CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
Chương
IX
Phẩm
Chín Bài Kệ
427.
Chuyện Chim Thứu (Tiền thân Gijjha)
Ðược
làm bằng đám gỗ chênh vênh...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo bất tuân Giới luật.
Chuyện
kể rằng vị ấy là thiện gia nam tử, và được truyền giới
vào Giáo pháp đưa đến giải thoát được các vị Pháp sư,
giáo sư đầy thiện chí cùng các đồng Phạm hạnh giáo giới
như vầy:
- Hiền
giả phải đi tới hay đi lui như vầy, phải nhìn thẳng hay
nhìn nghiêng như vầy, cánh tay phải duỗi ra hay co lại như
vầy, các y trong và y ngoài phải được mang như vầy, bình
bát phải được cầm như vầy. Khi Hiền giả nhận đủ các
thứ ăn để nuôi thân, sau khi tự quán sát, Hiền giả phải
thọ dụng nó như vầy, hộ phòng các căn như vầy.
Hiền
giả phải tiết độ trong ăn uống và tỉnh giác. Hiền giả
phải nhận thấy các bổn phận như vầy đối với chư Tăng
đến và đi khỏi tinh xá. Ðầy là mười bốn qui tắc về
phận sự của Tỷ-kheo và tám mươi trọng giới phải hoàn
thành đúng đắn, và đây là mười ba pháp thực hành Dhuta
về nếp sống cẩn trọng. Tất cả các giới điều này phải
được hoàn thành một cách nghiêm túc.
Tuy
thế, vị ấy bất tuân Giới luật và thiếu kham nhẫn, không
chịu thọ giáo một cách kính cẩn, và không tuân lời thầy,
lại bảo:
- Tôi
không chỉ trích các vị. Tại sao các vị nói với tôi như
vậy? Tôi biết điều gì ích lợi cho tôi và điều gì không
có lợi.
Tăng
chúng nghe được sự bất tuân Giới luật của ông liền kể
lại các lỗi lầm của ông trong lúc các vị ngồi tại Chánh
pháp đường.
Bậc
Ðạo Sư bước vào, hỏi các vị đang bàn luận đề tài gì
và truyền gọi Tỷ-kheo ấy đến hỏi:
- Này
Tỷ-kheo, tại sao khi đã được truyền giới vào Giáo pháp
đưa đến giải thoát, ông lại không nghe lời dạy của các
vị giáo thọ có thiện ý kia? Ngày xưa ông cũng đã bất tuân
lời dạy của các trí giả và gặp cuồng phong Verambha thổi
thành tro bụi.
Sau
đó Ngài kể lại chuyện đời xưa.
*
Một
thuở nọ Bồ-tát được sinh làm chim Thứu (kên kên) trên
núi Linh thứu. Bấy giờ con của ngài là Supatta, vua kên kên,
cường tráng, đầy dũng lực và có đám tuỳ tùng nhiều ngàn
kên kên. Thứu vương phụng dưỡng song thân. Do có sức mạnh,
Thứu vương thường bay rất xa. Chim thứu cha vẫn thường
khuyên nhủ:
- Này
con thân, con đừng bay xa quá những điểm này.
Thứu
vương đáp:
- Ðược
lắm, thưa cha.
Nhưng
một hôm trời mưa, Thứu vương bay cùng các kên kên khác,
rồi rời đàn phía sau, một mình vượt giới hạn đã được
khuyên bảo, nên thứu vương bay vào cuồng phong Veramba và bị
thổi tan thành tro bụi.
Với
Tối Thắng Trí, Đức Phật ngâm các vần kệ này minh hoạ
các sự kiện trên:
1.
Ðược làm bằng đám gỗ chênh vênh,
Một
lối đi xưa cũ dẫn lên
Những
đỉnh núi non cao chót vót,
Thứu
con nuôi dưỡng các thân sinh.
2.
Ðôi cánh hùng cường đầy dũng lực,
Thứu
đem mỡ rắn tặng song thân,
Khi
cha nhìn Thứu bay cao quá,
Liều
lĩnh du hành, vẫy dạy răn:
3.
"Khi con quan sát, hỡi con thân,
Quả
địa cầu tròn với đại dương
Bao
bọc chung quanh, đừng tiến nữa,
Trở
về ngay nhé, khẩn cầu con!"
4 -
5. Thứu vương thường cất cánh lên mau,
Bay
lượn vòng quanh cõi địa cầu
Với
nhãn quan tinh tường thấu suốt,
Thứu
con thấy rõ các rừng sâu,
Núi
non phía dưới cao vời vợi,
Quả
đất giống cha tả biết bao:
6-
7. Một quả cầu tròn giữa đại dương,
Nhưng
khi vượt quá giới hạn thông thường,
Dẫu
là chim thứu đầy oai lực,
Một
trận đại phong thật nộ cuồng
Ðã
thổi Thứu tan tành bỏ mạng,
Bất
tài không địch nổi cuồng phong.
8 -9.
Như vậy Thứu con bởi bất tuân
Tử
vong bỏ mặc cả song thân.
Kẻ
nào khinh bỉ kẻ già cả
Chế
nhạo lời khuyên của trí nhân,
Cũng
chết như chim khinh bậc trí,
Xem
thường giới hạn bởi kiêu căng.
- Vì
vậy, này Tỷ-kheo, đừng giống như chim Thứu này, mà phải
tuân theo lời dạy của những người đầy thiện ý.
Khi
được bậc Ðạo Sư giáo huấn như trên, từ đó về sau vị
ấy biết vâng lời thầy.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Chim
kên kên bất tuân lệnh ngày xưa là vị Tỷ-kheo không vâng
lời ngày nay. Và chim cha chính là Ta.
-ooOoo-
428.
Chuyện Giáo Hội Ở Kosambi (Tiền thân Kosambi)
Khi
giáo hội bị chia hai, ly tán...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Lâm Viên Ghosita
(Cù-sư-la) gần Kosambi (Kiều-thưởng-di) về một đám người
tranh chấp nhau ở Kosambi.
Sự
kiện dẫn đến chuyện này có thể tìm được trong phần
Luật tạng liên hệ đến Kosambi. Sau đây là tóm tắt câu
chuyện. Tương truyền thời ấy có hai Tỳ- kheo sống cùng
một tịnh xá, một vị thông hiểu Giới luật và vị kia thông
hiểu Kinh điển. Một hôm, vị thứ hai có dịp đến chỗ
rửa mặt xong, đi ra và bỏ sót một ít nước thừa để súc
miệng trong cái ghè. Sau đó vị thông Giới luật đi vào và
thấy nước, liền đi ra hỏi bạn xem có phải vị ấy đã
để nước lại đó chăng. Ông đáp:
- Thưa
Hiền giả, vâng.
- Sao,
thế Hiền giả không biết đó là lỗi lầm ư?
- Không,
tôi không biết.
- Này
hiền giả, đó là lỗi lầm.
- Thế
thì tôi sẽ sám hối việc ấy.
- Song
nếu Hiền giả không có ý làm việc ấy thì đó không phải
lỗi lầm.
Như
vậy vị ấy là người không thấy lỗi lầm trong một việc
có lỗi lầm. Vị tinh thông Giới luật bảo các đệ tử mình:
- Vị
tinh thông Kinh điển này, dù đã phạm lỗi lầm, lại không
biết việc ấy.
Khi
gặp các đệ tử của vị Tỷ-kheo kia, họ bảo:
- Thầy
của các vị dù phạm lỗi lầm, lại không nhận ra lỗi lầm.
Ðám
này đi về thưa lại với thầy. Vị ấy bảo:
- Vị
thông Giới luật này trước kia bảo đó không phải lỗi lầm,
nay lại bảo đó là lỗi lầm. Vị này là kẻ nói dối.
Ðám
đệ tử này đi nói với đám kia:
- Thầy
của các vị là kẻ nói dối.
Do
đó hai nhóm gây sự tranh cãi lẫn nhau. Về sau vị thông hiểu
Giới luật, tìm được cơ hội đưa ra một hình thức tẩn
xuất vị Tỷ-kheo đã không chịu nhận thấy sự vi phạm Giới
luật của mình.
Từ
đó về sau, các cư sĩ cung cấp bốn vật dụng cần thiết
cho Tăng chúng cũng chia ra hai phe. Các Tỷ-kheo -ni nhận sự
giáo huấn của các Tỷ-kheo, các vị Thần hộ pháp, cùng các
thân hữu quyến thuộc của họ, cùng chư Thiên lên đến tận
cõi Phạm thiên, thậm chí cả đám người ngoại đạo, cũng
họp thành hai phái và tiếng huyên náo vang lên đến toàn cõi
Phạm thiên.
Sau
đó một Tỷ-kheo đến gần đức Như Lai, và thông báo quan
điểm của phe tấn xuất là: "người kia bị tẩn xuất theo
đúng Chánh pháp". Và quan điểm của những kẻ theo phe người
bị tẩn xuất là; "người ấy bị tẩn xuất một cách phi
pháp", cùng sự kiện một số người, dù bị phe tẩn xuất
cấm đoán, vẫn tụ họp lại để ủng hộ vị ấy.
