapilapura lần đầu tiên, Ngài
trú ngụ tại Bồ-đề Lâm (Rừng cây Ða), và nói về việc
phụ vương không chịu tin lời đồn.
Vào
lúc ấy, chuyện kể rằng Ðại vương Suddhodana (Tịnh Phạn),
sau khi cúng dường một buổi tại cung điện của ngài cho
đức Phật dẫn đầu hai mươi ngàn vị Tỷ-kheo, suốt buổi
trò chuyện với Ðức Phật rất vui vẻ, và nói:
- Bạch
Thế Tôn, trong thời gian Thế Tôn hành trì khổ hạnh, có vài
thần nhân đến gặp ta, đứng trên không và bảo: "Thái tử
Siddhattha (Sĩ-đạt-ta), Vương tử của Ðại vương đã chết
đói".
Bậc
Ðạo Sư liền hỏi:
- Tâu
Ðại vương, thế Ðại vương có tin chuyện đó không?
- Bạch
Thế Tôn, ta không tin. Ngay cả khi các thần nhân đến, bay
lượn trên không và bảo ta như vậy, ta cũng không tin, mà
còn bảo rằng Vương tử của ta không chết được cho đến
khi chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác dưới gốc cây Bồ-đề.
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Tâu
Ðại vương, xưa kia, vào thời Mahà Dhammapàla, ngay khi một
vị giáo sư lừng danh thiên hạ đến bảo: "Con ngài đã chết,
đây là xương của chàng", Ðại vương cũng không tin và bảo:
"Trong gia tộc ta, bọn chúng không bao giờ chết trẻ". Vậy
thì làm sao bây giờ Ðại vương tin được?
Rồi
theo lời thỉnh cầu của phụ vương, bậc Ðạo Sư kể một
chuyện ngày xưa.
*
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta làm vua tại Ba-la-nại, trong nước
Kàsi có một ngôi làng tên là Dhammapàla, nó mang tên này vì
có gia tộc một vị Dhammapàla, nghĩa là Hộ Pháp, cư ngụ
tại đó. Do hành trì Mười Thiện đạo, vị Bà-la-môn ấy
nổi tiếng ở vùng mình cư trú là một vị Hộ Pháp (Dhammapàla).
Trong nhà vị ấy, ngay cả các tôi tớ cũng bố thí, tôn trọng
đạo đức và giữ ngày trai giới.
Thời
ấy, Bồ-tát tái sinh vào gia đình trên, vị gia chủ đặt
tên ngài là Nam tử Hộ Pháp (Dhammapàla Kumàra). Vừa khi đến
tuổi khôn lớn, cha chàng trao cho chàng một ngàn đồng vàng,
và gửi chàng đến học ở Takkasilà. Chàng đến đó, học
tập với một vị giáo sư lừng danh thế giới và trở thành
đệ tử trưởng trong hội chúng gồm năm trăm nam tử.
Vào
lúc ấy, trưởng nam của vị giáo sư từ trần, và vị giáo
sư được đám đệ tử vây quanh, giữa các bà con quyến thuộc,
vừa than khóc vừa cử hành tang lễ con trai trong nghĩa địa.
Lúc ấy, vị giáo sư cùng thân bằng quyến thuộc và tất
cả các đồ đệ đều than khóc kêu gào, chỉ riêng Dhammapàla
không khóc cũng chẳng than. Sau khi năm trăm nam tử từ nghĩa
địa về, họ ngồi xuống trước vị giáo sư và nói:
- Ôi,
chàng trai thật tốt đẹp, non trẻ thế mà phải chia lìa cha
mẹ trong tuổi thanh xuân!
Dhammapàla
đáp:
- Non
trẻ thay, đúng như các hiền hữu nói! Này, tại sao chàng
chết ở tuổi thanh xuân? Trẻ con phải chết lúc còn niên
thiếu thật là chẳng hợp lý chút nào.
Chúng
bạn liền đáp lại:
- Này
Tôn giả, thế Tôn giả không biết rằng những người dù
trẻ như vậy cũng phải chịu chết sao?
- Ta
biết điều ấy lắm, nhưng lúc còn non trẻ, chúng không chết;
người ta chết lúc người ta già.
- Thế
không phải mọi pháp hữu vi đều giả tạm nhất thời hay
sao?
- Chúng
thật là giả tạm, đúng vậy, nhưng lúc tuổi còn niên thiếu,
con người không chết, chỉ khi già người ta mới chết thôi.
- Ồ,
thế đó là tục lệ trong gia tộc ngài sao?
- Phải,
đó là tục lệ của gia tộc ta.
Bọn
thanh niên liền kể câu chuyện này cho vị giáo sư ấy nghe.
Ông cho gọi Dhammapàla đến, hỏi chàng:
- Này
Dhammapàla, có phải trong gia tộc con chẳng có người nào chết
trẻ chăng?
- Thưa
thầy, chính phải, đúng như vậy. Chàng đáp.
Nghe
nói thế, vị giáo sư nghĩ thầm: "Chàng nói chuyện này thật
hi hữu lắm thay! Ta muốn lên đường tới gặp cha chàng và
hỏi chuyện ấy, nếu quả thực vậy, ta sống theo giới luật
chân chánh kia."
Thế
là sau khi đã làm xong mọi việc cần làm cho cậu trưởng
nam, khoảng bảy tám ngày sau đó, ông cho gọi Dhammapàla đến
bảo:
- Này
con, ta sắp đi xa nhà, vậy lúc ta đi vắng, con phải dạy bảo
các đệ tử của ta.
Nói
thế xong, ông đi tìm xương của một con dê rừng, rửa sạch
và ướp hương, rồi đặt vào giỏ, sau đó mang theo mình một
chú tiểu đồng, ông rời Takkasilà dần dần đi đến làng
kia, tại đó ông hỏi đường đi đến nhà vị Ðại Hộ Pháp
và dừng lại ở cửa.
Người
đầy tớ đầu tiên của vị Bà-la-môn trông thấy vị này,
dù đó là ai, cũng cất dù từ tay ông, cởi giày, cầm lấy
túi xách trên tay tiểu đồng. Ông nhờ báo với thân phụ
chàng rằng đây là giáo sư của nam tử Dhammapàla đang đứng
ở cửa.
- Tốt
lành thay!
Các
gia nhân nói, rồi đi mời vị thân sinh ra gặp ông. Vị thân
sinh vội vã đến thềm và nói:
- Xin
mời vào.
Và
ông dẫn đường vào nhà mình. Vừa mời khách ngồi xuống
tọa sàng, và ông làm bổn phận của chủ nhân như rửa chân
vị kia v.v...
