CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
Chương
X
Phẩm
Mười Bài Kệ
439.
Chuyện Bốn Cổng Thành (Tiền thân Catu-Dvàra)
Thành
sắt này xây bốn cổng cao...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phóng
dật.
Các
chi tiết câu chuyện đã được nêu ra trong số 427, chuyện
Tiền thân đầu tiên của Chương IX. Ở đây, một lần nữa
bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo này:
Có
đúng như Tăng chúng nói rằng ông bất tuân giới luật?
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Ngài
bảo:
- Ngày
xưa, cũng vì bất tuân lời dạy bảo của các bậc trí nhân,
mà ông phải nhận lấy một bánh xe sắc như dao cạo.
Rồi
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa vào thời đức Phật Kassapa (Ca-diếp), tại thành Ba-la-Nại
có một thương gia làm chủ tài sản đến tám trăm triệu
đồng, nhưng chỉ sinh được một trai tên là Mittavindaka. Cha
mẹ cậu này đã đi vào hướng Dự Lưu, song cậu vẫn là
một kẻ theo ác hạnh, không có lòng tin vào Ðạo.
Về
sau, khi cha cậu mất, mẹ cậu thay thế điều hành sản nghiệp
ấy, bà bảo con như vầy:
- Này
con, thân người khó được, vậy con hãy bố thí, tu tập công
đức, giữ ngày trai giới và lắng tai nghe Pháp.
Cậu
đáp lại:
- Này
mẹ, không có chuyện bố thí, tu tập gì cả với con đâu,
đừng bao giờ nhắc chúng với con nữa, con sống thế nào
thì ngày sau con theo nghiệp đó.
Vào
một ngày rằm trăng tròn, khi cậu cũng nói như trên, mẹ cậu
đáp:
- Con
ơi, hôm nay được dành làm ngày trai giới thanh tịnh. Vậy
ngày nay con hãy phát nguyện giữ giới, đi viếng tinh xá và
lắng nghe Pháp suốt đêm, rồi khi con trở về, mẹ sẽ cho
con một ngàn đồng tiền nhé.
Vì
tham số tiền ấy, cậu bằng lòng ngay. Ngay khi ăn sáng xong,
cậu đi đến tinh xá, ở lại đó suốt ngày; song từ đầu
hôm cho đến lúc canh tàn, chẳng một lời Giáo pháp này lọt
vào tai cậu cả. Cậu đi nằm một nơi và ngủ thẳng giấc.
Ngày hôm sau, từ tảng sáng, cậu rửa mặt và đi về nhà,
ngồi phịch xuống.
Bấy
giờ, mẹ cậu nghĩ thầm: "Hôm nay, sau khi nghe Pháp, con ta sẽ
về từ sáng sớm, dẫn theo vị Trưởng lão đã giảng Pháp".
Vì thế, bà nấu cháo sẵn, với thức ăn đủ loại cứng
và mềm, sửa soạn chỗ ngồi xong, đợi con về. Khi bà thấy
con đi về một mình, bà hỏi:
- Này
con, sao con không đưa về vị Pháp sư?
- Mẹ
ạ, chẳng có Pháp sư nào giảng cho con cả. Cậu đáp.
Bà
mẹ bảo:
- Thế
thì con húp cháo này đi.
Cậu
nói:
- Mẹ
đã hứa cho con một ngàn đồng tiền, mẹ ạ. trước tiên
mẹ hãy trao tiền cho con, rồi sau đó con mới húp cháo.
- Húp
cháo trước đi con, rồi con sẽ được tiền kia mà.
Cậu
bảo:
- Không
được, con không muốn húp cháo cho đến khi con được tiền
kia.
Thế
là bà mẹ đặt túi tiền một ngàn đồng trước mặt cậu.
Cậu liền húp cháo, xong cậu lấy túi tiền một ngàn đồng
đi làm công chuyện của cậu; và cứ thế về sau, chẳng bao
lâu cậu kiếm được hai triệu đồng tiền.
Lúc
ấy, cậu chợt nghĩ ra rằng cậu muốn tậu lấy một con tàu
rồi đi làm ăn trên đó. Thế là cậu sắm tàu, rồi bảo
mẹ:
- Mẹ
à con có ý định đi làm ăn trên tàu này.
Bà
mẹ đáp:
- Con
là con độc nhất của mẹ, mà trong nhà mình hiện có nhiều
tài sản lắm rồi; còn biển cả lại đầy nguy hiểm, con
đừng đi.
Song
cậu bảo:
- Con
quyết ra đi, mẹ không thể cản con được đâu.
Bà
tiếp:
- Này,
mẹ cứ muốn cản con đấy.
Rồi
bà cầm lấy tay cậu, xong cậu hất tay bà ra khiến bà ngã
xuống, và trong chốc lát, cậu đã biến dạng, vội lên đường.
Vào
ngày tháng bảy, nhân vì có mặt Mittavindaka, con tàu cứ đứng
bất động trên biển sâu. Người ta rút thăm và cả ba lần
đều trúng tay Mittavindaka. Thế là họ cho cậu một chiếc
bè và nói:
- Ðừng
để nhiều người phải chết chỉ vì một người này.
Rồi
họ thả cậu trôi dạt trên đại dương, chỉ thoáng chốc
sau, con tàu ấy đã lao nhanh vùn vụt trên biển.
Còn
cậu trai trên chiếc bè trôi đến một đảo kia. Tại đó,
trong một cung điện bằng thủy tinh, cậu chợt thấy bốn
ma nữ. Trước kia, ma chúng thường phải chịu bảy ngày đau
khổ và hưởng bảy ngày hạnh phúc. Ðược kết bạn với
chúng, cậu thọ hưởng khoái lạc thần tiên. Rồi khi đến
thời chúng phải chịu khổ hình, chúng bảo cậu:
- Thưa
công tử, chúng em sắp xa chàng bảy ngày, trong lúc chúng em
đi vắng, xin chàng ở lại đây và đứng lo buồn gì cả.
Nói
xong, chúng giã từ.
Song
cậu trai, lòng đầy khát vọng, lại ra khơi trên chiếc bè
kia, và vượt đại dương, đến một đảo khác, tại đây
trong một cung điện bằng bạc, cậu thấy tám ma nữ khác.
Cứ như thế, cậu thấy trên một đảo nữa mười sáu ma
nữ trong một cung bằng ngọc, rồi trên một đảo khác nữa,
ba mươi hai ma nữ trong một cung bằng vàng. Cũng như trước
kia, với các ma nữ này, cậu hưởng thọ lạc thú thần tiên,
rồi khi chúng đi xa để chịu cực hình, cậu lại ra khơi
lần nữa, lênh đênh trên đại dương, mãi cho đến cuối
cùng cậu thấy một kinh thành có bốn cổng lớn và hào lũy
bao bọc. Người ta bảo đó là ngục Ussada (Ngục bằng sắt
hay Thiết vi Ðịa ngục), nơi mà nhiều chúng sinh bị đọa
đầy, phải thọ lãnh các nghiệp báo của mình, song đối
với Mittavindaka, nó lại có vẻ như một kinh thành tuyệt mỹ.
Cậu suy nghĩ: "Ta muốn vào thăm kinh thành kia và làm vua tại
đó.
Thế
là cậu bước vào, vừa thấy một sinh linh đang chịu khổ
hình phải mang một cái bánh xe sắc như lưỡi dao cạo, song
đối với Mittavindaka dường như bánh xe dao trên đầu kẻ
kia lại giống như đóa hoa sen nở, năm vòng xiềng xích trên
ngực gã nào khác chiếc áo choàng rực rỡ sang trọng, dòng
máu nhỏ giọt trên đầu gã như thể phấn bột gỗ chiên-đàn
đỏ thắm ngát hương, còn tiếng gã rên la tựa tiếng ca êm
dịu nhất trên đời. Vì vậy cậu đến gần và bảo:
- Này
người kia, anh đã mang cái hoa sen ấy lâu rồi, nay hãy đưa
cho ta.
Người
ấy đáp:
- Thưa
ngài, nó không phải là hoa sen đâu, mà nó là bánh xe sắc
như dao cạo.
