CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
433.
Chuyện Vị Khổ Hạnh Ca- Diếp Nhiều Lông Tóc (Tiền thân
Lomasa Kassapa)
Ðại
vương sẽ giống hệt Ind-ra...,
Bậc
Ðại Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo có tâm thế tục.
Bậc
Ðạo Sư hỏi vị ấy có thật ông đang mơ tưởng chuyện
thế tục chăng, và khi ông công nhận là đúng như vậy, bậc
Ðạo Sư bảo:
- Này
Tỷ-kheo, ngay cả người đạt danh vọng tối cao đôi khi cũng
phạm vào một việc ô danh. Những tội lỗi như thế làm ô
uế những vị thanh tịnh, huống nữa là một kẻ như ông.
Rồi
Ngài một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa vương tử Brahmadatta, con vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, và
con trai vị tế sư hoàng gia tên là Kassapa là đôi bạn đồng
học mọi nghệ thuật tại nhà một giáo sư. Dần dần khi
vua cha băng hà, thái tử lên trị vì quốc độ. Kassapa nghĩ:
"Hiền hữu ta đã lên làm vua và sẽ ban đại quyền lực cho
ta. Song ta có cần gì quyền lực? Ta muốn giã từ đức vua
cùng song thân và trở thành vị khổ hạnh".
Vì
vậy ngài vào vùng Tuyết Sơn sống đời tu hành, vào ngày
thứ bảy ngài thành đạt các Thắng trí và các Thiền chứng
và tự kiếm sống bằng những thứ nhặt được giữa đồng
hoang. Quần chúng đặt cho ngài biệt danh nhà khổ hạnh Lomasa
Kassapa (Ca-diếp có nhiều lông tóc).
Vì
hành hạ thân xác, và trở thành vị khổ hạnh khắc nghiệt
cao độ. Do công năng khổ hạnh này, cung của Thiên chủ Sakka
(Ðế Thích) rúng động. Sakka suy xét duyên cớ, quan sát ngài
và suy nghĩ: "Vị khổ hạnh này nhờ công năng toả nhiệt
độ mãnh liệt như thế, có thể khiến ta rớt khỏi ngai Ðế
Thích. Ta sẽ phá huỷ khổ hạnh của vị ấy sau khi bí mật
hội kiến với vua Ba-la-nại".
Nhờ
thần lực của một vị Thiên chủ, Ðế Thích vào cung của
vua Ba-la-nại lúc nửa đêm và chiếu sáng toàn thể cung thất
với hào quang trên thân, vừa đứng trên không trước mặt
vua, Thiên chủ vừa thức vua dậy và nói:
- Thưa
Ðại vương, dậy đi.
Vua
hỏi:
- Ngài
là ai? Vua hỏi.
- Ta
là Sakka. Thiên chủ đáp
- Ngài
đến đây vì duyên cớ gì?
- Thưa
Ðại vương, Ðại vương có muốn quyền ngự trị duy nhất
toàn cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) này chăng?
- Dĩ
nhiên trẫm muốn.
Nghe
thế thiên chủ bảo:
- Vậy
hãy đưa Lomasa Kassapa về đây và ra lệnh cho vị ấy làm lễ
tế đàn bằng cách giết thú vật, rồi Ðại vương sẽ trở
thành vĩ đại như Thiên chủ Sakka (tức Indra), thoát khỏi
già chết, và cầm quyền khắp cõi Diêm- phù-đề.
Rồi
ngài ngâm vần kệ đầu:
1.
Ðại vương sẽ giống hệt Ind-ra,
Sẽ
chẳng chết đi, cũng chẳng già,
Ví
thử Kas-sa-pa nhận lệnh
Tế
đàn sinh vật tại cung vua.
Nghe
lời ngài, vua sẵn sàng chấp thuận. Sakka bảo:
- Thế
thì đừng chậm trễ.
Rồi
ngài biến mất.
Hôm
sau, vua triệu vị quốc sư tên Sayha đến bảo:
- Này
Tôn giả, xin đến gặp thân hữu Lomasa Kasaspa của trẫm và
nhân danh trẫm nói với người như vầy: "Nếu Ðại vương
khuyến dụ được ngài làm lễ hiến tế sinh vật, đại vương
sẽ trở thành vị chúa độc nhất ở toàn cõi Diêm-phù-đề
và sau đó ban ngài nhiều vùng lãnh thổ như ý ngài muốn.
Vậy xin ngài cùng đi với tôi về làm lễ tế đàn".
Vị
ấy đáp:
- Tâu
Ðại vương, xin vâng.
Sau
đó dùng trống lệnh truyền tìm chỗ vị khổ hạnh cư trú,
và khi có người kiểm lâm bảo: "Tiểu thần biết", Sayha liền
đi theo sự hướng dẫn của y cùng một đoàn tuỳ tùng đông
đảo, đến kính lễ vị hiền nhân và vừa cung kính ngồi
một bên, vừa trình thông điệp của vua. Vị hiền nhân liền
bảo:
- Này
Sayha, Tôn giả nói gì vậy?
Rồi
Ngài ngâm bốn vần kệ từ chối vị này:
2.
Không hải đảo nào giữa đại dương
Ðược
người canh giữ thật an toàn
Hòng
mong lôi cuốn ta, Tôn giả,
Vào
việc bạo tàn đại bất lương.
3.
Lòng tham lợi dưỡng với vinh danh,
Tội
ác từ đây vẫn phát sinh,
Ðưa
đến khổ ưu không gián đoạn
Ác
hành tai hại đáng chê khinh!
4.
Thà làm kẻ khốn khó ly gia,
Khất
thực kiếm ăn khắp mọi nhà
Hơn
phải tạo nên điều tội lỗi
Sẽ
mang ô nhục trút đầu ta.
5.
Thà cầm bình bát ở trong tay
Ðể
tránh thật xa tội lỗi này,
Hơn
chiếm được toàn quyền quốc độ
Nhờ
hành động ác độc như vầy.
Sau
khi nghe ngài nói, vị quốc sư ra về trình vua. Vua suy nghĩ:
"Nếu vị ấy không chịu đến đây thì ta làm gì được?",
rồi ngồi im lặng. Nhưng nửa đêm, Thiên chủ Sakka lại đến
đứng trên không và bảo:
- Thưa
Ðại vương, tại sao Ðại vương không truyền gọi ẩn sĩ
Lomasa Kassapa về và ra lệnh vị ấy làm lễ hiến tế súc
vật?
- Khi
được lệnh truyền gọi, vị ấy đã từ chối về đây.
- Thưa
Ðại vương, hãy trang điểm cho công chúa Candavatì (Nguyệt
Nương), ái nữ của Ðại vương, và nhờ chính tay Sayha đưa
nàng đi và bảo vị ấy: "Nếu Tôn giả muốn về dâng tế
lễ, Chúa thượng sẽ ban thưởng công nương này làm vợ ngài".
Rõ ràng vị ấy sẽ sinh lòng say mê công chúa và về đây.