Khi
vị giáo sư đã dùng cơm xong, và hai vị ngồi đàm đạo thân
thiết với nhau, vị giáo sư bảo:
- Này
Tôn giả Bà-la-môn, nam tử Dhammapàla của ngài có trí tuệ
sáng suốt, tinh thông ba tập Vệ-đà và mười tám công trình
học thuật, nhân vì rủi ro đã mất mạng. Các pháp hữu vi
đều giả tạm, xin ngài chớ đau buồn vì chàng.
Vị
Bà-la-môn vỗ tay cười lớn.
- Tại
sao ngài cười, thưa Tôn giả Bà-la-môn? Vị giáo sư hỏi.
Vị
này đáp:
- Bởi
vì không phải con tôi chết đâu; chắc là người khác.
Vị
kia nói:
- Không
đâu, thưa Tôn giả Bà-la-môn, chính con trai ngài chết chớ
không phải người khác. Hãy nhìn kỹ xương chàng đây và
tin tôi.
Nói
thế xong, ông dở đống xương ra và nói:
- Ðây
là xương con trai ngài.
Người
cha đáp:
- Có
lẽ xương dê rừng hay xương chó, chứ con trai tôi không chết
được. Trong gia tộc ta bảy đời nay chưa hề xảy ra chuyện
như là chết lúc tuổi còn non; vậy ngài đang nói sai sự thật.
Rồi
cả nhà cùng vỗ tay và cười lớn.
Khi
thấy việc kỳ diệu như thế, vị giáo sư rất hoan hỷ nói:
- Thưa
Tôn giả Bà-la-môn, lề lối này trong gia tộc ngài không phải
là không có nguyên nhân, đó là đám thanh niên không hề chết
yểu. Tại sao các ngài không chết yểu?
Ông
hỏi bằng cách ngâm vần kệ đầu:
1.
Tục lệ nào hay Thánh đạo nào
Quả
này do thiện nghiệp từ đâu?
Bà-la-môn,
nói ta duyên cớ
Người
trẻ trong dòng chẳng chết sao?
Lúc
ấy vị Bà-la-môn giải thích những công đức gì đã đem
lại kết quả là trong gia tộc mình không ai chết trẻ cả,
ông ngâm các vần kệ sau:
2.
Ta không lời dối, sống hiền chân,
Mọi
ác nghiệp xa lánh, chẳng gần,
Ðiều
bất thiện ta đều tránh cả,
Nên
không ai chết giữa thanh xuân.
3.
Nghe việc người ngu lẫn trí nhân,
Việc
người ngu trí chẳng quan tâm,
Ta
theo bậc trí, ngu ta bỏ,
Nên
chẳng ai người chết giữa xuân.
4.
Trước khi bố thí, dạ hân hoan,
Lòng
thật vui mừng lúc phát phân,
Khi
bố thí xong, không hối tiếc,
Nên
không ai chết giữa thanh xuân.
5.
Ta mời đám lữ khách, La-môn,
Khất
sĩ, Sa-môn, mọi kẻ cần,
Ta
đãi uống, ăn, người đói khát,
Nên
không ai chết giữa thanh xuân.
6.
Cưới vợ, không khao khát vợ người,
Giữ
lời loan phụng đã thề bồi,
Vợ
hiền tiết hạnh tòng phu cả,
Nên
các con không sớm bỏ đời.
7.
Con được sinh từ vợ chính chuyên,
Tài
cao, học rộng, xứng danh hiền,
Vệ-đà
thông thạo, con toàn hảo,
Nên
chẳng lìa đời giữa thiếu niên.
8.
Gắng làm chân chánh đạt cao thiên,
Sống
vậy, từ cha đến mẹ hiền,
Ðến
mọi gái trai, anh chị nữa,
Nên
không ai chết giữa thanh niên.
9.
Mong cầu thiên giới, các gia nhân,
Trai
gái thảy đều sống thiện lương,
Ngay
bọn nô tỳ thấp kém nhất,
Nên
không ai chết giữa thanh xuân.
Và
cuối cùng, qua hai vần kệ này, ngài tuyên thuyết thiện nghiệp
của những người bước trên đường chân chánh:
10.
Chánh đạo cứu ai hướng chánh chân,
Khéo
hành Chánh đạo đạt hồng ân,
Phúc
này ban tặng người làm chánh,
Người
chánh không vào chốn khổ thân.
11.
Ðạo đức hộ phò bậc chánh nhân,
Như
cây che bóng giữa mưa tràn,
Thằng
con sống được nhờ hành thiện,
Tâm
thiện cho người Hộ Pháp-an;
Còn
đó là xương khô kẻ khác,
Ðống
xương Tôn giả mới vừa mang.
Khi
nghe vậy, vị giáo sư đáp:
- Cuộc
hành trình của ta thật an lạc lắm thay, nó mang lại nhiều
kết quả, chứ không phải là không có kết quả!
Ðang
lúc lòng đầy hoan hỷ, ông xin lỗi thân sinh Dhammapàla và
nói thêm:
- Ta
đến đây và mang theo mình một đống xương dê rừng, cố
ý để thử ngài. Chứ con trai của ngài hiện đang bình yên
mạnh khỏe. Xin ngài truyền cho ta những điều luật bảo tồn
cuộc sống của gia tộc ngài.
Lúc
ấy vị kia viết quy luật ấy vào một ngọn lá. Sau khi lưu
lại chỗ đó vài ngày, vị thầy trở về Takkasilà và khi
đã dạy cho Dhammapàla đủ mọi tài nghệ và học thuật xong,
ông cho phép chàng ra về cùng với một đoàn tùy tùng đông
đảo.
*
Khi
bậc Ðạo Sư đã thuyết Pháp thoại như vậy cho Ðại vương
Suddhodana xong, Ngài tuyên thuyết các Sự Thật. Bấy giờ vào
lúc kết thúc các Sự Thật, vị Ðại vương được an trú
vào Tam quả (Bất Lai).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, người cha và người mẹ là hoàng tộc của Ðại
vương ngày nay, vị giáo sư là Sàriputta (Xá-lợi-phất), đám
tùy tùng là các đệ tử đức Phật, và Ta chính là nam tử
Hộ Pháp.
-ooOoo-
448.
Chuyện Kê Vương (Tiền thân Kukuta)
Chớ
đặt lòng tin bọn dối lừa...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể tại Veluvana (Trúc Lâm) về vấn đề
mưu toan sát hại.
Trong
Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo đang bàn luận bản chất độc
ác của Ðề-bà-đạt-đa:
- Này
các Hiền giả, lạ quá, Ðề-bà-đạt-đa đang mưu toan sát
hại đấng Thập Lực bằng cách mua chuộc đám xạ thủ và
nhiều người khác.
Bậc
Ðạo Sư bước vào hỏi:
- Này,
các Tỷ-kheo, các ông đang nói chuyện gì trong lúc ngồi với
nhau tại đây?