Ðức
Thế Tổn bảo:
- Có
sự chia rẽ, quả thật, có sự chia rẽ trong giáo hội.
Ngài
đến gặp hai phe, nêu rõ sự tai hại trong vấn đề tẩn xuất
đối với những người tẩn xuất, cùng sự nguy hại theo
sau sự che dấu lỗi lầm đối với phe kia, rồi Ngài ra đi.
Lần
khác, khi Hội chúng thực hành lễ Bồ-tát cùng các Tăng sự
khác trong cùng một nơi, trong một khu vực, và lại tranh cãi
ở trai đường cùng nhiều nơi khác, Ngài liền đưa ra điều
luật rằng họ phải ngồi lại với nhau thảo luận lần lượt
từng người một từ mỗi phe.
Khi
nghe họ vẫn tranh cãi trong tinh xá, Ngài đến bảo:
- Thôi
đủ rồi, này các Tỷ-kheo, chúng ta không được tranh cãi.
Một
vị trong phe phi chính thống không muốn phiền nhiễu đức
Thế Tôn, liền thưa:
- Xin
đức Thế Tôn hãy tinh xá. Mong đức Thế Tôn được an tịnh
độc cư, thọ hưởng cực lạc đã chứng đắc ngay tại đời
này. Chúng con sẽ tự làm cho chính bản thân ô danh vì cuộc
khẩu tranh, luận tranh, đấu tranh, giao tranh này.
Nhưng
bậc Ðạo Sư bảo họ:
- Này
các Tỷ-kheo, ngày xưa, vua Brahmadatta, quốc vương ở Kàsi,
trị vì tại Ba-la-nại, đã chiếm đoạt vương quốc của
vua Dighati ở Kosala, và giết vua ấy, trong lúc sống ẩn tích
mai danh. Ðến khi vương tử Dighavu tha mạng vua Brahmadatta, hai
vị trở thành thân hữu trở về sau. Và như vậy chắc hẳn
có nhiều khổ đau và thân ái giữa hai vị vua mang kiếm trượng
ấy; quả thật, này các Tỷ-kheo, các ông cần hiểu rõ rằng
các ông đang sống đời tu tập theo Pháp và luật được khéo
giảng, thì các ông có thể tha thứ và tỏ từ tâm đối với
nhau.
Giáo
huấn Tăng chúng đến lần thứ ba, Ngài bảo:
- Thôi
đủ rồi, này các Tỷ-kheo, không được tranh chấp nữa.
Và
khi Ngài không thấy họ không ngừng lại trước lệnh của
Ngài, Ngài ra đi và bảo:
- Quả
thật đám người ngu si này giống như bị quỷ ám, chúng không
dễ được thuyết phục.
Hôm
sau đi khất thực về, Ngài nghỉ trong Hương Phòng và sắp
đặt phòng cho thứ tự, rồi cầm y bát, Ngài đứng trên không
và ngâm các vần kệ này giữa Hội chúng:
1.
Khi Giáo hội bị phân chia hai nhóm,
Dân
chúng thường mở miệng kêu vang:
"Mỗi
người đều tự tin tưởng khôn ngoan,
Và
nhìn kẻ láng giềng đầy khinh bỉ".
2.
Tâm mê muội, chứa đầy niềm tự thị,
Chúng
mở mồm phạm thượng thật si cuồng,
Vậy
là do khẩu nghiệp, chúng sai đường,
Chúng
không biết ai dẫn đầu ra lệnh.
3.
"Người này nhục mạ tôi, người kia đánh
Người
thứ ba chiến thắng, cướp bóc tôi!"
Những
ai mang tư tưởng ấy trong người
Không
hề muốn giảm dần niềm sân hận.
4.
"Xưa nó nhục mạ tôi và đánh đấm,
Nó
thắng tôi và đàn áp tôi hoài!"
Ai
chẳng mang ý tưởng đó trong người,
Sẽ
xoa dịu hận thù, đem hoà hợp.
5.
Không hận thù, chỉ tình thương đơn độc
Làm
hận thù tiêu diệt, luật ngàn năm,
Một
số người khinh bỉ pháp điều thân.
Song
kẻ biết giải hoà là trí thiện.
6.
Nếu những kẻ bị thương trong tử chiến
Cùng
những người cướp của, đoạt mạng dân,
Và
những ai tàn phá nước lân bang,
Nay
có thể cùng cựu thù thân thiết,
7.
Thế tại sao chúng Tăng không hoà hiệp,
Các
ông nên tìm đồng bạn trí hiền,
Kẻ
đồng tâm để chung sống bình yên,
Hiểm
hoạ hết, bên người đồng tâm tính,
Ông
suốt ngày hân hoan trong Thiền định!
8.
Song nếu ông không gặp bạn thân tình,
Thượng
sách là ông phải sống một mình,
Như
hoàng tử bỏ ngai vàng điện ngọc,
Hay
voi già bước lang thang cô độc.
9.
Vậy ưu tiên chấp nhận sống độc thân,
Bầu
bạn ngu chỉ dẫn đến tranh phân,
Hay
đeo đuổi đường đời trong phóng dật,
Như
voi nọ trong rừng hoang đi lạc.
*
Khi
bậc Ðạo Sư đã nói như vậy xong, và Ngài vẫn không giải
hoà được hội chúng này, Ngài liền đi đến làng Bàlaka,
nơi làm muối, và thảo luận với Tôn giả Bhagu về sự an
lạc của độc cư. Sau đó Ngài lại đến nơi cư trú của
ba thiện gia nam tử và nói chuyện với họ về hạnh phúc
hoà hợp.
Rồi
Ngài du hành đến rừng Pàrileyyaka, cư trú tại đó ba tháng,
và đi về thẳng Sàvatthi, chứ không trở lại Kosambi.
Quần
chúng cư sĩ ở Kosambi thảo luận với nhau và bảo nhau:
- Hiển
nhiên các Tôn Gỉa Tỷ-kheo ở Kosambi đã làm hại chúng ta
rất nhiều, bậc Ðạo Sư bị các vị ấy quấy nhiễu nên
ra đi. Chúng ta quyết không trân trọng kính chào các vị ấy,
cũng không cúng dường vật và thực khi họ đến nhà, để
rồi họ sẽ ra đi, hoặc hoàn tục, hoặc cầu hoà với bậc
Ðạo Sư.
Và
họ làm đúng như vậy.
Các
Tỷ-kheo ấy bị túng quẩn vì hình thức xử phạt này, liền
đến Sàvatthi thỉnh cầu đức Thế Tôn tha thứ.
*
Bậc
Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy vua cha là Ðại vương Suddhodana (Tịnh Phạn), mẫu hậu
là Mahàmàya (Mai-gia) và vương tử Dighàvu chính là Ta.
-ooOoo-
429.
Chuyện Ðại Anh Vũ (Tiền thân Mahàsuka)
Bất
cứ khi nào cây trái sinh...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo.
Chuyện
kể rằng vị ấy sống trong rừng gần một làng biên địa
ở Kosabbi và nhận được lời giáo huấn từ bậc Ðạo Sư
theo các đề tài Thiền quán. Dân chúng làm cho ông một an
thất trong một nơi họ thường lui tới, cung cấp nơi cư trú
cả ngày lẫn đêm và phụng sự ông rất tận tâm chu đáo.
Ngay tháng đầu tiên ông an cư mùa mưa, làng ấy bị đốt
sạch và dân chúng không còn một hạt thóc nên không thể
cúng dường thực phẩm thơm ngon vào bình bát ông, cho nên
mặc dù ông ở trong một nơi thoải mái, ông lại buồn khổ
vì thiếu thực phẩm đến độ không thể nhập vào Thánh
đạo hay Thánh quả được.
Vì
vậy khi hết ba tháng mưa, ông đến yết kiến bậc Ðạo Sư,
sau những lời ân cần chào hỏi, bậc Ðạo Sư bày tỏ huy
vọng là mặc dù khó khăn về thực phẩm cúng dường, ông
cũng có được một nơi an trú dễ chịu. Vị Tỳ- kheo trình
Ngài về tình hình đã diễn tiến ra sao. Khi nghe ông có được
một trú xứ an lạc, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này
Tỷ-kheo, nếu sự tình là như vậy, một vị tu khổ hạnh
nên dẹp bỏ các thói tham đắm, và tri túc với những thức
ăn gì mình nhận được để hoàn thành phận sự của người
xuất gia. Các bậc trí ngày xưa khi được sinh vào loài súc
vật, dù chỉ sống bằng bụi bặm trong cây hư mục mà mình
cư trú, cũng đã bỏ mọi tham dục, tự biết sống đủ để
ở lại nơi kia và hoàn thành đạo lý về ân tình. Thế thì
tại sao ông lại bỏ một nơi cư trú đầy an lạc chỉ vì
thức ăn nhận được quá ít ỏi thô sơ?
Và
theo lời thỉnh cầu của vị này, Ngài kể câu chuyện quá
khứ.