Vua
sẵn sàng chấp thuận và hôm sau nhờ chính tay Sayha đưa công
chúa đi. Sayha đem công chúa đến đó, và sau lời chào hỏi
thông thường cùng ca ngợi vị hiền giả, vị quốc sư bảo
đưa đến trình diện với ngài nàng công chúa diễm lệ khả
ái như tiên nữ cung kính đứng xa xa.
Vị
khổ hạnh mất ngay trí đức khi nhìn thấy nàng và chỉ nhìn
thế thôi, ngài đã tiêu tan hết Thiền lực. Vị quốc sư
thấy ngài đã đắm say luyến ái nàng, liền bảo:
- Thưa
Tôn giả, nếu Tôn giả muốn hiến tế, Chúa thượng sẽ ban
công chúa này về làm vợ ngài.
Ngài
rung động vì mãnh lực của tham dục liền hỏi:
- Chắc
chắn Chúa thượng sẽ ban nàng cho ta chứ?
- Ðúng
vậy, nếu ngài làm tế lễ, Chúa thượng sẽ ban nàng cho ngài.
- Tốt
lắm. Nếu ta được nàng, ta sẽ làm lễ hiến tế.
Rồi
đem nàng đi cùng ngài ngay lúc ấy với các chòm tóc bện của
một vị khổ hạnh và mọi thứ khác, ngài leo lên chiếc vương
xa lộng lẫy đi về Ba-la-nại. Còn vua, ngay khi nghe tin đang
chắc chắn đến đó, liền chuẩn bị lễ đàn ở hố hiến
tế sinh vật.
Khi
thấy ngài đã đến, vua bảo:
- Nếu
Hiền hữu dâng lễ hiến tế, trẫm sẽ sánh ngang với Thiên
chủ Indra, và khi tế lễ hoàn tất, trẫm sẽ ban công chúa
cho Hiền hữu.
Vị
khổ hạnh Kasapa sẵn sàng chấp thuận.
Vì
thế hôm sau vua cùng công chúa Candavatì đi đến hố hiến
tế sinh vật. Tại đó có đủ loại súc vật bốn chân như
voi, ngựa, bò đực và các loài khác đặt thành một dãy.
Ẩn sĩ Kasapa lãnh việc hiến tế bằng cách giết chết tất
cả bọn chúng.
Lúc
ấy thần dân tụ tập quanh đó bảo:
- Hỡi
Tôn giả Lomasa Kasapa, việc này không thích hợp cũng không
xứng đáng với ngài, tại sao ngài làm như vậy?
Và
vừa than vừa khóc, họ vừa ngâm hai vần kệ:
6.
Nhật, nguyệt đều mang đại lực thân,
Thuỷ
triều không nhượng lực phàm trần,
La-môn,
Ðạo sĩ đầy oai lực,
Song
vẫn kém xa lực nữ nhân.
7.
Nguyệt Nương cũng vậy, đã làm cho
Ca-diếp
Hiền nhân mắc tội to,
Thúc
giục ngài theo lời Chúa thượng
Tế
đàn sinh vật tại cung vua.
Vào
lúc này để bắt đầu tế lễ, Kasapa nhấc bảo kiếm lên
để đánh vào cổ vương tượng. Con voi thấy thanh kiếm, kinh
hoàng sợ chết, liền rống thật lớn. Khi nghe tiếng voi rống,
các súc vật kia, cả bầy voi ngựa, bò đực vì sợ chết,
đồng rống lên thật lớn và quần chúng cũng kêu thét lên.
Kasapa
nghe các tiếng rống kia, lòng xúc động và nghĩ lại các chòm
tóc bện của mình. Lúc ấy ngài nhờ đến các chòm tóc, râu
và lông phủ khắp ngực và toàn thân. Ðầy hối hận, ngài
kêu lớn:
- Than
ôi, ta đã phạm ác nghiệp không xứng đáng với tính cách
của ta.
Rồi
ngài ngâm vần kệ thứ tám bày tỏ xúc động của mình:
8.
Ác nghiệp này ta đã muốn làm,
Chính
là kết quả của lòng tham,
Cái
mầm dục vọng đang tăng trưởng,
Gốc
rễ nó, ta quyết cắt ngang.
Sau
đó vua phán:
- Này
Hiền hữu, đừng sợ, hãy dâng tế lễ và ngay bây giờ trẫm
sẽ ban cho Hiền hữu công chúa Candavatì, cùng với vương quốc
của trẫm và cả một đống châu báu cao ngất nữa.
Nghe
thế, ẩn sĩ Kassapa đáp:
-Tâu
Ðại vương, ta không muốn tội ác này tràn ngập tâm ta.
Rồi
ngâm vần kệ kết thúc:
9.
Ðáng ghét bao tham dục thế thường
Thà
theo khổ hạnh tốt lành hơn,
Ta
làm ẩn sĩ nguyền ly dục,
Ngài
giữ nước nhà với Nguyệt Nương.
Cùng
với những lời này, ngài tập trung vào một đối tượng
Thiền quán. Khi phục hồi được định lực đã mất, ngài
ngồi bắt chéo chân trên không, thuyết Pháp cho vua, khuyên
nhủ vua tinh cần làm thiện sự và bảo vua huỷ bỏ tế đàn
cùng ban lệnh ân xá cho quần chúng. Rồi thể theo lời thỉnh
cầu của vua, ngài bay lên không trở về nơi an trú của mình.
Trong thời gian ngài còn sống, ngài tu tập các Phạm trú Viên
mãn (Tứ Vô lượng tâm ) và được sinh lên Phạm thiên giới.
*
Sau
Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc
kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo có tâm thế tục đã
đắc Thánh quả (A-la-hán).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thuở
ấy vị đại quốc sư là Sàriputta và vị khổ hạnh Lomassa
Kasapa chính là Ta.
-ooOoo-
434.
Chuyện Chim Hồng Nga (Tiền thân Cakkavàka)
Ðôi
chim lông óng ả, màu vàng...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo tham lam.
Người
ta bảo vị ấy tham muốn các vật dụng cần thiết trong đời
sống xuất gia và bỏ quên mọi phận sự của một sư trưởng
và giáo thọ hướng dẫn đệ tử, thường vào thành Sàvatthi
thật sớm. Sau khi ăn cháo gạo tuyệt hảo với nhiều loại
thực phẩm loại cứng tại nhà nữ cư sĩ Visàkha, lại ăn
thêm suốt ngày nhiều loại cao lương mỹ vị với cơm thịt,
và vẫn chưa thoả mãn, ông đi từ đó đến nhà ông Tiểu
Cấp Cô Ðộc, cung vua Kosala và nhiều nơi khác nữa. Vì thế
một hôm có cuộc thảo luận tại Chánh pháp đường liên
hệ đến tính tham lam của ông.
Khi
bậc Ðạo Sư biết đề tài Tăng chúng đang thảo luận, Ngài
truyền đưa vị Tỷ-kheo đến và hỏi có thật ông tham lam
chăng. Và khi ông đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn,
Bậc
Ðạo Sư hỏi:
- Này
Tỷ-kheo, tại sao ông tham lam? Ngày xưa cũng vì tham ăn, không
thỏa mãn với những xác voi chết, ông đã rời Ba-la-nại
và lang thang quanh quẩn bờ sông Hằng, vào tận vùng Tuyết
Sơn.