Tăng
chúng trình với Ngài. Ngài đáp:
- Ðây
không phải là lần đầu người ấy toan hành thích Ta, mà
đã có lần như vậy ngày xưa.
Rồi
Ngài kể cho Tăng chúng một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, tại Kosambi (Kiều-thưởng-di: một kinh thành trên
sông Hằng), có một vị vua cai trị mệnh danh là Kosambaka.
Vào thời ấy, Bồ-tát đầu thai làm con của một gà mái sống
trong một rừng tre, sau đó làm chúa cả đàn gà hàng trăm
con trong rừng. Không xa đó, có một con Diều hâu tìm cơ hội
bắt từng con gà trong đàn và ăn thịt, dần dần nó ăn hết
mọi con gà, chỉ còn Bồ-tát một mình sống sót. Song ngài
rất thận trọng trong lúc kiếm mồi, và sống trong một rừng
tre rậm. Tại đây Diều hâu không thể nào đến gần được,
vì thế nó bắt đầu suy tính lập mưu gì để dụ dỗ ngài
mà bắt lấy.
Sau
đó nó đậu trên một cành cây gần đó, và gọi:
- Này
Kê hiền hữu, chuyện gì khiến ngài sợ ta? Ta mong muốn kết
bạn với ngài. Giờ đây ở một nơi kia (nó nói tên nơi đó)
có đầy thức ăn, chúng ta hãy cùng nhau đến đó ăn và sống
bầu bạn với nhau.
- Không,
thưa Tôn ông tốt bụng! Bồ-tát đáp. Giữa ngài và ta không
thể có tình bằng hữu được, xin hãy đi đi.
- Thưa
Tôn giả, vì các tội ác trước đây của ta, nên ngài không
thể tin ta bây giờ, nhưng ta hứa với ngài rằng ta sẽ chẳng
bao giờ làm như vậy nữa.
- Không,
ta không muốn có bạn như vậy, hãy đi nơi khác, ta nói rồi
đấy.
Ðến
lần thứ ba, Bồ-tát từ chối:
- Với
một người hay vật có những đặc tính như vậy - ngài bảo
- chẳng bao giờ nên kết tình bằng hữu cả.
Rồi
Ngài làm cho cả khu rừng rộng vang dội nên các vị thần
hoan nghênh trong lúc ngài cảm hứng nói lên bài Pháp này:
1.
Ðừng đặt lòng tin bọn dối lừa,
Những
ai chỉ biết lời riêng tư,
Hoặc
người đã phạm nhiều điều ác,
Những
kẻ tỏ ra quá phụng thờ.
2.
Lắm kẻ bản tâm giống lũ bò,
Tràn
đầy khao khát với tham ô,
Nói
lời thành thật nâng niu bạn,
Song
chẳng hề hành động thế mà.
3.
Bọn chúng chìa tay lạnh trống trơn,
Nói
lời che dấu cả tâm hồn,
Bọn
người phù phiếm, ta nên tránh,
Những
kẻ không hề biết nhớ ơn.
4.
Nam nữ nào tâm chóng đổi thay,
Ðừng
tin tưởng các bọn người này,
Cũng
đừng tin kẻ theo chiều hướng
Làm
hiệp ước rồi lại phá ngay.
5.
Người bước theo đường ác vẫn đi
Ðến
làm mọi việc cực gian nguy,
Liều
thân, vô định, đừng tin nó,
Kiếm
sắc trong bao có khác gì?
6.
Nhiều kẻ nói năng thật dịu lành,
Những
lời không phải tự tâm thành,
Lòng
tin chớ đặt vào trong chúng,
Cố
lấy lòng nên giả thật tình.
7.
Khi kẻ ác tâm ấy ngắm xem
Thức
ăn hoặc lợi nhuận kề bên,
Nó
hành động ác và đi mất,
Nhưng
nó làm nguy bạn trước tiên.
Bảy
vần kệ này được vị Kê vương ngâm lên. Rồi vần kệ
tiếp theo được vị Pháp vương đọc, đây là những lời
phát xuất từ Trí tuệ của bậc Chánh Ðẳng Giác:
8.
Lắm kẻ thù ra vẻ thiết thân,
Ra
tay giúp đỡ sẵn sàng luôn,
Như
Gà rời bỏ Diều hâu ấy,
Tốt
nhất nên lìa những ác nhân.
9.
Người nào không nhạy bén nhìn xa
Ý
nghĩa việc làm diễn biến ra,
Phải
chịu bao cừu nhân chế ngự,
Ăn
năn hối hận buổi sau mà.
10.
Nhanh trí, người nào nhận thấy ngay
Việc
làm mang ý nghĩa nào đây,
Như
Gà tránh bẫy Diều hâu ấy,
Vậy
tránh cừu nhân, phải chạy bay.
11.
Bẫy đó thông thường lại dối gian,
Giết
người, dấu kín giữa rừng hoang,
Như
Gà xa lánh Diều hâu ấy,
Người
có nhãn quan phải kiếm đàng.
*
Và
một lần nữa, sau khi ngâm các vần kệ này, Gà gọi Diều
hâu lại khiển trách nó và bảo:
- Nếu
ngài tiếp tục ở chốn này, ta sẽ biết việc cần phải
làm.
Do
đó Diều hâu đành bay đến nơi khác.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, ngày xưa cũng như bây giờ, Ðề-bà-đạt-đa
đã mưu toan sát hại Ta.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy Ðề-bà-đạt-đa là Diều hâu và Ta chính là Kê
vương.
-ooOoo-
449.
Chuyện Nam Tử Đeo Vòng Tai (Tiền thân Matta-Kundali)
Sao
giữa rừng này có cậu trai...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
địa chủ có con trai mới chết.
Tại
Xá-vệ, ta được biết thần chết đã cướp mất cậu trai
thân yêu của một người địa chủ thường đến cúng dường
đức Phật. Quá sầu muộn vì con, người ấy chẳng rửa mặt
mày ăn uống gì cả, cũng chẳng đi làm công việc của mình
hay đi phụng sự đức Phật mà chỉ kêu khóc:
- Ôi!
Con yêu quí! Con đã bỏ ta mà đi trước rồi!
Vào
sáng sớm, khi bậc Ðạo Sư nhìn xuống trần gian, Ngài nhận
thấy ngườI này đã chín muồi công hạnh để chứng đắc
quả Dự Lưu. Vì vậy ngày hôm sau, khi đã dẫn các đệ tử
đi suốt kinh thành Xá-vệ để khất thực, và thọ dụng bữa
cơm xong, Ngài bảo các đệ tử đi nơi khác, còn Ngài được
Tôn giả Ànanda theo hầu, đi đến nơi người này ở. Bọn
gia nhân báo tin cho vị chủ đất biết bậc Ðạo Sư đã đến,
sau đó họ sắp đặt sàng tọa và mời Bậc Ðạo Sư ngồi
xuống, rồi dẫn chủ nhà đến yết kiến Bậc Ðạo Sư.