Cậu
trai bảo:
- À,
anh nói vậy vì anh không muốn đưa nó cho ta đấy thôi.
Gã
tội nhân khốn khổ kia liền suy nghĩ: "Ắt hẳn các nghiệp
quá khứ của ta đã tiêu trừ hết. Rõ ràng người này cũng
như ta đi đến đây vì đã đánh mẹ nó. Ðược rồi ta sẽ
cho nó đưa bánh xe dao này". Gã liền bảo:
- Này
đây, hãy cầm lấy hoa sen.
Cùng
với lời nói trên, gã thả bánh xe dao trên đầu cậu, nó
rơi xuống đỉnh đầu và nghiến sâu vào đó, lập tức, Mittavindaka
biết ngay đó là bánh xe dao, cậu liền nói:
- Lấy
bánh xe của anh lại!
Và
cậu gào thét dữ dội trong cơn đau đớn, song kẻ kia đã
khuất dạng mất rồi.
Vừa
lúc ấy, Bồ-tát cùng đoàn tùy tùng đông đảo đang đi kinh
lý qua ngục Ussada, và đến tận nơi ấy, Mittavindaka trông
thấy ngài, vội kêu lên:
- Tâu
thiên chủ, Thượng đế của chư Thiên, bánh xe này đang đâm
thủng và xé nát đầu con như thể cái chầy nghiền nát mớ
hột cải, vậy con đã phạm tội ác gì?
Cậu
vừa hỏi, vừa ngâm hai vần kệ này:
1.
Thành sắt này xây bốn cổng cao,
Con
nay mắc bẫy bước chân vào,
Chung
quanh con, lũy hào bao bọc,
Con
đã gây nên các nghiệp nào.
2.
Giờ đây đóng chặt các thành môn
Và
bánh xe này hủy diệt con
Nào
khác chim lồng, con bị bắt.
Tại
vì sao vậy, tấu Thiên vương?
Lúc
ấy Thiên chủ ngâm các vần kệ này để giải thích vấn
đề cho cậu rõ:
3.
Ngài có ngày xưa chục vạn đồng,
Hai
mươi lần nữa đấy, tôn ông,
Tuy
nhiên ngài vẫn không hề muốn
Tai
lắng nghe bằng hữu nói năng.
4.
Ngài đã vội vàng vượt đại dương
Chất
đầy nguy hiểm dọc đường trường,
Nữ
ma, bốn tám, ngài thăm viếng,
Mười
sáu nàng, theo kế tám nàng.
5.
Tiếp theo mười sáu, đến ba hai
Tận
hưởng dục tham cứ miệt mài,
Nay
hãy nhìn đây đầy phần tặng thưởng
Bánh
xe dục lạc ở đầu ngài.
6.
Ai đi đại lộ dục tham đầy,
Con
lộ thênh thang rộng lớn thay,
Vô
độ, chúng không hề thỏa mãn
Thì
phần chúng đội bánh xe này.
7.
Ai chẳng mong phân phát bạc vàng,
Chẳng
cầu tìm Chánh đạo bình an
Cũng
không biết phải làm như vậy,
Phần
bánh xe này chúng sẽ mang.
8.
Hãy suy kết quả việc ngài làm
Gia
sản ngài xem thật ngập tràn,
Ðừng
ước làm tài chủ bất chính,
Thực
hành điều bạn tốt khuyên răn,
Về
sau chẳng có bao giờ nữa
Vòng
bánh xe này đụng đến thân.
Nghe
vậy, Mittavindaka tự nhủ: "Vị Thiên chủ này vừa giải thích
thật chính xác những việc ta làm. Chắc chắn ngài cũng biết
được mức độ trừng phạt ta". Rồi cậu ngâm vần kệ thứ
chín:
9.
Vậy tấu Thiên vương, đến lúc nào
Bánh
xe này dính ở trên đầu?
Mấy
ngàn năm nữa? XIn ngài dạy,
Ðừng
để con hoài sức khẩn cầu.
Lúc
ấy bậc Ðại sĩ tuyên bố vấn đề qua vần kệ thứ mười:
10.
Bánh xe này tiếp tục xoay vần,
Mà
chẳng hiện ra vị cứu nhân
Nó
dính đầu ngài cho đến chết,
Này
Mít-ta hỡi có nghe chăng?
Nói
vậy xong Thiên chủ trở về cõi của Ngài, còn kẻ kia chìm
vào cơn đau đớn cùng cực.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, Tỷ-kheo phóng dật này là Mittavindaka, và Ta chính
là Thiên chủ.
-ooOoo-
440.
Chuyện Hắc Hiền Giả (Tiền thân Kanha)
Ðằng
kia nhìn kẻ sắc đen tuyền..,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể tại Kapilavathu (Ca-tỳ-la-vệ) trong Bồ-đề
Lâm (Rừng cây Ða), về một nụ cười.
Vào
thời ấy, chuyện kể rằng bậc Ðạo Sư đang du hành cùng
Tăng chúng trong Bồ-đề Lâm, lúc chiều xuống, tại một chốn
kia, Ngài mỉm một nụ cười. Trưởng lão Ànanda nói:
- Nguyên
do gì, lý do gì khiến đức Thế Tôn mỉm cười? Ðức Như
lai mỉm cười không phải là không có duyên cớ. Vậy ta muốn
hỏi Ngài.
Thế
là Tôn giả cúi đầu đảnh lễ cung kính hỏi về nụ cười
kia, bậc Ðạo Sư bảo:
- Ngày
xưa, này Ànanda, có một bậc Hiền trí tên là Kanha đã sống
ở nơi đây, chuyên tâm thiền tịnh, và lạc thú trong thiền
định, nên nhờ uy lực công đức của ngài mà cung của Sakka
(Ðế Thích), Thiên phủ phải rúng động.
Song
vì câu giải thích nụ cười kia chưa được rõ ràng lắm,
nên theo lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão, đức Phật
kể một chuyện quá khứ.
*
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, có một vị
Bà-la-môn không con cái, nhưng của cải lên đến tám mười
triệu đồng, vị này phát nguyện giữ giới đức và cầu
tự. Trong lòng bà vợ vị Bà-la-môn này đang mang thai Bồ-tát,
sau đó do màu da đen của ngài, vào ngày lễ đặt tên, cha
mẹ chọn tên ngài là Kanha - Kumàra tức Hắc nam tử
Ðến
năm mười sáu tuổi, đầy vẻ uy nghi như một bức tượng
bằng ngọc quý, ngài được phụ thân đưa đến học ở Takkasilà,
nơi đây ngài được dạy đầy đủ các môn văn học nghệ
thuật, xong trở về nhà. Sau đó cha ngài lại cưới cho ngài
một cô vợ xứng đôi vừa lứa. Dần dần theo thời gian,
ngài hưởng trọn gia sản của song thân.
Bấy
giờ một ngày kia, sau khi kiểm tra các kho báu, đang lúc ngồi
trên một bảo tọa lộng lẫy, ngài cầm trong tay một cái
đĩa bằng vàng, đọc được trên đĩa những hàng chữ do
các bậc tiền nhân ngài ghi lại: "Rất nhiều tài sản do vị
này kiếm được, rất nhiều tiền bạc do vị kia làm ra v.v..."
Ngài nghĩ thầm: "Những vị tạo ra vàng bạc này bây giờ
không còn nữa, song vàng bạc vẫn còn đó; không ai có thể
mang chúng theo khi ra đi khỏi cuộc sống; ta không thể buộc
vàng bạc thành một bó, rồi mang theo mình qua thế giới khác.
Thấy
rằng của cải liên hệ đến Năm Ác dục, còn phân phát bố
thí của cải này là việc tốt đẹp hơn; thấy rằng thân
xác phù du này liên hệ với nhiều bệnh tật, còn tỏ lòng
cung kính và nhân từ với những vị đức hạnh đem nhiều
lợi lạc hơn; thấy rằng cuộc đời tạm bợ phù phiếm này
chỉ thoáng qua chốc lát, còn tinh tấn hành trì thiền định
là phần cao cả hơn. Vậy thì những vàng bạc phù phiếm này
ta sẽ đem bố thí hết, vì làm như thế ta sẽ thọ hưởng
phước đức hơn nhiều."