*
Ngày
xưa có vô số chim anh vũ (két) sống ở vùng Tuyết Sơn trên
bờ sông Hằng trong một rừng sung. Vua Anh vũ ấy gặp lúc
trái cây nơi mình cư trú đã hết màu, phải ăn bất cứ cái
gì còn sót lại, dù là mầm, lá, vỏ cây hoặc giác cây và
uống nước sông Hằng, vẫn thấy an lạc và tri túc nơi mình
sống.
Do
tâm trạng an lạc tri túc này, chiếc ngai của Thiên chủ Sakka
rung động. Sakka tìm hiểu nguyên nhân và thấy Anh vũ này,
rồi muốn thử thách công hạnh của chim, ngài dùng thần lực
làm cho cây héo tàn, trở thành khúc thân cây mục đầy lỗ
hỏng đứng trơ vơ bị mưa gió vùi dập, và bụi bặm bay
từ các lỗ ấy!
Anh
vũ vương vẫn ăn bụi cây và uống nước sông Hằng, không
đi đâu khác và vẫn đậu trên ngọn cây, chẳng quan tâm gì
đến nắng gió.
Thiên
chủ Sakka nhận thấy Anh vũ sống rất tri túc, liền tự bảo:
"Sau khi nghe chim nói về đức tính của tình bằng hữu, ta
sẽ đến ban cho chim một đặc ân và làm phép cho cây sung
sinh bất tử".
Vì
thế ngài giả dạng một Thiên nga cùng với hoàng hậu của
ngài là Sujà đi trước biến hình thành một nữ thần A-tu-la,
ngài đến rừng sung kia, đậu trên một khóm cây gần đó
và ngâm kệ bắt đầu đàm thoại với Anh vũ:
1.
Bất cứ khi nào cây trái sinh,
Bầy
chim đói lại đến đầy cành,
Song
khi cây đã thành khô héo,
Lập
tức bầy chim bỏ chạy nhanh.
Sau
lời này, ngài lại ngâm vần kệ thúc giục chim đi chỗ khác:
2.
Này ông mỏ đỏ, hãy đi mau,
Ông
vẫn ngồi mơ mộng, cớ sao?
Hãy
nói ta nghe, xuân điểu hỡi,
Sao
ông bám khúc gỗ khô nào?
Chim
Anh vũ đáp:
- Này
Thiên nga, do ân nghĩa, ta không rời bỏ cây này.
Rồi
chim ngâm hai vần kệ:
3.
Ngay khi Anh vũ chúa cầu mong,
Biết
rõ mọi điều kiện, chánh chân
Dầu
sống, chết hay khi khổ lạc,
Ðều
không hề bỏ mặc thân bằng
4.
Ta muốn ân cần, giữ thiện tâm
Với
cây kết bạn đã lâu năm,
Ta
mong sống, dẫu lòng không nỡ
Rời
bỏ cây khô đã chết dần.
Sakka
nghe chim nói, rất hoan hỷ, vừa ca ngợi chim vừa muốn ban
cho chim một điều ước, liền ngâm hai vần kệ:
5.
Ta biết chim giao hữu thật tình
Trí
nhân chắc chắn phải hoan nghênh,
Ta
ban chim thứ gì chim mong muốn,
Anh
vũ, ước cho thoả ý mình
Nghe
vầy, Anh vũ ngâm vần kệ thứ bảy nói lên điều mình ước:
6.
Thiên nga, nếu bạn muốn ban ân
Mong
ước cho cây sống lại dần
Lần
nữa vươn lên sức mạnh cũ,
Quả
ngon tươi mát mọc đầy thân.
Rồi
Thiên chủ Sakka ngâm vần kệ thứ tam ban đặc ân này:
7.
Bạn nhìn! Cây quý quả sai đầy,
Thích
hợp cho chim ở chốn này,
Lần
nữa vươn lên sức mạnh cũ,
Quả
ngon ngọt mát tươi thay!
Cùng
với các lời này, Sakka bỏ lốt ngỗng, thị hiện phép thần
thông cùng Hoàng hậu Sujà, lấy tay múc nước sông Hằng rảy
vào thân cây sung. Lập tức cây mọc lên cành lá sum suê, đầy
trái ngọt như mật, tạo thành một cảnh tượng kỳ diệu
như đỉnh núi Ngọc Bích lồ lộ.
Anh
vũ thấy vậy, vô cùng hoan hỷ, ngâm vần kệ thứ chín tán
thán Thiên chủ Sakka:
8.
Ước mong Thiên chủ, mọi Thiên thân,
Ðều
hưởng thọ tràn ngập phước ân,
Hạnh
phúc như chim đang thọ hưởng
Khi
nhìn cảnh tượng đẹp huy hoàng.
Sau
khi ban điều ước cho Anh vũ, và làm phép để cây sung mọc
trái bất tử, ngài cùng Hoàng hậu Sujà trở về cõi của
ngài.
Ðể
minh hoạ chuyện này, các vần kệ xuất phát từ Trí tuệ
Tối thắng được thêm vào đoạn cuối:
9.
Ngay khi Anh vũ chúa cầu mong,
Lần
nữa cây kia trổ trái dần,
Ðế
Thích cùng bà hoàng biến mất
Về
vườn Thiên lạc cõi Thiên thần.
*
Khi
pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:
- Như
vậy, này Tỷ-kheo, các bậc trí này xưa dù sinh làm súc vật
cũng dứt bỏ tham ái. Thế tại sao nay ông đã được thọ
giới trong Giáo pháp tối thượng này, lại còn theo các thói
xan tham? Hãy về ở lại chỗ ấy.
Rồi
Ngài trao cho vị này một đề tài Thiền quán, và nhận diện
Tiền thân:
- Thời
ấy Sakka là Anurudda (À-na-luật-đà) và Anh vũ chính là Ta.
Vị
Tỷ-kheo trở về và nhờ Thiền quán đã đắc Thánh quả (A-la-hán).
-ooOoo-
430.
Chuyện Tiểu Anh Vũ (Tiền thân Cullasuka)
Nhìn
cây vô số ở quanh đây...,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên liên hệ phẩm Verãnjà
của Luật Tạng.
Sau
thời an cư mùa mưa tại Verãnjà, khi bậc Ðạo Sư lên đường
dẫn đến Sàvatthi, Tăng chúng ngồi tại Chánh pháp đường
thảo luận và bảo nhau:
- Này
các Hiến giả, đức Như Lai vốn là một vị quý tộc Sát-đế-lỵ
được bảo dưỡng tế nhị, dầu đã thành Phật có đủ
thần thông lực, vẫn theo lời thỉnh câu của một Bà-la-môn
ở Verãnjà an cư ba tháng với vị ấy. Rồi do áp lực của
Ác Ma, Ngài không nhận được thực phẩm cúng dường từ
tay vị Bà-la-môn ấy, thậm chí một ngày thôi, Ngài liền
từ bỏ mọi tham dục và cứ ở lại nơi ấy suốt ba tháng
sống bằng nước lã và một ít cám xay. Kỳ diệu thay là
hạnh tri túc của các đức Như Lai!
Khi
bậc Ðạo Sư đến hỏi đề tài thảo luận của các vị,
Ngài bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, không lạ gì ngày nay Như Lai đã bỏ hết mọi
tham dục, vì ngày xưa khi được sinh làm súc vật, Ngài cũng
xả ly tham dục.
Và
sau đó, Ngài kể một chuyện quá khứ. Bấy giờ toàn thể
câu chuyện cũng được kể lại với đầy đủ chi tiết giống
hệt như chuyện trước.
*
Sakka:
1.
Nhìn cây vô số ở quanh đây
Toàn
thể xanh tươi, trái mọc đầy,
Cớ
sao Anh vũ còn đeo đẳng
Cây
đã héo khô tội nghiệp này?
Anh
vũ:
2.
Chúng ta hưởng thọ đã lâu năm
Trái
ngọt ngon mà cây đã mang
Vậy
dẫu trái nay không còn nữa,
Cây
cần phải được sự quan tâm.
Sakka:
3.
Cây chẳng còn sinh trái, lá nào
Than
ôi! Cây đã chết, vì sao?
Nay
chim còn trách bầy chim bạn
Rằng
chúng ta bay đi hết đã lâu?
Anh
vũ:
4.
Chúng yêu cây bởi trái cây thôi,
Nay
trái cây không còn nữa rồi,
Bọn
ích kỷ ngu si tội nghiệp,
Thân
tình ân nghĩa tếch mù khơi!
Sakka:
5.
Ta đây công nhận mối ân tình,
Chim
có lòng chung thuỷ tốt lành,
Ðức
hạnh như là Anh vũ chúa,
Trí
nhân mãi mãi sẽ hoan nghênh.
6.
Ta muốn giờ đây ta tặng chim
Ðiều
gì chim ước nguyện trong tim,
Ta
cầu chim nói cho ta biết,
Ðiều
ước làm tâm được phỉ nguyền?
Anh
vũ:
7.
Mong cây này lại có cơ may
Sinh
sản lá tươi, trái trĩu đầy,
Ta
sẽ vô cùng hoan hỷ thấy
Bầy
chim tìm được bảo toàn này!
8.
Thế rồi cây ấy được Sak-ka
Rảy
nước hồi sinh để mọc ra
Cành
lá sum suê đầy bóng mát,
Xinh
tươi khả ái vẫn như xưa.