Sau
khi người ấy đảnh lễ Ngài xong và ngồi xuống một bên.
Bậc Ðạo Sư nói bằng giọng dịu dàng đầy từ mẫn:
- Này
cư sĩ, có phải ông vẫn đang đau buồn vì đứa con trai duy
nhất chăng?
Ông
đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn
Bậc
Ðạo Sư nói:
- Này
cư sĩ, đã lâu, lâu lắm rồi, các người có trí đi lang thang
nặng trĩu đau buồn vì cái chết của đứa con trai, đã nghe
được lời các bậc hiền nhân và hiểu rõ rằng không gì
có thể đem lại người đã mất, nên không còn thấy buồn
rầu nữa, dù chỉ một chút thôi.
Nói
vậy xong, theo lời thỉnh cầu của người ấy, Bậc Ðạo
Sư kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, cậu con trai
của một vị Bà-la-môn rất giàu có, khoảng mười lăm, mười
sáu tuổi, lâm bệnh nặng và khi chết, được tái sinh vào
cõi chư Thiên. Từ lúc con trai chết, người Bà-la-môn thường
đi đến nghĩa địa và than khóc, rồi đi quanh đống tro tàn;
bỏ các phận sự dở dang, ông cứ lang thang với tâm tư nặng
trĩu u sầu.
Một
vị Thiên tử, khi đi dạo thấy vậy, liền lập mưu để an
ủi khổ đau của người kia. Chàng đến nghĩa địa lúc người
này đang sầu bi, giả dạng làm chính con trai vị ấy và tô
điểm đủ mọi thứ trang sức, chàng đứng một bên, vừa
ôm đầu trong hai tay vừa than khóc kêu gào. Vị Bà-la-môn nghe
tiếng động và nhìn lên, lòng tràn đầy yêu thương đối
với con trai mình, liền dừng lại trước chàng và nói:
- Này
con yêu quí, tại sao con đứng khóc giữa nghĩa địa này?
Ông
đặt câu hỏi qua vần kệ sau:
1.
Sao giữa rừng này có cậu trai,
Tràng
hoa, vòng ngọc mỗi bên tai,
Chiên-đàn
sực nức, giơ tay nọ,
Sầu
khổ gì rơi lệ vắn dài?
Lúc
ấy chàng trai kể chuyện mình bằng cách ngâm vần kệ thứ
hai:
2.
Vàng ròng đúc, chiếu rực hào quang,
Xe
ấy con thường vẫn ngã lưng,
Ðôi
bánh này con tìm chẳng thấy,
Chắc
con buồn khổ đến lìa trần!
Vị
Bà-la-môn nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Bằng vàng, dát ngọc, loại gì nào,
Bằng
bạc, hay đồng, trí nghĩ sao,
Cứ
nói ra lời, xe được đóng,
Ta
tìm đôi bánh sẽ thêm vào!
Lúc
bấy giờ chính Bậc Ðạo Sư với Trí tuệ Tối thắng của
Ngài, sau khi nghe vần kệ do chàng trai ngâm xong, liền ngâm
câu đầu của một vần kệ khác:
4.
Nghe nói xong, chàng trẻ đáp lời,
Trong
khi chàng ngâm tiếp theo phần còn lại:
Ðằng
kia, huynh đệ đó, trăng trời,
Chính
nhờ đôi bánh đằng xa ấy,
Xe
của con vàng chiếu sáng ngời!
Lập
tức vị kia tiếp:
5.
Chàng thật ngu vì việc đã làm,
Cầu
xin chuyện chẳng có ai ham,
Bởi
vì ta chắc chàng nên chết
Nhật,
nguyệt, đòi sao được hỡi chàng?
Thế
rồi:
6.
Trước mắt, trời, trăng, lặn, mọc dần,
Sắc
màu, đường hướng vẫn không ngừng;
Còn
ai thấy được hồn người chết,
Vậy
kẻ nào ngu lúc khóc than?
Chàng
trai nói vậy xong, vị Bà-la-môn tỉnh ngộ, liền ngâm kệ:
7.
Giữa ta, hai kẻ khóc than thân,
Chàng
thật khôn, ta thật độn đần,
Quả
đúng, đòi hồn người đã chết,
Khác
nào con trẻ khóc đòi trăng?
Lúc
ấy vị Bà-la-môn được an ủi nhờ lời lẽ của chàng trai
kia, liền cám ơn chàng bằng cách ngâm các vần kệ cuối cùng:
8.
Lòng ta thiêu đốt nóng bừng,
Như
khi người đổ dầu trong lửa đào,
Chàng
đà đem nước lạnh vào,
Và
chàng dập tắt khát khao, tủi buồn.
9.
Vì con, bao nỗi sầu tuôn,
Mũi
tên độc cắm trong hồn của ta,
Chàng
đà an ủi khuây khỏa
Nỗi
niềm bi thiết, nhổ ra tên này.
10.
Tên vừa nhổ, khỏi đau ngay,
Giữ
tâm thanh thản, ta rày khinh an,
Nghe
lời chân thật, hỡi chàng,
Ta
không còn phải khóc than muộn phiền.
Lúc
ấy chàng trai bảo:
- Này,
ngài Bà-la-môn, ta chính là người con trai mà ngài đang thương
khóc, ta đã được tái sinh vào cõi chư Thiên. Vậy từ đây
xin đừng sầu muộn vì ta nữa, mà hãy bố thí, hành trì giới
đức và giữ ngày trai giới.
Với
lời khuyến giáo này, chàng trở về cõi của mình. Còn vị
Bà-la-môn tuân theo lời khuyên của chàng, nên sau khi làm nhiều
công đức bố thí và các thiện sự khác, ông mạng chung và
tái sinh vào cõi chư Thiên.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại này, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các
Sự thật. Bấy giờ vào lúc kết thúc các Sự Thật, người
địa chủ đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy, Ta chính là vị Thiên tử đã nói lời thuyết giáo này.
-ooOoo-
450.Chuyện
phú ông keo kiệt Bilàri (Tiền thân Bilàri-Kosiya)
Khi
món ăn không có giữa nồi...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo nhiệt tâm bố thí.
Chuyện
kể rằng sau khi nghe thuyết Pháp, từ lúc hành trì giáo lý,
vị này rất nhiệt tâm bố thí, khát khao bố thí. Chưa bao
giờ ông ăn chén cơm đầy trừ khi đã chia phần cho kẻ khác,
ngay cả nước cũng không uống nếu không đem cho kẻ khác.
Ông chuyên tâm bố thí như vậy.
Thời
ấy, chúng Tỳ Kheo bắt đầu nói về các đức tính của ông
trong Chánh pháp đường. Bậc Ðạo Sư đi vào hỏi Tăng chúng
đang nói chuyện gì khi ngồi tại đây. Các vị ấy trình ngài.