Và
sau đó ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, một con Quạ tham
lam đi quanh quẩn ăn xác voi chết, và không thoả mãn, nó nghĩ:
"Ta muốn ăn mỡ cá trên bờ sông Hằng". Rồi sau vài ngày
ở tại đó ăn cá chết, nó vào vùng Tuyết Sơn sống bằng
các loại quả rừng.
Khi
đến một hồ sen rộng nhiều rùa cá, nó thấy hai con chim
Thiên nga với bộ lông vàng óng ả sống bằng cây rong Sevàla,
nó nghĩ: "Ðôi chim này thật mỹ lệ, đầy hảo tướng. Thức
ăn của chúng chắc phải thích thú lắm. Ta muốn hỏi chúng
đó là thức gì, rồi cũng ăn như thế và ta sẽ có màu lông
óng ả kia".
Vì
vậy Quạ đến gần, sau lời chào hỏi ân cần theo thông lệ
với đôi chim khi chúng đang đậu trên ngọn cây, quạ ngâm
vần kệ ca ngợi chúng:
1.
Ðôi chim lông óng ả màu vàng
Quanh
quẩn đó đây, lạc thú tràn
Chim
loại gì người yêu mến nhất
Là
điều ta mong muốn biết cho tường.
Nghe
vậy, Hồng nga ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Này Quạ, vượt lên mọi dã cầm,
Hồng
nga được hạnh phúc ban ân
Mọi
miền vang dậy tình thân ái
Người
lẫn chim đều vẫn tán dương
Hãy
biết Hồng nga là Ngỗng đỏ
Bạo
gan vùng vẫy nước sông Hằng
Nghe
vầy, Quạ ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Trái gì sung mãn ở trên sông
Tìm
thấy "thịt" cho bạn Ngỗng hồng?
Hãy
nói món trời cho Ngỗng hưởng
Ðể
sinh sắc đẹp, lực tăng cường?
Hồng
nga liền ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Chẳng trái gì ăn ở giữa sông,
Và
đâu có: "thịt" với chim Hồng
Sè-và-la
ấy đem chà vỏ
Làm
thức ăn không có lỗi lầm.
Sau
đó Quạ ngâm hai vần kệ:
5.
Ta chẳng thích lời ấy, Ngỗng hồng,
Trước
kia ta thưởng thức cần dùng
Ðể
nuôi ta sống, cần phù hợp
Với
dáng bề ngoài ta ước mong.
6.
Nay ta nghi hoặc, bởi ta ăn
Gạo,
muối, dầu, bơ, thịt, quả ngon
Như
các anh hùng say yến tiệc
Khi
vừa trở lại khải hoàn môn
Vậy
ta thưởng thức đầy hương vị,
Song
dẫu ta đang sống thật là sang,
Hình
dáng bề ngoài ta vẫn thế
Bên
Hồng nga chẳng thể ngang bằng!
Sau
đó Hồng nga bảo cho Quạ biết lý do tại sao Quạ không đạt
được dung sắc mỹ lệ trong khi chính Hồng Nga đã đạt được
qua các vần kệ còn lại:
7.
Không thoả vì hoa quả rớt rơi
Trong
vùng nghĩa địa hoả thiêu người,
Tham
lam, Qua vẫn bay lơ lững
Săn
đuổi mồi ngon cám dỗ hoài.
8.
Song những ai mong phạm ác hành,
Chỉ
vì dục lạc, giết sinh linh,
Lương
tâm giày xéo thân mòn mỏi,
Vẻ
đẹp, tráng cường huỷ hoại nhanh.
9.
Vậy cái thiện nhân chẳng hại ai,
Hình
dung cường tráng, vẻ xinh tươi,
Bởi
vì mỹ sắc, ta cần biết,
Chẳng
phải thuộc vào thực phẩm thôi.
Như
vậy Hồng nga dùng nhiều phương tiện chỉ trích Quạ. Sau
khi Quạ bị khiển trách như vậy, nó bảo:
- Ta
chẳng muốn có sắc đẹp cuả Thiên nga nữa.
Và
nó bay đi xa với tiếng kêu quác quác.
*
Sau
Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc
kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo tham lam đã đắc Nhị
quả (Nhất Lai).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy, con Quạ là Tỷ-kheo tham lam này, Hồng nga mái là mẫu
thân Ràhula và Hồng nga trống chính là Ta.
-ooOoo-
435.
Chuyện Ước Mơ Chóng Phai Tàn (Tiền thân Halidaràga)
Trong
chốn rừng hoang vắng một mình...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
chàng thanh niên bị một thiếu nữ thô tục cám dỗ. Phần
duyên khởi chuyện này sẽ xuất hiện trong Chương Mười ba,
Tiền thân Cullàrada, số 477, tập IV.
*
Bấy
giờ theo cổ tích này, cô thiếu nữ biết rằng nếu chàng
thanh niên khổ hạnh phá huỷ giới đức, chàng sẽ rơi vào
uy lực của nàng. Rồi nghĩ cách dụ dỗ chàng và đưa chàng
trở lại cõi trần tục, nàng bảo:
- Giới
đức được hộ phòng cẩn mật ở rừng sâu, nơi các đặc
tính của dục lạc như sắc đẹp, tiếng hay và các thứ tương
tự như thế không có mặt, nên giới đức ấy không mang lại
nhiều kết quả; song nó sẽ mang kết quả sung mãn trong cõi
đời thế tục khi đối diện trực tiếp với sắc đẹp,
cùng các thứ kia. Vậy chàng hãy đi cùng thiếp về hộ phòng
giới đức tại đó.
Và
nàng ngâm vần kệ đầu:
1.
Trong chốn rừng hoang vắng một mình
Con
người có thể giữ tâm lành,
Dễ
dàng chịu đựng trò lôi cuốn,
Song
ở thôn quê hoặc thị thành
Ðầy
rẫy biết bao mùi cám dỗ
Người
vươn đến hạnh phúc tối cao minh.
Khi
nghe vậy, chàng khổ hạnh trẻ tuổi đáp:
- Cha
ta đã vào rừng. Khi người trở lại, ta sẽ xin phép người
và đi theo nàng.
Nàng
suy nghĩ: "Có lẽ chàng còn thân phụ. Nếu vị ấy thấy ta
ở đây, vị ấy sẽ lấy đầu mũi đòn gánh đánh chết ta.
Ta phải chạy trốn trước". Vì thế nàng bảo chàng trai:
- Thiếp
sẽ ra đi lên đường về trước chàng và để lại dấu chân
sau đó, chàng cần phải đi theo thiếp.
Khi
nàng đã đi rồi, chàng không đem củi về, cũng không lấy
nước uống, mà chỉ ngồi thừ người suy nghĩ miên man, đến
khi cha về, chàng cũng không ra đón.