Thế
là ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, sau khi xin đức vua thỏa
thuận, ngài bố thí rất hào phóng.
Ðến
ngày thứ bảy, thấy vàng bạc vẫn không suy giảm, ngài suy
nghĩ: "Vàng bạc này có nghĩa gì đối với ta? Trong khi ta chưa
bị tuổi già chế ngự, ta muốn ngay bây giờ phát nguyện
xuất gia tu hành; ta quyết tu tập các Thắng trí và các Thiền
chứng, ta quyết tái sinh lên cõi Phạm Thiên". Thế là ngài
ra lệnh mở các cửa lớn trong nhà ra, rồi bảo gia nhân lấy
của cải đem, bố thí rộng rãi, vứt bỏ nó như một vật
bất tịnh, ngài đoạn trừ các tham dục của nhãn quan, và
những tiếng khóc than cùng nước mắt đông đảo của họ
hàng quyến thuộc, ngài ra đi từ kinh thành, đến tận vùng
Tuyết sơn.
Tại
đó ngài sống theo lối độc cư, và khi đi tìm một chốn
an lạc để trú thân, ngài thấy nơi này, rồi quyết định
ở lại; chọn cây bầu làm nơi ăn chốn ở, ngài sống tại
đó, ngủ ngay dưới gốc cây bầu ấy. Không bao giờ cư trú
trong làng, ngài trở thành một người sống trong rừng, không
bao giờ ngài dựng chòi lá, mà chỉ ở dưới gốc cây này,
ở ngoài trời, thường an tọa, hoặc nếu ngài muốn nằm
thì chỉ nằm trên mặt đất.
Ngài
không dùng cái chày, mà chỉ dùng hàm răng nghiền nát thức
ăn, ngài chỉ ăn những thức ăn không nấu bằng củi lửa,
không bao giờ một thứ hạt còn vỏ lọt vào miệng ngài,
ngài chỉ ăn ngày một lần và chỉ ngồi ăn một lần. Trên
mặt đất, dường như ngài đã hòa cùng với tứ đại làm
một, ngài sống hành trì giới đức của bậc xuất gia khổ
hạnh. Trong Tiền thân ấy, như ta được biết, Bồ-tát rất
thiểu dục.
Vì
vậy chẳng bao lâu, ngài đạt các Thắng trí và các Thiền
chứng (năm thần thông: Abhinnà; và tám cấp thiền: Jhànà)
và ngài sống nơi ấy trong hỷ lạc của thiền định. Về
trái cây rừng, ngài không đi đâu xa, khi trái cây mọc trên
cây, ngài ăn trái; vào mùa hoa nở, ngài ăn hoa; khi lá mọc,
ngài ăn lá; khi không còn lá nào ngài ăn vỏ cây. Vào buổi
sáng ngài thường hái quả cây ấy, không bao giờ vì tham lam
mà ngài đứng dậy đi hái quả cây nào khác. Ở nơi ngài
ngồi, ngài dang tay ra lượm các trái cây trong tầm tay, ngài
ăn các thứ trái cây đến tay ngài, không phân biệt ngon dở
.
Trong
khi ngài tiếp tục tìm lạc thú như vậy, nhờ thần lực công
đức của ngài, chiếc ngai hoàng thạch của Sakka (Ðế Thích)
Thiên chủ nóng rực lên (tương truyền chiếc ngai vàng này
nóng lên khi Ðế Thích Thiên chủ sắp mạng chung, hoặc lúc
phước đức của ngài đã tận diệt và kết thúc, hay khi
có một vị Ðại sĩ cầu nguyện, hay do công năng đức độ
của các Sa-môn, Bà-la-môn đầy uy lực.)
Lúc
ấy Ðế Thích Thiên chủ suy nghĩ: "Kẻ nào muốn làm ta phải
rời khỏi ngai đây?" vừa nhìn quanh, ngài thấy trong rừng
sâu, ở một nơi kia bậc Hiền nhân Kanha đang sống nhờ nhặt
trái rừng, ngài biết rằng đó là một trí nhân hành trì
khổ hạnh cao độ, tất cả các căn đều được điều phục,
ngài suy nghĩ: "Ta muốn đi đến gặp vị ấy. Ta muốn bảo
người thuyết Pháp thật cao giọng, và sau khi nghe lời giảng
Pháp đem lại an lạc này, ta sẽ làm người hoan hỷ một điều
ước, và sẽ làm cho cây của người sinh quả không ngừng,
rồi ta mới trở về đây. "
Sau
đó nhờ thần thông lực, Thiên chủ vụt xuống trần, đứng
ngay sau lưng bậc Hiền nhân, ngài ngâm vần kệ đầu tiên
để thử xem bậc Hiền trí kia có bực tức khi nghe nhắc đến
vẻ xấu xí của mình chăng:
1.
Ðằng kia, ngắm kẻ sắc đen tuyền,
Sống
ở nơi này cũng đất đen,
Miếng
thịt đang ăn đen xám xịt,
Tâm
ta chẳng thích đáng người hiền
Hiền
nhân Kanha nghe ngài nói vậy:
- Ai
nói với ta đấy?
Và
nhờ thần thông lực, ngài nhận ra đó là Ðế Thích Thiên
chủ, nên vẫn không cần quay đầu lại, ngài đáp vần kệ
thứ hai:
2.
Dù toàn sắc đen, hỡi Ngọc hoàng,
Tâm
ta chân chính Bà-la-môn,
Màu
da chẳng lỗi, nhưng làm ác
Khiến
kẻ phàm nhân đen tối luôn.
Và
rồi sau đó, khi đã giải thích nhiều loại lỗi lầm và chê
trách những lỗi lầm đã biến con người thành những kẻ
đen tối, cùng ca ngợi công đức, ngài thuyết giáo cho Ðế
Thích Thiên chủ, chẳng khác nào ngài làm mặt trăng mọc lên
giữa bầu trời.
Ðế
Thích Thiên chủ nghe bài thuyết Pháp, lòng vô cùng hoan hỷ,
liền ban tặng bậc Ðại Sĩ một điều ước và ngâm vần
kệ thứ ba:
3.
Nói năng khôn khéo, bậc La-môn,
Diễn
đạt cao siêu, tối thắng luôn
Hãy
chọn điều gì ngài ước nguyện,
Chọn
theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Nghe
vậy bậc Ðại Sĩ nghĩ thầm: "Ta biết thế nào rồi. Vị
này muốn thử ta, xem ta có giận dữ khi nói đến vẻ xấu
xí của ta không; nên ngài chê bai màu da của ta, thức ăn chốn
ở của ta. Khi thấy rằng ta không giận, thì ngài vui vẻ,
ban cho ta một điều ước, chắc chắn ngài tưởng ta hành
trì cuộc sống này vì ước mong có thần lực của Sakka Thiên
chủ hay Phạm Thiên, vậy nay để làm ngài tin tưởng, ta sẽ
chọn bốn điều ước: ta ước được an tịnh, không sân
hận đối với kẻ xung quanh ta, không tham cảnh vinh quang của
các vị xung quanh ta, hay thèm muốn dục tình đối với các
vị xung quanh ta".
Suy
nghĩ như vậy xong, để giải quyết mối nghi hoặc của Thiên
chủ, bậc Hiền trí ngâm vần kệ thứ tư đòi bốn điều
ước này:
4.
Thiên chủ Sak-ka của thế gian
Chọn
điều hạnh phúc, lệnh ngài ban,
Ta
mong thoát khỏi lòng sân hận,
Ác
độc, tiêu trừ mọi dục tham,
Tất
cả bốn điều này hạnh phúc,
Ta
thường mơ ước tận tâm can.
Lúc
ấy, Ðế Thích Thiên chủ suy nghĩ: "Hiền giả Kanha, khi chọn
điều ước đã chọn bốn điềm an lạc không lỗi lầm. Bây
giờ ta phải hỏi ngài về thiện ác liên hệ bốn điều này".
Rồi ngài hỏi bằng cách ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Ở trong ác dục với tham sân,
Này
hãy nói đi, hỡi Ðạo nhân,
Ngài
thấy điều gì là bất thiện,
Trả
lời ta nhé, hãy làm ơn.