Ngài cho gọi vị Tỷ Kheo ấy đến và hỏi:
- Này
Tỷ kheo, có phải đúng như Ta đã nghe là ông nhiệt tâm bố
thí, khát khao bố thí chăng?
Ông
đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thái Tôn.
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Này
các Tỳ Kheo, ngày xưa, kẻ này không có tín tâm nên không
tin tưởng gì cả, đến như một giọt dầu trên đầu ngọn
cỏ cũng không cho ai; sau đó, Ta điều phục y, giáo hoá, làm
cho y thuần thục, và dạy cho y kết quả của bố thí, nên
hỷ tâm bố thí này không rời y ngay cả khi đã sang một đời
khác.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ Tát sinh vào một
gia đình giàu có. Khi đến tuổi khôn lớn, ngài được hưởng
tài sản và khi thân phụ mất đi, ngài tiếp nhận địa vị
thương nhân của cha ngài.
Một
ngày kia, khi xem xét lại sự giàu sang của mình, ngài suy nghĩ:
"Tài sản của ta đây dĩ nhiên đầy đủ lắm, song những
vị đã tích lũy tài sản ấy nay ở đâu rồi? Ta phải phân
chia tài sản ra và bố thí."
Vì
thế, ngài xây một bố thí đường, trong lúc sinh thời, ngài
bố thí rộng rãi; và khi sắp mạng chung liền giao phó cho
con trai ngài không được làm gián đoạn việc hành trì bố
thí, còn ngài tái sinh là Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ ở cõi
Trời Ba mươi ba. Con trai của ngài cũng bố thí như thân phụ
đã làm, rồi giao trọng trách ấy cho con trai mình, và tái
sinh lên làm Canda, Thần mặt trăng, giữa Thiên chúng. Con trai
vị này trở thành Suriya. Thần mặt trời, lại sinh ra một
người con trở thành Màtali, Thần lái xe (của Thiên chủ Sakka
hay Indra), con trai vị này tái sinh làm Pancasikha (Ngũ kế) một
vị Gandhabba (Càn-thát-bà), nhạc thần của Thiên chủ.
Song
người con trai thứ sáu trong dòng họ này lại không có tín
tâm, tàn nhẫn, không thương người, keo kiệt; người này
phá hủy bố thí đường, đốt cháy hết, đánh đập các
hành khất, đuổi họ đi mơi khác làm ăn chẳng hề cho ai
chút gì dù bằng một giọt dầu ở đầu ngọn cỏ.
Lúc
ấy, Ðế Thích Thiên chủ nhìn lại các việc của ngài trong
quá khứ, tự hỏi: "Truyền thống bố thí của ta có tiếp
tục được chăng? Suy nghĩ thế, ngài nhận xét: "Con trai ta
tiếp tục bố thí, tái sinh làm Canda, con trai nó là Suriya,
cháu nó là Màtali, và chắt nó là Pancasikha, nhưng đứa con
thứ sáu trong dòng họ đã phá bỏ truyền thống kia."Lúc ấy,
ngài chợt có ý nghĩ này, ngài muốn đi điều phục con người
độc ác kia, và dạy cho gã kết quả của bố thí. Vì vậy
ngài triệu tập Canda, Suriya, Màtali, Pancasikha đến gặp ngài
và bảo:
Này
các Hiền-giả, người con thứ sáu trong dòng họ ta đã phá
bỏ truyền thống gia đình, nó đã đốt bố thí đường,
đuổi đánh bọn hành khất đi chỗ khác, và không cho ai chút
gì cả. Vậy ta phải điều phục nó.
Thế
là ngài cùng các ông lên đường đi đến Ba-la-nại.
Vào
lúc ấy, thương nhân kia phải đến chầu vua, và khi đã trở
về, đang đi đi lại lại dưới tháp canh thứ bảy, nhìn theo
con đường. Thiên chủ bảo các vị thần:
- Các
Hiền giả, hãy đợi cho đến khi ta bước vào rồi hãy lần
lượt theo sau.
Cùng
với những lời này, ngài bước tới và đứng trước phú
thương kia, bảo ông:
- Này
Tôn ông hãy cho ta ăn với.
- Này
Bà-la-môn, chẳng có gì ở đây cho ngài ăn cả, hãy đi nơi
khác.
- Này
Ðại nhân, khi các Bà-la-môn khất thực thì chẳng nên từ
chối.
- Này
Bà-la-môn, trong nhà ta chẳng có thức ăn nấu sẵn, cũng chẳng
có thức ăn để nấu, hãy đi đi!
- Này
đại nhân, ta muốn đọc một câu kệ cho ngài, hãy lắng nghe.
Ta
chẳng muốn nghe kệ gì cả, đi đi, đừng đứng ở đây.
Nhưng
Thiên chủ không để ý lời ông và ngâm hai vần kệ:
1.
Khi món ăn không có giữa nồi,
Thiện
nhân tìm, chẳng chối từ hoài,
Còn
ngài đang nấu, thì không tốt
Nếu
chẳng muốn chia xẻ với ai.
2.
Phóng dật, xan tham, kẻ chối từ
Chẳng
hề đem bố thí bao giờ,
Còn
người nào thích làm công hạnh,
Là
một trí nhân, phải biết cho.
Khi
người này nghe nói vậy liền đáp:
- Thôi
được, xin vào ngồi đó, ngài sẽ được ăn đôi chút.
Thiên
chủ Ðế Thích vừa bước vào vừa ngâm các vần kệ ấy
và ngồi xuống.
Kế
đó là Canda bước lên xin thức ăn.
- Chẳng
có thức ăn cho ngài đâu - người đó bảo - đi đi!
Vị
kia đáp:
- Thưa
Ðại nhân, có một vị Bà-la-môn ngồi trong đó, ta đoán chắc
hẳn có một bữa cơm bố thí cho Bà-la-môn, nên ta cũng bước
vào.
- Chẳng
có một bữa cơm nào bố thí cho Bà-la-môn cả - người đó
bảo - đi ngay đi!
Lúc
ấy Canda nói:
- Thưa
Ðại nhân, xin nghe một hai vần kệ.
Rồi
Ngài ngâm hai vần kệ (hễ khi một kẻ keo kiệt lo sợ không
muốn cho ai cả, thì chính nỗi sợ hãi đó khởi lên trong
lòng vì y không bố thí):
3.
Sợ khi khát nước hoặc thèm cơm
Khiến
bọn xan tham phải hoảng hồn,
Trong
cõi đời này, đời kế nữa,
Bọn
ngu kia phải trả hoàn toàn.
4.