Vì
thế cha chàng hiểu con ngài đã rơi vào uy lực của nữ nhân,
liền bảo:
- Này
con, sao con chẳng tìm củi hay mang nước về uống, cũng chẳng
có gì ăn, sao con chẳng làm gì cả mà chỉ ngồi người ra
suy nghĩ?
Chàng
trai khổ hạnh đáp:
- Thưa
cha, người ta nói rằng giới đức được hộ phòng trong rừng
hoang không đem lại kết quả mấy, nhưng nó sẽ phát sinh nhiều
kết quả giữa của đời. Con muốn đi hộ phòng giới đức
tại đó. Bạn đồng hành của con đã đi trước và bảo con
theo sau. Vậy con muốn đi cùng bạn con. Nhưng khi sống tại
đó, con phải cư xử theo cách nào?
Vừa
hỏi câu này, chàng vừa ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Thưa cha, xin giải toả nghi nan:
Ví
lỡ con đi lạc bước đường,
Từ
chốn rừng này vào xóm nọ,
Người
nào giữ đức độ hiền lương,
Hay
là môn phái nào tu tập
Con
phải noi theo thật chánh chơn?
Sau
đó thân phụ chàng ngâm các vần kệ còn lại:
3-4.
Một kẻ nào con tín nhiệm luôn,
Và
con tạo được mối yêu thương,
Người
này tin cậy lời con nói,
Tỏ
với con kiên nhẫn nhịn nhường,
Người
ấy chẳng bao giờ phạm lỗi
Về
lời nói, ý tưởng hay thân,
Hãy
đem người ấy vào lòng dạ
Theo
sát người kia tựa bạn vàng
5-6.
Với hạng người thay đổi lạ lùng
Như
lời loài khỉ vượn nhảy lung tung,
Tính
tình bất định, thì con nhớ
Ðừng
hướng tâm giao kết bạn cùng,
Dù
số phần con quanh quẩn mãi
Một
mình trơ trọi ở trong rừng.
7.
Hãy tránh xa đường hướng ác hành,
Như
con tránh rắn dữ cho nhanh,
Hay
như người lái xe xa lánh
Một
lối đi gai gốc gập ghềnh.
8-9.
Các nỗi khổ đau vẫn ngập tràn
Khi
người hầu cận hạng si cuồng,
Ðừng
giao kết bọn người ngu xuẩn,
Lời
nói của cha phải phục tuân,
Làm
bạn với phường vô trí ấy
Chỉ
làm mồi khổ não đau buồn.
Khi
được cha khuyến giáo như vậy, chàng trai đáp:
- Nếu
con đi đến chỗ người đời, con không thể tìm được các
bậc hiền trí như cha. Con sợ đến đó lắm rồi. Con muốn
ở lại đây hầu cận bên cha.
Sau
đó phụ thân chàng lại khuyến giáo nhiều hơn nữa và dạy
chàng các nghi thức tu tập đưa đến Thiền định vi diệu.
Rồi chẳng bao lâu, chàng trai phát triển các Thắng Trí và
các Thiền chứng và về sau chàng cùng cha đều được sinh
lên cõi Phạm thiên.
*
Sau
Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc
kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo mơ tưởng thế tục đã
đắc Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy vị khổ hạnh trẻ tuổi là Tỷ-kheo có tâm hướng về
thế tục này, cô gái thuở ấy là cô gái ngày nay và cha chàng
chính là Ta.
-ooOoo-
436.
Chuyện Cái Hộp (Tiền thân Samuggu)
Kìa
đến từ đâu, các bạn ta?...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo có tâm hướng đến thế tục.
Chuyện
kể rằng bậc Ðạo Sư hỏi có thật vị ấy đang tham đắm
thế tục chăng, và khi ông thú nhận đúng như vậy. Ngài bảo:
- Này
Tỷ-kheo, tại sao ông ham muốn nữ nhân? Nữ nhân thật là
độc ác, vô ơn. Ngày xưa các ác quỷ Asura (A-tu-la) nuốt nữ
nhân vào bụng và dù canh giữ nữ nhân trong bụng, chúng cũng
không thể làm cho nữ nhân trung thành với một nam nhân được.
Vậy thì bằng cách nào ông sẽ có khả năng làm chuyện ấy.
Rồi
sau đó Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát từ bỏ
tham dục lạc thế gian, vào vùng Tuyết Sơn theo đời tu tập,
ngài ở đó sống bằng quả rừng và phát triển các Thắng
trí cùng các Thiền chứng.
Không
xa thảo am của ngài, có một ác quỷ Asura (A-tu-la). Thỉnh
thoảng nó đến gần bậc Ðại Sĩ và nghe Pháp, nhưng vẫn
đứng trong rừng trên xa lộ, nơi có nhiều người tu tập,
nó bắt họ và ăn thịt.
Thời
ấy có một nữ nhân quý tộc ở quốc độ Kàsi, cực kỳ
diễm lệ, sống ở một làng biên địa. Một hôm nàng đi
thăm cha mẹ và khi trở về, ác quỷ này thấy bọn người
theo hộ tống nàng liền hoá hình khủng khiếp nhảy vào họ.
Bọn người này đánh rơi khí giới cầm trong tay và chạy
trốn. Ác quỷ thấy giai nhân ngồi trên xe ngựa, đâm ra say
mê nàng, liền đem nàng về làm vợ.
Từ
đó ác quỷ đem cho nàng bơ sữa, gạo, cá, thịt và các món
ăn khác, cùng trái cây để ăn và điểm trang nàng với đủ
thứ y phục châu báu. Ðể canh giữ nàng cho an toàn, nó đặt
nàng vào một cái hộp, rồi nuốt vào bụng và giữ nàng trong
bụng.
Một
hôm nó muốn tắm, liền đến hồ nước kéo hộp ra và đem
nàng ra ngoài, nó tắm rửa, xoa dầu thơm cho nàng và khi đã
mặc xiêm y cho nàng xong, nó bảo:
- Nàng
hãy vui chơi giây lát ngoài trời.
Rồi
không nghi ngờ có sự nghi hại nào, ác quỷ đi hơi xa để
tắm.
Vừa
lúc ấy chàng con trai của Vàyu, một tà thuật sư, đeo kiếm
bên lưng, đang du hành trên không. Khi nàng thấy y, nàng đưa
tay theo kiểu làm dấu hiệu cho y đến gần.
Tà
thuật sư liền đáp xuống đất. Sau đó nàng đặt y vào hộp
rồi ngồi lên đó, đợi ác quỷ Asura đến, trước khi nó
bước lại gần chiếc hộp, nàng mở hộp ra và bước vào,
nằm trên vị tà thuật sư, lấy xiêm áo của nàng phủ lên
người y. Ác quỷ Asura đến nơi, không quan sát kỹ chiếc
hộp cứ tưởng chỉ có cô nàng, nên lại nuốt hộp vào bụng
và trở về hang.
Trong
khi đi đường, nó suy nghĩ: "Ðã lâu lắm từ khi ta thăm vị
ẩn sĩ khổ hạnh. Hôm nay ta muốn đi đảnh lễ ngài". Còn
ngài đã thấy nó từ đằng xa, biết rằng có hai người trong
bụng ác quỷ, nên ngài ngâm vần kệ đầu bảo nó:
1.