- Vậy
hãy nghe đây:
Bậc
Ðại sĩ đáp lại và cảm khái ngâm bốn vần kệ này:
6.
Ác ý được nuôi bởi hận sân,
Phát
sinh từ nhỏ lớn lên dần,
Nên
lòng tràn ngập niềm đau xót,
Vì
thế ta không muốn giận hờn.
7.
Cứ vậy thông thường với ác nhân,
Trước
tiên lời nói, chạm vào thân,
Kế
đến đấm đá, rồi cây gậy,
Sau
hết lòe ra mũi kiếm trần,
Khi
có ác tâm, thường phẫn nộ,
Nên
lòng ta chẳng muốn hờn căm.
8.
Khi người, thúc dục bởi gian tham,
Lừa
đảo tăng dần với dối gian,
Vội
đuổi theo tiền tài cướp bóc,
Vậy
nên ta chẳng muốn tâm tham.
9.
Trói chặt xiềng gông bởi dục tình,
Vẫn
thường phát triển nảy sinh nhanh
Trong
tim, làm xót xa đau nhức,
Ái
dục, ta không muốn phận mình.
Khi
các câu hỏi đã được giải thích xong, Ðế Thích Thiên chủ
bảo:
- Thưa
Trí giả Kanha, nhờ ngài, các câu hỏi của ta đã được giải
đáp êm đẹp với trí tuệ của một bậc Giác Ngộ, ta rất
hoan hỷ vì ngài; bây giờ xin ngài chọn một điều ước khác
nữa.
Rồi
Thiên chủ ngâm vần kệ thứ mười:
10.
Nói năng chân chính, bậc La-môn,
Diễn
đạt cao siêu, tối thắng ngôn,
Hãy
chọn điều gì ngài ước nguyện,
Chọn
theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Lập
tức Bồ-tát ngâm kệ:
11.
Sak-ka, Thiên chủ của trần gian,
Ngài
bảo cho ta một đặc ân,
Mong
chốn núi rừng ta ẩn náu,
Nơi
nào ta trú ngụ đơn thân,
Bệnh
không làm hại niềm an tịnh,
Hoặc
phá niềm thiền lạc vỡ tan.
Nghe
vậy, Ðế Thích Thiên chủ suy nghĩ: "Khi chọn điều ước,
Hiền giả Kanha không chọn điều gì liên hệ đến thức ăn,
mà những gì ngài chọn đều liên quan đến đời sống tu
hành." Tâm càng hoan hỷ hơn, Thiên chủ lại cho thêm một điều
ước khác và ngâm kệ:
12.
Nói năng thật khéo, bậc La-môn,
Diễn
đạt cao siêu, tối thắng ngôn,
Hãy
chọn điều gì ngài ước nguyện,
Chọn
theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Và
Bồ-tát, khi nói lên điều ước của ngài, đã thuyết Pháp
trong vần kệ cuối:
13.
Sak-ka, Thiên chủ của trần gian,
Ngài
bảo cho ta một đặc ân,
Xin
chẳng sinh linh nào bị hại,
Vì
ta, dù khẩu, ý hay thân.
Nơi
nào cũng vậy, này Thiên chủ,
Lời
nguyện này ta vẫn ước mong.
Như
vậy trong sáu trường hợp, bậc Ðại sĩ lựa điều ước,
ngài đều chỉ chọn những gì liên quan đến đời sống viễn
ly. Ngài hiểu rõ thân người phải có bệnh và Ðế Thích
chủ không thể trừ diệt căn bệnh của thân nghiệp; Ðế
Thích Thiên chủ cũng không thể rửa sạch cho nhân thế trong
ba cửa Thân, Khẩu, Ý. Mặc dù vậy, ngài vẫn chọn điều
ước ấy với mục đích thuyết Pháp cho vị Thiên chủ.
Sau
đó Ðế Thích Thiên chủ làm cho cây ấy sinh quả quanh năm,
vừa chắp tay lên trán đảnh lễ ngài vừa bảo:
- Xin
Hiền giả an trú ở đây không bệnh tật.
Rồi
ngài đi về cõi của ngài. Còn Bồ-tát không bao giờ gián
đoạn thiền định, nên về sau được sinh lên Phạm thiên
giới.
*
Sau
khi chấp dứt Pháp thoại này, bậc Ðại Sư bảo:
- Này
Ànanda, đây là nơi Ta đã an trú ngày xưa.
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào
thời ấy Anuruddha (A-na-luật-đà) là Sakka (Ðế Thích) Thiên
chủ và Hiền giả Kanha chính là Ta.
-ooOoo-
441.
Bốn Vị Giữ Trai Giới (Tiền thân Catu-Posathika)
(Chuyện
tiền thân này sẽ được kể trong Tiền thân Punnaka) (chưa
được tìm thấy)
-ooOoo-
442.
Chuyện Bà La Môn Sankha (Tiền thân Sankha)
La-môn
Tôn-giả, bậc uyên thâm ...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể ở Kỳ Viên về tứ sự cúng dường.
Chuyện
kể rằng ở thành Xá-vệ, có một nam cư sĩ, sau khi nghe đức
Như Lai thuyết Pháp, tâm rất hoan hỷ nên đã mời chư tăng
vào ngày hôm sau. Tại cửa nhà, ông dựng lên một cái rạp
trang hoàng lộng lẫy, rồi đi thưa trình rằng đã đến giờ.
Bậc Ðạo Sư đến nơi với năm trăm vị Tỷ-kheo theo hầu,
và ngồi trên bảo tọa lộng lẫy dành cho ngài. Vị cư sĩ,
sau khi đã dâng cúng các lễ vật sang trọng lên hội chúng
Tỷ-kheo với đức Phật là thượng thủ, lại mời tăng chúng
ngày mai; và cứ thế, trong bảy ngày liền, vị này mời Tăng
chúng đến cúng dường, và vào ngày thứ bảy lại cúng dường
những vật dụng cần thiết. Trong buổi cúng dường này, ông
tặng các đôi hài làm lễ vật đặc biệt. Ðôi hài dâng
lên đức Phật trị giá một ngàn đồng vàng. Hai đôi hài
cúng hai vị Ðại đệ tử (Xá-lợi phất và Mục -kiền-liên)
trị giá năm trăm, còn những đôi trị giá hơn một trăm đồng
dành cho các vị Tỷ-kheo khác.
Sau
khi dâng cúng lễ vật đủ các thứ cần thiết cho chư Tăng,
ông ngồi xuống trước đức Thế Tôn cùng với hội chúng
của Ngài. Sau đó bậc Ðạo Sư đáp lời tùy hỷ công đức
bằng một giọng vô cùng êm dịu:
- Này
gia chủ, thí vật của ông thật hào phóng biết bao, ông hãy
hoan hỷ. Ngày xưa, trước khi đức Phật ra đời, đã có những
người nhờ cúng dường một đôi hài lên một vị Ðộc Giác
Phật mà kết quả việc bố thí đó là tìm được chỗ an
trú trên biển cả không có nơi an trú; và nay ông vừa cúng
dường cho toàn thể hội chúng của đức Phật mọi vật dụng
cần thiết cho mỗi Tỷ-kheo, thì công đức biết bao, nếu
không phải là lễ dâng hài này sẽ làm nơi an trú cho ông
về sau?
Và
theo lời thỉnh cầu của ông. Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, thành Ba-la-nại có tên là Molinì. Trong khi vua Brahamadatta
trị vì ở Molinì, một người Bà-la-môn tên là Sankha giàu
có lớn, đã xây bố thí trường ở sáu chỗ, một ở mỗi
cổng thành, một ở giữa thành và một ở cửa nhà ông. Hằng
ngày ông bố thí sáu trăm ngàn đồng tiền và cho các kẻ
lữ hành cùng kẻ ăn xin rất rộng rãi.
Một
ngày kia ông suy nghĩ: "Một khi kho của cải hết, ta không còn
gì để bố thí nữa. Vậy trong lúc kho chưa cạn, ta muốn
lấy con tàu đi đến xứ Vàng và sẽ mang của cải về". Thế
là ông bảo đóng tàu, chất đầy hàng hóa và khi từ biệt
vợ con, ông bảo:
- Bà
và con hãy lo bố thí không ngừng cho đến khi ta trở về.