9.
Ước mong Thiên chủ, các Thiên thần
Ðều
hưởng thọ tràn ngập phước ân,
Hạnh
phúc như chim đang thọ hưởng
Khi
nhìn cảnh tượng đáng hân hoan!
10.
Như vậy cây trái được sinh
Nhờ
lời Anh vũ nguyện ân tình,
Sak-ka
trở lại cùng hoàng hậu
An
hưởng vườn Thiên lạc hiển vinh
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy Sakka là Anuruddha và Anh vũ vương chính là Ta.
-ooOoo-
431.
Chuyện Nam Tử Hàrita (Tiền thân Hàrita)
Hà-ri
Hiền hữu, trẫm nghe rằng...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo bất mãn.
Bấy
giờ Tỷ-kheo này trở nên bất mãn sau khi nhìn thấy một nữ
nhân phục sức lộng lẫy nên cứ để cho lông tóc, móng tay
chân dài ra, và muốn hoàn tục. Khi ông miễn cưỡng bị các
vị giáo thọ và giám hộ đưa đi yết kiến bậc Ðạo Sư,
và được Ngài hỏi xem có đúng là ông thối thất chăng,
và tại sao như vậy, ông đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn, chính vì uy lực của dục tham, sau khi
nhìn thấy một nữ nhân xinh đẹp.
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Này
Tỷ-kheo, tham dục huỷ hoại công đức, hơn nữa, rất đáng
nhàm chán, nó làm cho con người tái sinh vào địa ngục; thế
thì sao tham dục này lại không đưa đến sự suy tàn của
ông? Bởi vì trận cuồng phong vùi dập đỉnh núi Sineru (Tu-di)
vẫn không ngần ngại cuốn đi một ngọn lá khô héo. Chính
vì tham dục này, những người thực hành theo trí thức và
trí tuệ, đã đắc năm Thắng trí và tám Thiền chứng, dẫu
là Thánh nhân vĩ đại, vẫn không đủ khả năng ổn định
tâm tư nên sa đoạ đánh mất Thiền lực vi diệu.
Rồi
ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh ở một làng trong một gia đình Bà-la-môn có tài sản
đến tám triệu đồng, và do màu vàng ánh của ngài, cha mẹ
đặt tên ngài là Harittacakumàra (Nam tử Kim sắc). Khi lớn
khôn, và đã được giáo dục tại Takkasilà, ngài trở thành
người gia chủ. Vừa khi cha mẹ từ trần, ngài đi thanh tra
đủ các kho báu của mình và suy nghĩ: "Tài sản kho báu tiếp
tục tồn tại, còn những người tạo ra nó lại mất cả
rồi. Ta cũng tan thành tro bụi khi chết".
Như
vậy do nỗi sợ chết báo động, ngài thực hành đại bố
thí, rồi vào vùng Tuyết Sơn sống đời tu hành, đến ngày
thứ bảy ngài thành tựu các Thắng trí và các Thiền chứng.
Ngài sống ở đó một thời gian bằng củ quả rừng, rồi
xuống núi tìm muối và dấm, dần dần ngài đến tận Ba-la-nại.
Ngài
sống trong ngự viên và ngày hôm sau, khi khất thực ngài đến
cửa cung vua. Vua rất hoan hỷ khi thấy ngài nên đã truyền
mời ngài vào ngồi trên vương toạ dưới bóng mát của chiếc
Lọng trắng và cúng dường ngài đủ thứ cao lương mỹ vị.
Khi
lời nói lời tuỳ hỷ công đức, vua vô cùng đẹp ý hỏi:
- Bạch
Tôn giả, ngài sắp đi đâu?
- Tâu
Ðại vương, chúng tôi tìm một nơi an cư mùa mưa.
- Thế
thì
tốt lắm, bạch tôn giả. Vua bảo.
Rồi
sau buổi điểm tâm, vua cùng đi với ngài đến ngự viên,
truyền dựng am thất ban ngày lẫn ban đêm cho ngài ở, chỉ
định người giữ ngự viên làm hầu cận của ngài, rồi
vua kính chào ngài ra về. Từ đó bậc Ðại Sĩ thường xuyên
ăn uống ở cung vua và sống tại nơi ấy suốt mười hai năm
liền.
Một
hôm, vua đi dẹp loạn ở biên giới, nên đã giao phó hoàng
hậu chăm sóc Bồ-tát, và bảo bà:
- Ðừng
xao lãng việc phụng sự "Phước điền" của chúng ta.
Từ
đó trở về sau, hoàng hậu tự tay phục vụ bậc Ðại Sĩ
rất chu đáo.
Một
hôm, hoàng hậu đã chuẩn bị thực phẩm của ngài xong, và
vì ngài đến muộn, nên bà đi tắm nước hương thơm ngát,
choàng chiếc y bằng lụa mỏng manh mềm mại, rồi mở cửa
thượng lầu nằm xuống một vương sàng nhỏ để cho gió
lùa trên thân thể bà.
Sau
đó, Bồ-tát đắp hạ y và thượng y, cầm bình bát, du hành
qua không gian đi vào cửa sổ ấy. Khi hoàng hậu vội vàng
đứng dậy vì nghe tiếng sột soạt của các tấm y bằng vỏ
cây trên thân ngài, chiếc y bằng lụa mỏng rơi khỏi người
bà. Một đối tượng lạ thường đập vào mắt bậc Ðại
Sĩ. Rồi một dục tưởng đã ẩn trong tâm ngài từ vô lượng
kiếp, chợt bừng dậy như một con rắn nằm trong hộp, xua
tan thiền lực của ngài.
Rồi
không đủ khả năng ổn định tư tưởng, ngài đến chụp
lấy hoàng hậu bằng đôi tay và hai vị lập tức kéo màn
che phủ quanh người. Sau khi đã phạm tà dục với bà, ngài
thọ thực và trở về ngự viên. Từ đó về sau, ngày nào
ngài cũng đến làm như vậy.
Tà
hạnh của ngài vang dậy khắp kinh thành. Các cận thần của
vua dâng sớ tâu trình vua: "Nhà khổ hạnh Hàrita đang hành
động như vậy như vậy".
Vua
suy nghĩ: "Họ nói như vậy để ly gián chúng ta" và vua không
tin chuyện ấy.
Khi
vua đã bình định vùng biên địa xong, liền trở về Ba-la-nại
và sau buổi diễn binh oai nghi khắp kinh thành, vua đến gặp
hoàng hậu và hỏi:
- Có
thật Thánh nhân khổ hạnh Hàrita đã phạm tà dục với ái
hậu chăng?
- Tâu
Chúa thượng, quả đúng vậy.
Vua
vẫn không tin lời bà và suy nghĩ. "Ta sẽ hỏi chính vị ấy".
Rồi đi đến ngự viên, vua vái chào ngài, ngồi kính cẩn
một bên và ngâm vần kệ đầu để hỏi chuyện:
1.
Hà-ri Hiền hữu, trẫm nghe rằng
Tôn
giả nay đang sống lỗi lầm,
Trẫm
chẳng tin lời đồn đại ấy,
Ngài
không phạm tội ý, thân chăng?
Ngài
suy nghĩ: "Nếu ta nói ta không phạm tội lỗi, vị vua này sẽ
tin ta, nhưng trên thế gian này, không có một căn cứ nào vững
chắc bằng nói sự thật. Người nào từ bỏ sự thật, dù
ngồi trong Bồ-đề đạo tràng linh thiêng cũng không để đạt
quả Phật. Vậy ta cần nói sự thật".
Trong
vài trường hợp, một vị Bồ-tát có thể sát sinh, lấy của
không cho, phạm tà dục và uống rượu nồng, nhưng vị ấy
không được nói dối đi kèm với sự lừa phỉnh vi phạm
chân lý của vạn vật. Vì thế ngài ngâm vần kệ thứ hai
chỉ nói lên sự thật:
2.
Ta phạm ác hành, hỡi Ðại vương,
Ðúng
như Ngài đã được nghe rằng
Mắc
vào tà thuật trong trần thế,
Ta
đã đi sai lạc bước đường.
Nghe
vậy, vua ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Trí tuệ uyên thâm của thế nhân
Hoài
công vô ích, chẳng xua tan
Dục
tham bùng dậy trong lòng dạ
Của
bậc trí nhân đã lạc đường.
Sau
đó Hàrita nêu rõ cho vua thấy uy lực của dục tham qua vần
kệ thứ tư:
4.
Bốn ác dục này ở thế gian
Uy
quyền lấn áp cứ lan tràn:
Tham,
sân, vô độ và si ám,
Tri
kiến không sao đứng vững vàng.
Vua
nghe liền ngâm vần kệ thứ năm:
5.
Thánh hạnh tràn đầy với trí minh
Hà-ri
Hiền giả đáng tôn vinh!
Hiền
giả Hàrita ngâm tiếp vần kệ thứ sáu:
6.
Ác tâm, tham dục, do liên kết,
Huỷ
hoại trí nhân hướng Thánh hành.
Sau
đó vua ngâm vần kệ thứ bảy khuyến nhủ vị ấy quẳng
bỏ mọi tham dục:
7.