Kìa đến từ đâu, các bạn ta?
Chào
mừng ba vị đến thăm nhà,
Vui
lòng ở với ta giây lát,
Ta
chắc các ngươi sống thuận hoà,
Hạnh
phúc, vì lâu ngày chẳng thấy
Vị
nào qua lại chốn đường xa.
Khi
nghe vầy, ác quỷ Asura suy nghĩ: "Ta đã đến đây một mình
để thăm vị khổ hạnh này, và ngài lại nói có ba người;
ý ngài muốn ám chỉ gì vậy? Ngài nói vì biết rõ hiện trạng
mọi việc, hay ngài hoá điên và nói nhảm nhí?" Sau đó nó
đến gần ngài kính cẩn ngồi một bên và ngâm vần kệ thứ
hai đàm đạo với ngài:
2.
Tôi đến thăm ngài chỉ một thân
Chứ
không người, vật khác đi cùng,
Cớ
sao ngài nói, thưa Tôn giả,
"Kìa
đến từ đâu, các bạn vàng,
Tất
cả ba người cùng đủ mặt
Hôm
nay quả thật đáng chào mừng!"
Vị
khổ hạnh này đáp:
- Ngươi
có thật sự muốn nghe lý do chăng?
- Thưa
vâng, bạch Thánh giả.
- Vậy
hãy nghe đây.
Ngài
đáp và ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Hãy biết rằng ngươi với vợ ngươi,
Nằm
yên trong hộp ấy là hai
Ðược
canh phòng kỹ trong lòng kín,
Chơi
với Và-yu Tứ thật vui!
Khi
nghe vầy, ác quỷ Asura suy nghĩ: "Các tà thuật sư chắc chắn
phải đầy các trò xảo quyệt, giả sử hắn cầm kiếm trong
tay và rạch bụng ta ra để trốn thoát thì sao?"
Và
vô cùng hốt hoảng, ác quỷ nhả chiếc hộp ra, đặt trước
mặt nó.
Bậc
Ðạo Sư muốn làm sáng tỏ vấn đề với Trí tuệ tối thắng
của ngài, liền ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Ác quỷ vì gươm, thấy hãi kinh,
Nhả
ra chiếc hộp tự trong mình,
Ðặt
ngay xuống đất nhìn cô vợ
Trang
điểm vòng hoa thật đẹp xinh
Như
thế cô dâu cùng chú rể
Và-
yu Tử nọ hưởng men tình!
Chiếc
hộp vừa được mở ra thì vị tà thuật sư niệm thần chú,
vừa chụp thanh kiếm vừa vụt lên không. Khi thấy vậy, ác
quỷ Asura hài lòng vì bậc Ðại Sĩ đến độ nó ngâm các
vần kệ được gợi cảm hứng cốt để ca tụng ngài:
5.
Thánh giả nhãn quang thấy rõ ràng
Ðắm
chìm hạ liệt bọn nam nhân,
Làm
thân nô lệ cho nhi nữ,
Tôi
giữ nó vào trong bụng luôn
Như
chính đời tôi song khốn nạn,
Nó
chơi trò mất nết hư thân.
6.
Ngày đêm săn sóc nó, canh chừng
Như
ẩn sĩ chăm chút lửa rừng,
Song
nó vẫn sa vào tội lỗi
Vượt
ngoài vòng đạo lý công bằng.
Dính
vào nữ giới tất nhiên phải
Gánh
chịu bao ô nhục cuối cùng.
7.
Tưởng dấu trong mình, chẳng thấy ai,
Nó
là sở hữu của riêng tôi,
Song
tên nó chính là "dâm phụ",
Nó
phạm tội kia trái đạo trời.
Liên
luỵ nữ nhân ắt phải chịu
Nhận
bao ô nhục đến tàn đời.
8.
Bọn nam nhi thật chỉ hoài công
Ðịch
với ngàn mưu chước nữ nhân.
Tin
tưởng hộ phòng là chắc chắn
Cứ
như vực thẳm cứ xuôi dần
Xuống
miền địa ngục bao chàng ngốc
Nó
đã lôi vào chỗ liệt vong.
9.
Người tránh lối đường của nữ nhi
Sống
đầy hạnh phúc thoát sầu bi,
Thấy
niềm cực lạc trong cô tịch,
Xa
lánh hồng nhan phản bội kia!
Cùng
với những lời này, ác quỷ quì xuống chân bậc Ðại Sĩ,
vừa tán thán ngài, vừa nói:
- Bạch
Thánh giả, con đã được ngài cứu mạng. Vì nữ nhân độc
ác kia, con suýt bị tà thuật sư giết chết.
Sau
đó Bồ Tát thuyết Pháp cho nó và bảo:
- Ðừng
làm hại nàng ấy. Hãy giữ giới hạnh.
Rồi
ngài an trú nó vào Ngũ giới.
Ác
quỷ nói:
- Dù
con đã giữ nó trong bụng, con vẫn không thể giữ nó an toàn
được. Vậy còn ai giữ được nó nữa?
Vì
thế nó thả cho nàng đi, rồi trở về hang cũ trong rừng.
*
Sau
Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc
kết thúc các Sự Thật, vị Tỳ kheo có tâm thế tục đã
đắc Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy vị khổ hạnh có thần thông chính là Ta.
-ooOoo-
437.
Chuyện Chó Rừng Pùtimunsa (Tiền thân Pùtimunsa)
Sao
Pù -ti lại ngó trừng trừng...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc ngụ tại Kỳ Viên về việc
chế ngự dục tham.
Có
một thời nhiều tỳ kheo không hộ phòng các căn môn. Bậc
đạo sư báo trưởng lão Ànanda:
- Ta
phải giáo huấn các tỳ kheo này.
Và
do tăng chúng thiếu sự điều phục thân tâm, Ngài triệu tập
các tỳ kheo lại rồi ngồi trên bảo toạ được trang hoàng
lộng lẫy, Ngài bảo các vị:
- Này
các tỳ kheo, thật không chính đáng khi một tỳ kheo chịu
sự chi phối của sắc đẹp cá nhân (tịnh tướng) khiến
vị ấy sinh lòng luyến ái các đặc điểm thể chất hoặc
tinh thần của con người, vì giả sử vị ấy chết ngay lúc
ấy, vị ấy sẽ bị tái sinh vào địa ngục, ác thú, đoạ
sứ; vậy các ông đừng sinh tâm luyến ái các đặc điểm
thể chất cùng các thứ tương tự như thế. Một tỳ kheo
nên để tâm đến các đặc điểm tinh thần hay thể chất.
Những ai làm như vậy ngay trong cảnh đời hiện tại này đều
bị hoàn toàn huỷ hoại. Vì thế, này các tỳ kheo, con mắt
tham dục cần phải được tiếp xúc với cái đinh sắt nóng
đỏ mới có ích lợi.