Nói
xong, ông cầm lấy dù, mang giày cùng gia nhân hướng mặt về
hải cảng, rồi đúng ngọ ông khởi hành.
Vào
lúc ấy một vị Ðộc Giác Phật trên đỉnh núi Gandhamàdana
(Hương Sơn), đang nhập định, thấy vị kia lên đường tìm
kiếm vàng liền suy nghĩ: "Một bậc Ðại sĩ đang vượt biển
để tìm vàng. Có gặp gì trên biển cả gây trở ngại cho
vị này chăng? Rồi sẽ có. Nếu ông thấy ta, sẽ dâng ta đôi
giày và chiếc dù. và kết quả việc đi cúng dường này là
ông sẽ tìm được nơi an trú khi tàu đắm trên biển. ta muốn
giúp đỡ ông."
Vì
thế bay qua không gian, Ngài hạ xuống, không xa chỗ kẻ lữ
hành kia, rồi tiến đến gặp ông, dẫm chân trên cát nóng,
nóng như thể một đống tro đang cháy bỏng trong luồng gió
dữ dội và ánh mặt trời gay gắt. Vị Bà-la-môn nghĩ thầm:
"Ðây là cơ hội để tạo công đức, ta phải gieo một hạt
giống ngày hôm nay tại chốn này". Lòng vô cùng hoan hỷ, ông
vội vã đi đến đảnh lễ Ngài:
- Thưa
Tôn-giả, - ông nói - xin Tôn giả vui lòng ra khỏi con đường
này trong chốc lát, đến dưới gốc cây kia.
Sau
đó, khi đến chỗ ngồi gốc cây, ông lau phủi hết cát cho
Ngài, rồi trải thương y ra mời Ngài ngồi xuống, với nước
sạch thơm ngát, ông rửa chân Ngài, xoa dầu thơm ngào ngạt,
và từ chân của chính mình, ông rút ra đôi hài lau sạch,
xoa dầu thơm xong, mang vào cho Ngài, cúng dường Ngài đôi hài
cùng với chiếc dù, xin Ngài mang hài và che dù trên đầu Ngài
khi ngài lên đường. Vị Ðộc Giác Phật muốn làm ông vui
lòng nên nhận lễ vật, và trong khi vị Bà-la-môn chiêm ngưỡng
Ngài để tăng trưởng tín tâm, Ngài bay lên về lại núi Gandhmàdana.
Còn
Bồ-tát với tâm đầy hoan hỷ, tiến ra hải cảng và lên
thuyền.
Khi
ra đến đại dương vào ngày thứ bảy, con thuyền nứt ra
và họ không thể tát hết nước được. Tất cả mọi người
lo sợ cho mạng sống mình, đồng thanh kêu gào, mỗi người
kêu cầu một vị thần linh riêng của mình. Bậc Ðại Sĩ,
chọn một người hầu, xoa dầu khắp mình mẩy, ăn một đống
đường mịn hòa với bơ tươi cho thỏa thích, cho kẻ kia cùng
ăn, rồi ngài leo lên cột buồm. Ngài bảo:
- Về
hướng kia là kinh thành của ta.
Vừa
chỉ tay về hướng ấy, vừa gạt bỏ nỗi sợ hãi về các
loài rùa, cá, ngài lặn mất cùng với gã gia nhân một khoảng
xa chừng một trăm năm mươi cubit (1 cubit = 45cm). Ðám người
kia chết đuối cả, còn bậc Ðại Sĩ cùng gã gia nhân bắt
đầu tiến lên trên biển cả. Trong bảy ngày liền, ngài tiếp
tục bơi. Ngay cả giờ phút ấy, ngài vẫn giữ trọn ngày
trai giới, súc miệng với nước mặn.
Lúc
bấy giờ một nữ thần tên là Mani-Mekkhalà, nghĩa là Ngọc
Ðới, đã được lệnh của Tứ Thiên vương: "Nếu gặp tàu
chìm, và tai họa xảy đến cho người đã quy y Tam Bảo, hoặc
đầy đủ giới đức, hoặc phụng thờ cha mẹ, thì nàng phải
lo cứu độ". Và để bảo vệ cho các người như vậy, nữ
thần an trụ trên mặt biển. Nhờ thần lực của bà, bà không
cần canh phòng trong suốt bảy ngày ấy, song đến ngày thứ
bảy, nhìn lướt trên mặt biển, bà thấy vị Bà-la-môn Sankha
đức độ kia, nên suy nghĩ: "Kẻ đằng kia đã bị rớt xuống
biển, đến nay là ngày thứ bảy rồi, nếu ông chết đi thì
ta mắc phải tội nặng lắm."
Vì
thế sinh lòng lo lắng, bà vội đổ vào chiếc đĩa bằng vàng
đầy đủ mọi thức ăn thiên giới, phi nhanh như gió đến
phía ngài, rồi dừng lại trước mặt ngài trên không và bảo:
- Này
Bà-la-môn, ngài không ăn gì đã bảy ngày rồi, vậy ăn thức
này đi.
Vị
Bà-la-môn nhìn bà đáp:
- Cất
thức ăn của nàng đi, ta đang giữ giới kiêng ăn.
Kẻ
gia nhân của ngài không thấy nữ thần, mà chỉ nghe âm thanh
nên nghĩ thầm: "Vị Bà-la-môn này nói lảm nhảm, ta chắc
vì cơ thể ngài yếu đuối lại nhịn đói đã bảy ngày nên
đang đau đớn và sợ chết, ta muốn an ủi ngài." Và gã liền
ngâm vần kệ đầu:
1.
La-môn Tôn giả, bậc uyên thâm,
Tôn
giả vốn đầy đủ thánh tâm,
Ðồ
đệ Thánh sư, sao lại phải
Hoài
tâm vô cớ nói lầm bầm,
Trong
khi chẳng có ai đây cả
Ðối
đáp ngoài tôi, lúc luận đàm?
Vị
Ba-la-môn nghe gã, biết rằng gã không thấy vị thần kia, nên
bảo:
- Này
hiền hữu, không phải ta sợ chết đâu, song đang có một
vị khác ở đây để đàm đạo với ta đó.
Rồi
Ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Xuất hiện Thiên thần rực ánh quang,
Tặng
ta tiên phạn để ta ăn,
Cao
sang trên đĩa vàng bày sẵn
Ta
đáp nàng "không" dạ lạc hoan.
Sau
đó gã ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Nếu như người thấy một Thiên thần,
Người
hãy yêu cầu một đặc ân
Xin
đứng chấp tay van vị ấy,
Cho
hay Thiên nữ hoặc phàm nhân?
- Bạn
nói phải lắm - vị Bà-la-môn bảo.
Rồi
ngài hỏi bằng cách ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Nương tử nhìn ta vẻ thiết thân,
Bảo
ta: "Cần lấy thức này ăn",
Hỏi
nàng cao cả đầy uy lực,
Là
nữ nhi hay một nữ thần?
Vị
nữ thần lấp tức ngâm hai vần kệ:
5.
Ta, nữ thần uy lực đại cường,
Nơi
này vội đến giữa trùng dương,
Tràn
đầy từ mẫn, tâm hoan hỷ,
Vì
cứu ngài trong bước cuối đường.
6.
Nhìn đây thực phẩm, chốn an lành,
Nhiều
loại cỗ xe, đủ dáng hình,
Cho
ngài làm chủ quyền tất cả,
Những
gì ao ước tự tìm mình.
Khi
vừa nghe vậy, bậc Ðại sĩ suy nghĩ đắn đo: "Ðây là nữ
thần giữa đại dương - ngài tự nhủ - bà tặng ta vật này
vật nọ. Cớ gì bà lại muốn đem tặng chúng cho ta? Có phải
vì một công đức nào đó của ta hay do quyền lực riêng của
bà mà bà làm như thế? Ðược, ta sẽ hỏi." Và ngài chất
vấn điều này qua vần kệ thứ bảy:
7.