Vẻ đẹp trong tâm tịnh sáng ngời
Bị
hư vì ác dục sinh sôi,
Quẳng
ngay, hạnh phúc đang chờ đón,
Quần
chúng tuyên dương trí tuệ ngài.
Khi
ấy Bồ -tát đã phục hồi năng lực Thiền định và quán
sát sự đau khổ của tham dục, ngài ngâm vần kệ thứ tám:
8.
Vì tham dục trói buộc thân này,
Sinh
sản cho ta quả đắng cay,
Ta
quyết cắt sâu cho tận gốc
Mọi
mầm tham dục khởi lên đây.
Nói
vậy xong, ngài xin phép vua, rồi sau khi được chấp nhận,
ngài về tham am tập trung nhãn lực vào đề tài và nhận định,
sau đó bước ra khỏi am, ngồi bắt chéo chân trên không và
giảng Chánh pháp cho vua, ngài bảo:
- Tâu
Ðại vương, ta đã tạo nên sự chỉ trích của quần chúng
vì ta cư trú một nơi mà ta không nên cư trú. Nhưng giờ đây
xin Ðại vương hãy tỉnh giác hộ phòng. Còn ta sẽ trở về
núi rừng thoát ly mọi ô nhiễm của nữ sắc.
Rồi
giữa những giọt nước mắt và tiếng than khóc của vua, ngài
trở về Tuyết Sơn, rồi không gián đoạn Thiền định, ngài
lên cõi Phạm thiên.
Bậc
Ðạo Sư biết toàn thể câu chuyện và bảo:
9.
Như vậy, Hà-ri bậc trí nhân
Ðấu
tranh vì Chánh pháp kiên cường,
Vừa
khi rời bỏ niềm tham dục,
Hướng
đến Phạm thiên tiến thẳng đường.
*
Sau
khi ngâm vần kệ do Trí tuệ tối thắng, Ngài tuyên thuyết
các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
có tâm thế tục ấy đã đắc Thánh quả.
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
bấy giờ vua là Ànanda, và Hàrita chính là Ta.
-ooOoo-
432.
Chuyện Cậu Bé Có Tài Nhận Dấu Chân (Tiền thân Padakusalamànava)
Pà-
ta bị cuốn bởi sông Hằng...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong khi trú tại Kỳ Viên về một
cậu bé.
Người
ta đồn cậu bé ấy là con của một gia chủ tại Sàvatthi,
chỉ có bảy tuổi đã có tài nhận ra dấu chân. Bấy giờ
cha cậu bé có ý định thử tài con, liền đi đến nhà người
bạn mà không cho cậu biết. Cậu bé chẳng cần hỏi cha đã
đi đâu, cứ theo vết chân của cha cậu, đến đứng trước
mặt cha. Vì thế một hôm cha cậu hỏi:
- Khi
cha ra đi mà không nói với con, làm thế nào mà con biết cha
đi đâu?
- Thưa
cha, con nhận ra dấu chân của cha. Con có tài về chuyện này.
Sau
đó, cha cậu lại muốn thử cậu, liền ra khỏi nhà sau khi
ăn sáng, đi vào nhà kế cận, từ đó qua một nhà khác, từ
nhà thứ ba ông lại quay về nhà mình, rồi sau đó đi ra cổng
Bắc, xong đi một vòng quanh thành phố từ phải sang trái.
Khi đến Kỳ Viên, ông đảnh lễ bậc Ðạo Sư, rồi ngồi
xuống nghe Pháp. Cậu bé hỏi cha ở đâu, và người nhà bảo:
- Ta
không biết.
Cậu
lần theo dấu chân cha bắt đầu từ nhà bên cạnh đi theo
đúng con đường cha cậu đã đi qua. Sau khi đánh lễ bậc
Ðạo Sư, cậu đứng trước mặt cha. Và cha hỏi làm sao con
đến đây được, cậu đáp:
- Con
nhận ra dấu chân cha và lần theo dấu ấy đến đây.
Người
cha nói:
- Bạch
Thế Tôn, thằng bé này có tài nhận ra dấu chân. Muốn thử
nó, con đã đến đây theo cách như vầy như vầy. Nó không
thấy con ở nhà, cứ lần theo dấu chân đến đây.
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Không
lạ gì việc nhận ra dấu chân dưới đất. Các bậc trí nhân
ngày xưa nhận ra dấu chân trên không gian.
Và
theo lời thỉnh cầu, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Thời
xưa dưới triều vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, vị chánh hậu
bị vua chất vấn sau khi phạm tội tà dục, liền tuyên thệ:
- Nếu
thần thiếp phạm tội với Chúa thượng, thần thiếp sẽ
trở thành một con quỷ cái Dạ-xoa có mặt ngựa.
Sau
khi chết, bà trở thành con quỷ cái có mặt ngựa sống trong
hang đá ở một khi rừng rậm dưới chân núi và thường bắt
những người qua lại trên con đường từ biên giới Ðông
sang Tây để ăn thịt. Chuyện kể rằng sau khi phục vụ Thiên
vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) suốt ba năm, quỷ cái này được
phép ăn thịt người trong một khu vực dài ba mươi dặm, rộng
năm dặm.
Một
hôm, một vị Bà-la-môn giàu sang, đẹp trai được một đoàn
tuỳ tùng đông đảo hộ tống đi lên con đường ấy. Dạ-xoa
liền thấy chàng liền cười lớn chạy xuống chụp chàng,
còn đám tùy tùng chạy trốn cả.
Với
tốc lực nhanh như gió, quỷ cái bắt được chàng Bà-la-môn
ném lên lưng nó và đưa vào hang. Do xúc chạm với chàng trai,
quỷ cái bị lòng dục chi phối và cảm thấy yêu mến chàng,
nên thay vì ăn thịt chàng, nó lại lấy chàng làm chồng và
cả hai sống hoà hợp với nhau.
Từ
đó mỗi khi quỷ cái bắt được đàn ông, nó lấy áo quần,
lúa gạo, dầu mỡ cùng với mọi thứ khác phục vụ chàng
đủ món cao lương mỹ vị, còn nó vẫn ăn thịt người.
Khi
nào nó đi xa, nó sợ chàng trốn thoát, nên vẫn lấy hòn đá
lớn đậy miệng hoang trước khi đi. Trong thời gian họ sống
an vui như vậy, thì Bồ-tát vừa từ giã từ đời trước
và nhập vào mẫu thai của quỹ cái với vị Bà-la-môn. Sau
mười tháng, quỷ cái sinh một con trai, nó vô cùng thương
yêu cả vị Bà-la-môn lẫn hài nhi, nên nuôi nấng họ chu đáo.
Dần dần khi cậu bé lớn lên, quỷ cái đặt con vào trong
hang với cha, rồi đóng cửa lại.
Một
hôm Bồ-tát biết mẹ đã đi xa liền giở hòn đá lên và
đưa cha ra ngoài. Khi quỷ cái trở về, hỏi ai đã giở hòn
đá, cậu bé đáp:
- Thưa
mẹ, chính con, vì cha và con không thể ngồi trong tối mãi.
Do
thương con, quỷ cái không nói lời nào nữa. Một hôm Bồ-tát
hỏi cha:
- Thưa
cha, miệng cha khác với miệng mẹ, vì sao vậy?
- Con
ơi, mẹ con là quỷ Dạ-xoa sống bằng thịt người, còn cha
là con người.
- Nếu
vậy, tại sao ta sống ở đây? Mau lên, chúng ta quyết trở
về nơi chốn loài người.
- Con
ơi, nếu ta cố chạy trốn, mẹ con sẽ giết chết cả hai
ta đấy.
Bồ-tát
an ủi cha và bảo:
- Cha
đừng sợ, việc đem cha trở về chốn loài người là phận
sự của con.
Hôm
sau, khi mẹ cậu đã ra đi, cậu đem cha chạy trốn.
Khi
quỷ cái trở về thấy thiếu họ, nó liền chạy như gió
bắt họ lại và nói:
- Này
chàng Bà-la-môn, tại sao chàng bỏ chạy, chàng có thiếu gì
ở đây chăng?
- Nàng
ơi, xin đừng giận ta. Con nàng đem ta đi theo nó đấy.
Quỷ
cái không nói gì thêm, do lòng thương con, nó an ủi hai cha
con và mang họ trở về hang sau vài ngày bay vùn vụt.
Bồ-tát
suy nghĩ: "Mẹ ta chắn hẳn phải có một ranh giới hoạt động.
Giả sử ta hỏi mẹ về ranh giới mà mẹ có quyền hạn, rồi
ta sẽ đi trốn bằng cách vượt qua ranh giới đó".
Vì
vậy, hôm ngồi kính cẩn bên mẹ, ngài hỏi:
- Mẹ
ơi, những gì thuộc về mẹ đều truyền cho con; vậy mẹ
nói cho con biết ranh giới vùng đất của ta.
Quỷ
cái liền cho biết mọi phạm vi đất đai núi rừng ở mọi
hướng và chỉ rõ khu vực dài ba mươi dặm rộng năm dặm
ấy, xong lại bảo:
- Hãy
xem nó nhiều như vậy đấy con à.