Ðến
đây Ngài nói thêm chi tiết:
- Có
lúc các ông cần quán sát tịnh tướng, và có lúc các ông
đừng quan tâm đến nó. Vào lúc quán sát tịnh tướng, đừng
quán sát nó dưới ảnh hưởng của vật khả ái, nhưng hãy
quán sát nó dưới ảnh hưởng của vật bất khả ái. Như
vậy các ông sẽ không bị đoạ lạc khỏi trú xứ chân chánh
của mình. Và trú xứ này của các ông là gì? Ðó chính là
Bốn Thiền quán chân chánh, Thánh đạo Tám ngành và Chín trú
xứ siêu việt. Nếu các ông đi đúng trong lĩnh vực chân chánh
này của mình, Ác Ma sẽ không tìm được lối vào; song nếu
các ông bị tham dục chi phối và quán sát sự vật dưới
ảnh hưởng của tịnh tướng cá nhân như con chó rừng Pùtimansa,
thì các ông sẽ bị đoạ lác khỏi trú xứ chân chánh của
mình.
Và
cùng với các lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa dưới triều đại Brahmadatta, quốc vương ở Ba-la-nại,
hàng trăm dê rừng trú trong một hang núi tại vùng rừng rậm
trên sườn dãy Tuyết Sơn.
Không
xa chỗ ở của chúng, có con chó rừng tên là Pùtimansa sống
trong hang với vợ nó là Venì.
Một
hôm nó quanh quẩn cùng vợ, rình rập bầy dê và suy nghĩ:
"Ta phải tìm cách ăn thịt mấy con dê này". Rồi nhờ mưu
mẹo nó giết được một con dê. Cả hai vợ chồng nó nhờ
ăn thịt dê trở thành lực lưỡng đẫy đà. Dần dần số
dê giảm xuống.
Trong
số đó có con dê cái khôn ngoan tên là Melamàtà. Dù nhiều
mưu kế tài giỏi, chó rừng cũng không thể giết dê được,
nên lúc bàn luận với vợ, nó bảo:
- Nàng
ơi tất cả bầy dê đã chết hết. Chúng ta phải bày mưu
ăn thịt dê cái này, giờ đây là kế hoạch của ta. Nàng
phải đi một mình, làm thân với dê cái, rồi khi niềm tin
tưởng đã phát sinh giữa nàng và nó, ta sẽ nằm xuống giả
vờ chết. Sau đó, nàng đến gần dê cái, bảo: "Bạn ơi,
chồng tôi đã chết, tôi đang khốn khổ, trừ bạn tôi không
có ai cả. Vậy hãy đến đây cùng tôi than khóc và chôn xác
chồng tôi". Và cùng với những lời này, nàng hãy đến đưa
dê lại đây với nàng. Sau đó ta sẽ nhảy lên cắn cổ nó
giết đi.
Chó
cái sẵn sàng đồng ý. Sau cuộc kết giao bằng hữu với dê
cái, khi lòng tin tưởng đã vững chắc, nó nói với dê cái
những lời do chồng nó đưa ra. Dê cái đáp:
- Bạn
ơi, cả họ hàng nhà tôi bị chồng nàng ăn thịt. Tôi sợ
lắm. Tôi không dám đi.
- Ðừng
sợ gì cả, chó chết rồi làm sao hại bạn được nữa?
- Chồng
chị có ác ý lắm nên tôi sợ.
Nhưng
sau khi bị nài nỉ van xin mãi, dê cái suy nghĩ: "Chắc có lẽ
nó chết thật rồi", nên đồng ý đi với chó cái. Nhưng trên
đường đi nó suy nghĩ: "Ai biết chuyện gì sẽ xảy ra?", nên
sinh lòng nghi ngờ, nó bảo chó cái đi trước và đề phòng
chó đực rất tinh tế.
Chó
đực nghe tiếng chân của chúng liền suy nghĩ: "Con dê đến
rồi", nên ngẩng đầu lên và đảo mắt nhìn quanh. Dê cái
thấy nó làm vậy liền nói: "Con chó khốn nạn độc ác này
muốn dụ ta vào để giết ta, nó nằm kia giả vờ chết".
Dê cái quay đi và chạy trốn.
Khi
chó cái hỏi tại sao nó chạy trốn, dê cái ngâm vần kệ
đầu nêu lý do:
1.
Sao Pù-ti lại ngó trừng trừng
Vẻ
chó nhìn dê thật ghét căm,
Với
bạn thế, ta cần thận trọng,
Và
nên chạy trốn thật nhanh chân.
Cùng
với các lời này, dê quay đi và chạy thẳng về chỗ ở của
nó. Chó cái không thể ngăn dê được, rất tức giận con
dê và trở về bên chồng, ngồi than khóc. Lúc ấy chó rừng
trách mắng vợ qua vần kệ thứ hai:
2.
Ve-ni, vợ dại, kém thông minh
Lại
khoe đã kết bạn thân tình,
Bơ
vơ trong bụi, ngồi than khóc,
Vì
bị Mê-la phỉnh gạt mình.
Nghe
vậy, chó cái ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Chàng cũng chẳng khôn khéo tý nào!
Ngu
si, chàng đã ngẩng đầu cao,
Trừng
trừng, chàng mở to hai mắt,
Dù
giả vờ nằm chết đó sao?
4.
Người nào khôn khéo đúng thời cơ
Biết
nhắm mắt và mở mắt to,
Ai
mở mắt nhìn không đúng lúc
Như
Pù-ti nọ, phải buồn lo!
Ðây
là vần kệ xuất phát từ Trí Tuệ Tối thắng của đức
Phật.
Nhưng
chó cái lại an ủi Pùtimansa và bảo:
- Chàng
ơi, đừng bực mình nữa, thiếp sẽ tìm cách mang dê lại
đây, và khi nó đến chàng hãy canh chừng và chụp lấy nó.
Sau
đó nó đi tìm dê cái và bảo:
- Bạn
ơi, bạn đến thăm thật ích lợi cho chúng tôi, vì ngay khi
bạn vừa xuất hiện, chồng tôi đã hồi tỉnh và nay đã
sống lại rồi, xin hãy đến nơi nói chuyện thân tình với
chàng.
Nói
xong nó ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Tình bạn, trước đây hãy phục hồi,
Xin
đem bát cháo đến nhà tôi,
Chồng
tôi tưởng chết nay hồi tỉnh,
Hãy
viếng chàng, thăm hỏi thật vui.
Dê
suy nghĩ: "Con chó cái khốn nạn độc ác này lại muốn dụ
dỗ ta. Ta không nên hành động như một kẻ thù lộ diện
mà ta sẽ tìm cách đánh lừa nó". Dê liền ngâm vần kệ thứ
sáu:
6.
Tình bạn cũ, nay muốn phục hồi
Ta
đem bát cháo, dạ mừng vui
Với
đoàn hộ tống ta đi đến
Ăn
tiệc tưng bừng, nhanh bước thôi.
Sau
đó chó cái hỏi thăm đoàn hộ tống của dê và ngâm vần
kệ thứ bảy:
7.