Vậy nên bố thí, tránh xan tham,
Rửa
sạch tâm nhơ ác dục tràn,
Trong
cõi đời sau, nhiều thiện nghiệp
Sẽ
là nơi trú tuyệt an toàn.
Sau
khi nghe các lời như vậy xong, ông bảo:
- Thôi
được, xin bước vào, và ngài sẽ được ăn một chút.
Vị
kia bước vào ngồi xuống với Thiên chủ Ðế Thích.
Sau
khi đợi một lát nữa, Suriya bước lên, và xin ăn bằng cách
ngâm hai vần kệ:
5.
Thực khó làm như các thiện nhân,
Phát
ban như các vị đem ban,
Khó
mà kẻ ác làm theo được
Cuộc
sống hiền nhân vẫn trú an.
6.
Vậy thì khi phải giã từ trần,
Kẻ
ác, người hiền bỏ thế gian,
Kẻ
ác tái sinh vào địa ngục,
Người
hiền sinh ở cõi thiên đàng.
Vị
phú gia chẳng thấy cách gì thoát được chuyện ấy, đành
bảo:
- Thôi
được, xin bước vào, và ngồi với các Bà-la-môn này, rồi
ngài sẽ được ăn đôi chút.
Và
Màtali, sau khi chờ đợi một lát nữa, cũng bước lên xin
ăn, và khi vị ấy được bảo là không có thức ăn, vừa
mới nghe các lời ấy được thốt lên, liền ngâm vần kệ
thứ bảy:
7.
Có người ít của vẫn đem ban,
Có
kẻ không cho, dẫu của tràn,
Người
ít của cho không thể kém
Kẻ
kia ban phát cả trăm ngàn.
Ông
bảo vị này:
- Thôi
được, xin vào ngồi xuống.
Sau
khi đợi thêm một lát, Pancasikha bước lên xin ăn. Kẻ kia
đáp:
- Không
có, đi đi!
Ông
bảo:
- Ta
đã đến thăm nhiều nhà rồi! Ở đây chắc phải có bữa
cơm cúng dường các Bà-la-môn chứ, ta đoán thế.
Rồi
ông bắt đầu nói với ông, vừa ngâm vần kệ thứ tám:
8.
Dù sống chắt chiu, phải chánh chân,
Con
nhiều, của ít vẫn đem phân,
Trăm
ngàn đồng bạc người giàu cúng
Chẳng
sánh quà con của tiện dân.
Vị
phú gia suy nghĩ lại khi nghe lời của Pancasikha. Rồi ông ngâm
vần kệ thứ chín để yêu cầu vị ấy giải thích giá trị
ít oi của các vật bố thí kia:
9.
Sao dồi dạt lễ vật cao sang
Giá
trị không bằng vật chánh chân,
Sao
cả ngàn đồng từ phú hộ
Chẳng
bằng quà mọn kẻ cùng bần?
Pancasikha
ngâm vần kệ kết thúc để đáp lời:
10.
Nhiều người sống độc ác hung tàn,
Ðàn
áp, giết rồi lại phát ban:
Thí
vật chua cay, tàn nhẫn ấy
Thua
xa quà tặng với chân tâm,
Nên
ngàn đồng bạc người giàu cúng
Chẳng
sánh quà con của tiện dân.
Nghe
lời thuyết giáo của Pancasikha xong, ông đáp:
- Thôi
được, xin ngài vào nhà ngồi xuống, ngài sẽ được ăn đôi
chút.
Rồi
ông cũng vào ngồi với các vị kia.
Sau
đó, phú ông keo kiệt Bilàri ra hiệu cho một tỳ nữ, bảo
nàng:
- Hãy
đem cho các Bà-la-môn đằng kia một đấu thóc còn vỏ.
Nàng
ấy đem thóc đến gần các vị, bảo các vị rằng:
- Nhận
thóc rồi đem nấu nơi khác mà ăn.
Các
vị đáp:
- Ta
chưa đụng đến thóc còn vỏ trấu.
- Thưa
ông chủ, các vị ấy bảo chưa hề đụng đến thóc còn vỏ.
- Ðược,
vậy thì cho các ông gạo đã xay.
Nàng
ấy đem gạo đã xay, và bảo các vị nhận. Các vị bảo:
- Chúng
ta không nhận thứ gì chưa nấu chín.
- Vậy
thì nấu cho họ một ít thức ăn của bò trong cái nồi và
đem ra mời khách.
Năm
vị cầm lên mỗi người một miếng và đặt vào mồm, song
để nó dính vào cổ họng rồi trợn mắt lên. Các vị bất
tỉnh nằm đó như chết rồi. Cô nữ tỳ thấy thế nghĩ chắc
các vị đã chết, nàng hoảng sợ chạy đi báo phú ông:
- Thưa
ông chủ, các Bà-la-môn này không nuốt nổi thức ăn của
bò, nên chết cả rồi!
Ông
suy nghĩ: "Bây giờ dân chúng sẽ trách mắng ta, bảo gã độc
ác này đem đống thức ăn trâu bò cho các Bà-la-môn yếu đuối
và các ông không nuốt nổi nên đã chết." Sau đó, ông bảo
cô nữ tỳ:
- Mau
đi chôn cất hết thức ăn trong bát của các ông, rồi nấu
cho họ một ít món đủ thứ gạo ngon nhất.
Nàng
tuân lời. Phú ông tìm một số khách qua lại trên con đường
gần đó, khi đã tập hợp số người ấy lại với nhau, ông
bảo:
- Ta
đã cúng dường các Bà-la-môn này thức ăn giống như các
thức ta vẫn ăn, nhưng các vị tham lam nuốt từng miếng lớn
và vì ăn như vậy nên thức ăn mắc ở cổ họng và phải
chết. Ta mời các ngài đến làm chứng cho ta vô tội.
Trước
đám đông đang tụ tập như vậy, các vị Bà-la-môn đứng
dậy, vừa bảo vừa nhìn vào đám đông:
- Các
vị hãy xem sự dối trá của thương nhân này. Ông bảo cho
chúng ta thức ăn của ông đấy! Một đống tạp nhạp thức
ăn cho bò là những thứ ông đã đem cho chúng ta trước tiên,
sau đó sau khi chúng ta nằm như chết, ông bảo người nhà
nấu thức ăn này đây.
Rồi
các vị ấy nhả ra từ miệng những thứ đã ăn rồi chỉ
thứ đó. Ðám đông trách mắng vị thương gia, thét lớn:
- Ðồ
ngu si, mù quáng! Ông đã phá bỏ phong tục gia đình ông. Ông
đốt bỏ thí đường, ông đã nắm cổ các hành khất tống
ra đường, giờ đây khi bố thí các Bà-la-môn yếu đuối
này, ông lại cho một đống thức ăn trâu bò. Ðến lúc ông
sang thế giới bên kia, chắc ông sẽ mang hết tài sản trong
nhà buộc thật chặt quanh cổ đấy!