Sau
hai ba ngày, khi mẹ đã vào rừng, ngài cõng cha lên vai và chạy
nhanh như gió theo dấu hiệu mẹ ngài đã cho biết, ngài đến
bờ sông làm ranh giới. Quỷ cái trở về thấy thiếu họ
liền đuổi theo.
Bồ-tát
mang cha ra giữa sông, còn quỷ cái đứng bên bờ thấy họ
đã vượt phạm vi của nó, đành phải đứng lại và kêu:
- Con
yêu quý ơi, hãy đến đây cùng với cha con. Mẹ có lỗi lầm
gì nào? Có việc già không vừa lòng con về phương diện nào?
Xin chàng hãy trở về mau!
Quỷ
cái van xin chồng con như vậy.
Vị
Bà-la-môn đã qua bên kia sông. Quỷ cái lại khẩn cầu con:
- Con
yêu quý ơi, đừng làm như vậy. Hãy trở lại mau!
- Mẹ
ơi, cha và con là người, còn mẹ là quỷ Dạ-xoa. Cha và con
không thể ở mãi với mẹ được.
- Thế
con không muốn trở lại à?
- Không
mẹ ơi!
- Vậy
nếu con không muốn trở lại mà sống trên thế giới loài
người khổ lắm con ạ, những người không biết nghề gì
thì không thể sống được. Mẹ có phép thuật cao cường,
nhờ thần lực đó, ta có theo dõi dấu chân của người đã
đi qua sau mười hai năm. Ðiều này sẽ làm kế sinh nhai của
con. Này con, hãy nhận lấy phép thuật cao giá này.
Mặc
dù lòng nặng trĩu đau buồn, do lòng thương con, quỷ cái cũng
trao thần chú cho con. Bồ-tát đứng giữa sông chắp hai tay
lại kính cẩn nhận thần chú và vái chào mẹ ngài:
- Mẹ
ơi, con xin từ giã mẹ.
Quỷ
cái bảo:
- Con
ơi, nếu con không trở lại, mẹ không thể sống được.
Nó
liền đấm vào ngực và ngay lập tức do sầu não vì con, tim
nó tan nát ra nên nó chết tại chỗ.
Bồ-
tát biết mẹ đã chết, liền gọi cha và đi làm giàn hoả
thiêu xác mẹ. Sau khi dập tắt lửa, ngài cúng nhiều loại
hoa đủ màu sắc, vừa than khóc, vừa cùng cha trở về Ba-la-nại.
Quân
hầu tâu trình vua:
- Một
cậu thanh niên có tài nhận ra dấu chân đang đứng chờ ở
cửa.
Khi
vua ra lệnh ngài vào chầu, ngài bước vào cung kính vái chào
vua. Vua hỏi:
- Này
Hiền hữu, khanh biết nghề gì?
- Tâu
Chúa thượng, tiểu thần biết theo dõi dấu chân của người
đã trộm cắp tài vật cách mười hai năm trước và bắt
lấy họ.
- Thế
thì vào đây hầu hạ trẫm. Vua bảo.
- Tiểu
thần muốn phục vụ Chúa thượng với tiền công mỗi ngày
một ngàn đồng.
- Tốt
lắm, này Hiền hữu, nhất định khanh sẽ phục vụ trẫm.
Rồi
vua ban cho ngài một ngàn đồng tiền mỗi ngày.
Một
hôm, vị tế sư hoàng gia trình vua:
- Tâu
Chúa thượng, chàng thanh niên chưa sử dụng xảo thuật để
làm gì cả nên ta không biết chàng có tài hay không, vậy bây
giờ ta quyết thử tài chàng.
Vua
sẵn sàng chấp nhận. Hai vị thông báo cho các vị thủ kho
và lấy các châu báu có giá trị nhất từ lầu thượng xuống,
rồi sau khi đi lẩn quẩn ba vòng quanh cung điện, họ đặt
cái thang trên nóc tường và theo đó đi ra ngoài.
Sau
đó họ vào Pháp đình, ngồi xuống rồi trở ra đặt cái
thang trên tường và leo xuống và đi vào thành. Khi đến bờ
hồ nước, họ đi vòng quanh ba vòng rào trang nghiêm rồi thả
các báu vật vào hồ và trèo lên lầu thượng như cũ.
Hôm
sau có tiếng huyên náo và nhiều người kêu:
- Các
báu vật đã bị mất khỏi cung rồi.
Vua
giả vờ không biết gì, triệu Bồ-tát đến bảo:
- Này
Hiền hữu, nhiều báu vật vừa bị mất trộm khỏi cung, ta
phải tìm ra dấu vết.
- Tâu
Chúa thượng, đối với một người có khả năng theo dấu
vết bọn trộm cắp và thu hồi bảo vật cách mười hai năm
trước, thì chẳng có gì thần kỳ khi tìm được tài vật
chỉ mất sau một ngày đêm. Tiểu thần quyết đem lại đủ,
xin Chúa thượng yên tâm.
- Vậy
Hiền hữu hãy thu hồi báu vật.
- Tâu
Chúa thượng, được lắm.
Ngài
nói xong đi đảnh lễ hương hồn mẹ, rồi vừa niệm thần
chú vừa đứng yên trên thượng lầu, rồi trình vua:
- Tâu
Chúa thượng, dấu chân của bọn trộm sẽ được tìm ra.
Sau
đó theo dấu chân vua và vị tế sư, ngài vào cung thất, từ
đó ra đi, ngài bước xuống khỏi thượng lầu và sau ba vòng
đi quanh hoàng cung, ngài đến gần cái hồ. Ðứng bên hồ,
ngài
bảo:
- Tâu
Chúa thượng, bắt đầu ở nơi này từ bức tường, tiểu
thân thấy dấu chân trên không. Xin đem cho tiểu thần một
cái thang.
Sau
khi nhờ đặt cái thang sát tường, ngài leo xuống và tiếp
tục theo dõi dấu vết, ngài đến Pháp đình. Rồi trở vào
cung, ngài bảo đặt cái thang sát tường và từ đó ngài leo
xuống đi đến hồ nước. Sau khi đi quanh hồ nước ba lần,
ngài bảo:
- Tâu
Chúa thượng, bọn trộm đã vào hồ này.
Và
vừa lấy báu vật ra như thể chính ngài đặt chúng vào đó,
ngài dâng vua và trình:
- Tâu
Chúa thượng, hai đạo tặc này là người đặc biệt, chúng
đã vào cung bằng cách này.
Quần
thần búng ngón tay biểu lộ hân hoan cực độ và rất nhiều
khăn quàng tung vẫy lên. Vua suy nghĩ:
"Có
lẽ chàng trai này theo dõi dấu chân nên biết nơi bọn trộm
cất báu vật, nhưng chàng không bắt được chúng". Sau đó
vua phán:
- Hiền
hữu đã mang lại ngay báu vật được bọn trộm mang đi, nhưng
khanh có thể bắt bọn trộm và đưa chúng cho trẫm chăng?
- Tâu
Chúa thượng, bọn trộm ở đây, chúng không ở đâu xa.
- Chúng
là ai thế?
- Tâu
Ðại vương, bất cứ ai thích đều có thể làm kẻ trộm
cả. Ðại Vương đã thu hồi báu vật rồi, sao Ðại Vương
còn muốn bắt trộm làm gì nữa? Xin Ðại Vương hỏi chuyện
ấy.
- Này
Hiền hữu, trẫm ban cho khanh mỗi ngày một ngàn đồng tiền,
vậy hãy đem bọn trộm đến cho trẫm.
- Tâu
Chúa thượng, khi đã thu hồi báu vật, thì cần gì bắt bọn
trộm nữa?
- Này
Hiền hữu, đối với mọi người, bắt bọn trộm còn quan
trọng hơn thu hồi báu vật.
- Thế
thì, tâu Chúa thượng, tiểu thần sẽ không tâu với Chúa
thượng: "Bọn trộm là những người này, người nọ", nhưng
tiểu thần sẽ kẻ một chuyện xảy ra đã lâu. Nếu Chúa
thượng thông thái, Chúa thượng sẽ biết ý nghĩa của nó.
Rồi
sau đó ngài kể một chuyện cổ.
* Chuyện
vũ công Pàtala
- Tâu
Ðại vương, ngày xưa có một vũ công tên là Pàtala sống
không xa thành Ba-la-nại, trong một ngôi làng bên bờ sông.
Một hôm y vào Ba-la-nại cùng với vợ, và sau khi kiếm tiền
được nhờ múa hát, y ăn cơm uống rượu no say vào dịp lễ
hội chấm dứt.
Trên
đường về làng cũ, y đến bờ sông ngồi ngắm dòng nước
chảy vừa uống rượu nồng. Trong lúc đang say không biết
mình sức yếu, y bảo: "Ta sẽ buộc ống sáo lớn vào cổ
và đi xuống sông". Y dắt vợ trong tay bước dần xuống sông.
Nước vào trong các lỗ ống sáo, rồi sức nặng của ống
sáo làm y bắt đầu chìm xuống.