Những ai hộ tống bạn bên mình
Ðể
đãi bạn, tôi phải nhiệt tình,
Danh
tánh những ai thăm hỏi đó,
Xin
cho tôi biết thật chân thành.
Dê
ngâm kệ thứ tám đáp lời:
8.
Chó săn nâu xám, bốn mắt lồi,
Hình
quỷ Jam-buk, hộ tống tôi,
Thôi
hãy về nhà, mau sửa soạn
Dồi
dào yến tiệc để chào mời.
Nó
còn nói thêm:
- Mỗi
chó hình quỷ này được năm trăm chó khác hộ tống, do vậy
ta sẽ có một đoàn tuỳ tùng cả hai ngàn con chó canh giữ.
Nếu chúng không thấy thức ăn, chúng sẽ giết luôn bạn và
chồng bạn để ăn thịt đấy.
Nghe
vậy chó cái kinh sợ đến độ suy nghĩ: "Ta đã chán ngán
việc nó đến thăm nhà ta rồi. Ta sẽ tìm cách ngăn nó đến".
Rồi chó cái ngâm kệ:
9.
Ðừng rời nhà bạn, kẻo ta e
Ðồ
đạc sẽ nhanh chóng mất đi.
Ta
sẽ đem lời dê nhắn gửi,
Ðứng
yên! Ðừng nói nữa, ta về!
Cùng
với những lời này, chó cái ra sức chạy vội vàng để tự
cứu mạng và đem luôn cả chồng nó chạy theo. Rồi từ đó
chúng không bao giờ dám trở lại chỗ ấy nữa.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy Ta là vị Thần sống tại rừng ấy trên một cây cổ
thụ.
-ooOoo-
438.
Chuyện Con Gà Gô (Tiền thân Tittira)
Nó
đã ăn tươi bọn trẻ thơ ...,
Bậc
đạo sư kể chuyện này trong lúc trú ngụ tại núi Linh Thứu,
về dự định của Devadatta mưu sát Ngài.
Chính
vào thời ấy Tăng chúng bắt đầu thảo luận tại Chánh pháp
đường:
- Này
các Hiền giả, than ôi! Devadatta thật là hạ liệt và vô liêm
sỉ biết bao! Vị ấy kết hợp với Thái tử Ajàtasattu lập
mưu sát hại đức Phật Chánh Ðẳng Giác bằng cách mua chuộc
bọn xạ thủ, lăn đá xuống đồi, và thả lỏng con voi Nalàgiri.
Bậc
Ðạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang bàn luận việc gì
lúc hội họp, và khi nghe kể đề tài câu chuyện, Ngài bảo:
- Không
phải chỉ bây giờ, mà xưa kia nữa, Devadatta cũng mưu giết
ta, song cũng không thể làm gì cho ta kinh hãi được.
Rồi
Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, một giáo sư danh
tiếng lừng lẫy thế giới tại Ba-la-nại dạy các học thuật
cho năm thanh niên Bà-la-môn.
Một
hôm vị ấy suy nghĩ: "Bao lâu ta còn ở đây, ta sẽ gặp trở
ngại cho đời tu hành và các đồ đệ ta cũng không hoàn thành
việc học của họ. Ta muốn về ẩn dật trong thảo am trên
sườn núi Tuyết Sơn và dạy học ở đó."
Vị
ấy báo tin cho các đồ đệ, bảo họ đem mè, gạo xay, dầu,
y phục đại loại như thế, rồi đi vào rừng dựng thảo
am ở cạnh xa lộ. Mỗi vị đệ tử đến tự xây một thảo
am cho mình. Thân quyến họ gửi gạo và các thứ kia, còn dân
làng bảo nhau: "Người ta đồn một vị danh sư đang sống
nơi kia trong rừng và thuyết giảng kiến thức học thuật",
liền đem quà lúa gạo đến tặng, các người kiểm lâm cũng
tặng quà, lại có một người tặng bò cái và bê con để
chư vị lấy sữa.
Bấy
giờ, có một con tắc kè cùng hai con nó đến ở trong lều
vị giáo sĩ, và một con Sư tử cùng một con cọp hầu hạ
vị ấy. Một con gà gô cũng thường xuyên ở tại đó và
do nghe giáo sư dạy thánh kinh cho đệ tử, con Gà dần dần
hiểu ba tập Vệ-đà. Các Bà-la-môn trở nên thân thiện với
Gà gô. Về sau, trước khi các thanh niên này đạt tinh thông
các học thuật, thì vị giáo sư mất. Các đệ tử đem thi
hài thầy hỏa thiêu, dựng một mô cát lên chỗ để tro, vừa
than khóc vừa trang hoàng nơi ấy đầy đủ các loại hoa. Thấy
vậy Gà gô hỏi tại sao họ khóc. Họ đáp:
- Thầy
chúng ta đã mất trong khi việc học của chúng ta chưa hoàn
mãn.
- Nếu
chuyện là thế thì các vị đừng lo buồn nữa. Tôi sẽ dạy
các vị kiến thức ấy.
- Làm
sao Gà biết được?
- Tôi
thường nghe giáo sư của các vị trong lúc giảng dạy các
vị, nên đã học thuộc lòng ba tập Vệ-đà rồi.
- Thế
Gà hãy truyền cho chúng tôi những gì Gà đã học thuộc lòng
nhé.
Gà
đáp:
- Nào
lắng nghe đây.
Rồi
Gà thuyết giảng mọi điểm khúc mắc cho họ, dễ dàng như
người đưa nước suối từ núi cao xuống. Các thanh niên Bà-la-môn
vô cùng hân hoan và thu thập kiến thức từ con Gà gô thông
thái này. Con Gà gô đậu trên chỗ giáo sư danh tiếng ấy
thường ngồi, và thuyết giảng về tri kiến Vệ-đà. Các
thanh niên làm cho Gà đủ mật ong, hạt ngũ cốc rang trong chiếc
đĩa vàng, lại còn tặng đủ thứ hoa có màu sắc rực rỡ
và tỏ vẻ vô cùng tôn kính Gà gô.
Tiếng
đồn vang dậy khắp Diêm-phù-dề (Ấn Ðộ) rằng một con
Gà gô rừng đang dạy Thánh kinh cho năm trăm thanh niên Bà-la-môn.
Vào lúc ấy, dân chúng mở lễ hội lớn, tụ tập cùng nhau
trên đỉnh núi. Cha mẹ các thanh niên này gửi lời nhắn các
con đến xem lễ hội. Họ liền kể chuyện con Gà gô, rồi
ủy thác Gà gô cùng thảo am của họ cho Tắc kè chăm nom,
và họ ra đi đến nhiều kinh thành.
Lúc
ấy một vị khổ hạnh lõa thể độc ác du hành đây đó
bước tới chốn này. Khi thấy vị ấy, con Tắc kè đến nói
chuyện thân thiện và bảo:
- Ở
chỗ này chỗ kia, ngài sẽ thấy gạo, dầu và các món khác.
Hãy nấu cơm và ăn uống no nê!
Nói
xong nó ra đi kiếm mồi.