Thưa, vậy tiên nương chính nữ hoàng,
Nắm
quyền bao lễ vật nàng ban,
Mỹ
nương yểu điệu, mày thanh tú,
Nghiệp
quả nào ta tạo đấy chăng?
Vị
nữ thần nghe ngài hỏi, nghĩ thầm: "Vị Bà-la-môn này đã
hỏi thế, chắc vì ngài tưởng ta không biết ngài đã làm
việc lành nào. Ta muốn nói ngay cho ngài rõ". Vì vậy bà đáp
ngài qua vần kệ thứ tám:
8.
Trên đường nóng bỏng kẻ đơn thân,
Khát
nước, mệt nhừ, lại nhức chân,
Ngài
đã dừng, mang tài vật cúng,
Ngày
nay lễ ấy được hồng ân.
Lúc
bậc Ðại Sĩ nghe thế, ngài nghĩ thầm: "Ô kìa giữa đại
dương khó vượt qua này, việc cúng dường đôi hài trở thành
một đại phước báo cho ta. Ôi việc dâng lễ vật lên một
vị Ðộc Giác Phật thật tốt lành thay!" Rồi trong niềm đại
hân hoan, ngài ngâm kệ thứ chín:
9.
Xin chiếc thuyền bằng ván khéo xây,
Thuận
buồm xuôi gió, chạy như bay,
Mà
không thấm nước trên đường biển
Không
thể dùng xe cộ chốn đây,
Xin
chở ta về Mo-lí gấp,
Làm
sao vừa kịp đúng hôm nay.
Nữ
thần rất đẹp ý khi nghe những lời này, liền làm phép cho
chiếc thuyền hiện ra, được làm bằng bảy báu vật, chiều
dài tám trăm cubit (1 cubit = 45cm), chiều rộng sáu trăm cubit,
chiều sâu hai mươi sải (sải= 1,82m). Có ba cột buồm bằng
ngọc bích, dây buộc bằng vàng, cánh buồm bằng bạc, các
mái chèo và bánh lái đều bằng vàng ròng cả. Trong thuyền,
vị nữ thần chất đầy bảy báu vật, rồi ôm lấy vị Bà-la-môn
đưa lên chiếc thuyền huy hoàng kia. Bà không chú ý đến gã
hầu cận, song vị Bà-la-môn vẫn chia phần cho gã hưởng phước
lành. Gã sung sướng quá và nữ thần kia cũng ôm gã đặt
lên thuyền nữa. Liền đó bà đưa thuyền đến kinh thành
Molinì và sau khi đã chất đầy châu báu vào kho nhà vị Bà-la-môn,
bà trở về nơi an trú mình.
*
Bậc
Ðạo Sư với Trí tuệ Tối thắng, đã ngâm vần kệ cuối
cùng:
10.
Thần nữ hân hoan, hạnh phúc tràn,
Làm
cho xuất hiện, chiếc thuyền thần,
Ðem
San-kha với người hầu cận
Về
đến kinh đô đẹp tuyệt trần.
Còn
vị Ba-la-môn suốt đời ở nhà bố thí thật rộng rãi không
ngừng và giữ giới hạnh, nên khi mạng chung ngài cùng các
gia nhân đi lên cộng trú với chư Thiên.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các
Sự Thật. Bấy giờ vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị cư
sĩ ấy chứng đắc Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy Uppalavannà (Liên Hoa sắc) là nữ thần, Ànanda là
người hầu, và Bà-la-môn Sankha chính là Ta.
-ooOoo-
443.
Chuyện Trí Giả Tiểu Bồ Ðề (Tiền thân Culla-Bodhi)
Ví
thử người ta bắt quý nương...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một người tính
hay nóng giận.
Người
này, sau khi đã xuất gia, tu tập, hành trì Giáo pháp đưa đến
giải thoát, an lạc trọn vẹn, lại không thể chế ngự cơn
giận của mình. Ông lòng đầy bực tức, hiềm hận; song lại
ít nói nên khi phẫn nộ, bị lôi cuốn vào cơn nóng giận,
ông trở nên gay gắt chua cay và khó dạy bảo. Khi nghe nói
đến tính hay nóng giận của ông, bậc Ðạo Sư cho gọi ông
vào và hỏi có thật là ông hay nổi giận như lời đồn chăng.
Vị này đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn,
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Này
Tỷ-kheo, tính nóng giận phải được chế ngự, vì một kẻ
hành ác hạnh như vậy không thể nào có nơi an trú được
dù trong đời này hoặc đời sau. Tại sao sau khi tu tập pháp
môn giải thoát của đức Phật tối thượng không có lòng
sân giận, cớ gì ông lại tự mình tỏ ra hay phẫn nộ? Các
bậc trí nhân ngày xưa, ngay cả những vị hành trì giáo pháp
khác với chúng ta cũng đã kềm chế được lòng phẫn nộ.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta lên ngôi ở Ba-la-nại, trong một thị
trấn ở xứ Kàsi có một vị Bà-la-môn rất giàu vàng bạc,
gia sản đồ sộ song lại không có con, nên bà vợ cầu mong
con trai. Vào thời ấy Bồ-tát từ cõi Phạm thiên đi xuống
trần, nhập mẫu thai của bà, rồi vào ngày lễ đặt tên,
cha mẹ chọn cho ngài cái tên Bodhi-Kumàra hay là Nam tử Trí
Tuệ. Khi ngài đến tuổi khôn lớn, ngài đi đến Takkasilà,
nghiên cứu đủ các môn học thuật, và sau khi về nhà, dù
ngài không muốn, cha mẹ ngài vẫn đi cưới một thiếu nữ
về làm vợ ngài, từ một gia đình cùng chung giai cấp với
ngài. Nàng ấy cũng xuống cõi trần từ Phạm thiên giới,
có nhan sắc tuyệt thế, chẳng khác nào một vị tiên nữ.
Cả hai vị trở thành vợ chồng, song cả hai chẳng ai mong
muốn chuyện đó cả. Chẳng bao giờ có ai phạm vào dâm dục,
cũng chẳng kẻ nào liếc mắt nhìn kẻ kia một cách say đắm,
ngay cả trong giấc ngủ, hai vị cũng không hề bao giờ có
hành động tương tự, cả hai vị đều sống thanh tịnh như
thế.
Sau
một thời gian, khi song thân đều mất cả, ngài lo việc tang
lễ cho thi hài cha mẹ chu đáo. Bậc Ðại Sĩ gọi vợ đến,
bảo nàng:
- Này
quý nương, nàng hãy giữ lấy gia sản tám trăm triệu đồng
này và sống đời hạnh phúc.
- Không
phải vậy đâu, mà đó là phần của phu quân.
Ngài
bảo:
- Ta
không cần vàng bạc, ta sẽ lên vùng Tuyết Sơn, trở thành
một ẩn sĩ và tìm nơi cư trú ở đó.
- Vậy
thưa phu quân tôn quý, chỉ nam giới mới được xuất gia tu
hành thôi chăng?
Ngài
đáp:
- Không
phải vậy, nữ giới cũng được.
- Vậy
thì thiếp, cũng không muốn nhận lấy thứ chàng đã phun khỏi
miệng, vì thiếp cũng không ham thích vàng bạc gì hơn chàng,
thiếp cũng muốn thành ẩn sĩ như chàng.
- Này
quý nương, tốt lành thay!
Rồi
hai vị đem phân phát bố thí phần lớn tài sản và xuất
gia. Ðến một vùng đất an lạc dựng am thất ẩn sĩ, các
ngài sống bằng trái cây rừng mà các ngài kiếm được, và
cứ sống như vậy mười năm tròn, song vẫn chưa chứng đắc
Thiền định của bậc Thánh.
Thế
là sau một thời gian sống tại đó, hưởng hạnh phúc của
cuộc đời ẩn dật suốt mười năm liền, các ngài ra đi
ngang qua vùng quê để tìm muối và đồ gia vị, và thuận
đường đến Ba-la-nại liền vào trú chân trong vườn ngự
uyển.
Bấy
giờ, một ngày kia vua thấy người giữ ngự viên đến dâng
một món quà trong tay, ngài phán:
- Trẫm
muốn liên hoan trong ngự viên, vậy hãy sắp xếp cho chỉnh
tề.