Nhưng
khi vợ thấy y chìm dần, nàng bỏ mặc y, bước lên khỏi
sông và đứng trên bờ.
Vũ
công Pàtala lúc chìm lúc nổi và bụng trướng lên vì uống
nước. Vì vậy vợ y suy nghĩ: "Chồng ta sắp chết, ta muốn
xin chàng một bài hát và sẽ kiếm sống nhờ hát giữa đám
đông", và nói:
- Chàng
ơi, chàng sắp chìm xuống nước, xin hãy cho thiếp một bài
hát nhờ đó thiếp tìm ra cách nuôi thân.
Rồi
nàng ngâm vần kệ:
1.
Pà-ta bị cuốn bởi sông Hằng,
Ca
vũ tài hoa tiếng lẫy lừng,
Chàng
hởi! Chàng trôi theo sóng nước,
Xin
chàng cho thiếp khúc ca ngâm.
Lúc
ấy vũ công Pàtala nói:
- Nàng
ơi, làm sao cho nàng một khúc ca bây giờ đây? Nước vốn
là nguồn cứu khổ cho con người nay đang giết ta.
Và
y ngâm một vần kệ:
2.
Những người đang bất tử mê man,
Nhờ
nước vào để cứu thương,
Ta
bị chết ngay trong sóng nước,
Nơi
nương tựa đã hoá tai ương!
Bồ
-tát muốn giải thích vần kệ này, bảo:
- Tâu
Ðại vương, giống như nước là nơi nương tựa của mỗi
con người, cũng vậy là vua chúa đối với dân. Nếu hiểm
hoạ phát sinh từ vua chúa, thì còn ai đề phòng được hiểm
hoạ ấy nữa? Tâu Ðại vương, đây là một vấn đề bí
mật. Tiểu thần vừa kể một câu chuyện mà người hiền
trí có thể hiểu được. Xin Ðại vương có thể hiểu nó.
- Này
Hiền hữu, trẫm không hiểu chuyện bí mật như thế này đâu.
Hãy bắt bọn trộm đến cho trẫm.
Sau
đó Bồ-tát nói:
- Tâu
Ðại vương, thế thì xin hãy nghe chuyện này và sẽ hiểu.
Rồi
ngài lại kể một chuyện khác.
* Chuyện
người thợ gốm.
- Tâu
Ðại vương, ngày xưa trong ngôi làng ngoài cổng thành Ba-la-nại,
có một người thợ gốm thường tìm đất sét đem về làm
đồ gốm, và bao giờ cũng lấy đất sét ở một nơi mà y
đào thành một cái hố sâu vào một hang núi.
Bấy
giờ, một hôm y đang đào đất sét, một cơn giông bão trái
mùa bùng lên làm mưa rơi tầm tã, gây ngập lụt và làm sụp
một bên hố khiến y bị vỡ đầu. Y liền ngâm vần kệ,
khóc than rên rĩ:
3.
Cái vật nhờ hạt nẩy mầm
Ðể
nuôi sống tất cả người trần,
Ðã
làm ta vỡ đầu ra đấy,
Chỗ
dựa thành tai hoạ bản thân.
- Tâu
Ðại vương, giống như đại địa cầu vốn là nơi nương
tựa của loài người, lại làm vỡ đầu chú thợ gốm, cũng
vậy, khi vua vốn như là nơi nương tựa của toàn dân, lại
đứng lên đóng vai kẻ trộm, thì còn ai có thể đề phòng
hiểm hoạ ấy? Tâu Ðại vương, thế Ðại vương có nhận
ra tên trộm giả dạng trong câu chuyện này chăng?
- Này
Hiền hữu, chúng ta không cần ý nghĩa ẩn kín trong đó. Hãy
nói rõ: "Ðây là tên trộm" và bắt nó dẫn đến giao cho trẫm.
Vẫn
bảo vệ nhà vua và không nói thành lời: "Chính Ðại vương
là tên trộm", ngài lại kể một chuyện khác.
* Chuyện
ngọn lửa.
Tâu
Ðại vương, ngay chính kinh thành này, có một nhà người kia
bị cháy. Y ra lệnh một người khác vào nhà đem tài sản
của y ra. Ðến khi chính chủ nhà này vào nhà và đem đồ
vật ra thì cánh cửa chợt đóng lại. Y bị khói toả mù mịt
không thể tìm đường thoát ra và bị ngọn lửa lên cao hành
hạ đau đớn, y ở trong nhà khóc vừa than vừa ngâm vần kệ
này:
4.
Cái vật làm tan vỡ giá băng
Và
thiêu đốt hạt giống khô cằn,
Ðang
thiêu huỷ tứ chi ta đó,
Chỗ
dựa thành tai hoạ khổ thân.
- Tâu
Ðại vương, có một người cũng giống như ngọn lửa, vốn
là nơi nương tựa của quần chúng, lại đi ăn trộm một
số lớn châu báu. Xin Ðại vương đừng hỏi tiểu thần về
tên trộm này nữa.
- Này
Hiền hữu, cứ đưa tên trộm đến cho trẫm.
Vẫn
không nói rõ cho vua chính vua là kẻ trộm, ngài lại kể một
chuyện nữa.
* Chuyện
bội thực.
- Tâu
Ðại vương, ngày xưa chính tại kinh thành này có một người
ăn thái quá nên không thể tiêu hoá thức ăn. Ðau đớn điên
cuồng, y ngầm vần kệ than khóc:
5.
Thức ăn nuôi sống biết bao người
Ðạo
sĩ, La-môn giữa đời,
Ðã
giết chết ta đây trọn vẹn,
Nơi
nương tựa hoá khổ đau rồi.
- Tâu
Ðại vương, có một người vốn như lúa gạo, là nơi nương
tựa của toàn dân, lại ăn trộm tài vật. Khi tài vật đã
được thu hồi, tại sao còn hỏi về tên trộm làm gì?
- Này
Hiền hữu, nếu khanh có tài thì cố đem tên trộm đến cho
trẫm.
Ngài
kể một chuyện khác để làm cho vua hiểu.
* Chuyện
gió thổi.
- Tâu
Ðại vương, ngày xưa ngay chính kinh thành này có ngọn gió
thổi lên làm gãy tay chân một người. Y ngâm vần kệ than
khóc:
6.
Những bậc trí nhân vẫn nguyện cầu
Gió
lành tháng sáu thổi lên mau.
Gió
nay làm tứ chi ta gãy,
Chỗ
dựa thành tai hoạ khổ đau!
- Tâu
Ðại vương, như vậy quả thật hiểm nguy phát xuất từ nơi
nương tựa của thần. Xin hãy hiểu chuyện này.
- Hiền
hữu, hãy đem tên trộm cho trẫm.
Ðể
làm cho vua hiểu, ngài lại kể một chuyện khác.
* Chuyện
cành cây.
- Tâu
Ðại vương, ngày xưa trên triền núi Tuyết Sơn có một cây
mọc lên chĩa ra nhiều nhánh làm nơi trú ẩn vô số chim muông.
Một hôm hai cành cọ xát vào nhau. Khói bốc ra rừ đó và
các đốm lửa rơi xuống. Thấy vậy, chim chúa ngâm vần kệ
này:
7.
Lửa phát sinh ra ở ngọn cây
Chúng
ta an trú bấy lâu nay,
Mau
lên, giải tán bầy chim nhé,
Chỗ
dựa thành nơi hiểm hoạ đầy.
- Tâu
Ðại vương, giống như cây kia là nơi nương tựa của chim
muông, cũng vậy, vua là nơi nương tựa của thần dân. Nếu
vua đóng vai kẻ trộm, thì ai còn đề phòng hiểm hoạ ấy
nữa? Xin Ðại vương lưu ý điều này.
- Này
Hiền hữu, cứ đem tên trộm đến cho trẫm.
Sau
đó ngài lại kể một chuyện khác nữa:
* Chuyện
giết mẹ già.
- Tâu
Ðại vương, trong một làng ở Ba-la-nại, về phía tây một
nhà quý tộc, có con sông đầy cá sấu hung dữ, gia đình ấy
chỉ có một trai. Lúc cha mất, cậu con chăm sóc mẹ già chu
đáo.
Dù
con trai không muốn, bà mẹ vẫn đem một cô gái quý tộc về
làm vợ chàng. Ban đầu, nàng tỏ ra yêu thương mẹ chồng,
nhưng về sau dần dần nàng có đủ con trai con gái đông đúc,
nàng muốn trừ khử bà đi.
Mẹ
của nàng cũng ở nhà này. Trước mặt chồng, nàng tìm ra
đủ mọi lỗi lầm của mẹ chồng để làm cho chồng có ác
cảm với bà, và bảo:
- Thiếp
không thể nuôi mẹ chàng được nữa. Chàng phải giết mẹ
đi.
Khi
chàng bảo:
- Sát
nhân là chuyện hệ trọng, làm sao ta có thể giết mẹ được?
Nàng
đáp:
- Khi
nào mẹ chàng ngủ rồi, chúng ta sẽ đem bà đi, luôn cả giường
chiếu đồ đạc, rồi ném bà vào sông cá sấu. Cá sấu sẽ
kết liễu đời bà.