Sáng
sớm kẻ ác kia nấu cơm và giết luôn hai tắc kè con ăn thịt
làm một món ngon lành. Ðến trưa, y giết và ăn thịt luôn
con gà gô thông thái, và con bê, đến chiều tối, y vừa thấy
con bò về nhà liền giết nó luôn để ăn thịt. Rồi y nằm
ngủ ngáy vang dưới gốc cây. Xế chiều tắc kè trở về
thấy vắng hai con liền đi quanh tìm chúng. Một vị thần cây
quan sát Tắc kè đang run rẩy toàn thân vì không tìm được
các con thơ, liền dùng thần lực đứng trong bộng cây và
nói:
- Này
Tắc kè, đừng run nữa, các con nhỏ ấy cùng Gà gô, bê con
và bò cái đều bị kẻ độc ác này ăn thịt rồi. Hãy cắn
vào cổ cho nó chết đi.
Vị
thần vừa nói chuyện như vậy với Tắc kè, vừa ngâm vần
kệ đầu:
1.
Nó đã ăn tươi bọn trẻ thơ
Dù
con cho nó thật nhiều quà
Răng
con hãy cắn sâu vào cổ
Ðứng
để ác nhân trốn thoát ra
Sau
đó Tắc kè ngâm hai vần kệ:
2.
Thâm tâm của nó tạo bùn nhơ
Chẳng
khác áo người giữ trẻ thơ
Tôi
e toàn thể thân mình nó
Chống
đỡ răng tôi mạnh lắm mà!
3.
Lỗi lầm kẻ hạ liệt vong ân
Ðều
thấy khắp nơi rõ ràng,
Tâm
nó chẳng bao giờ thỏa mãn
Với
bao tặng vật của trần gian
Tắc
kè nói xong, suy nghĩ: "Kẻ này sẽ thức dậy và ăn thịt ta".
Nó liền trốn đi để cứu mạng mình.
Bấy
giờ Sư tử và Cọp rất thân thiết với Gà gô, và đôi khi
Gà gô cũng bay đi thuyết Pháp cho nó. Hôm ấy, Sư tử bảo
Cọp:
- Chúng
ta đi thăm Gà gô đã lâu rồi, chắc cũng đã bảy tám ngày.
Vậy bạn hãy đi đen tin tức của Gà về đây.
Con
Cọp thỏa thuận và đi đến nơi đúng lúc con Tắc kè đã
chạy trốn, nó thấy kẻ gian ác ấy đang ngủ. Trên các bện
tóc của y thấy có vài cái lông gà, và gần đó lại có đống
xương bò cái và bê con. Cọp chúa trông thấy cảnh ấy, lại
thiếu Gà gô trong lồng vàng, liền suy nghĩ: "Các con vật này
chắc đã bị kẻ ác nhân này giết hết rồi". Nó đá mạnh
thức y dậy. Khi thấy Cọp, y vô cùng sợ hãi. Rồi con Cọp
hỏi:
- Có
phải ngươi giết và ăn thịt các con vật này chăng?
- Tôi
chẳng giết cũng chẳng ăn thịt chúng.
- Kẻ
khốn nạn ác độc kia, nếu anh không giết chúng thì hãy nói
cho ta biết ai khác giết? Nếu anh không nói, anh phải chết
đấy.
Sợ
nguy đến tính mạng, y đáp:
- Vâng
thưa ngài, tôi đã giết và ăn thịt các con tắc kè con, bò
cái và bê con, song tôi không giết con Gà gô.
Mặc
dù y cứ phản đối mãi. Cọp cũng không tin y và bảo:
- Anh
từ đâu đến đây?
- Tâu
ngài, trước đây tôi bán hàng rong để kiếm sống ở xứ
Kàlinga và sau khi thử bán vài món xong thì tôi đến đây.
Nhưng
sau khi người ấy đã kể hết mọi việc y làm, con Cọp bảo:
- Này
ác nhân kia, nếu anh không giết Gà gô, thì còn ai khác làm
việc đó? Này, ta sẽ mang anh đến trước Sư tử, chúa sơn
lâm đấy.
Thế
là Cọp ra đi dẫn theo kẻ ấy trước mặt. Khi Sử tử thấy
Cọp mang y đến, nó liền ngâm vần kệ thứ tư để đặt
câu hỏi:
4.
Ði đâu vội vã thế Su-bà,
Sao
kéo chàng trai trẻ thế ư?
Có
việc gì cần, đây muốn biết,
Nói
mau thành thật chớ chần chừ?
Nghe
vậy Cọp ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Bạn quý Gà gô của chúng ta
Hôm
nay, tôi đoán, hóa thành ma
Chuyện
xưa kẻ ấy làm tôi sợ
Nghe
được hung tin của bạn Gà.
Sau
đó Sư tử ngâm vần kệ thứ sáu:
6.
Chuyện xưa của kẻ ấy ra sao,
Tội
lỗi gì y thú nhận mau
Ðã
khiến Cọp nghi ngờ đại họa
Xảy
ra cho bạn quý ta nào?
Ðể
trả lời Sư tử, Cọp chúa ngâm các vần kệ còn lại
7.
Trong nước Kà-ling nó bán rong
Ði
đường lởm chởm, gậy tay cầm,
Ở
cùng bọn đánh đu nhào lộn,
Ðánh
bẫy bao súc vật buộc chùm,
Nó
cũng thường chơi trò súc sắc,
Lưới
giăng bắt sống lũ chim muông,
Ðánh
nhau từng đám dùng đao trượng,
Nó
kiếm lời nhờ việc đếm đong.
8.
Phản bội lời thề, đánh nữa khuya,
Bị
thương, nó chảy máu dầm dề;
Bàn
tay nó cháy vì gan góc,
Chụp
lấy thức ăn nóng vụng về
Nghe
nó sống đời tồi tệ vậy,
Ðó
là tội ác chất đầu kia.
9.
Vì ta đều biết con bò chết,
Giữa
tóc người kia mấy sợi lông
Xuất
hiện, nên tôi đầy khủng khiếp
Lo
Gà gô bạn ắt vong thân.
Sư
tử chúa hỏi người kia:
- Thế
anh đã giết Gà gô thông thái rồi ư?
- Tâu
chúa công, vâng, tôi đã giết.
Chúa
Sư tử nghe y nói thật, nên muốn thả cho y ra đi, nhưng Cọp
chúa bảo:
- Tên
gian ác này đáng chết.
Và
ngay tại chỗ, Cọp dùng răng xé y tan xác. Rồi Cọp đào hố
quẳng thây vào đó.
Khi
các thanh niên Bà-la-môn trở về, không thấy Gà gô, họ than
khóc và bỏ nơi ấy ra đi.
*
Sau
Pháp thoại, bậc Ðạo Sư bảo:
- Như
vậy, này các Tỷ-kheo, ngày xưa Devadatta cũng đã lập mưu
giết Ta.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy vị khổ hạnh là Devadatta, con Tắc kè là Kisàgotamì, con
Cọp là Moggallàna, Sư tử là Sàriputta, vị giáo sư lừng danh
thế giới là Kassapa và Gà gô thông thái chính là Ta.