Và
khi hoa viên đã được dọn dẹp sạch sẽ sẵn sàng, vua ngự
vào đó cùng đám cận thần hộ tống đông đảo.
Lúc
đó cả hai vị ở trên một chỗ trong ngự viên, an hưởng
lạc thú của cuộc sống tu hành. Còn vua khi đi ngang qua ngự
viên, thấy hai vị ngồi đó; và khi mắt ngài chợt bắt gặp
vị nữ nhân diễm lệ khả ái kia, ngài say mê ngay. Lòng ngài
rúng động vì khát vọng dục tình, ngài quyết định hỏi
nàng có liên hệ gì đối với ẩn sĩ kia; nên khi đi đến
gần Bồ-tát, vua hỏi ngay câu ấy. Bồ-tát đáp:
- Tâu
đại vương, nay nàng ấy chẳng có liên hệ gì đối với
ta cả; nàng chỉ cùng chung đời sống tu hành với ta thôi,
song trước kia ta còn sống ở chốn trần tục, thì nàng ấy
đã là vợ ta.
Nghe
vậy, vua thầm nghĩ: "Như vậy, vị này bảo nữ nhân kia chẳng
là gì đối với ông cả, song khi còn sống đời thế tục,
nàng ấy đã là vợ ông. Ðược rồi, nếu ta dùng vương quyền
bắt lấy nàng thì ông làm gì được? Cho nên ta muốn chiếm
nàng". Và vua vừa đến gần vừa ngâm vần kệ:
1.
Ví thử người ta bắt quý nương,
Mắt
tròn, và cướp khỏi Tôn ông,
Người
yêu ngồi đó đang cười nụ,
Ngài
sẽ làm gì, hỡi Ðạo nhân?
Bậc
Ðại Sĩ ngâm vần kệ thứ hai để đáp câu hỏi này:
2.
Khi đã khởi lên, nó chẳng rời
Chẳng
bao giờ nữa, suốt đời tôi,
Như
cơn mưa lắng dần tro bụi,
Dập
tắt nó thời mới nhú thôi.
Bậc
Ðại Sĩ trả lời như vậy, lớn tiếng như sư tử hống.
Song nhà vua dù đã nghe thế, vẫn không thể nào chế ngự
được con tim say đắm của mình, do nỗi si mê mù quáng, liền
ra lệnh cho vị cận thần phải bắt nàng kia vào cung.
Vị
cần thần tuân lệnh dẫn nàng đi, dù nàng đã thở than khóc
lóc rằng làm ác nghiệp phi pháp là thói thường của thế
gian, còn Bồ-tát nghe tiếng nàng kêu khóc, ngài chỉ nhìn một
lần thôi, không nhìn nữa. Vì thế nàng bị đưa vào cung trong
lúc đang kêu gào thê thảm.
Vua
xứ Ba-la-nại không còn chần chờ ở ngự viên nữa, mà nhanh
chóng trở về cung, triệu nàng đến chầu và ban cho nàng nhiều
vinh dự cao sang. Song nàng bảo những vinh quang đó chẳng có
giá trị cả, và chỉ đời sống độc cư là cao thượng thôi.
Vua thấy không thể dùng cách gì để chinh phục được tim
nàng, nên truyền giữ nàng trong một phòng biệt lập và bắt
đầu suy nghĩ: "Ðây là một người đàn bà khổ hạnh không
màng mọi thứ vinh quang này, và vị ẩn sĩ cũng không hề
tỏ ra giận dữ khi người hầu bắt đi một nữ nhân tuyệt
mỹ như vậy. Song những ẩn sĩ thường có mưu sâu lắm; chắc
chắn ông đang lập mưu để hại ta. Ðược rồi, ta muốn
trở lại gặp ông và tìm hiểu tại sao ông vẫn ngồi đó."
Và thế là không thể ngồi yên được, vua đi vào ngự viên.
Lúc
ấy Bồ-tát đang ngồi vá chiếc y. Vua chỉ đi một mình nên
đến tận nơi, bước nhẹ nhàng không gây tiếng động. Bồ-tát
vẫn tiếp tục vá áo, chẳng nhìn đến vua. Vua nghĩ: "Người
này chẳng muốn nói gì với ta vì đang tức giận đấy. Kẻ
khổ hạnh này đúng là gã bịp bợm, trước tiên thét lớn:
"ta không muốn để lòng căm hận khởi lên chút nào, song nếu
nó khởi lên, ta quyết dập tắt nó ngay lúc còn nhỏ nhoi",
rồi sau đó lòng căm phẫn cứ đeo đẳng dằng dai nên gã
không muốn nói chuyện với ta đó!". Với ý nghĩ này, vua ngâm
vần kệ thứ ba:
3.
Ngài lớn tiếng khoe hay,
Chừng
một lát trước đây,
Nay
lặng thinh vì giận
Ngài
ngồi đó vá may.
Khi
bậc Ðại Sĩ nghe thế, ngài hiểu vua tưởng ngài im lặng
vì tức giận, nên muốn tỏ ra là ngài không hề bị lòng
phẫn nộ chi phối, ngài ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Hễ lúc nào sinh khởi nó rồi,
Chẳng
bao giờ nó chịu rời tôi,
Như
cơn mưa lắng dần tro bụi,
Tôi
dập nó thời mới nhỏ nhoi.
Khi
nghe những lời này, vua suy nghĩ: "Có phải người này nói
đến lòng sân hận hay điều gì khác nữa? Ta muốn hỏi ông
cho rõ". Rồi vua ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Gì đó mà không thể bỏ ngài,
Chẳng
bao giờ hết, suốt trong đời?
Như
cơn mưa lắng dần tro bụi,
Ngài
dập tắt gì lúc nhỏ nhoi?
Vị
kia đáp:
- Thưa
Ðại vương, như thế nỗi sân hận thường đem lại nhiều
đau khổ, nhiều tai hại, tàn khốc; nó chỉ vừa khởi lên
trong ta, song nhờ nuôi dưỡng lòng từ mẫn, ta đã dập tắt
được nó.
Rồi
ngài ngâm các vần kệ sau để thuyết giảng về nỗi khổ
đau vì hiềm hận:
6.
Con người không nó, thấy minh quang,
Có
nó, mù đui trước nẻo đàng,
Nó
khởi trong ta không thoát được,
Hận
sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng.
7.
Ðiều gì làm thích thú cừu nhân,
Kẻ
muốn tâm ta phải khổ buồn,
Phát
khởi trong ta không thoát được,
Hận
sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng.
8.
Cái điều, nếu nổi dậy trong mình.
Che
khuất người ta trước hạnh lành,
Ðã
phát trong ta không thoát được,
Căm
hờn, nuôi dưỡng bởi vô minh.
9.
Ðiều làm tổn phước đức vô song,
Khiến
kẻ bị lừa bỏ lập công,
Mãnh
liệt, phá tan, đầy khủng khiếp,
Không
rời ta nữa, ấy là sân.
10.
Ngọn lửa lên cao, sẽ lớn hơn,
Nếu
mỗi nhiên liệu được khơi tròn,
Bởi
vì ngọn lửa lên cao mãi,
Nhiên
liệu tự mình phải cháy luôn.
11.
Cũng vậy trong tâm trí kẻ đần,
Người
không có thể nhận chân ra rằng
Phát
sinh phẫn nộ từ tranh cãi
Bởi
vậy thanh danh phải bại tàn.
12.
Phẫn nộ nào tăng tựa lửa hừng
Với
mồi than củi cháy bừng bừng,
Như
trăng nửa tháng đêm trời tối,
Ðức
hạnh tiêu hao, hủy hoại dần.
13.
Người nào chế ngự được lòng sân,
Như
lửa mà không có củi than,
Như
trăng nửa tháng trời dần sáng,
Công
đức người kia cứ mãi tăng.