- Thế
mẹ nàng ở đâu?
- Mẹ
thiếp ngủ cùng phòng với mẹ chàng.
- Thế
thì nàng đi đánh dấu vào chiếc giường mẹ ta nằm bằng
cách buộc sợi dây thừng vào đó.
Nàng
làm như vậy rồi bảo:
- Thiếp
đã đánh dấu lên đó rồi.
Người
chồng đáp:
- Hãy
đợi ta một lát, để mọi người đi ngủ trước đã.
Rồi
chàng nằm xuống giả vờ ngủ, sau đó, đi buộc sợi dây
thừng vào giường mẹ vợ. Sau đó chàng đánh thức vợ dậy,
cả hai cùng đi khiêng bà mẹ lẫn tất cả giường chiếu
đồ đạc ném xuống sông. Bầy cá sấu giết chết bà ăn
thịt ngay tại chỗ.
Hôm
sau nàng khám phá mọi việc đã xảy ra cho chính mẹ mình,
liền nói:
- Chàng
ơi, mẹ thiếp đã chết rồi, nay ta hãy giết mẹ chàng.
Chàng
bảo:
- Ðược
lắm. Chúng ta làm một giàn hoả tại nghĩa địa, rồi thả
bà vào đó để giết bà.
Thế
là hai vợ chồng khiêng bà ra nghĩa địa trong lúc bà ngủ
và đặt bà tại đó. Rồi người chồng hỏi vợ.
- Nàng
có đem lửa theo không?
- Chàng
ơi, thiếp đã quên rồi.
- Vậy
đi tìm lửa đem về đây.
- Chàng
ơi, thiếp không dám đi, còn nếu chàng đi, thiếp không dám
ở lại đây. Vậy chúng ta cùng đi nhé.
Khi
họ đi rồi, bà già tỉnh giấc vì gió lạnh, thấy đấy là
nghĩa địa, bà suy nghĩ: "Chúng nó muốn giết ta, chúng đã
đi tìm lửa. Chúng không biết ta mạnh dạn ra sao đâu".
Bà
liền lấy một tử thi đặt lên giường và lấy khăn phủ
kín, rồi chạy đi trốn trong hang núi ở nơi ấy. Hai vợ chồng
đem lửa về, tưởng tử thi ấy là bà già, họ đốt xác
rồi ra về.
Có
một kẻ trộm kia dấu một gói đồ vật trong hang núi ấy,
lúc trở về thấy bà già, y suy nghĩ: "Ðây chắc là quỷ Dạ-xoa.
Gói đồ đạt của ta bị quỷ ám". Thế là y đi tìm thầy
bùa trừ tà.
Thầy
bùa đọc thần chú và đi vào hang. Bà già bảo:
- Ta
không phải là quỷ Dạ-xoa, nào chúng ta cùng hưởng số báu
vật này.
- Làm
sao tin được chuyện này?
- Cứ
đặt lưỡi ông trên lưỡi ta đây.
Thầy
bùa làm theo, bà già cắn một khúc lưỡi của thầy và nhả
xuống đất. Thầy bùa suy nghĩ: "Chắc chắn đây là quỷ Dạ-xoa".
Thầy bùa vừa chạy vừa la to, với cái lưỡi chảy máu ròng
ròng. Hôm sau bà già mặc y phục sạch sẽ và đi lấy gói
báu vật đem về. Nàng dâu thấy bà vội hỏi:
- Mẹ
ơi mẹ tìm gói này ở đâu thế?
- Con
yêu quí ơi, hễ ai bị đốt cháy trên giàn hoả trong nghĩa
địa này đều tìm được một gói như vậy.
- Mẹ
yêu quí ơi, thế con có thể tìm được gói này chăng?
- Nếu
con cũng làm như ta thì con cũng có được.
Thế
rồi nàng không nói gì với chồng, và trong lòng ước muốn
có được số châu báu để đeo, nàng đi đến đó tự thiêu
sống. Hôm sau, chồng nàng thấy vợ vắng, liền hỏi:
- Mẹ
yêu quí ơi, giờ này sao con dâu mẹ chưa đến?
- Này
đồ bất nhân kia, người chết làm sao trở về được?
Rồi
bà già ngâm vần kệ:
8.
Một gái xuân xanh đẹp biết bao
Với
vòng hoa trắng đội trên đầu
Dầu
thơm sực nức chiên-đàn toả,
Ðã
được ta ngày trước đón dâu;
Nương
tử hân hoan mong ngự trị
Trong
nhà ta ở tự bao lâu;
Con
dâu đuổi mẹ đi nơi khác,
Chỗ
dựa thành tai hoạ thảm sâu!
- Tâu
đại vương, giống như con dâu đối với mẹ chồng, cũng
vậy, vua là nơi tựa của toàn dân. Nếu hiểm hoạ xuất phát
từ đó, thì ta có thể làm gì được nữa? Xin đại vương
hãy chú ý điều này.
- Này
hiền hữu, trẫm không hiểu những việc khanh nói với trẫm.
Cứ đem tên trộm lại đây cho trẫm.
Ngài
suy nghĩ: "Ta muốn che chở vua", rồi ngài lại kể một chuyện
khác.
* Chuyện
đuổi cha già
- Tâu
Ðại vương, ngày xưa nay trong kinh thành này, một người kia
sinh con trai đúng như lời nguyện cầu. Khi đứa con ra đời,
người cha vui mừng hớn hở vì ý tưởng có được con trai,
nên yêu quí nó lắm.
Khi
đứa trẻ lớn lên, người cha cưới vợ cho con rồi dần
dần ông già yếu không làm được việc nữa. Vì thế con
ông bảo:
- Cha
không làm việc được nữa, cha phải ra khỏi đây.
Rồi
nó đuổi cha ra khỏi nhà.
Ông
cha hết sức chật vật kiếm sống bằng nghề hành khất,
vừa ngâm vần kệ vừa khóc than:
9.
Kẻ mà ta ước muốn sinh ra,
Cũng
chẳng hoài công mong đợi kia
Lại
đuổi ta đi: Nơi trú ẩn
Hoá
thành tai hoạ khổ thân ta.
- Tâu
đại vương, giống như người cha già phải được đứa con
khoẻ mạnh chăm sóc, cũng vậy, là toàn dân phải được vua
bảo vệ, giờ đây mối hiểm hoạ lại xuất phát từ vua,
người bảo vệ toàn dân. Tâu Ðại vương, xin hãy hiểu từ
việc này rằng kẻ trộm là người như vậy như vậy.
- Trẫm
không hiểu việc này, dù đó là sự thực hay không phải sự
thực. Hoặc là ngươi phải mang kẻ trộm đến đây cho trẫm,
hoặc chính ngươi là kẻ trộm ấy.
Vua
cứ bảo chàng thanh niên như vậy mãi. Vì thế ngài hỏi vua:
- Tâu
Ðại vương, Ðại vương thực sự muốn kẻ trộm bị bắt
chăng?
-Ðúng
vậy, Hiền hữu.
- Thế
thì tiểu thần sẽ công bố giữa quần chúng rằng kẻ trộm
là người như vầy như vầy.
- Hãy
làm như vậy, này Hiền hữu.
Khi
nghe vua nói, ngài suy nghĩ: "Vua này không cho phép ta che chở
nữa. Ta sẽ bắt tên trộm bây giờ".
Khi
quần chúng đã tụ tập đầy đủ, ngài vần kệ với họ:
10.
Này dân thành thị đến nông làng
Tề
tựu lắng nghe tất cả rằng:
Kìa!
Nước lạnh nay đang đang bốc cháy
Chốn
bình an phát xuất kinh hoàng.
Ðại
vương, Ðạo sĩ cùng than vãn
Quốc
độ bị cường đạo phá tan.
Vậy
mọi người dân lo tự vệ,
Nơi
nương tựa bỗng hoá tai nàn.
Khi
quần chúng nghe nói vậy, họ suy nghĩ: "Vị vua này, mặc dù
phải bảo vệ thần dân, lại đổ lỗi cho người khác. Sau
khi chính tay vua bỏ báu vật vào hồ, vua lại bảo đi tìm
kẻ trộm! Ðể cho vua khỏi đóng vai kẻ trộm trong tương
lai, chúng ta phải giết hôn quân vô đạo này".
Vì
thế họ đứng lên với trượng, chùy trong tay đánh vua và
vị tế sư cho đến chết tại chỗ. Rồi họ làm lễ quán
đảnh (rảy nước thánh phong vương) Bồ-tát và đưa ngài
lên ngôi.
*
Sau
khi kể chuyện này để làm sáng tỏ các Sự Thật, bậc Ðạo
Sư bảo:
- Này
cư sĩ, không kỳ diệu gì khi nhận ra dấu chân trên mặt đất,
vì các bậc trí ngày xưa còn nhận ra chúng trên không nữa.
Lúc
kết thúc các Sự Thật, vị cư sĩ cùng con trai đắc Sơ quả
(Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy, người cha là Kassapa (Ca-diếp) và chàng thanh niên có tài
nhận dấu chân chính là Ta.
TỔNG
MỤC LỤC KINH TIỂU BỘ