Vào
lúc ấy, Ðế Thích Thiên chủ bảo đám đông:
- Các
người có biết tài sản này là của ai chăng?
- Chúng
tôi không biết.
Ngài
bảo:
- Chắc
các người có nghe một đại phú thương ở Ba-la-nại, ngày
xưa sống ở thành này, đã xây một bố thí đường, và bố
thí rất rộng rãi?
- Thưa
có - họ đáp - Chúng tôi có nghe nói về ông.
Ngài
bảo:
- Ta
chính là vị thương gia đó, nhờ các vật tài thí ấy ta được
là Ðế Thích Thiên chủ bây giờ đây, và con trai ta đã không
phá vỡ truyền thống gia đình, trở thành thần Canda, con trai
nó là Suriya và cháu trai của nó là Pancasikha; trong các vị
này, đằng kia là Canda, đó là Syriya, và đây là Màtali, thần
lái xe, còn đây nữa là Pancasikha, nhạc thần, ngày xưa là
cha của kẻ độc ác đằng kia ấy. Bố thí tạo công đức
lớn như vậy, cho nên người có trí phải làm công đức.
Nói
vậy xong với ý định đánh tan các mối nghi hoặc của dân
chúng đang tụ tập tại đó, các ngài bay lên không gian và
đứng vững trên không, nhờ thần lực của các ngài hiện
ra một đám tùy tùng đông đảo vây quanh, toàn thân các ngài
sáng rực lên vì thế toàn thể kinh thành như ở trong đám
lửa. Sau đó Ðế Thích Thiên chủ bảo đám đông:
- Chúng
ta đã rời vinh quang thiên giới để đến đây và chúng ta
đến chỉ vì kẻ độc ác Bilàri Kosiya này, người cuối cùng
trong dòng họ, người tàn phá cả giống nòi mình. Với lòng
lân mẫn mà chúng ta đến, vì chúng ta biết ác nhân này đã
phá bỏ truyền thống gia đình, đốt bố thí đường, nắm
cổ hành khất tống ra ngoài, vi phạm phong tục của nhà ta,
và do từ bỏ bố thí, nó sẽ tái sinh vào địa ngục.
Ngài
thuyết giáo cho đám đông như vậy, xong lại nói về công
hạnh của bố thí. Bilàri Kosiya chấp hai tay thỉnh cầu và
phát nguyện.
- Tâu
Thiên chủ, từ nay trở đi, con xin nguyện sẽ không phá bỏ
phong tục gia đình nữa, mà con sẽ bố thí, bắt đầu ngay
hôm nay, con quyết chẳng bao giờ ăn mà không chia phần cho
kẻ khác, các vật dụng của riêng con, ngay cả nước uống
và cả tăm xỉa răng con dùng cũng vậy.
Ðế
Thích thiên chủ đã điều phục ông như vậy, làm cho ông
biết xả thân, và an trú ông trong Ngũ giới, rồi trở về
cõi của ngài. Còn vị thương nhân cứ bố thí suốt cả đời
nên được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại, Bậc Ðạo Sư bảo:
- Như
vậy, này các Tỳ kheo, Tỳ Kheo này ngày xưa không có tín tâm
và không bao giờ cho ai chút gì cả, song Ta đã điều phục
y và dạy cho y kết quả của bố thí, và tâm lành đó không
rời y ngay cả khi y đã sinh vào một đời khác.
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
bấy giờ, Tỳ kheo rộng lượng này là vị phú gia, Sàriputta
(Xá-lợi-phất) là Canda, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là Suriya,
Kassapa (Ca diếp) là Màtali, Ànanda (A-nan) là Pancasikha và Ta
là Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ.
-ooOoo-
451.
Chuyện Hồng Nga (Tiền Thân Cakka-Vàka)
Màu
lông tươi đẹp, dáng thanh tao...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong lúc đang trú tại Kỳ Viên về
một Tỳ kheo tham lam.
Chuyện
kể rằng người này bất mãn với bộ y khất sĩ cùng những
thứ tương tự nên thường đi quanh quẩn hỏi:
- Nơi
đâu có cơm cho Tăng chúng? Nơi đâu có người mời?
Và
khi nghe nói có thịt, ông tỏ ra rất hoan hỷ. Lúc bấy giờ
có một vị Tỳ kheo tốt bụng vì lòng thương tưởng bạn,
nên đem chuyện ấy kể với Bậc Ðạo Sư. Ngài triệu người
ấy đến hỏi:
- Này
Tỳ kheo, có thật đúng như ta nghe rằng ông tham lam đó chăng?
- Bạch
Thế Tôn, đúng thế.
- Này
Tỳ kheo, tại sao ông còn ham muốn, sau khi hành trì Giáo pháp
đưa đến giải thoát như Ðạo của Ta? Tham tâm này là ác
pháp, ngày xưa, vì tham dục, ông bất mãn với các xác voi
chết cùng nhiều vật thừa khác ở Ba-la-nại nên đã đi vào
rừng rậm.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Thuở
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, một con Quạ
tham ăn không hài lòng với các xác voi chết ở Ba-la-nại,
cùng mọi thứ xác chết khác. Nó suy nghĩ: "Bây giờ đây ta
không biết rừng rậm ra sao nhỉ? Thế là nó vào rừng xanh,
song nó cũng không hài lòng với trái cây rừng mà nó tìm được,
nên đi đến sông Hằng.
Khi
nó tiến về phía sông Hằng, chợt thấy một đôi Hồng Nga,
nó suy nghĩ: "Những con chim đàng xa kia tuyệt đẹp, ta chắc
chúng tìm ra nhiều thịt để ăn trên bờ sông Hằng này. Ta
muốn hỏi chúng và nếu ta cũng ăn thịt chúng nữa, chắc
chắn ta sẽ được màu lông tươi sáng như chúng vậy." Thế
là khi đậu không xa đôi chim ấy, Quạ hỏi Hồng Nga bằng
cách ngâm hai vần kệ đầu:
1.
Màu lông tươi đẹp, dáng thanh tao,
Thân
thể tròn xinh, ửng sắc đào,
Này
Ngỗng, đúng là bạn tuyệt mỹ,
Năm
căn và mặt sáng ngời sao!
2.
Trong khi đậu ở bến sông Hằng,
Cá
tráp, cá vền, Ngỗng vẫn ăn,
Cá
chép, cùng nhiều loài cá khác,
Trên
dòng sông nước lội tung tăng.
Hồng
Nga liền cãi lại Quạ bằng cách ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Ta chẳng ăn bầy cá giữa dòng,
Cũng
không nằm nghỉ ở trong rừng,
Mọi
loài rong cỏ, ta nuôi sống,
Này
bạn, đó là món Ngỗng ăn.
Lúc
ấy Quạ ngâm hai vần kệ:
4.