Khi
vua đã nghe bậc Ðại Sĩ thuyết Pháp xong, lòng rất hoan hỷ,
nên ra lệnh cho một cận thần đi dẫn người đàn bà đến,
và mời vị ẩn sĩ vô sân kia cùng ở lại với nàng trong
ngự viên để an hưởng lạc thú của cuộc sống độc cư
và vua hứa sẽ chăm sóc bảo vệ cho hai vị như bổn phận
của mình. Sau đó nhà vua xin hai vị tha thứ lỗi lầm và kính
cẩn từ tạ ra về. Thế là hai vị ấy ở lại đó.
Dần
dần về sau, người đàn bà ấy từ trần và sau khi nàng qua
đời, vị ẩn sĩ trở về vùng Tuyết Sơn, tu tập các Thắng
trí và các Thiền chứng, làm cho Tứ Vô lượng tâm (bốn Phạm
trú: Từ, Bi, Hỉ, Xả) sinh khởi trong lòng, nên ngài được
sinh vào cõi Phạm thiên.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các
Sự Thật. Vào đoạn kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
hay sân hận kia đã được an trú vào Tam quả (Bất Lai).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, mẫu thân của Ràhula (La-hầu-la) là nữ ẩn sĩ
ấy. Ànanda là vua kia và vị ẩn sĩ chính là Ta.
-ooOoo-
444.
Câu Chuyện Hắc Nhân Dìpàyana (Tiền thân Kanhadìpàyana)
Bảy
ngày tâm trí được thong dong...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo thối
thất.
Hoàn
cảnh này sẽ được giải thích trong Tiền thân Kusa (số 531).
Khi bậc Ðạo Sư hỏi lời đồn ấy có đúng không và vị
Tỷ-kheo ấy đáp là đúng, thì ngài bảo:
- Này
Tỷ-kheo, thuở xưa trước khi đức Phật xuất hiện ở đời,
các bậc trí nhân, ngay cả những vị hành trì một nếp tu
tập không theo Chánh pháp, trong suốt hơn năm mươi năm bước
đi trong Thánh hạnh mà không thích thú nhiệt tâm, song vì bản
tính thận trọng khôn ngoan, nên không bao giờ nói cho ai hay
biết là các ông đã thối thất. Còn nay tại sao ông đã hành
trì Giáo pháp của Ta đưa đến giải thoát, và ông đang đứng
trước mặt một đức Phật Thế Tôn như Ta, sao ông dám bộc
lộ sự thối thất của ông trước bốn hàng đệ tử? Tại
sao ông không giữ được tính thận trọng e dè?
Nói
xong, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, trong quốc độ Vamsa, một vị vua trị vì tại Kosambi
mệnh danh là Kosambika. Thời ấy có hai vị Bà-la-môn ở một
thị trấn kia, mỗi vị đều có tài sản tám trăm triệu đồng
và là bạn thân thiết của nhau, cả hai ông, sau khi đã nhận
thức sự tai hại của tham dục, và đã phân chia của cải
ra để bố thí, liền từ bỏ thế tục ngay giữa tiếng than
khóc của nhiều người thân, khởi hành về phía Tuyết Sơn,
dựng am ẩn sĩ ở đó cho mình. Tại chốn ấy trong năm mươi
năm liền, hai vị sống đời ẩn sĩ, nuôi thân bằng trái
cây, củ rừng mà hai vị tình cờ kiếm được; song các vị
không thể nào chứng đắc Thiền định.
Sau
năm mươi năm ấy đã trôi qua, các vị đi du hành qua vùng
quê xin muối và đồ gia vị, lại đến vương quốc Kàsi.
Trong một thị trấn của quốc độ này có một gia chủ tên
là Mandavya, đã từng là một thân hữu tại gia ngày trước
của ẩn sĩ Dìpàyana. Hai vị liền đi đến thăm ông Mandavya
này; vừa trông thấy hai vị, ông chủ nhà vô cùng thích thú,
liền xây cho hai vị một am tranh, cung cấp đầy đủ mọi
loại vật dụng cần thiết của cuộc sống ẩn sĩ. Hai vị
ở đó ba bốn mùa, rồi từ giã ông, tiến về Ba-la-nại,
tại đây hai vị vào ở trong nghĩa địa trồng toàn cây Atimuttaka.
Khi Dipàyana đã ở đó một thời gian như ý muốn, ngài trở
về nơi người bạn xưa lần nữa; còn Tôn-giả Mandavya, ẩn
sĩ kia, vẫn ở chỗ cũ.
Lúc
bấy giờ, một ngày kia có tên đạo tặc gây cướp bóc trong
thị trấn, và trở về từ nơi ấy cùng một số của cải
cướp được. Các gia chủ, lính canh, chạy ra cùng la to "kẻ
trộm" và kẻ trộm bị các người này đuổi gấp, đã thoát
thân qua một ống cống và trong lúc đang chạy quanh gần nghĩa
địa, gã làm rơi gói đồ ở cửa nhà lá của vị ẩn sĩ
ấy. Khi các chủ nhà thấy gói này, đồng kêu to:
- À
đồ khốn kiếp! Anh là quân trộm cướp ban đêm, còn ban ngày
anh đi quanh quẩn giả dạng tu hành.
Rồi
vừa phỉ báng, vừa đấm đá, họ đem vị này vào yết kiến
vua.
Vua
không bảo điều tra gì cả mà chỉ nói:
- Dẫn
nó đi ra và đóng cọc vào nó.
Họ
đem ông đến nghĩa địa, đặt ông vào cái cọc bằng gỗ
cây keo. Song cây cọc không chịu đâm qua thân của vị ẩn
sĩ, kế đó họ mang vào cái cọc khác, song cái này cũng không
đâm thủng ông, kế đó là cái cọc sắt, cũng không thể
đâm thủng thân ông được. Ông tự hỏi hành động nào trong
quá khứ của mình đã gây nên sự việc này, liền quan sát
quá khứ, trong tâm ông khởi lên tri kiến về các đời trước,
nhờ vậy nhìn lại quá khứ, ông thấy những việc đã làm
từ lâu, đó chính là việc đâm thủng một con ruồi trên
một mảnh gỗ mun.
Chuyện
kể rằng trong một đời trước, ông là con trai một người
thợ mộc. Một bữa nọ, cậu đi đến chỗ người cha thường
đốn cây và cậu đã dùng một mảnh gỗ mun đâm thủng một
con ruồi như thể đóng cọc vào nó. Chính ông phát giác ra
tội ác kia vào giờ phút nguy kịch này. Ông nhận thức rằng
không thể nào thoát khỏi ác nghiệp cũ được, nên bảo đám
quân hầu của vua:
- Nếu
các ông muốn đóng cọc ta, hãy lấy cái cọc bằng gỗ mun.
Họ
làm theo, và đóng cọc vào vị ấy xong, họ để lại một
tên quân canh giữ vị ấy và ra đi.
Bọn
lính canh từ một nơi ẩn nấp quan sát mọi việc xảy ra cho
vị ấy. Lúc bấy giờ, Dìpàyana suy nghĩ: "Ta đã gặp đạo
hữu của ta cách đây lâu rồi", liền muốn đi tìm bạn. Khi
nghe tin bạn đã bị đóng cọc treo lên suốt ngày bên vệ
đường, ông liền đi đến đứng bên bạn và hỏi bạn đã
làm gì.
- Chẳng
làm gì cả. Vị ấy đáp.
Vị
kia lại hỏi:
- Thế
hiền hữu, ta chẳng thấy sân hận gì những kẻ đã bắt
ta, cũng chẳng hiềm hận vua; chẳng có nỗi oán hờn nào trong
tâm ta cả.
- Nếu
quả vậy, thì bóng mát của một vị đức độ như thế này
cũng đủ đem lại an lạc cho đời ta rồi.
Cùng
với những lời này, ông ngồi xuống cạnh cây cọc. Từ thân
của Mandavya rơi xuống vài giọt máu trên thân người bạn.
Vì chúng rơi xuống làn da vàng óng và khô đi như thể các
chấm đen trên đó, khiến cho ông có tên Kanha hắc nhân Dìpàyana
từ đó về sau. Và ông cứ ngồi yên tại chỗ suốt đêm.
Ngày
hôm sau, bọn quân canh đến kể mọi chuyện với vua, ngài
bảo:
- Ta
đã hành động quá hấp tấp.
Rồi
vua vội vã đến nơi, hỏi Dìpàyana chu