Ta chẳng tin theo Ngỗng giải bày,
Xác
minh thực phẩm nó ăn đầy,
Của
ngon trong xóm ngâm dầu muối,
Là
món ta ăn sống mỗi ngày.
5.
Món cơm tinh sạch, đẹp làm sao
Có
kẻ làm xong, lại đổ vào
Món
thịt ấy, nhưng này bạn Ngỗng,
Sắc
ta không giống bạn đâu nào.
Ngay
sau đó Hồng Nga ngâm cho Quạ nghe các vần kệ còn lại, nêu
rõ lý do tại sao Quạ có màu lông xấu xí và thuyết giảng
đức tính chân chánh:
6.
Ngắm xem tội ác ở lòng người,
Làm
hại, phá tan cả cuộc đời,
Lo
sợ, kinh hoàng, ngươi ẩm thực,
Nên
ngươi có được sắc này thôi.
7.
Quạ ơi, lầm lạc khắp trên trần,
Tội
ác trong đời trước hóa thân,
Bạn
chẳng thích đồ ăn uống nữa,
Chính
màu này Quạ phải mang luôn.
8.
Này bạn ta chẳng hại ai,
Cũng
không lo lắng, dạ an hoài,
Cũng
không có việc gì sầu muộn,
Sợ
hãi gì do kẻ địch ngoài.
9.
Vậy bạn này, nên sống dũng cường,
Giã
từ đường lối sống vô lương,
Trên
đời tiến bước không làm hại,
Tất
cả cùng yêu mến tán dương.
10.
Người nào thân ái với muôn loài,
Không
hại và không bảo hại ai,
Không
quấy nhiễu, không ai quấy nhiễu,
Không
thấy gì sân hận vì người.
- Vậy
bạn muốn được mọi người thương mến, hãy từ bỏ các
ái dục.
Hồng
Nga này thuyết giảng đạo đức chân chánh, đã nói như vậy.
Quạ đáp:
- Ðừng
nói tầm phào với ta về cách sống của bạn.
Xong
nó vừa kêu lên "Quạ! Quạ!", vừa bay mất qua không gian đến
bãi phân ở thành Ba-la-nại.
*
Khi
Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này xong. Ngài thuyết giảng
các Sự thật. Bấy giờ lúc kết thúc các Sụ thật, vị Tỳ
kheo tham lam đã được an trú vào Tam quả (Bất Lai).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, Tỳ kheo tham lam này là Quạ, mẹ của La-hầu-la là chim
bạn của Hồng Nga và Ta chính là Hồng Nga.
-ooOoo-
452.
Chuyện Vấn Đề Trí Tuệ (Tiền Thân Bhùri - Panha)
Chuyện
này sẽ được kể trong Tiền thân Mahà-Ummagga, số 546, Tập
VII.
-ooOoo-
453.
Chuyện Điềm Lành Lớn (Tiền thân Mahà-Mangala)
Hiển
bày chân lý giải nghi nan...,
Chuyện
này Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Kinh Ðiềm
lành Tối thượng hay Luận về Ðiềm lành.
Tại
kinh thành Vương Xá vì một lý do này nọ, một đám đông
tụ họp trong nhà nghỉ của vua, giữa bọn ấy có người
đứng dậy, bước ra nói:
- Hôm
nay là ngày có Ðiềm lành.
Một
người khác nghe được, bảo rằng người kia bước ra và
nói đến "Ðiềm triệu", vậy y muốn nói gì qua chữ "Ðiềm"?
Một
người thứ ba bảo:
- Dấu
hiệu gì có vẻ may mắn thì đó là điềm lành, ví dụ một
người thức dậy sớm, và thấy một con bò đực toàn trắng
hay một người đàn bà có thai, hay con cá màu đỏ (Ciprinus
Rohita) hay cái bình đầy đến tận miệng, hoặc bơ tươi mới
tan từ sữa bò, hoặc y phục mới chưa giặt hoặc cháo gạo,
thì chẳng có điềm nào tốt hơn nữa.
Vài
kẻ bàng quan bình phẩm lời giải thích này:
- Nói
hay đấy.
Song
có kẻ khác chen vào:
-Ồ
không, chẳng có điềm gì trong việc ấy cả, chỉ lời nói
bạn nghe mới là điềm. Có người nghe người ta nói: "Ðầy
đủ", rồi lại nghe "Lớn đầy đủ" hoặc "Ðang lớn", hoặc
nghe chúng bảo: "Ăn đi" hay "Nhai đi" thì chẳng có điềm nào
tốt hơn nữa.
Một
số kẻ bàng quan bảo:
- Nói
hay đấy.
Và
họ bình phẩm lời giải thích này. Một người khác lại
nói:
- Chẳng
có điềm gì trong mọi chuyện ấy cả. Hễ vật gì bạn đụng
chạm đến mới là điềm. Nếu một người thức dậy sớm
đụng vào đất hay cỏ xanh, phân bò tươi, chiếc áo sạch,
cá màu đỏ, vàng hay bạc, thức ăn... thì chẳng có điềm
gì tốt hơn nữa.
Ở
đây vài kẻ bàng quan lại tán đồng và bảo là khéo nói.
Và sau đó, số người theo phái chủ trương các điềm do mắt
thấy, điềm về âm thanh, điềm về xúc chạm, chia làm ba
nhóm, không ai thuyết phục ai được cả. Từ chư Thần trên
mặt đất đến Phạm thiên giới không ai có thể xác định
điềm là như thế nào cả. Ðế Thích Thiên chủ nghĩ thầm:
"Giữa chư thiên và loài người ai ngoài đức Thế Tôn là
có thể giải đáp đúng vấn đề điềm triệu. Ta muốn đi
đến đức Thế Tôn, và đặt vấn đề với Ngài."
Thế
là ban đêm Thiên chủ đến thăm đức Thế Tôn, đảnh lễ
ngài và chắp tay vào nhau để thỉnh cầu, Thiên chủ đặt
câu hỏi bắt đầu bằng: "Có chư Thiên và loài người." Sau
đó Bậc Ðạo Sư dùng mười hai vần kệ nói cho biết ba mươi
tám điềm lành lớn. Và trong khi ngài ngâm những lời kinh
điềm lành ấy, lần lượt chư Thiên lên đến con số mười
ngàn triệu vị đắc Thánh quả A-la-hán, còn các vị đắc
ba Ðạo Quả kia thì không sao kể xiết. Thiên chủ nghe xong
các điềm lành, liền trở về cõi của mình.
Khi
Bậc Ðạo Sư nói các điềm lành xong, thế giới loài người
và Thiên giới đồng tán thành và bảo:
- Thật
là khéo nói.
Sau
đó trong Chánh pháp đường, Tăng chúng bắt đầu bàn luận
về công đức của đức Như Lai